1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CÁT BÀ

25 1,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở Cát Bà
Tác giả Nguyễn Thị Hướng
Người hướng dẫn PGS.TS : Nguyễn Thế Chinh, THS : Đinh Đức Trường
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quản lý môi trường
Thể loại Đề án môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở CÁT BÀ

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Khoa kinh tế quản lý tài nguyên môi trường và đô thị

Chuyên ngành kinh tế quản lý môi trường

ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Mã sinh viên : CQ481358

Chuyên ngành : Kinh tế quản lý môi trường

Khóa : 48

Hà Nội - 11/08

Trang 2

Mục lục

I Đặt vấn đề 3

II Các phương pháp đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường 3

1Phương pháp chi phí phòng ngừa : 4

2.Phương pháp chi phí sức khỏe: 4

3.Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM): 5

4.Phương pháp chi phí cơ hội: 6

5.Phương pháp ước lượng - hưởng thụ 6

III Tổng quan về khu du lịch Cát Bà và sử dụng phương pháp phân tích chi phí sức khỏe để đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Cát Bà 7

1 Tổng quan về khu du lịch Cát Bà 7

2.Thực trạng vấn đề ô nhiễm ở Cát Bà 9

2.1 Nhiễm do nuôi cá lồng bè tự phát và khai thác hải sản thiếu khoa học. 9

2.2 Ô nhiễm do khai thác và chế biến thủy hải sản thiếu khoa học. 11

2.3 Các hoạt động du lịch tại đảo. 11

2.4 Môi trường biển còn chịu tác động của các hoạt động công nghiệp, dân sinh dọc theo các tuyến sông, ven biển, đảo. 12

3 Đánh giá thiệt hại ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch ở đảo Cát Bà sử dụng phương pháp chi phí sức khỏe 13

3.1 Chi phí khám chữa bệnh (C 1 ) 14

3.2 Chi phí cơ hội ( C2) 15

IV Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế những tác động gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường và đời sống dân cư ở Cát Bà 18

Trang 3

1.Giải pháp 18

2 Kiến nghị 20

V KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

I.Đặt vấn đề

Trong thời đại của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế ViệtNam nói riêng đang phát triển như hiện nay, ngành du lịch đang được ưutiên phát triển hàng đầu, bởi đây là ngành “ công nghiệp không khói” manglại hiệu quả kinh tế to lớn đồng thời tận dụng được ưu thế thiên nhiên giảiquyết được công ăn việc làm cho người dân địa phương Cát Bà với tiềmnăng du lịch tự nhiên phong phú đa dạng được tổ chức giáo dục khoa học vàvăn hóa liên hợp quốc công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm

2004 đã và đang trở thành điểm đến lý tưởng đối với du khách trong vàngoài nước ngành du lịch Cát Bà những năm gần đây đã có nhiều bước pháttriển đột phá, từng bước khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấukinh tế huyện đảo

Tuy nhiên phát triển ngành du lịch một cách ồ ạt và quá mức đangnhanh chóng làm hủy hoại môi trường , làm cạt kiệt nguồn tài nguyên sẵn cótrong khu vực phá hủy dần vẻ đẹp tự nhiên của đảo Cát Bà, ảnh hưởng xấuđến môi trường sống của các loài động vật Do vậy đánh giá thiệt hại do hoạtđộng du lịch ở Cát Bà là một đề án quan trọng nhằm đánh giá đúng đắnnhững tác hại do hoạt động du lịch gây ra từ đó có những giải pháp và kiếnnghị cần thiết nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm đồng thời vẫn đảm bảo pháttriển được hoạt động du lịch một cách lành mạnh và bền vững

II Các phương pháp đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường

Đánh giá thiệt hại các yếu tố môi trường rất phức tạp và đòi hỏi phải có

sự kết hợp của nhều phương pháp bởi lẽ các yếu tố môi trường không chỉđơn giản như những yếu tố có thể định giá trên thị trường như mua bán traođổi tính thành đơn vị tiền tệ một cách dễ dàng Suy yếu môi trường tất yếugây ra thiệt hại và nếu môi trường bị suy thoái nghiêm trọng gây ra nhiều chi

Trang 5

phí khắc phục, cải thiện và làm hạn chế cả về vật chất cà tinh thần của xãhội, các phương pháp xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra

1 Phương pháp chi phí phòng ngừa :

Trọng tâm của loại chi phí này là các khoản chi cho phòng ngừa, ngănchặn hạn chế nước thải, khí thải và rác thải thuộc loại chi phí này gồm cónhững chi phí lao động trong công ty và các dụng cụ thuê ngoài như chi phí

xử lý, vất bỏ phế thải và chi phí thu dọn, lau dọn để thực hiện những biệnpháp phòng ngừa, hạn chế chẩt thải đồng thời bao gồm cả những chi phínghiên cứu và phát triển các dự án môi trường, chi phí sử dụng những côngnghệ kỹ thuật làm sạch, công nghệ sản xuất sạch và những nguyên vật liệuthân thiệt với môi trường

2 Phương pháp chi phí sức khỏe:

Tất cả các hoạt động ô nhiễm đều có ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe

và đo lường thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm môi trường là công việc quantrọng, Nổi bật trong số các bệnh tật do ô nhiễm môi trường là nhóm bệnhtruyền nhiễm, bao gồm nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, viêm phổi, phổi

bị tắc nghẽn mãn tính, viêm họng, viêm phế quản, viêm amidan, cúm, tiêuchảy, hen suyễn, viêm tai giữa, điếc, các bệnh về mắt, tiêu chảy, hội chứng

lỵ, bại não, sốt xuất huyết Kế đó là các bệnh quai bị, viêm gan do virus,viêm da và các bệnh ngoài da, uốn ván, lưu thai sản… nền tảng của côngviệc đánh giá này là hàm số liều lượng_đáp ứng diễn tả mối quan hệ của conngười và quá trình tiếp xúc với chất ô nhiễm môi trường có rất nhiều yếu tốảnh hưởng đến sức khỏe con người ngoài yếu tố môi trường như cách sống,

ăn uống, di truyền, tuổi tác Để tách biệt tác động của ô nhiễm, hoặc người taphải đưa vào tất cả các biến số khác hoặc phải chịu rủi ro tính toán tác động

Trang 6

của ô nhiễm trong khi thực sự thiệt hại sức khỏe lại bị các yếu tố khác tácđộng, điều này yêu cầu một số lượng lớn số liệu chính xác liên quan đến cáctác động sức khỏe cũng như các dữ liệu cho các yếu tố tác động khác, côngviệc chính là phải tính toán các giá trị ảnh hưởng đến sức khỏe thủ tục đểđánh giá thiệt hại sức khỏe là : thứ nhất, xem xét năng suất lao động củangười dân giảm cùng với sức khỏe giảm và cuộc sống bị rút ngắn làm giảmvốn nhân lực và thứ hai là chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe tăng Một phươngpháp khác cũng dùng để đo thiệt hại sức khỏe là tính chi phí y tế vì ô nhiễmgây thiệt hại sức khỏe, chúng ta có thể ước lượng chi phí y tế tăng cho bệnhviện, bác sỹ và quá trình phục hồi giảm ô nhiễm do đó làm giảm chi phí y

tế, nghĩa là lợi ích của thay đổi chất lượng môi trường

3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM):

Đây là phương pháp được sử dụng đánh giá cho những giá trị hànghóa môi trường không có giá trên thị trường phương pháp đánh giá ngẫunhiên bỏ qua nhu cầu tham khảo giá thị trường bằng cách hỏi thẳng từng cánhân một cách rõ ràng để đánh giá tài sản môi trường mặc dù có nhiều biến

tố cho kỹ thuật này, phương cách thường áp dụng nhất là phỏng vấn các giađình tại địa chỉ môi trường hoặc tại nhà họ và hỏi cái giá sẵn lòng trả (WTP)của họ cho việc bảo vệ môi trường sau đó các nhà phân tích có thể tính toángiá trị WTP( giá sẵn lòng trả trung bình) của những người trả lời phỏng vấn

và nhân nó với tổng số người thụ hưởng địa điểm hay tài sản môi trườngđang xem xét để có được tổng giá trị ước tính của tài sản đó Một điểm thú

vị của phương pháp CVM là trên lý thuyết nó có thể sử dụng để đánh giá cácnguồn tài nguyên mà sự tồn tại tiếp tục của nó được người ta đánh giá caonhưng bản thân họ không bao giờ đến tham quan cả tuy nhiên có một số trởngại tiềm ẩn đối với các nhà phân tích thiếu thận trọng đó là: các cá nhânđược hỏi có thể nói ít đi giá WTP;sử dụng WTP và WTA với cùng một nội

Trang 7

dung là có sự khác nhau về kết quả có được, thông thường cùng một nộidung nhưng có hai cách hỏi khác nhau thì giá trị của WTA có thể caohơn; thiên lệch một phần hay toàn phần nguyên nhân khi áp dụng phươngthức điều tra mẫu và điều tra tổng thể có sự khác nhau

4 Phương pháp chi phí cơ hội:

Là chi phí để sản xuất ra một sản phẩm nào đó là giá trị tối đa của cácsản phẩm khác lẽ ra được sản xuất nếu ta không sử dụng tài nguyên để làm

ra sản phẩm hiện hành Chi phí cơ hội rất cần thiết khi cần phải đưa ranhững quyết định liên quan đến việc chọn lựa cách sử dụng một tài nguyêncho mục đính này hay mục đích khác để đo lường chi phí cơ hội bằng cácgiá trị của những nhập liệu sử dụng trong sản xuất một khi các nhập lượngđược hạch toán và đánh giá chính xác thì tổng giá trị này có thể được xem làchi phí cơ hội của sản xuất hoặc nếu muốn bảo tồn môi trường tự nhiên và

có chi phí cơ hội cho việc bảo tồn đó chúng ta phải làm những việc sau :

- Lên danh sách tất cả các hoạt động có lựa chọn có thể phải làm ở khuvực đó

- Dự tính lãi ròng của các hoạt động có trong danh mục

- Chi phí cơ hội sẽ là phần lãi ròng cao nhất được tính

5 Phương pháp ước lượng - hưởng thụ

Phương pháp này đòi hỏi các số liệu kết hợp các phản ứng sinh lý củacon người, thực vật và động vật đối với áp lực của ô nhiễm ví dụ như nếu cómột mức ô nhiễm nào đó làm thay đổi sản lượng thì thông thường sản lượng

có thể được đánh giá bằng giá thị trường hoặc giá ẩn ( giá điều chỉnh hayphỏng theo thị trường ) như sự thiệt hại sản lượng mùa màng do ô nhiễmkhông khí Nhưng đối với những tình huống có liên quan đến sức khỏe conngười, chúng ta phải đối diện với những câu hỏi liên quan đến tính mạng con

Trang 8

người ( một cách chính xác các nhà phân tích tìm cách đánh giá mức rủi rogia tăng của bệnh tật hoặc tử vong).

III.Tổng quan về khu du lịch Cát Bà và sử dụng phương pháp phân tích chi phí sức khỏe để đánh giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở Cát Bà.

1 Tổng quan về khu du lịch Cát Bà

Đảo Cát Bà – Khu dự trữ sinh quyển thế giới, điểm đến của Du khách ởkhắp nơi trên Thế giới Đây là tập hợp của hệ thống núi đá vôi có tuổi rấtcao, đỉnh cao nhất 322m, tầng đá vôi hình thành lên kiểu karster bị xói mònmạnh (các núi đá hình nón) rất ấn tượng Đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hảicách thành phố Hải Phòng 50 km về phía Đông Nam, cách Hà Nội khoảng

150 km, rộng hơn 200 km2 gồm 366 hòn đảo lớn nhỏ trong đó Cát Bà là đảolớn nhất trong số trên 2.000 đảo của quần thể Vịnh Hạ Long - di sản thiênnhiên thế giới Đảo chính Cát Bà cùng với quần thể các đảo nhỏ và hangđộng tạo nên một khung cảnh vô cùng hùng vĩ quyến rũ và đầy bí ẩn

Vườn Quốc gia Cát Bà (Hải Phòng) - Khu dự trữ sinh quyển thế giới, là

1 trong 2 vườn quốc gia (VQG) của Việt Nam hội tụ được cả rừng, biển vàhang động

Là khu trung tâm du lịch thuộc quần đảo Cát Bà nhưng VQG Cát

Bà vẫn lưu giữ được những loài đặc hữu và đã được ghi tên trong sách đỏ.VQG Cát Bà là vùng phân bố các dạng sinh cảnh tự nhiên rộng lớn, baogồm các rạn san hô, các bãi cỏ biển, rừng ngập mặn và trên các đảo có kiểurừng trên núi đá vôi Do địa hình núi đá vôi hiểm trở nên nơi đây còn giữ lạimột thảm rừng mưa nhiệt đới thường xanh đặc trưng của miền Bắc

Tính đa dạng sinh học đã được biết tại đây tương đối cao Các nhà khoahọc đã ghi nhận được 199 loài thực vật nổi, 89 loài động vật nổi, 75 loài cỏ

Trang 9

biển ở vùng Đảo Cát Bà Theo các điều tra nghiên cứu thì Cát Bà có khoảng

32 loài thú, 69 loài chim và 20 loài bò sát và lưỡng cư

Thiên nhiên ở đây hoang sơ, rừng, biển, sông, suối, núi, đồi, thung lũng,bãi cát, hang động, xen kẽ gắn kết với nhau tạo nên nhiều cảnh đẹp kỳ thú.Rừng Quốc gia Cát Bà rộng 15.200 ha có khu rừng nguyên sinh nhiệt đớirộng 570 ha với hệ thống động thực vật vô cùng phong phú, đặc trưng là loàiVoọc đầu trắng sống ở vách đã cheo leo trên thế giới chỉ có ở Cát Bà, Khỉlông vàng, Sơn dương và nhiều loài chim đẹp như Cao cát, Bói cá, Hút mật,Đầu rìu, chim Yến, Rùa biển…nhiều loài đang được cả thế giới bảo tồntránh bị tuyệt chủng.Trong rừng già còn loại kỳ đà Komodo cổ đại, sơndương nặng trên 100kg Hệ thực vật có tới 459 chi, 149 họ trong đó có 250loài cây thuốc hiếm Đặc biệt tại đây có cả rừng Kim Giao, loại cây có cáctính năng đặc biệt

Vùng biển Cát Bà có nhiều bãi tôm, bãi câu cá hồng, cá nục, cá tráp; cóáng thảm nuôi đồi mồi Dưới các rạn đá ngầm chân đảo có bào ngư, traingọc và tôm rồng Ở bãi hạ triều có tu hài (họ nhuyễn thể) được coi là "gàbiển", thịt chắc và ngọt hơn cả bào ngư Món tu hài nướng vắt chanh trởthành món đặc sản không thể thiếu ở các quán nhậu ven bờ biển

Đảo Cát Bà một tấm thảm xanh khổng lồ chứa đựng nhiều bí ẩn, hấpdẫn Ngoài những tiềm năng đặc biệt về thiên nhiên, Cát Bà còn có di chỉCái Bèo thuộc nền văn hoá Hạ Long, dân cư đã sinh sống cách đây 6475 -

4200 năm Đây thực sự là nơi mà du khách có thể khám phá ra nhiều điều bí

ẩn thú vị và bất ngờ

Do đặc điểm tự nhiên, hệ động thực vật và lịch sử kiến tạo mà đảo Cát

Bà có những lợi thế tuyệt vời về du lịch, là một điển hình cho một vị trí pháttriển du lịch đảo biển và là một khu bảo tồn biển ở dải ven biển Việt Nam.Tài nguyên du lịch ở đây rất phong phú và đa dạng Từ cảnh quan thiên

Trang 10

nhiên hữu tình, môi trường trong lành, văn hoá lâu đời đến nguồn thực phẩmbiển dồi dào đều là những tài nguyên vô giá đối với ngành du lịch Vớitính đa dạng sinh học cao ở các hệ sinh thái rừng, sinh thái biển, hệ sinh tháicác hang động, hệ sinh thái các bãi cát đẹp và hoang sơ đã, đang được nhiềuthế hệ người Việt Nam gìn giữ và phát triển Cát Bà có một tiềm năng lớncho nhiều loại hình du lịch mà không nơi nào có thể đáp ứng được đầy đủnhư ở đây Vì các lý do đó, UNESCO đã chính thức công nhận đảo Cát Bà làkhu vực bảo tồn sinh quyển thế giới

Đảo Cát Bà, với vẻ đẹp quyến rũ do thiên nhiên ban tặng đang được coi

là một trong các trung tâm du lịch sinh thái cấp Quốc Gia, nơi có thể đápứng được một cách đa dạng các nhu cầu phục vụ nghỉ ngơi, giải trí vànghiên cứu của Du khách, hiện đang là điểm đến lý tưởng của Du khách từkhắp nơi trên thế giới

Theo định hướng phát triển của Nhà nước và của Thành phố Hải Phòng,Cát Bà đang được tập trung đầu tư để trở thành trung tâm du lịch lớn, quantrọng của cả nước

2.Thực trạng vấn đề ô nhiễm ở Cát Bà

Vùng biển Cát Bà từng được ví như là "khó báu" mà thiên nhiên dànhtặng cho hậu thế, bởi sự phong phú, đa dạng, quý hiếm của các loài sinh vậtbiển Đáng tiếc, sự sinh tồn của các loài sinh vật biển này đang bị đe dọa do

ô nhiễm biển ở đây đã đến hồi báo động "đỏ”

2.1 nhiễm do nuôi cá lồng bè tự phát và khai thác hải sản thiếu khoa học.

Chưa bao giờ, nghề nuôi cá lồng bè ở vùng biển Cát Bà lại rầm rộ nhưhiện nay, nuôi cá lồng bè tại khu vực vịnh Cát Bà thuộc huyện Cát Hải (HảiPhòng) phát triển mạnh với 530 bè cá, gần 7.700 ô lồng các loại, hiện vẫncòn nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp có ý định tiếp tục đầu tư, lắp đặt lồng

Trang 11

bè mới để nuôi cá biển, do nuôi cá lồng bè là nghề mới, lại đem hiệu quảkinh tế cao nên số hộ bung ra nuôi cá lồng bè ngày càng nhiều Người nuôi

cá lồng bè không chỉ thu lợi được từ việc nuôi cá, mà còn "lợi kép" do nuôi

cá gắn với dịch vụ du lịch Đây là mô hình kinh tế được coi là năng động,phát huy được tiềm năng, lợi thế của địa phương Hơn thế, nghề nuôi cálồng bè ở vùng biển Cát Bà còn đóng góp khá lớn cho ngân sách huyện đảo

Do không gian có hạn nên chỉ có thể bố trí khoảng 150 bè cá, song hiện nay số bè cá tại đây đã tăng đột biến, lên đến hơn 500 bè các loại gây ra tình trạng quá tải

Việc các hộ dân tuỳ tiện cắm sào, quây lưới để tạo lồng nuôi cá làm ảnh hưởng xấu, gây mất cảnh quan du lịch, đồng thời cản trở giao thông, tăng nguy cơ mất an toàn đường thuỷ

Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch, các doanh nghiệp, cá nhân đua nhau rabiển quây lồng, nuôi cá, đã dẫn đến việc quản lý hết sức khó khăn, nhất làquản lý về môi trường Mặc dù chưa có được số liệu quan trắc cụ thể, nhưngchỉ bằng cảm quan cũng thấy ô nhiễm môi trường biển ở đây đang diễn biếnhết sức phức tạp, mỗi ngày người ta đã đưa xuống vịnh Bến Bèo một lượngthức ăn nuôi cá gồm hàng chục tấn các loại Cá ăn không hết, thức ăn hoặclọt qua lưới xuống đáy biển, hoặc trôi khắp khu vực biển gần đó

Đã vậy, mỗi bè lại có một kiểu cho cá ăn riêng Nghĩa là, các loại cásống, cá chết đựơc băm nhỏ dùng làm thức ăn, rồi tinh bột, rau tươi… Tất cả

vô tư… tống xuống hàng chục nghìn ô lồng, bất biết hậu họa

Thực tế, năm 2007, nhiều hộ nuôi cá lồng bè ở vịnh Bến Bèo, do phươngpháp cho cá ăn tuỳ hứng kiểu trên, đã phải trả giá, bởi nguồn nước ở vùngbiển này bị ô nhiễm đã làm cá trong các lồng bè của họ chết hàng loạt Có hộtrắng tay Không ít hộ bị "dính" cá chết ở đây, đã liều di chuyển bè cá vào

Trang 12

tận vịnh Lan Hạ (cũng thuộc Cát Bà) Và đến nay, vịnh Lan Hạ cũng đang

có nguy cơ ô nhiễm cao như đã từng xảy ra ở Bến Bèo

2.2 Ô nhiễm do khai thác và chế biến thủy hải sản thiếu khoa học.

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng ONMT ven biển

là hiện tượng nuôi thuỷ sản tràn lan, không có quy hoạch trước đây ngườidân thường chỉ nuôi quảng canh, ít sử dụng thức ăn và hoá chất độc hại Gầnđây, phần lớn cơ sở đã đi vào nuôi trên quy mô công nghiệp dẫn tới các nơi

cư trú sinh vật, bãi đẻ, bãi giống bị huỷ diệt, dịch bệnh xuất hiện tràn lan Ngư dân ở khu vực Bến Bèo cho hay, mùa sứa năm 2008 vừa qua, mỗingày có đến hàng trăm tàu thuyền ra vào cung ứng sứa nguyên liệu choxưởng chế biến trên đảo Đáng nói, quá trình sản xuất, xưởng chế biến sứanày đã thải toàn bộ lượng nước thải, bao gồm cả hóa chất, phèn chua muốisứa… xuống biển Nghiêm trọng hơn, trong khi chế biến, sứa chỉ được cắtlấy đầu, còn phần thân thì công nhân "tiện tay" quăng luôn xuống biển,khiến vùng biển Cát Bà, nhất là khu vực Bến Bèo nước chuyển màu đen đục,bốc mùi hôi rất khó chịu

Hơn nữa, tình trạng ONMT còn do các địa phương khai thác, sử dụngkhông hợp lý các vùng đất cát ven biển dẫn tới việc thiếu nước ngọt, xói lở,

sa bồi bờ biển với mức độ ngày càng nghiêm trọng Việc khai thác bằngđánh mìn, sử dụng hoá chất độc hại làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn lợi thuỷsản và gây hậu quả nặng nề cho các vùng sinh thái biển Các hoạt động dulịch có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, cảnh quan tự nhiêncủa biển

2.3 Các hoạt động du lịch tại đảo.

Hoạt động vận tải trở khách ra đảo: Thực tế, mỗi ngày tàu ra vào cảngbiển Hải Phòng và hai khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà có tới hàng trăm lượt, vậnchuyển số lượng lớn hàng hoá, hành khách Các phương tiện thải ra sông,

Ngày đăng: 07/08/2013, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w