1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

37 829 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan về bảo hiểm thất nghiệp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài chuyên ngành
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn 20 năm mở cửa và tiến hành cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quản lý bao cấp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không chỉ thoát khỏi khủng hoảng và lạm phát, mà nhờ có mức tăng trưởng cao trung bình 7.5% trong vòng một thập kỷ qua, đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tổng sản phẩm quốc nội sau 10 năm đã tăng gấp đôi. Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế đã tăng đáng kể, tính đến năm 2000 đạt 27% GDP. Trong GDP, tỷ lệ nông nghiệp giảm từ 38,6%xuống còn 24,3%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7% lên 36,6%; dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh. Đáng chú ý tốc độ tăng xuất khẩu đạt được nhờ sự đóng góp đáng kể của các ngành mũi nhọn như: dệt may, da giày, thuỷ sản…

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI CHUYÊN NGÀNH

ĐỀ TÀI: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

LỜI NÓI ĐẦU

Sau hơn 20 năm mở cửa và tiến hành cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã đạt được một sốthành tựu đáng kể Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quản lý bao cấp, chúng ta đãchuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không chỉ thoát khỏikhủng hoảng và lạm phát, mà nhờ có mức tăng trưởng cao trung bình 7.5% trong vòngmột thập kỷ qua, đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Tổng sản phẩmquốc nội sau 10 năm đã tăng gấp đôi Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế đã tăng đáng kể, tínhđến năm 2000 đạt 27% GDP Trong GDP, tỷ lệ nông nghiệp giảm từ 38,6%xuống còn24,3%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7% lên 36,6%; dịch vụ từ 38,6% tăng lên39,1% Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh Đáng chú ý tốc độ tăng xuất khẩu đạt đượcnhờ sự đóng góp đáng kể của các ngành mũi nhọn như: dệt may, da giày, thuỷ sản…Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các ngành công nghiệp mũi nhọn cũng thuhút được một lượng lao động rất lớn, đặc biệt tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ kỹthuật cao Đó là tiền đề to lớn để lao động nước ta ngày càng đáp ứng được nhu cầu ngàycàng cao của nền kinh tế, tiếp thu khoa học công nghệ mới và hoà nhập với thị trường laođộng thế giới

Quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước đã làm thay đổi cơ bản đời sống của đại bộ phậnlao động nước ta Theo kết quả điều tra của Tổng cụ thống kê năm 2007, thành phần kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức tiền lương bình quân cao nhất (trên 1 triệuđồng/tháng) gấp 1,2 lần so với mức bình quân chung Đời sống dân cư được tăng lên gópphần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 9.96% năm 2001 so với 13,33% năm1999 Tuynhiên, tình trạng thất nghiệp vẫn trở thành một vấn đề bức xúc trong xã hội

Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề này Ngoài các biện pháp tình thếđối với lao động mất việc làm trong các cơ quan nhà nước, Nhà nước cũng dành một phầnlớn trong ngân sách cho vay hỗ trợ việc làm với lãi suất ưu đãi, cộng với các khoản vốnđầu tư phát triển sản xuất, hàng năm giải quyết được cho hơn 1 triệu lao động Đồng thời,Đảng và Nhà nước cũng chủ trương xây dựng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp, tạo điều kiệncho các cơ quan, doanh nghiệp sắp xếp lao động, nâng cao năng suất lao động Tư tưởngnày được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương

Trang 2

Đảng khoá IX Xây dựng và ban hành chế độ Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là mộtđịnh hướng đúng đắn và kịp thời của Đảng ta phù hợp với quy luật phát triển của kinh tếthị trường Sự ra đời của chế độ Bảo hiểm thất nghiệp góp phần hoàn thiện hệ thống Bảohiểm xã hội ở nước ta, với phương châm vì con người, cho con người, mà trước hết làngười lao động Với tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, chúng ta hy vọng rằng chế

độ Bảo hiểm thất nghiệp có đủ điều kiện để ra đời, đáp ứng nguyện vọng của người laođộng

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1 THẤT NGHIỆP

1.1.1 Một số khái niệm liên quan:

- Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số

người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mứclương thịnh hành

Cũng theo tổ chức này, người thất nghiệp là người lao động không có việc làm, không

làm kể cả 1 giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là họ làm ngay

- Theo Cơ quan thống kê của Uỷ ban Châu Âu (Eurosat), người thất nghiệp là người

lao động trong độ tuổi từ 15 – 74, không có việc làm, đã tiến hành tìm việc trong vòng bốntuần ngay trước thời điểm điều tra và sẵn sàng làm việc trong vòng 2 tuần, theo tiêu chuẩncủa Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

- Theo Luật lao động Việt Nam, người thất nghiệp là người trong tuần lễ trước điều tra

không có việc làm, hoặc có nhưng không đủ số giờ quy định (8 giờ), nhưng có nhu cầu và

nỗ lực tìm kiếm việc làm

Xét theo các quan niệm khác nhau thì có những khái niệm thất nghiệp khác nhau

Nhưng tất cả các khái niệm đó đều bao hàm những đặc trưng sau đây về người thất

nghiệp:

+ Là người lao động, có khả năng lao động

+ Đang không có việc làm

+ Đang đi tìm việc làm

Như vậy, người thất nghiệp có thể là những người đã từng đi làm, nhưng vì lý do nào

đó không có việc làm trong khoảng một tuần lễ trước khi tiến hành điều tra Người thấtnghiệp có thể là học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp, bộ đội xuất ngũ chưa tìm được việclàm Những người thuộc độ tuổi lao động, nhưng không có khả năng lao động, hoặc khôngmuốn tìm việc làm như: người tàn tật, người bị tai nạn lao động, người lao động có việc

Trang 3

làm nhưng đang nghỉ phép, người làm nội trợ, người được hưởng thừa kế, người nghỉhưu… thì không được coi là người thất nghiệp

1.1.2 Phân loại thất nghiệp: Có nhiều cách để phân loại thất nghiệp.

* Căn cứ vào tính chất thất nghiệp:

- Thất nghiệp tự nhiên: Xảy ra do có sự chênh lệch giữa cung - cầu lao trên thị trường

lao động Loại thất nghiệp này có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ lạm phát

- Thất nghiệp cơ cấu: là thất nghiệp gây ra do mất cân đối giữa cung và cầu về kỹ năng,

ngành, nghề, hoặc địa điểm Khi cơ cấu kinh tế thay đổi mở rộng ngành này, đồng thời thuhẹp ngành khác, dẫn đến cầu về lao động trong từng ngành, nghề thay đổi Trong khi đó,cung về lao động không kịp thay đổi, do người lao lao động trong ngành nghề cũ không có

đủ kỹ năng để làm việc trong ngành nghề đang được mở rộng Nhu cầu được đào tạo lạicủa những người này là rất lớn

- Thất nghiệp tạm thời: Phát sinh do sự di chuyển lao động giữa các vùng, miền,,

thuyên chuyển công tác giữa các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất Dù là vì lý

do gì, thì những người lao động cũng cần thời gian để tìm công việc mới phù hợp

- Thất nghiệp chu kỳ: Xảy ra do mức cầu về lao động giảm xuống Theo chu kỳ hoạt

động, khi nền kinh tế bắt đầu rơi vào thời kỳ suy giảm, sản xuất bị thu hẹp dẫn đến mứccầu lao động giảm sút, gây ra thất nghiệp Loại thất nghiệp này mang tính chu kỳ

- Thất nghiệp thời vụ: Phát sinh theo các chu kỳ sản xuất kinh doanh Loại thất nghiệp

này thường thấy trong các ngành mà hoạt động sản xuất phải dựa vào các yếu tố tự nhiênnhư: xây dựng, du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp

- Thất nghiệp công nghệ: Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, được nhanh chóng

áp dụng vào sản xuất, có xu hướng thay thế sức lao động của con người Lượng lao độngdôi dư này, tất yếu gây ra thất nghiệp

* Căn cứ vào ý chí người lao động

- Thất nghiệp tự nguyện: Là hiện tượng người lao động tự chối một công việc nào đó

do mức lương được trả không thỏa đáng hoặc do không phù hợp với trình độ chuyên môn,mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc

- Thất nghiệp không tự nguyện: Là hiện tượng người lao động có khả năng lao động,

trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả, nhưngngười sủ dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sủ dụng

* Căn cứ vào mức độ thất nghiệp

Trang 4

- Thất nghiệp toàn phần: Xảy ra khi người lao động hoàn toàn không có việc làm hoặc

thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ và họ vẫn có nhu cầu làm thêm

- Thất nghiệp bán phần: Là trường hợp người lao động vẫn có việc làm, nhưng khối

lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3 – 4 giờ trong mộtngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm Hiểu rõ mỗi loại thất nghiệp giúp đánh giámức độ tác động của chúng, đưa ra các biện pháp khắc phục thích hợp và có hiệu quả

1.1.3 Nguyên nhân và hậu quả của thất nghiệp:

a Nguyên nhân: Các nhà kinh tế đã chỉ ra hàng loạt nguyên nhân gây ra tình trạng thất

nghiệp như: sự không trùng khớp giữa cung và cầu lao động, do các nhân tố thuộc về mùavụ,cơ cấu, chu kỳ

- Thất nghiệp tạm thời gia tăng do có sự lệch pha giữa cung và cầu về lao động Lượngthất nghiệp cơ cấu phụ thuộc vào tần suất người lao động thay đổi công việc và thời gian

để họ tìm được một công việc mới Loại thất nghiệp này có thể khắc phục nếu các trungtâm xúc tiến, giới thiệu việc làm hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, nếu người lao độngđược tự do bỏ việc thì loại thất nghiệp này luôn luôn tồn tại

- Thất nghiệp mùa vụ xảy ra khi một ngành đã trải qua thời kỳ kinh doanh đỉnh cao, đặcbiệt đối với các hoạt động kinh doanh liên quan đến yếu tố tự nhiên như: xây dựng, dulịch, nông nghiệp… Thất nghiệp mùa vụ cũng xảy ra vào cuối mỗi năm học, khi các họcsinh, sinh viên tốt nghiệp và phải tìm việc làm Theo điều tra ở Mỹ, tại thời gian cao điểm(tháng 1, tháng 2), mức thất nghiệp thường cao hơn 20% so với thời gian khác thấp điểm(tháng 10)

- Thất nghiệp cơ cấu xảy ra do sự không ăn khớp giữa cơ cấu của cung và cầu lao động

về kỹ năng, ngành, nghề, hoặc địa điểm Những tiến bộ về công nghệ yêu cầu những kỹnăng mới trong nhiều ngành nghề, mà những lao động có những kỹ năng cũ, lỗi thờikhông đáp ứng được Một doanh nghiệp sản xuất trong ngành nghề bị thu hẹp phải sa thảibớt công nhân Những người không được đào tạo đầy đủ hoặc sinh viên mới ra trườngchưa có kinh nghiệm có khả năng thất nghiệp cao Thậm chí những người được đào tạonhững kỹ năng chuyên môn cao cũng có thể bị thất nghiệp Thất nghiệp cơ cấu xảy ra tậptrung ở một số khu vực, ngành nghề, hoặc một số bộ phận trong lực lượng lao động.Tháng 6 năm 1992, tỷ lệ thất nghiệp của toàn nước Mỹ là 7,8%; trong đó, tỷ lệ thất nghiệpcủa New York là 9,2%, đối với bộ phận lao động từ 16 – 19 là 23, 6%, đối với người damàu là 14,9%, đối với nhân viên bán lẻ là 9,2%

- Thất nghiệp chu kỳ nói chung xảy ra do giảm mức cầu về lao động Theo chu kỳ, khinền kinh tế đi xuống, mức cầu hàng hóa, dịch vụ giảm, dẫn đến thu hẹp sản xuất và xảy ra

Trang 5

thất nghiệp Vào thế kỷ 19, cứ 20 năm một lần nước Mỹ lại trải qua một cuộc khủnghoảng Năm 1890 xảy ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài, tỷ lệ thất nghiệplên tới 18% Sau đó, trong thế kỷ 20 đã xảy ra 4 cuộc khủng hoảng có mức độ ít nghiêmtrọng hơn Cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ xảy ra vào thập kỷ 30 củathế kỷ 20, mà ở mức đỉnh điểm, cứ 4 người Mỹ thì có một người thất nghiệp, tình trạngthất nghiệp còn kéo dài nhiều năm sau đó.

b Hậu quả:

- Đối với bản thân người lao động:

Cá nhân người lao động khi bị thất nghiệp không có đủ khả năng tài chính để đáp ứngcác nhu cầu cơ bản của bản thân Ở một số nước, thất nghiệp dẫn đến tình trạng vô gia cư

do không thể trả tiền thế chấp hoặc tiền thuê nhà Thất nghiệp dẫn đến tình trạng khôngđáp ứng được lượng dinh dưỡng cần thiết, ốm đau, tinh thần căng thẳng, thậm chí làm chocon người đánh mất tính tự trọng

Một nghiên cứu về “Ảnh hưởng của môi trường xã hội đến tâm lý con người” đã đượctiến hành vào năm 1979 bởi Tiến sỹ M Havey Brenner Ông đã chỉ ra rằng, nếu tỷ lệ thấtnghiệp cứ tăng 10% thì tỷ lệ tử vong tăng 1,2%, trường hợp mắc bệnh tim mạch tăng1.7%, số người mắc bệnh xơ gan tăng 1.3%, số người tự tử tăng 1.7%, số người bị bắt dophạm luật tăng 1.4%, số vụ ẩu đả bị báo cảnh sát tăng 0.8% Thất nghiệp, thiếu hụt nguồntài chính và trách nhiệm xã hội, tất cả có thể đẩy người lao động đến chỗ phải làm nhữngcông việc không phù hợp với kỹ năng hoặc không sử dụng hết khả năng và tính sáng tạo

- Đối với nền kinh tế:

Một nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao không thể sử dụng một cách đầy đủ các nguồnlực sẵn có, đặc biệt là nguồn nhân lực Vì hoạt động dưới mức khả năng sản xuất, nền kinh

tế đáng lẽ đã tạo ra sản lượng lớn hơn nếu sử dụng tối đa các nguồn lực Tuy nhiên, lu ônluôn có sự đánh đổi giữa sự hoạt động hiệu quả của nền kinh tế với tỷ lệ thất nghiệp Nếunhững người thất nghiệp tạm thời chấp nhận công việc đầu tiên họ được giới thiệu, rất cóthể họ sẽ làm việc dưới mức làm việc hiệu quả của bản thân và do vậy, làm giảm hiệu quảkinh tế Người ta tính được rằng, trong thời kỳ Đại khủng hoảng, thiệt hại do lương khônghiệu quả mà nền kinh tế Mỹ phải hứng chịu là $4000 tỷ Mức này còn lớn hơn thiệt hại dođộc quyền, lũng đoạn và thuế gây ra

- Đối với xã hội:

Quan niệm chung cho rằng, thất nghiệp gây ra những bất ổn xã hội như: tỷ lệ tội phạmtăng cao, tệ nạn xã hội… Thất nghiệp còn dẫn đến bãi công, biểu tình… làm xấu đi tìnhhình chính trị, làm giảm niềm tin của người lao động đối với Đảng cầm quyền Tuy nhiên,

Trang 6

một cuộc nghiên cứu gần đây về tác động của các cuộc suy thoái đến sức khỏe con ngườitiến hành bởi Christopher Ruhm cho thấy tình trạng sức khỏe thực sự được cải thiện trongcác cuộc suy thoái Điều này cũng giống như tác động của suy thoái kinh tế đối với tìnhtrạng tội phạm Trong cuộc Đại khủng hoảng 1929-1933, tỷ lệ tội phạm hoàn toàn khônggia tăng.

1.1.4 Các biện pháp cơ bản nhằm đối phó và khắc phục hậu quả thất nghiệp của Chính phủ:

Thất nghiệp luôn luôn là một hiện tượng của bất kỳ nền kinh tế nào, ngay cả khi nó ởgiai đoạn phát triển hưng thịnh nhất Tuỳ điều kiện và mục tiêu của mỗi nước, hoặc ở cùngmột nước trong các giai đoạn khác nhau, mà Chính phủ có thể thực hiện các phương phápsau đây theo các mức độ khác nhau

- Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế: Để thúc đẩy nền kinh tế trong một giai

đoạn suy thoái hay tạo các điều kiện ban đầu về cơ sở vật chất và kiến trúc thượng tầngcho nền kinh tế phát triển, chính phủ các nước phải thực hiện các chương trình đầu tưcông Đây là những dự án đầu tư mà doanh nghiệp tư nhân chưa thể làm được hoặc khôngmuốn làm do vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm… Những dự án này thường yêucầu một lượng lao động lớn Khi đó, chính những dự án này thu hút được một lượng lớnlao động nhàn rỗi trong xã hội, giúp giảm bớt áp lực thất nghiệp

- Các chính sách tạo việc làm: Thông qua một loạt các công cụ, chính sách cùng với

nguồn lực sẵn có, Chính phủ có thể thực hiện đồng thời các biện pháp đầu tư sau Thứnhất, chuyển đổi mô hình đầu tư, tập trung vào ngành sản xuất hàng tiêu dùng có khả năngtạo ra nhiều công việc thu hút được nhiều lao động phổ thông đang bị thất nghiệp trongnền kinh tế Thứ hai, tạo điều kiện thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển Cóthể nói, trong một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vaitrò như “xương sống của một cơ thể”

- Thiết lập hệ thống bảo trợ xã hội (hay chính là hệ thống an sinh xã hội) Công ước

102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hộicung cấp cho các thành viên của minh thông qua một loạt các biện pháp công cộng đểchống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảmsút đáng kể về thu nhập Mô hình An sinh xã hội ra đời nhằm khắc phục những bất bìnhđẳng trong thu nhập, điều hoà rủi ỏ, tạo điều kiện cho nhóm dân cư nghèo được thụ hưởngnhững điều kiện tối thiểu

Trang 7

- Chính sách, chương trình khác của chính phủ nhằm hỗ trợ đào tạo người lao động: như

trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ lao động nữ có có hội làm việc, đưa người lao động ra nướcngoài làm việc…

1.2 NỘI DUNG CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.2.1 Sự ra đời của Bảo hiểm thất nghiệp

Những hình thức thực hiện trợ cấp thất nghiệp đầu tiên được hình thành trên thế giới được hình thành trước thế kỷ 19, lúc đầu chỉ áp dụng cho những loại công nhân đặc biệtnhư: Ở cao nguyên Bohemia thực hiện trợ cấp thất nghiệp cho thợ thủ công ngành thuỷtinh, ở Bagel và Thuỵ Sỹ áp dụng cho công nhân đóng giầy Các giới chủ sử dụng laođộng đã trích một phần thu nhập của mình để đóng góp vào quỹ chung (quỹ bảo hiểm thấtnghiệp) để tiến hành trợ cấp tạm thời hoặc trợ cấp một phần Các khoản đóng góp vào quỹbảo hiểm thất nghiệp được tính theo giá thành sản phẩm

Qua một thời kỳ phát triển, một số chính quyền địa phương đã cho phép thành lập quỹbảo hiểm thất nghiệp do người lao động tự nguyện tham gia Quỹ thất nghiệp đầu tiênđược hình thành ở Thuỵ Sĩ (Bezne) năm 1893 Nhưng do tính chất tự nguyện của quỹ nênban đầu chỉ có những người có công việc có tính chất không ổn định mới tham gia Trongkhi đó, một số chính quyền địa phương đã bảo vệ người lao động một cách gián tiếp bằngcách hỗ trợ một số tiền lớn cho các Quỹ thất nghiệp tư nhân (chủ yếu là hiệp hội thươngmại) nhằm làm tăng nguồn kinh phí dành cho chi trả các khoản trợ cấp của quỹ Mức hỗtrợ này dựa trên số chi trả của năm trước Cách hỗ trợ này được gọi là hệ thống Ghent haychế độ hỗ trợ đồ thị và được áp dụng rộng rãi bởi các thành phố lớn

Qua việc hình thành các chế độ trợ cấp thất nghiệp tự nguyện trong thời gian đầu ở cácnước công nghiệp phát triển, cho ta thấy một số kinh nghiệp thành công nhất định của chế

độ này Nhưng nhược điểm lớn nhất của chế độ thất nghiệp tự nguyện là các hiệp hội tưnhân không đủ khả năng tài chính trong khi đó, chỉ có những thành viên của quỹ mới thamgia đóng góp Đặc biệt, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế nổ ra, thâm hụt làm ảnh hưởngxấu đến hoạt động của quỹ Do vậy, các nhà kinh tế thời bấy giờ đã rút ra được một logiccủa việc phát triển trợ cấp thất nghiệp là phải được thực hiện bởi Nhà nước trên phạm vitoàn quốc

Đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, Đức và Nauy là 2 quốc gia trên thế giới ban hành Luật

về Bảo hiểm thất nghiệp Luật này cho phép hình thành quỹ Bảo hiểm thất nghiệp trênnguyên tắc tự nguyện nhưng có sự hỗ trợ của Nhà nước Sau thế chiến lần thứ 2, một sốnước cũng ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp

Trang 8

Anh là nước đầu tiên ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc vào năm 1911, sau

đó là Italia năm 1919 Học tập Anh và Italia, nhiều nước ở châu Âu cũng ban hành LuậtBảo hiểm thất nghiệp bắt buộc vào những năm 20 của thế kỷ XX Sang thập niên 30 củathế kỷ XX, Mỹ và Canada cũng ban hành Luật Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc

Năm 1921, Luxămbua lần đầu tiên quy định hạn mức chi trả bằng tiền về trợ cấp thấtnghiệp Năm 1938, Newzealand cũng áp dụng chế độ trợ cấp xã hội tổng hợp, trong đó ápdụng thử nghiệm chế độ trợ cấp thất nghiệp Cho đến nay đã có hơn 80 nước trên thế giới

áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp Trong đó có khoảng 1/2 đang thực hiện chế độ Bảohiểm thất nghiệp bắt buộc, và hầu hết các nước đều coi Bảo hiểm thất nghiệp là một nhánhcủa Bảo hiểm xã hội Chương trình Bảo hiểm thất nghiệp thường xuyên được cải cách vàsửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hàng năm

1.2.2 Đối tượng, đối tượng tham gia của Bảo hiểm thất nghiệp

áp dụng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo đối tượng tham gia bảo hiểm xã hộiđược qui định tại Điều 141 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung

Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ là người lao động làm việc theo hợp đồng laođộng có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn

1.2.3 Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp của các quốc gia tuy hoàn toàn không giốngnhau, nhưng đều tập trung vào hai hoặc ba đối tượng: người lao động, người sử dụng laođộng và Nhà nước Kinh nghiệm của 69 nước thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp chothấy hầu như các quốc gia đều có sự hỗ trợ hoặc đóng góp trực tiếp cho việc hình thành từ

sự đóng góp của ba bên là hợp lý, nhất là giai đoạn đầu của bảo hiểm thất nghiệp

1.2.4 Mức hưởng và thời gian hưởng

a) Mức hưởng:

Trang 9

Theo quy định của Công ước quốc tế về bảo hiểm xã hội của ILO số 102 ban hành năm

1952, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối thiểu đối với một người thụ hưởng chuẩn (mộtchồng, một vợ và hai con) tối thiểu bằng 45% mức thu nhập trước đó Công ước của ILO

về thúc đẩy việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp số 168 năm 1988 nâng mức hưởng tốithiểu này lên 50%

Nhìn chung, tỷ lệ hưởng trợ cấp được xác định dựa vào hai tiêu chí sau:

+ Lương bình quân, sao cho đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động.+ Lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Kinh nghiệm thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước cho thấy: ở Hàn Quốc,mức Bảo hiểm thất nghiệp là 50% thu nhập của người lao động ở tháng trước khi họ bị

mất việc làm Ở Trung Quốc mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp theo một nguyên

tắc chung là thấp hơn mức tiền lương tối thiểu nhưng phải cao hơn mức sống tối thiểu của

cư dân thành thị Ở một số nước thực hiện chế độ trợ cấp thất nghiệp trong quá trình

“chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường” như: Bungari mức hưởng là 60% tiền lương trước khi thất nghiệp và 80% lương tối thiểu nếu tự bỏ việc; Hungari là 75% tiền lương trước khi bị thất nghiệp trong vòng 23-90 ngày, sau đó chỉ được 60%; Nga mức hưởng là

75% tiền lương trước khi thất nghiệp sau đó giảm dần

Như vậy, có 4 cách hay được các nước áp dụng là:

- Ấn định mức trả đồng đều cho tất cả mọi người thất nghiệp có chung điều kiện(thường bằng tỷ lệ % so với mức lương tối thiểu)

- Xác định bằng một tỷ lệ theo lương cá nhân Đa số các nước xác định tỷ lệ hưởngbằng 40 - 60% tiền lương

- Xác định theo tỷ lệ luỹ thoái: những tháng đầu được hưởng tỷ lệ cao, những tháng sau

tỷ lệ thấp hơn

- Xác định theo luỹ tiến điều hoà: những người thuộc nhóm lương thấp thì được hưởng

tỷ lệ cao và những người ở nhóm lương cao được hưởng tỷ lệ thấp

b) Thời gian hưởng.

Điều 24 Công ước ILO số 102 quy định trong một năm tổng thời gian chi trả trợ cấp thất nghiệp có thể hạn chế trong vòng 13 tuần Còn theo Công ước ILO số 168 thì khoảngthời gian này là 26 tuần

Thông thường, các nước quy định thời gian hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp từkhoảng 12-25 tuần như: Áo 12 tuần, Đức 13 tuần, Canada 36 tuần.Tuy nhiên, một số nướcqui định khoảng thời gian này rất chặt chẽ Ví dụ như: ở Trung Quốc người thất nghiệp đã

Trang 10

đóng phí Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ 1-5 năm, sẽ được nhận trợ cấp thấtnghiệp trong vòng 12 tháng; tương tự, từ 5-10 năm được hưởng trong 18 tháng và trên 10năm được hưởng tối đa là 24 tháng Trong trường hợp người lao động lại bị thất nghiệpsau khi đã tìm được việc làm thì thời gian đóng góp cho quỹ sẽ được tính toán lại trên cơ

sở xem xét khoảng thời gian họ đã nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây, tuy nhiên mức tối

đa cũng không được vượt quá 24 tháng Luật bảo hiểm của Philippines quy đinh: thời gianhưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp phục thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm, thấp nhất là

2 tháng, cao nhất là 6 tháng Người thất nghiệp sẽ nhận được trợ cấp từ ngày thất nghiệpthứ 7 trở đi Ngoài trợ cấp hàng tháng người thất nghiệp còn được hưởng trợ cấp một lầnban đầu tương đương với hai tháng trợ cấp

c) Điều kiện hưởng Bảo hiểm thất nghiệp

Ở nhiều nước trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp chỉ áp dụng đối với người:

- Bị bắt buộc thôi việc;

- Có đăng ký thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền;

- Có khả năng làm việc;

- Sẵn sàng làm việc và tích cực tìm kiếm việc làm

Điều kiện đủ để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp còn phụ thuộc vào một khoảng thờigian làm việc nhất định có đóng góp bảo hiểm Công ước ILO số 102 khuyến cáo rằngkhoảng thời gian này phải được xem xét để ngăn chặn sự lạm dụng bảo hiểm thất nghiệp.Thời gian đủ điều kiện để hưởng trợ cấp ở các nước là hoàn toàn khác nhau Ví dụ ở

Anh những người đã đóng góp đầy đủ các khoản thuế trợ cấp bảo hiểm Quốc gia (NI) có

quyền nhận trợ cấp cho những người tìm việc làm cho tới 6 tháng (50,35 bảng/tuần chomột người từ 25 tuổi trở lên) bất kể người đó có tiền tiết kiệm hay thu nhập của vợ hoặc

chồng Ở Trung Quốc để nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cần có 3 điều kiện sau: Đã

đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ trọn 1 năm; sự huỷ bỏ công việc đang làm không phải là

do tự bản; thân đã đăng ký thất nghiệp và có đơn xin tái làm việc đã được điền đầy đủ

1.2.5 Các chế độ Bảo hiểm thất nghiệp

- Trợ cấp thất nghiệp;

- Hỗ trợ tìm việc làm;

- Hỗ trợ đào tạo nghề

Trang 11

1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI TRIỂN KHAI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ

Yêu cầu phải có một chương trình Bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc ở Mỹ trở nên rõ rànghơn bao giờ hết trong suốt cuộc khủng hoảng vào thập niên 30 của thế kỷ trước Trước đó,

chỉ có một số rất ít công ty áp dụng các chương trình Bảo hiểm thất nghiệp tự nguyện, và

thậm chí còn ít hơn các công ty có quỹ vốn đủ mạnh để đối phó với những căng thẳng dothất nghiệp kéo dài Một số tổ chức Công đoàn cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cáchxây dựng quỹ thất nghiệp riêng Tuy nhiên, các khoản trợ giúp vẫn hết sức nhỏ bé và chỉgiới hạn trong một khoản thời gian ngắn

Bang đầu tiên của nước Mỹ xây dựng hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp là Wisconsin vào

năm 1932 Cơ sở tiến tới xây dựng hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp trên cả nước là Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 1935 Luật này đã thành lập một chương trình mang

tính liên kết giữa các bang trên cả nước, được thiết kế để hỗ trợ một phần thu nhập bị mấtcho người lao động bị thất nghiệp Chương trình này được đóng góp từ khoản thuế tínhtrên tổng quỹ lương của các doanh nghiệp Theo Luật Bảo hiểm xã hội, Liên bang sử dụngmột phần thuế này cho chi phí quản lý các chương trình Bảo hiểm thất nghiệp và dịch vụviệc làm, còn các bang chỉ được sử dụng thuế thu được để tiến hành chi trả bảo hiểm Mộtbang có thể có luật riêng và tự chịu trách nhiệm về quản lý

Mức hưởng, thời gian hưởng.

Luật của mỗi bang khác nhau về điều kiện hưởng bảo hiểm, khoản tiền bảo hiểm vàthời gian hưởng bảo hiểm (tính theo tuần) Ban đầu, người lao động đủ điều kiện hưởngBảo hiểm thất nghiệp phải chờ từ 2-4 tuần trước khi nhận khoản tiền bảo hiểm và khoảntiền này sẽ kéo dài tối đa trong vòng 20 tuần Nhiều bang kh ô ng y ê u cầu thời gian dự bị,

và không có bang nào quy định thời gian này qu á 1 tuần Từ 1970, thời gian thụ hưởngđược tự động kéo dài thành 39 tuần nếu tỷ lệ thất nghiệp tăng lên quá một mức quy địnhtrước đó Thời gian thụ hưởng ngày càng được kéo dài hơn sau mỗi cuộc suy thoái Ví dụ:trong cuộc suy thoái năm 1981-1982, thời gian thụ hưởng tăng lên 55 tuần Năm 1976,chương trình Bảo hiểm thất nghiệp được thay đổi cho phép chi trả bảo hiểm cho người laođộng bị mất việc có đủ điều kiện bảo hiểm ở tất cả các ngành

Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

Luật của bang về bồi thường thất nghiệp quy định lập ra một quỹ tài chính, đóng gópbởi chủ sử dụng lao động Một vài bang cũng yêu cầu người lao động phải đóng góp Để

Trang 12

có đủ điều kiện nhận chi trả Bảo hiểm thất nghiệp, người lao động bị thất nghiệp phải thoảmãn các điều kiện sau:

- Phải kiếm được một khoản tiền lương tối thiểu theo quy định trong một khoảng thờigian nhất định

- Phải yêu cầu được bồi thường, đăng ký việc làm tại trung tâm giới thiệu việc làm củabang, có khả năng làm việc và sẵn sàng làm công việc phù hợp

Người khiếu nại bảo hiểm sẽ không được nhận bảo hiểm trong trường hợp:

- Người đó tự bỏ việc mà không có nguyên nhân hợp lý

- Bị đuổi việc do không hoàn thành nhiệm vụ, từ chối yêu cầu làm công việc thích hợp Người lao động đáp ứng đủ các yêu cầu sẽ nhận được trợ cấp hàng tuần bằng cáchthông báo bằng đơn theo mẫu tới văn phòng trợ cấp thất nghiệp địa phương cho tới khi họ tìm được công việc mới hoặc thời gian thụ hưởng kết thúc

Ở Mỹ, Bảo hiểm thất nghiệp chi trả cho khoảng một nửa thu nhập sau thuế bị mất mỗituần của người lao động cho đến một mức chi trả cao nhất đã được quy định Nếu thu nhậpthường xuyên của người lao động đó các cao, thì tỷ lệ chi trả càng thấp Một người thụhưởng trung bình nhận được khoản tiền bảo hiểm trong vòng 15 tuần

1.3.2 Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc

Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc được triển khai lần đầu tiên vào năm 1986 và córất nhiều khác biệt so với các nước đang triển khai loại hình bảo hiểm này Cho tới nay,loại hình Bảo hiểm thất nghiệp đã có những thay đổi đáng kể, được tiến hành theo 3 giaiđoạn chính

- Giai đoạn 1 bắt đầu sự triển khai hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp vào năm 1986, với

sự ban hành “Các điều khoản mang tình chất quá độ về bảo hiểm đối với lao động chờ việc ở công ty quốc doanh” Trong thời kỳ này, mục đích của chương trình Bảo hiểm thất

nghiệp là tạo điều kiện thuận lợi cho cải cách kinh tế nhằm tăng năng suất lao động và sứccạnh tranh, bằng cách trao quyền cho các công ty nhà nước trong việc tuyển dụng, ký hợpđồng lao động, giảm lao động dư thừa và năng suất thấp Những cải cách này đã chấm dứtđảm bảo việc làm suốt đời đối với công chức Nhà nước Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp,

vì vậy, có chức năng như là một mạng lưới an toàn xã hội, hỗ trợ thu nhập tạm thời và trợgiúp người thất nghiệp quay trở lại làm việc Đáng chú ý, chương trình này chỉ tính đếnđối tượng là lao động trong các công ty quốc doanh, quỹ bảo hiểm được cung cấp tài chính

từ đóng góp của chủ sử dụng lao động, lãi đầu tư và bao cấp của Nhà nước Khoản tiền

Trang 13

bảo hiểm được tính theo tiền lương tháng trung bình và được chi trả theo thâm niên làmviệc của người lao động và một số tiêu chí khác

- Giai đoạn 2 bắt đầu bằng sự ra đời của “Các điều khoản về lao động chờ việc ở công

ty quốc doanh” vào năm 1993 Những điều khoản mới này mở rộng phạm vi thụ hưởng từ

4 nhóm lao động trong doanh nghiệp nhà nước trước đây lên thành 7 nhóm và thay đổicách tính khoản chi trả bảo hiểm Theo đó, khoản tiền này được tính trước hết dựa vàomức bảo hiểm xã hội (thường vào khoảng 120-140%) được quy định bởi Phòng Bảo hiểm

xã hội địa phương Sau khi áp dụng Luật Lao động mới, có quy định mức lương tối thiểu,mức chi trả bảo hiểm được tính bằng khoảng 70-80% lương tối thiểu tuỳ từng địa phương.Vào thập niên 90 quá trình sát nhập, thanh lý cũng như việc lập mới các công ty Nhà nước diễn ra hết sức sôi động Để giải quyết một lượng lớn lao động bị thay thế, Chínhphủ yêu cầu các doanh nghiệp quốc doanh thành lập ra các Trung tâm trợ giúp việc làmgiúp người lao động tìm việc làm việc mới hoặc tiếp cận được với chương trình Bảo hiểmthất nghiệp Nhờ có các trung tâm này, người lao động bị mất việc vẫn nhận được sự trợgiúp của các công ty tuyển dụng của nhà nước trong vòng 3 năm, mặc dù các nguồn lựckhác đã được huy động để đóng góp tài chính cho chương trình Bảo hiểm thất nghiệp -bao gồm doanh nghiệp, Nhà nước, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp mỗi bên đóng góp đều nhau

để hình thành nên quỹ tài chính Người thất nghiệp được hưởng khoản tiền bảo hiểm đủ đểđáp ứng nhu cầu tối thiểu vào năm 1998, cao hơn so với mức trợ cấp thất nghiệp của cácđịa phương Các trung tâm này cũng phải đóng các khoản phí cho các chương trình bảohiểm xã hội khác như bảo hiểm hưu trí và sức khỏe, các chi phí cho việc đào tạo lại

- Giai đoạn 3, và cũng là giai đoạn của Bảo hiểm thất nghiệp hiện nay ở Trung Quốc

được đánh dấu bởi việc ban hành “Các quy định về Bảo hiểm thất nghiệp” gần đây nhất

vào năm 1999, theo đó, các chương trình Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc có nhiều néttương đồng hơn so với các nước trên thế giới Lần đầu tiên, các cải cách này chính thứcđưa ra định nghĩa về “thất nghiệp” và “Bảo hiểm thất nghiệp”, thay thế cho cụm từ “chờviệc” Khác với các chính sách trước đây, quy định mới yêu cầu khoản đóng góp từ cả chủ

sử dụng lao động và từng người lao động, ngoài ra Chính phủ sẽ hỗ trợ thêm khi quỹ bịthâm hụt Một sự thay đổi đáng chú ý khác và đối tượng của Bảo hiểm thất nghiệp đãđược mở rộng tới mọi lao động thành thị, ngoại trừ người lao động làm việc trong bộ máycông quyền Quy định mới cũng loại bỏ dần các tiêu chuẩn quốc gia về Bảo hiểm thấtnghiệp,tiến tới tiếp cận theo hướng phân quyền, cho phép các tỉnh tuỳ khả năng của mìnhquy định mức chi trả, thời gian thụ hưởng và các vấn đề khác của chương trình Bảo hiểmthất nghiệp Cụ thể:

Trang 14

+ Đối tượng: Các doanh nghiệp, tổ chức ở thành thị và người lao động của họ, không

bao gồm công chức làm trong các bộ máy công quyền hay công nhân, nông dân làm việc ởnông thôn, nhưng lại có tính đến người lao động hợp đồng ở nông thôn được thuê mướnbởi các công ty thành thị Bảo hiểm thất nghiệp Trung Quốc cũng không tính đến đốitượng là các nhóm đặc biệt như sinh viên mới ra trường như ở các nước thuộc OECD vàcác nước đang trong quá trình chuyển đổi có cho phép sinh viên ra trường nhận được bảohiểm với mức thấp hơn

+ Mức hưởng và thời gian thụ hưởng Mức chi trả bảo hiểm không dựa vào thu nhập.

Thay vào đó, nước này đề ra một mặt bằng chi trả được lập ra bởi các chính quyền địaphương Nhưng theo quy định chung, mức sàn này phải cao hơn mức để duy trì mức sốngtối thiểu cho lao động ở thành thị và thấp mức lương tối thiểu của địa phương Trung Quốccũng đề ra mức sàn chi trả để đảm bảo rằng mức chi trả cho những người lao động có mứcđóng góp theo lương thấp nhất không thấp hơn mức tối thiểu được quy định Ở một sốtỉnh, mức hưởng còn phụ thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm Ví dụ ở tỉnh Liêu Ninh,những người lao động có ít hơn 10 năm đóng bảo hiểm nhận được 70% mức tiền lương tốithiểu quy định bởi chính quyền địa phương, còn đối với người có số năm đóng góp trên 10năm, con số này là 80% Các khoản trợ cấp khác gồm trợ cấp y tế cho những người nhậntrợ cấp thất nghiệp bằng tiền mặt và một khoản trợ cấp nhỏ hơn cho người thụ hưởng như

vợ hoặc chồng và con cái trong trường hợp người lao động không may qua đời Quỹ Bảohiểm thất nghiệp ngoài ra còn được sử dụng để chi trả cho các dịch vụ đào tạo và tìm kiếmviệc làm

Thời gian thụ hưởng phụ thuộc vào thời gian đóng phí bảo hiểm Một người đóng phíbảo hiểm ít hơn 5 năm sẽ chi trả trong thời gian 12 tháng, từ 5 đến dưới 10 năm được chitrả trong 18 tháng, còn trên 10 năm sẽ được chi trả trong vòng 24 tháng Vì chương trìnhBảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc không tính đến thời gian dự bị nên thời gian hưởngbảo hiểm sẽ bắt đầu tính kể từ ngày người lao động đăng ký nhận trợ cấp

+ Điều kiện thụ hưởng:

a) Điều kiện ban đầu:

Để đủ điều kiện hưởng Bảo hiểm thất nghiệp, người lao động phải đáp ứng các điềukiện sau:

 Đã đóng bảo hiểm trong thời gian ít nhất là 1 năm

 Bị mất việc do chủ ý của chủ sử dụng lao động

 Đăng ký thất nghiệp và sẵn sàng làm việc khi tìm được công việc phù hợp

Trang 15

Ở Trung Quốc, chủ sử dụng lao động phải có bằng chứng cho thấy người lao động thấtnghiệp, có quyền hưởng trợ cấp và gửi bản danh sách có tên của người thất nghiệp tới cơquan bảo hiểm xã hội địa phương trong vòng 7 ngày Bản thân người lao động cũng phảiđăng ký thất nghiệp với cơ quan bảo hiểm xã hội địa phương.

b) Điều kiện tiếp diễn:

Những điều kiện này ở Trung Quốc yêu cầu người thụ hưởng phải tích cực tìm việc, cókhả năng và sẵn sàng làm việc, cũng như là sẵn sàng làm các công việc phù hợp được đềnghị Một người thụ hưởng vì thế sẽ được coi là không còn đủ điều kiện nữa trong mộtloạt các điều kiện như: đã tìm được công việc mới, được tuyển vào quân đội, di cư sangnước khác hoặc đủ tuổi để nhận bảo hiểm hưu trí Khoản tiền bảo hiểm cũng sẽ kết thúc nếu người lao động từ chối các công việc mà trung tâm xúc tiến việc làm đã được ấn định

đề nghị Để được chấp nhận là đủ điều kiện nhận trợ cấp, người thất nghiệp hàng thángphải báo cáo về nỗ lực tìm việc và quá trình tham gia các khoá đào tạo việc làm, nếukhông sẽ bị cắt trợ cấp trong tháng đó

+ Mức đóng: được chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động (chiếm 2% tổng quỹ lương của

doanh nghiệp) và người lao động (1% tiền lương tháng) Chỉ những lao động hợp đồngnông thôn được thuê mướn bởi các doanh nghiệp ở thành phố mới không phải đóng góp.Việc thu phí được khấu trừ vào lương thông qua một hệ thống cho phép giới chủ giữ lạimột tỷ lệ phần trăm theo yêu cầu từ thu nhập của người lao động Nếu hệ thống Bảo hiểmthất nghiệp ở tỉnh chưa phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng về tài chính, thìchính quyền trung ương không trực tiếp chịu trách nhiệm tài chính đối với chương trìnhnày Chính quyền địa phương thực tế phải chịu toàn bộ các chi phí điều hành hệ thống Bảohiểm thất nghiệp, nhưng thông thường không trực tiếp thực hiện nghĩa vụ chi trả Trongtrường hợp quỹ Bảo hiểm thất nghiệp không đủ khả năng chi trả cho các khoản chi đã thựchiện trong năm, theo luật, quỹ dự phòng của các năm trước, tiền bán trái phiếu Chính phủ,

và quỹ điều chỉnh vốn sẽ được sử dụng để bù đắp khoản thiếu hụt Chính quyền địaphương chỉ phải can thiệp khi một trong ba khoản trên đều không đủ bù đắp

Trang 16

trách nhiệm đăng ký chủ sử dụng lao động và lao động tham gia Bảo hiểm thất nghiệp, lưugiữ hồ sơ, thu đơn khiếu nại đòi bồi thường và xác định điều kiện hưởng và mức hưởng.Tiền thu phí do các phòng thuế địa phương hoặc cơ quan Bảo hiểm xã hội chịu tráchnhiệm Số tiền này được gửi ở các tài khoản đặc biệt ở các Ngân hàng thương mại Trungương Bộ Tài chính thực hiện việc duy trì và quản lý quỹ Bảo hiểm thất nghiệp Chi phíquản lý được chi trả từ nguồn thu chung của Chính phủ, được phân bổ bởi các cơ quan tàichính công thông qua một quy trình phân bổ và hoạch định ngân sách thường xuyên, do

đó, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp dành cho quản lý không phải chịu bất cứ khoản chi nào

Về quản trị tài chính, quỹ Bảo hiểm thất nghiệp do các phòng tài chính địa phương nắm

giữ ở các tài khoản đặc biệt không được phép chuyển giao cho người khác Quỹ chỉ đượcđầu tư vào trái phiếu Chính phủ và tiền gửi Ngân hàng Một quy định đáng chú ý là quỹBảo hiểm thất nghiệp được thu ở cấp huyện, gồm các huyện trực thuộc Chính quyềnTrung ương và các “các thành phố và quận trực thuộc” Quỹ điều chỉnh cấp quận đượchình thành bằng cách trích 4% từ mọi nguồn thu phí trong cả quận Các quỹ này được sửdụng để bổ sung cho quỹ của thành phố hoặc quận bị thâm hụt

Diễn biến mới nhất liên quan đến Bảo hiểm thất nghiệp là chính sách “binggui” được

áp dụng vào năm 2000 Chính sách này giảm gánh nặng của các doanh nghiệp quốc doanhtrong việc hỗ trợ người lao động bị cho thôi việc bằng cách sát nhập các trung tâm hỗ trợviệc làm với chương trình Bảo hiểm thất nghiệp Người lao động mất việc sẽ không cómối quan hệ nào với chủ cũ của họ thông qua các trung tâm hỗ trợ việc làm như trước đây,

mà thay vào đó được trợ giúp trực tiếp bởi chương trình Bảo hiểm thất nghiệp Các quậnđầu tiên thực hiện chính sách này là các quận ở phía Đông Nam như: Thượng Hải, Thiên

An, Bắc Kinh, Quảng Đông, Phúc Kiến…Các trung tâm giới thiệu việc làm ở tỉnh ĐôngBắc là Liêu Ninh đã không còn hoàn động Tính đến cuối năm 2005, có 20 tỉnh đã thựchiện thành công chính sách “binggui”, các trung tâm giới thiệu việc làm chỉ còn đảm nhận200.000 người thất nghiệp so với mức đỉnh điểm năm 1991 là 7.01 triệu người Cũngtrong thời gian này, số người được nhận Bảo hiểm thất nghiệp tăng từ 600.000 lên 6.8triệu người

Với những thay đổi to lớn này, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc dầnthoát khỏi vai trò như một biện pháp tạm thời giải quyết tình trạng tinh giản lao động đểtrở thành một hệ thống Bảo hiểm thất nghiệp thông thường như ở các nước khác trên thếgiới

II BƯỚC ĐẦU TRIỂN KHAI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Trang 17

2.1 TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

2.1.1 Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam

Do cơ cấu dân số trẻ nên nguồn lao động ở nước ta khá dồi dào Mỗi năm có khoảnghơn 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động Riêng năm 2007, ở Việt Nam có khoảng 1.6triệu việc làm được tạo mới, trong đó, 80% là công việc có thu nhập thấp Tỷ lệ sinh viênmới ra trường chỉ đạt 70% Trong năm 2008, Chính phủ đặt chỉ tiêu tạo mới được 1.7 triệuviệc làm Hơn nữa do quá trình đổi mới, một bộ phận lao động trong các doanh nghiệpNhà nước không được sắp xếp công việc, trở nên thất nghiệp Số người này cộng với sốngười chưa được giải quyết việc làm năm trước làm cho tổng số người cần được giải quyết

về việc làm là khá lớn Hiện nay tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tuy có chiều hướng giảm dầnnhưng vẫn khá cao (khoảng 5,6%) Ở nông thôn lại có hiện tượng thiếu việc làm, tỷ lệ thờigian lao động được sử dụng ở nông thôn chỉ đạt 75%

Có thể nói, vấn đề thiếu việc làm đang là vấn đề bức xúc ở Việt Nam Hơn nữa, khichúng ta tiến hành hội nhập, tham gia vào quá trình thương mại hoá toàn cầu và khu vựcthì chỉ trong vòng vài năm nữa thất nghiệp sẽ trở thành một vấn đề quan trọng của nước

ta Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải có chính sách và có đối sách để giải quyết vấn đề thấtnghiệp

2.1.2 Các biện pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp của Chính phủ:

- Chính sách dân số: Thực hiện chính sách dân số là thực hiện các chương trình kếhoạch hoá gia đình, cải thiện sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục và có cơ hội cho phụ nữgiảm tỷ lệ sinh đẻ để từ đó, giảm được tỷ lệ tăng dân số và nguồn lao động

- Ngăn cản di cư từ nông thôn ra thành thị: Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoámạnh mẽ nền kinh tế, kéo theo đó là quá trình đô thị hoá diễn ra cũng hết sức nhanhchóng Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã thực hiện một loạt các chương trình như:Định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn, thay đổi công nghệ trong nông nghiệp, xâydựng thêm trường học, bệnh việc và cơ sở hạ tầng, tăng cường các dự án đầu tư để pháttriển công nghiệp ở khu vực nông thôn… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Chính phủcác nước thường gặp khó khăn về vốn và sử dụng vốn đầu tư

- Giảm tuổi thọ về hưu

- Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế

- Trợ cấp thôi việc, mất việc làm

- Trợ cấp thất nghiệp

- Bảo hiểm thất nghiệp: Nhìn chung, các nước trên thế giới đã vận dụng hợp lý, có hiệu

Trang 18

quả các biện pháp chống thất nghiệp Chính phủ các nước hàng năm cũng giành một sốtiền nhất định cho các chương trình an sinh xã hội Nhưng tình trạng thất nghiệp có xuhướng ngày càng gia tăng và có những biến động phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến ngânsách nên Bảo hiểm thất nghiệp được coi là chính sách tối ưu để giải quyết thất nghiệp, ổnđịnh trật tự xã hội Có hai nguồn chính tài trợ cho chính sách bảo hiểm thất nghiệp: (1) Từngân sách nhà nước; (2) Nguồn đóng góp của các bên Hiện nay hình thức thứ hai được sửdụng phổ biến hơn, kết hợp đóng góp của cả người lao động và chủ sử dụng lao động

2.1.3 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

- Đối với người lao động: Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ là một bộ phận quan trọng

trong chính sách trợ giúp cho người lao động khi bị thất nghiệp Có một thực tế ở ViệtNam là hàng năm có từ 1,1 – 1,5 triệu người bước vào độ tuổi lao động Tuy nhiên, khảnăng hấp thụ của nền kinh tế lại chỉ có có hạn Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá cũng như đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp theo hướng tinh giản hoá, đặc biệt

ở các doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ người lao động vì nhiều nguyênnhân khác nhau bị mất việc làm, đời sống hết sức khó khăn Trên thực tế, lao động thuộcnhững ngành bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ như: chế biến thủy sản, dệt may, da giày…

và những lao động có trình độ tay nghề thấp sẽ có nguy cơ mất việc làm cao và sẽ rất cầnđến chế độ bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo đảm cho họ nguồn thu nhập nhất định trongthời gian đi tìm việc làm mới, được đổi nghề nếu ngành nghề cũ hết chỗ làm Bảo hiểmthất nghiệp ra đời sẽ là một biện pháp hữu hiệu Bởi ngoài khoản tài chính đảm bảo ổnđịnh cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc, bảo hiểm thất nghiệp cònthông qua các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm giúp người lao động thất nghiệptìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định

- Đối với chủ sử dụng lao động Bảo hiểm thất nghiệp ra đời, trước hết giúp giảm ngân

sách của doanh nghiệp Từ trước đến nay, khi chưa có Bảo hiểm thất nghiệp, doanh nghiệphoàn toàn phải tự mình chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động bị thất nghiệp mà

không có sự chia sẻ từ phía người lao động và đặc biệt là từ phía Nhà nước Tuy nhiên, khi

Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực thì doanh nghiệp chỉ cần định kỳ đóng một khoản nhỏtrong tổng quỹ lương để hình thành quỹ tập trung Quỹ này, ngoài doanh nghiệp, còn có

sự đóng góp của cả người lao động và Nhà nước sẽ có trách nhiệm chi trả cho người laođộng khi xảy ra thất nghiệp

Mặt khác, Bảo hiểm thất nghiệp còn giúp thắt chặt hơn mối quan hệ giữa người lao

Ngày đăng: 07/08/2013, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w