Từ những mặt hạn chế của hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện là một yêu cầu rất bức bách. Đặc biệt, trong những năm tới, khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như tiếp tục thực hiện chính sách hội nhập kinh tế ở mức độ cao hơn, ngành kiểm toán sẽ đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi, đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Do đó, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán là công việc hết sức cần thiết, góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh và hỗ trợ cho việc quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước về hoạt động kế toán, kiểm toán bao gồm: Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện và đổi mới hệ thống văn bản pháp luật kiểm toán. Phải xây dựng hệ thốn văn bản pháp luật hoàn chỉnh thoả mãn yêu cầu của kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế phổ biến. Trong bối cảnh môi trường kinh tế, tài chính đang phát triển chúng ta phải luôn rà soát lại hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán để tìm ra những vấn đề còn bất cập, hay khác biệt với thông lệ quốc tế để kịp thời điều chỉnh và bổ sung.
Trang 1PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN
1.1 Lý luận chung về chuẩn mực kiểm toán và nguyên tắc xây dựng chuẩn mực kiểm toán
1.1.1 Chuẩn mực kiểm toán
Kiểm toán đã hình thành và phát triển từ thế kỉ XV, ở Châu Âu.Cùng với sự phát triển của kinh doanh, người ta thấy xuất hiện một vấn đềmới: gian lận tài chính Từ đó xuất hiện sự cần thiết của kiểm toán để điềutra nhằm làm sáng tỏ những mối quan hệ tài chính, với mục đích phát hiệntác giả của những cuộc phá sản gian lận Từ đó đến nay các phương phápkiểm toán đã không ngừng được bổ sung và phát triển cùng với sự pháttriển của hoạt động kinh tế và sự cải tiến các công cụ quản lý doanh nghiệp(DN) Năm 1948 Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đã ban hànhcác chuẩn mực kiểm được chấp nhận phổ biến (GAAS) Tiếp theo đóchuẩn mực kiểm toán lần lượt ra đời ở các quốc gia như ở Úc (1951), Đức(1964), Pháp (1971), Anh (1980),…
Ở Việt Nam từ những năm 90 sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế,kiểm toán độc lập đã hình thành, Kiểm toán nhà nước cũng đã được thànhlập Từ những năm đầu tiên dù hệ thống pháp chế còn nhiều đơn giảnnhưng nhờ ý thức trách nhiệm và kỷ cương trong công tác tài chính kế toánrất tốt góp phần quan trọng đưa công tác quản lý tài chính đi vào nền nếp.Kiểm tra nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêngđã được quan tâmngay từ thời kỳ đầu xây dựng đất nước Do nhu cầu kiểm toán ngày càngcao, đòi hỏi phải có một hệ thống chuẩn mực phù hợp
Theo quy định tại Nghị định số 105/2004/NĐ - CP về kiểm toán độclập, chuẩn mực kiểm toán là quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc vàthủ tục kiểm toán làm cơ sở để kiểm toán viên và doanh nghiêp kiểm toánthực hiện kiểm toán và làm cơ sở kiểm soát chất lượng hoạt động kiểmtoán
Nhằm phát triển và tăng cường sự phối hợp của ngành nghề mộtcách hài hoà trên toàn thế giới, IFAC đã uỷ nhiệm cho IAASB ban hành Hệthống Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế ( International Standard on Auditing –
Trang 2ISA) Mỗi thủ tục trình bày về những thủ tục, nguyên tắc cơ bản và thểthức áp dụng chúng trong một vấn đề cụ thể Các nguyên tắc cơ bản xuyênsuốt cuộc kiểm toán gồm:
Bốn là: Công việc do người khác thực hiện:
Kiểm toán viên phải chỉ đạo chu đáo, giám sát chặt chẽ và rà soát lạiphần việc đã uỷ thác cho trợ lý và chịu trách nhiệm về soạn thảo và trìnhbày các ý kiến nhận xét của mình về các thông tin tài chính
Năm là: Dẫn chứng bằng tài liệu
Kiểm toán viên phải dẫn chứng bằng tài liệu các vấn đề quan trọng đểcung cấp bằng chứng minh chứng rằng công việc kiểm toán được tiến hànhphù hợp với các nguyên tắc cơ bản
Sáu là: Lập kế hoạch
Kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việctiến hành có hiệu quả, đúng thời gian
Bảy là: Bằng chứng kiểm toán:
Kiểm toán viên cần thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thíchhợp thông qua thực hiện các phương pháp cơ bản và tuân thủ Điều đó giúpkiểm toán viên rút ra kết luận hợp lý về quá trình kiểm toán làm cơ sở chonhận xét về các thông tin tài chính
Tám là: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ:
Trang 3Kiểm toán viên cần bảo đảm một cách hợp lý rằng hệ thống kế toán làthích hợp và mọi thông tin kế toán đều được ghi chép đầy đủ, kịp thời
Chín là: Kết luận và báo cáo kiểm toán:
Kiểm toán viên phải soát xét lại và đánh giá các kết luận rút ra từ cácbằng chứng đã thu thập được làm căn cứ cho việc diễn đạt các nhận xét củamình về các thông tin tài chính Báo cáo kiểm toán cần được diễn đạt rõràng khúc chiết các nhận xét của kiểm toán viên về các thông tin tài chính.Thông qua hoạt động thực tiễn dần dần ISA đã được một số quốc giacông nhận là tiêu chuẩn kiểm toán báo cáo tài chính, chúng đã và đangđược chấp nhận rộng rãi trong nền tài chính quốc tế Phạm vi không chỉgiới hạn trong kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập mà còn ápdụng cả lĩnh vực khác như trong lĩnh vực công
Chuẩn mực kiểm toán quốc gia có thể được ban hành bởi Chính phủ,nhưng thường là do tổ chức nghề nghiệp của kiểm toán độc lập ban hành.Bên cạnh đó, các tổ chức nghề nghiệp còn ban hành những hướng dẫn,nghiên cứu và xuất bản những tài liệu tham khảo, các giải thích hay hướngdẫn về lĩnh vực cụ thể Thông thường, dưới hình thức hệ thống chuẩn mựcnghề nghiệp cụ thể các chuẩn mực kiểm toán do các tổ chức hiệp hội nghềnghiệp nghiên cứu, soạn thảo và ban hành cho từng loại hình kiểm toánhoặc cho kiểm toán nói chung
Do quan hệ khác nhau giữa chủ thể với khách thể kiểm toán và đốitượng cụ thể của kiểm toán khác nhau nên để điều chỉnh các quan hệ đócũng khác nhau chẳng hạn chuẩn mực cụ thể dung để điểu tiết các chủ thểkhác nhau như kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.Cũng từ đó chuẩn mực kiểm toán có thể được biểu hiện ở các hình thứckhác nhau song có thể quy về hai hình thức cơ bản là: Luật kiểm toán và hệthống chuẩn mực kiểm toán cụ thể
Như vậy hình thức cao nhất của chuẩn mực kiểm toán là Luật kiểmtoán được ban hành bởi cơ quan lập pháp (Quốc Hội) sau đó là các văn bảnpháp quy dưới luật do các cơ quan nhà nước ban hành (Bộ Tài Chính) Vớicác chuẩn mực loại này tính pháp lý của quy định đạt mức cao và có ýnghĩa điều tiết các hành vi của nhiều phía có liên quan Vì vậy, hình thức
Trang 4này bao hàm những quy định chung nhất với tính pháp lý cao cho kiểmtoán Nhà nước và kiểm toán độc lập
Các loại chuẩn mực kiểm toán được ban hành phù hợp với tính đadạng của bản chất kiểm toán Chẳng hạn chuẩn mực kiểm toán được thừanhận rộng rãi áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính, chuẩn mực xác thực
áp dụng cho các dịch vụ xác thực thông tin, chuẩn mực về tư vấn áp dụngcho loại hình dịch vụ tư vấn, chuẩn mực thực hành nghiệp vụ đối với kiểmtoán nội bộ áp dụng cho kiểm toán nội bộ, chuẩn mực kiểm toán nhà nước
áp dụng cho kiểm toán nhà nước,… Hệ thống chuẩn mực này rất cụ thể cóthể hướng dẫn và là cơ sở trực tiếp cho việc thực hành kiểm toán
Xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cần phải có lýluận cho ngành kiểm toán đang phát triển ở Việt Nam Ở nước ta sự hìnhthành và phát triển của kiểm toán xuất phát từ yêu cầu khách quan, đòi hỏicủa quá trình chuyển đổi nền kinh tế
1.1.2 Cơ sở xây dựng chuẩn mực
Để xây dựng một hệ thống pháp lý nói chung và chuẩn mực kiểm toánnói riêng phải dựa trên cơ sở nhất định
Cơ sở chung của quy định pháp lý là quy phạm pháp lý Quy phạmpháp lý có thể bao gồm:
Thứ nhất: Quy phạm điều chỉnh: qui định quyền và nghĩa vụ của các
bên tham gia quan hệ pháp lý
Thứ hai: Quy phạm bảo vệ: xác định các biện pháp cưỡng chế đối vớihành vi bất hợp pháp
Thứ ba: Quy phạm định ra các nguyên tắc, định hướng cho các hành vi Thứ tư: Quy phạm thủ tục: qui định trình tự thực hiện các quy phạm
nội dung nói trên
1.1.3 Những chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến ( GAAS )
GAAS là những chuẩn mực có hiệu lực mà kiểm toán viên phải tuânthủ khi tiến hành kiểm toán và là cách thức bảo đảm chất lượng công việckiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận phổ biến gồm mườichuẩn mực và được chia thành ba nhóm chuẩn mực sau:
Trang 5Thứ nhất: Nhóm chuẩn mực chung: gồm ba chuẩn mực và được ápdụng trong tất cả các giai đoạn của một cuộc kiểm toán Gồm:
Một là: Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm người được
đào tạo nghiệp vụ tương xứng và thành thạo chuyên môn như một kiểmtoán viên thực hiện
Hai là: Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán kiểm toán
viên phải giữ một thái độ độc lập
Ba là: Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng
mực trong suốt cuộc kiểm toán
Thứ hai: Nhóm chuẩn mực thực hành: gồm 3 chuẩn mực yêu cầu kiểmtoán viên phải tuân thủ khi thực hiện công việc kiểm toán thực tế:
Một là: Phải lập kế hoạch chu đáo cho công việc kiểm toán và giám
sát chặt chẽ những người trợ giúp nếu có
Hai là: Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm toán nội bộ để lập kế
hoạch kiểm toán và xác định nội dung, thời gian và quy mô của những thửnghiệm sẽ thực hiện
Ba là: Phải thu được đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc
kiểm tra, quan sát, thẩm vấn và xác nhận để có được cơ sở hợp lý cho ýkiến về báo cáo tài chính được kiểm toán
Thứ ba: Nhóm chuẩn mực báo cáo: gồm bốn chuẩn mực cung cấp chokiểm toán viên những chỉ dẫn để lập báo cáo kiểm toán Gồm:
Một là: Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bảng khai tài chính có được
trình bày phù hợp với những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãihay không
Hai là: Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra các trường hợp không nhất quán
về nguyên tắc giữa kỳ này với các kỳ trước
Ba là: Phải xem xét các khai báo trên bảng khai tài chính có đầy đủ
một cách hợp lý không trừ những trường hợp khác được chỉ ra trong báocáo
Bốn là: Báo cáo kiểm toán phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài
chính hoặc khẳng định không thể đưa ra ý kiến được kèm theo việc nêu rõ
lý do Trong mọi trường hợp ký tên vào báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên
Trang 6phải nêu rõ trong báo cáo đặc điểm cuộc kiểm toán và mức độ trách nhiệmcủa kiểm toán viên.
1.1.4.Nguyên tắc xây dựng Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
1.1.4.1 Phân loại chuẩn mực kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán dù biểu hiện ở hình thức nào: luật pháp haychuẩn mực cụ thể đều phải xuất phát từ những nhận thức đúng về bản chấtcủa lĩnh vực được thể hiện và mối liên hệ của nó với các lĩnh vực có liênquan Những nhận thức này phải đặt trong mối quan hệ giữa cái chung vàcái riêng cùng hàng loạt mối quan hệ khác Đồng thời để thống nhất vềnhận thức, những vấn đề cơ bản và các mối liên hệ này cũng cần được thểchế hoá đầy đủ
Trong xây dựng chuẩn mực kiểm toán điều đặc biệt chú ý là hệ thốngchuẩn mực kiểm toán gồm 2 phân hệ riêng biệt:
Thứ nhất: Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp:
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là những qui tắc cụ thể hướng dẫncho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực phục vụ cholợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp yêu cầu mỗi kiểm toán viên phải làngười có đạo đức, và mỗi tổ chức kiểm toán phải là cộng đồng của nhữngngười có đạo đức Vì thế đạo đức nghề nghiệp được xác định rõ rang, công
bố và trở thành yêu cầu bắt buộc trong nghề kiểm toán Đạo đức nghềnghiệp không chỉ giúp quản lý và giám sát chặt chẽ mọi kiểm toán viên và
tổ chức kiểm toán mà còn là tiêu chuần đánh giá hành vi đạo đức của kiểmtoán viên
Nói cách khác, bên cạnh và cùng với pháp luật việc tuân thủ cácchuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giúp các thành viên luôn duy trì thái độnghề nghiệp đúng đắn, góp phần bảo vệ và nâng cao uy tín nghề Các vấn
đề về đaọ đức nghề nghiệp có thể bị chi phối bởi pháp luật (Ví dụ: vấn đềbảo mật), hoặc không bị chi phối bởi pháp luật ( Ví dụ: Việc kiểm toánviên phải luôn đi tìm sự hoàn hảo trong công việc)
Như vậy, đạo đức nghề nghiệp được hiểu là những chỉ dẫn để cáckiểm toán viên luôn duy trì thái độ nghề nghiệp đúng đắn nhằm bảo vệ vànâng cao uy tín nghề nghiệp
Trang 7Về nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc cơ bảnsau: Chính trực, Khách quan, Độc lập, Bí mật, Các chuẩn mực nghiệp vụ,Trình độ nghiệp vụ, Đạo đức ứng xử.
Thứ hai: Chuẩn mực chuyên môn về kiểm toán
Phân hệ này xây dựng trên nhận thức thống nhất về bản chất, chứcnăng, đối tượng, khách thể, phương pháp kiểm toán cùng những chuẩn mựcđang được chấp nhận phổ biến (GAAS)
Chuẩn mực kiểm toán là những quy định tối thiểu cần thiết nhưngcũng phải cụ thể đến mức có thể điều tiết được hành vi và đo lường đượcchất lượng công việc của kiểm toán viên Theo kinh nghiệm của các nướcphát triển việc cụ thể hoá được thực hiện theo ba bước:
Bước I: Lựa chọn các văn bản chỉ đạo của IFAC áp dụng cho kiểmtoán từng nước
Bước II: Cụ thể hoá văn bản trên thành các chuẩn mực cụ thể
Bước III: Giải thích chuẩn mực
1.1.4.2 Nguyên tắc xây dựng Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trong thực tiễn kiểm toán của nước nhất là những nước mới hìnhthành hoạt động kiểm toán các chuẩn mực cụ thể thường được nghiên cứu,vận dụng từ những chuẩn mực phổ biến Việc lựa chọn những chuẩn mực
cụ thể cũng phải xuất phát từ đặc điểm văn hoá, truyền thống đạo đức vàtrình độ tổ chức ở những mặt hoạt động được chi phối của từng nước
Ở Việt Nam kiểm toán đã trở thành công cụ đắc lực có vai trò quantrọng trong việc thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát tình hình tàichính, tổ chức sắp xếp nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp, các cơquan hành chính sự nghiệp Điều cơ bản là phải sử dụng có hiệu quả cácnguồn tài chính, tài nguyên, tài sản quốc gia Điều này đòi hỏi kiểm toánphải sớm hoàn thiện các chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực về nghiệp vụ kiểmtoán trong đó có cả xây dựng một quy trình kiểm toán vì các chuẩn mựcnày sẽ là cơ sở, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển và đảm bảo chất lượngcho mỗi cuộc kiểm toán nói riêng và hoạt động kiểm toán nói chung
Nguyên tắc cơ bản xây dựng chuẩn mực kiểm toán ở nước ta có thểbao gồm năm nguyên tắc sau:
Trang 8Thứ nhất: Xây dựng chuẩn mực kiểm toán phải xuất phát từ thực tiễn,quản lý phải phù hợp với môi trường pháp luật, môi trường hạch toán kếtoán ở Việt Nam.
Việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán cũng như các loại chuẩn mựckhác phải luôn gắn chặt với việc thực hiện các chuẩn mực đó vì đạo lý vàcông bằng sinh ra từ ý chí và quyền lực mà ý chí và quyền lực lại xuất phát
từ thực tiễn Xét về mặt biện chứng đây là mối quan liên hệ giữa thực tiễn
có trước song khoa học phải có tác dụng hướng dẫn Do đó chuẩn mựckhông phải là cái vĩnh cửu, càng không thể có trước thực tiễn cũng khôngthể không có khi thực tiễn tồn tại Kiểm toán cần có hệ thống chuẩn mực vàcần hoàn thiện nó từng bước
Việt Nam đang nhận được sự đầu tư khá lớn từ nước ngoài trong khimỗi nhà đầu tư đều mong muốn rằng đầu tư của họ phải có hiệu quả caonhất và họ thường gắn với một đơn vị kiểm toán cụ thể Sự lớn mạnh củanhà đầu tư đòi hỏi phạm vi hoạt động của kiểm toán phải mở rộng tươngứng
Trên thực tế, hoạt động kiểm toán đã không còn là của một tổ chức,một quốc gia mà nó đã vượt qua biên giới của từng nước và xâm nhập đanxen lẫn nhau trên cùng một địa bàn, một nước Việc quản lý từng chươngtrình dự án nói riêng và quản lý ở tầm cao hơn - quản lý ở tầm vĩ mô ngàycàng gia tăng và phức tạp Do đó, cơ sở tốt nhất để tiến hành quản lý làphải có một khung pháp lý, một hệ thống pháp luật quy định rõ rang cụ thể.Không thể xây dựng một hệ thống chuẩn mực kiểm toán tách rời hay tráingược với hệ thống pháp lý chung mà phải là hoạt động gắn với một hệthống pháp lý Vì vậy, xây dựng hệ thống pháp lý kiểm toán không thểkhông xem xét kỹ lưỡng quan hệ pháp lý trong từng phân hệ, từng văn bản,từng điều khoản cụ thể…
Trong hệ thống pháp lý về kiểm toán bao gồm nhiều hình thức khácnhau: Sắc lệnh, Pháp lệnh, Chuẩn mực, Chế độ, Quy chế,… Mỗi hình thức
có thể thực hiện trên các chủ thể kiểm toán khác nhau: Kiểm toán nhànước, Kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ Chúng ta cần phải thống nhấtcác văn bản pháp lý cần xây dựng chung hoặc riêng cho các chủ thể kiểm
Trang 9toán, trong đó thống nhất chuẩn mực cụ thể chỉ quy định về những vấn đề
về kiểm toán viên và công tác kiểm toán
Thứ hai: Xây dựng chuẩn mực kiểm toán phải xuất phát từ yêu cầu vànguyên tắc của hoạt động kiểm toán
Yêu cầu của một cuộc kiểm toán xét về khía cạnh chất lượng bao gồmtính hiệu lực, tính hiệu quả và tính kinh tế
Tính hiệu quả là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảmbảo đạt được mục tiêu của đơn vị Có nghĩa là kết quả được tạo ra nhiềuhơn so với mục đích, mục tiêu hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng đúngnguồn lực đã được xác định, hoặc kết quả tạo ra đúng như mục tiêu, mụcđích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng lại ít đi Nói cách khác tínhhiệu quả nhằm hướng đến việc cải tiến hoạt động để giảm giá thành hoặcnguồn lực sử dụng trên một đơn vị kết quả tạo ra Như vậy tính hiệu quảliên quan mật thiết giữa “ yếu tố đầu vào” và “kết quả đầu ra” được thểhiện qua chỉ tiêu năng suất đạt được
Tính hiệu lực được xác định như là một khái niệm hướng đến cái đíchcuối cùng là đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu, mục đích đã đượcđịnh trước cho một hoạt động hoặc một chương trình đã được thực hiện(đạtđược kết quả thoã đáng từ việc sử dụng nguồn lực và các hoạt động của tổchức) Vì vậy, điểm quan trọng trong tính hiệu lực là phải xem xét giữa kếtquả mong đợi trong kế hoạch với kết quả thực tế qua hoạt động
Tính kinh tế có thể định nghĩa là “ tối thiểu hoá chi phí cho các nguồnlực sẽ được sử dụng nhưng vẫn đảm bảo đạt được kết quả đầu ra có chấtlượng phù hợp Như vậy, nội dung của tính kinh tế nhấn mạnh đến yếu tốđầu vào tức là việc có được tất cả các nguồn lực để sử dụng hoặc cần đến.Khi kiểm toán tính kinh tế kiểm toán viên cố gắng xem xét các nguồn lực
có được sử dụng đúng số lượng, địa điểm, thời gian, chủng loại và giá cảhay không Cụ thể hơn là kiểm toán viên xem xét đơn vị có khả năng giảmthấp chi phí hơn việc chi tiêu so với quy định nhưng vẫn đạt được nguồnlực như mong muốn hay không? Hoặc khi đơn vị đã có những nguồn lực
đó rồi còn có cách lựa chọn nào khác để giảm được chi phí so với hiện tạihay không?
Trang 10Ngoài ra các nguyên tắc cơ bản của hoạt động kiểm toán còn bao gồmviệc tuân thủ pháp luật, tính độc lập, khách quan… cũng được đặc biệt coitrọng khi xây dựng và thực hiện chuẩn mực kiểm toán.
Thực tế, chuẩn mực kiểm toán thể hiện ở hình thức pháp luật hay hệthống chuẩn mực cụ thể cũng phải xuất phát từ cơ sở lý luận khoa học cụthể Đó là những nhận thức đúng đắn về loại hình kiểm toán và đối tượngkiểm toán cụ thể Đồng thời khi xây dựng chuẩn mực kiểm toán pahỉ tuânthủ nguyên tắc thống nhất trong việc thiết kế các nội dung Có nghĩa là khixây dựng các chuẩn mực cụ thể vừa phải đáp ứng được đầy đủ các nguyêntắc mà không được có mâu thuẫn hay ngoại trừ một nguyên tắc nào Mỗinguyên tắc được đặt trong tổng thể các nguyên tắc khác cùng làm căn cứcho việc xây dựng các chuẩn mực được dễ dàng, hợp lý và khoa học
Thứ ba: Phải hội nhập với thông lệ kiểm toán phổ biến của kiểm toánquốc tế trên cơ sở những nguyên lý chung, những kỹ thuật chung của kiểmtoán đồng thời phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đặc biệt là truyềnthống văn hoá, đạo đức và đặc điểm quản lý chung có liên quan
Xuất phát từ quan điểm trong việc lựa chọn những chuẩn mực quốc tếkhông thể không tách rời đặc điểm của từng nước, đặc biệt là truyền thốngvăn hoá, đạo đức và đặc điểm quản lý chung có liên quan Khi xây dựngchuẩn mực kiểm toán chúng ta cần có sự lựa chọn những chuẩn mực cụ thểphù hợp với nét riêng biệt của nước mình Ở Việt Nam tuy yêu cầu của mởcửa và hội nhập buộc chúng ta phải tiếp cận các chuẩn mực và thông lệquốc tế song chúng ta chỉ hoà nhập chứ không hoà tan, do đó không thểvận dụng một cách máy móc một hệ thống chuẩn mực chung nào củaIFAC, INTOSAI Chính các tổ chức kiểm toán quốc tế cũng chỉ rõ : Cácquốc gia tuỳ điều kiện pháp lý và quản lý cụ thể của mình cần xuất phát từchuẩn mực kiểm toán quốc tế để xây dựng một hệ thống chuẩn mực phùhợp Với định hướng riêng và nét đặc thù trong quản lý, việc tham khảo vàhọc hỏi các chuẩn mực kiểm toán của các nước trong khu vực và trên thếgiới là rất cần thiết Song cần phải nhận biết rõ nguyên tắc này để cóphương hướng rõ ràng trong việc hoạch định chi tiết các mối liên hệ cầnhướng dẫn, điều tiết, từng bước xây dựng chuẩn mực kiểm toán nước tađưa kiểm toán nước ta lên tầm cao mới tương xứng với sự phát triển, hoàn
Trang 11thiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tương thíchvới xu hướng hội nhập kinh tế.
Thứ tư: Chuẩn mực kiểm toán cần được xây dựng đầy đủ, rõ ràng, dễhiểu và bảo đảm tính toàn diện và khả thi cao
Nguyên tắc này đòi hỏi chuẩn mực kiểm toán phải xác định được cácmối liên hệ tối thiểu cần điều tiết, hướng dẫn Vì vậy phải tham khảo kinhnghiệm của các nước trong việc thể hiện các mối quan hệ đó và phải xuấtphát từ thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở đó xác định số lượng và cơ cấu cácchuẩn mực Sau đó, cần có bản giải thích các chuẩn mực để thống nhấtnhận thức và thực hiện Trong hướng dẫn cần chú ý tính tiên tiến của các
“thước đo” này nhằm từng bước nâng cao tính kỷ cương và nền nếp quản
lý nhưng phải giới hạn ở mức có thể thực hiện được
Thứ năm: Xây dựng chuẩn mực kiểm toán cần tính đến sự phát triểnlâu dài của kiểm toán ở Việt Nam
Trên thế giới, hoạt động kiểm toán đã xuất hiện từ những năm 30 củathế kỷ XX, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nói chung đã có bề dày lịch sử,kinh nghiệm cũng như trình độ về kiểm toán đã đạt cung bậc nhất định Đốivới Việt Nam, kiểm toán có thể xem như là mới bắt đầu Do đó, trong quátrình xây dựng chúng ta cần phải có những định hướng cụ thể ở hiện tạicũng như trong tương lai Ở nước ta kiểm toán ra đời sau cũng có nhữngthuận lợi nhất định, chúng ta có thể kế thừa những cái đã có trong hệ thốngchuần mực kiểm toán, có quyền lựa chọn những chuẩn mực cụ thể trong hệthống chuẩn mực quốc tế đồng thời phát huy sang tạo những chuẩn mựckiểm toán đó cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam
Ngày nay, trong thời đại thông tin chúng ta cần phải có sự linh hoạttrong lĩnh vực hoạt động này Khi xây dựng chuẩn mực kiểm toán cần phải
có sự tính toán đến sự phát triển lâu dài của kiểm toán Việt Nam Đây làmột trong những nguyên tắc quan trọng không thể thiếu khi xây dựng hệthống chuẩn mực kiểm toán ở nước ta Trong điều kiện sự phát triển ngàycàng mạnh mẽ của tri thức đặc biệt là công nghệ thông tin thì việc tin họchoá phải được tính đến trong chuẩn mực kiểm toán
Trang 121.2.Vấn đề xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán ở Việt Nam
Ngày 29/01/1994 Nghị định 07/CP của Chính Phủ ban hành “ quychế về kểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân” đã đặt nền tảng pháp
lý đầu tiên cho kiểm toán độc lập ở Việt Nam Tuy nhiên, từ điểm xuất phátnày đến môi trương pháp lý đầy đủ cho hoạt động kiểm toán vẫn cònkhoảng cách khá xa, gồm nhiều vấn đề cần giải quyết Một trong nhữngvấn đề đó là việc xây dựng hệ thống CMKTVN, về vấn đề này có một số ýkiến đóng góp như sau:
Thứ nhất: Phác thảo về hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt NamCác chuẩn mực kiểm toán được ban hành để hướng dẫn kiểm toánviên Do đó, chuẩn mực kiểm toán đóng vai trò chủ yếu trong chuẩn hoáhoạt động kiểm toán và giải quyết vấn đề trách nhiệm pháp lý của kiểmtoán viên Có thể chia làm hai loại chuẩn mực kiểm toán:
Một là: Chuẩn mực kiểm toán quốc gia là hệ thống chuẩn mực kiểm
toán có tác dụng trong phạm vi quốc gia Mỗi quốc gia đều đi đến việc hìnhthành một hệ thống chuẩn mực kiểm toán cho mình bao gồm
Các chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản trong việc điềuhành và thực hiện kiểm toán, có tính chất quyết định trách nhiệm nghềnghiệp của kiểm toán viên
Các nguyên tắc thực hành là những chỉ dẫn có hiệu lực về các thủ tụckiểm toán để áp dụng các chuẩn mực kiểm toán Các nguyên tắc thực hànhđược xây dựng trên cơ sở của các chuẩn mực kiểm toán Mổi nguyên tắcđược ban hành thường giải quyết một vấn đề, ví dụ: kế hoạch kiểm toán,xem xét và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, lấy mẫu kiểm toán,… khithực tiễn có những vấn đề nảy sinh những nguyên tắc này có thể sửa đổi,
bổ sung hoặc ban hành thêm dựa trên các nguyên lý cơ bản trong chuẩnmực kiểm toán Ở Mỹ, các nguyên tắc nguyên tắc thực hành này được gọi
là các thông báo về chuẩn mực kiểm toán(SAS), còn ở Australia chúngđược gọi là thông báo về thực hành kiểm toán(AUP), các SAS được xâydựng trên cơ sở của GAAS còn các AUP được xây dựng trên cơ sở củaAUS,…
Các hướng dẫn, giải thích về kiểm toán là những hướng dẫn chi tiếtviệc áp dụng các nguyên tắc thực hành hoặc những hướng dẫn kiểm toán
Trang 13những ngành nghề đặc biệt, đặc thù mà kiểm toán viên có thể áp dụng khitiến hành kiểm toán.
Như vậy, chuẩn mực kiểm toán quốc gia là một hệ thống chung nhấtđến chi tiết, quá trình chi tiết hoá cũng chính là quá trình “mềm hoá” để cóthể vận dụng phù hợp với thực tế:
Các nguyên tắc thực hành, các hướng dẫn giải thích về kiểm toán cóthể điều chỉnh, phát sinh theo thực tiễn kiểm toán
Các giải thích, hướng dẫn về kiểm toán không có tính chất bắt buộcnhư các chuẩn mực và các nguyên tắc thực hành
Hai là: Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Nhằm phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán trênphạm vi toàn thế giới các chuẩn mực phải có sự hài hoà.(Hiến chương củaliên đoàn kế toán quốc tế IFAC ban hành các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toánquốc tế, các nguyên tắc này được ban hành trên cơ sở tổng hợp ý kiến vàbiểu quyết của các nước thành viên đối với từng vấn đề Từ tháng 1 năm
1980 đến tháng 7 năm 1990 đã có 29 nguyên tắc được phê chuẩn và banhành về nhiều vấn đề quan trọng của kiểm toán)
Khác với các chuẩn mực quốc gia, chuẩn mực kiểm toán quốc tếkhông có tính chất bắt buộc Các nước chưa có chuẩn mực kiểm toán quốcgia sẽ được khuyến cáo nên dựa vào hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
để xây dựng chuẩn mực kiểm toán cho mình
Như vậy, có thể phác thảo một số định hướng trong việc xây dựng hệthống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam như sau:
Xây dựng trên căn bản chuẩn mực kiểm toán quốc tế, để hệ thốngchuẩn mực kiểm toán Việt Nam khi ra đời đã phù hợp với các chuẩn mựcquốc tế thuận lợi trong việc hoà nhập với hoạt động kiểm toán quốc tế,giảm bớt các điều chỉnh sau này
Những vấn đề chuẩn mực kiểm toán quốc tế chưa đề cập tới sẽ thamkhảo hệ thống chuẩn mực kiểm toán của các nước phát triển và các nướctrong khu vực kết hợp với việc xem xét thực tiễn ở Việt Nam
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam nên xây dựng thành từng bộphận từ các nguyên lý cơ bản đến hướng dẫn chi tiết với mức độ cưỡng bứckhác nhau có thể áp dụng uyển chuyển trong thực tế
Trang 14Thứ hai: Quá trình hình thành Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán
Quá trình hình thành hệ thống chuẩn mực kiểm toán là một quá trìnhlâu dài trong suốt lịch sử phát triển của hoạt động kiểm toán Có thể hìnhdung quá trình này diễn ra theo hai hướng:
Thứ nhất, đó là quá trình chuẩn hoá hoạt động kiểm toán từ mức độmột công ty kiểm toán cho đến mức độ toàn thế giới Từ thực tiễn công táckiểm toán, các kiểm toán viên hình thành phương thức tiếp cận của riêngmình để làm cơ sở thiết kế các thủ tục kiểm toán cho mỗi hoạt động cụ thể.Các công ty kiểm toán sẽ tập hợp phương thức tiếp cận này để xây dựngmột quy trình kiểm toán chuẩn cho mình làm cơ sở nâng cao chất lượngkiểm toán và đào tạo kiểm toán viên Các Hiệp hội nghề nghiệp của kiểmtoán viên sẽ dựa trên các quy trình của công ty để hình thành chuẩn mựckiểm toán quốc gia và bảo vệ uy tín nghề nghiệp Sau đó, Liên đoàn kếtoán quốc tế phối hợp các chuẩn mực kiểm toán quốc gia để hình thànhchuẩn mực kiểm toán quốc tế trên cơ sở nhất trí của các nước thành viên.Thứ hai, đó là quá trình tác động ngược lại của các chuẩn mực đượchình thành Khi một công ty kiểm toán xây dựng được quy trình kiểm toánchuẩn của mình các kiểm toán viên nên có trách nhiệm điều chỉnh lạiphương thức tiếp cận của mình cho phù hợp Các chuẩn mực kiểm toánquốc gia khi hình thành cũng tác động ngược lại quy trình kiểm toán chuẩncủa các công ty kiểm toán theo hướng tương tự Và cuối cùng sự ra đời củachuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng có những ảnh hưởng nhất định đếnchuẩn mực kiểm toán các quốc gia
Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng con đường hình thành hệ thốngchuẩn mực kiểm toán ở Việt Nam phải là sự kết hợp giữa các chuẩn mựckiểm toán quốc tế và thực tiễn công tác kiểm toán Việt Nam
Trang 15PHẦN II THỰC TRẠNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHUẨN
MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM
2.1 Cơ sở xây dựng Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam(CMKTVN) xây dựngtrên cơ sở:
Thứ nhất: Các chuẩn mực quốc tế và xem xét chuẩn mực kiểm toáncủa các quốc gia khác
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (CMKTQT) dựng với mục tiêu đạtđược những chuẩn mực tốt nhất cho nghề nghiệp kiểm toán trên phạm vitoàn thế giới Nhưng nó phải thoả mãn yêu cầu của nhiều thành viên là cácquốc gia có mức độ phát triển khác nhau về nghề nghiệp nên các chuẩnmực quốc tế cũng không tránh khỏi được hạn chế Do đó, việc xây dựngchuẩn mực kiểm toán Việt Nam ngoài việc sử dụng chuẩn mực kiểm toánquốc tế làm cơ sở cần xem xét thêm chuẩn mực của các quốc gia khác đặcbiệt là các quốc gia có nghề nghiệp kiểm toán phát triển và các quốc giađang sử dụng chuẩn mực kiểm toán quốc tế để xây dựng chuẩn mực kiểmtoán quốc gia
Thứ hai:Các CNKTVN phải phù hợp với đặc điểm Việt Nam
Các CMKTVN ngoài yêu cầu phải phù hợp với thông lệ quốc tế còncần phải phù hợp với đặc điểm Việt Nam để đảm bảo khả năng đưa chuẩnmực vào thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam
Thứ ba: Hệ thống CMKTVN phải hướng về việc nâng cao chất lượngcủa công ty kiểm toán đồng thời kiểm soát được chất lượng của các công tykiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam
Thứ tư: Hệ thống CMKTVN phải có khả năng ứng dụng cao trongthực tiễn công tác kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Hệ thống CMKTVN phải đảm bảo được các bên liên quan hiểu đúng
và áp dụng đúng trong thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam
Thứ năm: Cơ chế ban hành CMKTVN phải giải quyết được mối quan
hệ giữa Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp trong quá trình lập quy và kiểmsoát chất lượng công việc kiểm toán
Trang 16Hiện nay, Bộ tài chính là người chịu trách nhiệm chính về việc soạnthảo và ban hành CMKTVN với sự tham gia của các công ty kiểm toán vàcác nhà nghiên cứu Bộ tài chính cũng là người kiểm tra và giám sát chấtlượng kiểm toán tại các công ty kiểm toán Tuy nhiên, xét về lâu dài kinhphí và nguồn nhân lực của Bộ tài chính không thể và không nên “bao cấp”cho toàn bộ công việc này bởi chúng đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí và sựnhạy bén nghề nghiệp mà các cơ quan Nhà nước khó thực hiện được Do
đó, cần phải có một cơ chế thích hợp hơn, giải quyết đúng đắn quan hệ giữaNhà nước và tổ chức nghề nghiệp trong việc xây dựng chuẩn mực
Thứ sáu: Hệ thống CMKTVN phải phát triển đồng bộ với hệ thống
kế toán
Giữa kiểm toán và kế toán có mối quan hệ với nhau, rất nhiều chuẩnmực kế toán phải tham chiếu đến chuẩn mực kế toán liên quan Do đó, cầnphải đảm bảo việc phát triển đồng bộ của các chuẩn mực kiểm toán và hệthống kế toán
Thứ bảy: Quy trình xây dựng các CMKTVN phải chuyển sangchuyên nghiệp hoá
Quá trình hình thành nền kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam làquá trình vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn phùhợp với định hướng của Đảng và Nhà nước Hoạt động kiểm toán và cácCMKTVN cũng không nằm ngoài quy luật đó, trong từng thời kỳ việc nhậnthức đúng yêu cầu của thực tiễn giúp chúng ta xác định những hướng đihợp lý cho mình và đạt những mục tiêu đặt ra
2.2 Quá trình xây dựng Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
2.2.1 Bối cảnh và thách thức của quá trình hình thành Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
Quá trình xây dựng Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam bắtđầu chính thức từ tháng 9 – 1997 sau Hội thảo về chuẩn mực kiểm toánđược Bộ Tài Chính và Dự án EROTAPVIET về kế toán và kiểm toán tổchức tại Nha Trang Hội thảo đã xác định phương hướng xây dựngCMKTVN là dựa trên cơ sở chuẩn mực kiểm toán quốc tế và có nhữngđiều chỉnh thích hợp cho Việt Nam
Trang 17Quá trình toàn cầu hóa của nền kinh tế trên thế giới diễn ra nhanhchóng dẫn đến sự gia tăng của nhu cầu thông tin toàn cầu đến nhiều lĩn vựcngoài các thông tin tài chính lịch sử truyền thống Vì vậy, các tổ chức độclập trên thế giới đã và đang tích cực phát triển các chuẩn mực có liên quanđến kiểm toán các thông tin khác ngoài thông tin tài chính Uỷ ban thông lệkiểm toán quốc tế đang phát triển một khuôn mẫu mới cho hệ thống chuẩnmực kiểm toán quốc tế trong đó xác định hướng phát triển của dịch vụkiểm toán các thông tin phi tài chính.
Trong khủng hoảng tài chính năm 1997 sự phê phán đã nhằm vàocác công ty kiểm toán đã xác nhận cho các báo cáo tài chính của các công
ty có tình hình tài chính yếu kém Các tổ chức lập quy đã nhanh chóng rút
ra bài học về vấn đề này bằng cách nâng cao các chuẩn mực kiểm toán liênquan
Ở Việt Nam, với sự ra đời của luật Doanh nghiệp cùng những nổ lựccủa Chính Phủ trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển đã tạo cơ hội tăngthem của thị trường kiểm toán đang bị trì trệ sau ảnh hưởng của đầu tưnước ngoài giảm sút do khủng hoảng tài chính ở Châu Âu Đồng thời việcbãi bỏ giấy phép hành nghề kiểm toán dẫn đến Bộ tài chính phải có nhữngbiện pháp kiểm soát khác và chuẩn mực kiểm toán trở thành một yêu cầubức thiết hơn
Sự ra đời của thị trường chứng khoán đánh dấu một bước ngoặt tronglịch sự phát triển kiểm toán độc lập tại Việt Nam Khi thị trường chứngkhoán phát triển vai trò của kiểm toán độc lập sẽ trở nên quan trọng và yêucầu xây dựng Hệ thống CMKTVN sẽ gia tăng để giải quyết các vấn đề đặt
ra tương ứng
2.2.2 Thực trạng Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
Đối với kiểm toán độc lập, ra đời từ những năm 1991 Sau 16 nămhoạt động hoạt động kiểm toán độc lập đã xác định được vị trí trong nềnkinh tế thị trường, đã góp phần ngăn ngừa và phát hiện lãng phí, thực hiệncông khai minh bạch Báo cáo tài chính, phục vụ đắc lực cho công tác quản
lý, điều hành kinh tế - tài chính của doanh nghiệp và Nhà nước nhất là saukhi gia nhập WTO và thị trường chứng khoán phát triển
Trang 18Song hành với sự phát triển kiểm toán độc lập , Nhà nước đã khôngngừng hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi chocho sự tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập Cụ thể Chínhphủ đã ban hành 03 Nghị định về kiểm toán độc lập, Bộ Tài chính đã banhành khoảng 25 quyết định, thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiệnthành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán và của kiểm toán viên,
về đăng ký và quản lý hành nghề kiểm toán, về quy chế kiểm soát chấtlượng kiểm toán, về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán, đã hỗ trợ
sự ra đời của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và đặcbiệt là đã xây dựng và ban hành hệ thống 38 chuẩn mực kỹ thuật nghiệp vụcho hoạt động kiểm toán
Thực tế cho thấy, hệ thống 38 chuẩn mực kiểm toán (CMKT) đã thực
sự là cơ sở cho kiểm toán viên, các công ty kiểm toán kiểm tra, đánh giácác báo cáo tài chính một cách khoa học, khách quan, đồng thời là cơ sởcho việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ kiểmtoán, là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và thi tuyển kiểm toán viên Việc banhành hệ thống 38 CMKT Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu cam kết của ViệtNam với các tổ chức quốc tế trong việc giải ngân vốn ODA và thực hiệncác Hiệp định thương mại song phương, đa phương và gia nhập WTO
Sau 12 năm ra đời và phát triển cùng hệ thống kiểm toán trên thếgiới kiểm toán Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong xây dựngchuẩn mực kiểm toán Bộ tài chính đã ban hành 7 đợt chuẩn mực kiểmtoán, gồm:
Thứ nhất: Chuẩn mực kiểm toán đợt 1 – Ban hành theo Quyết định số120/1999/QĐ – BTC (27/9/1999):
Một là: Chuẩn mực số 200: Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối
kiểm toán báo cáo tài chính;
Hai là: Chuẩn mực số 210: Hợp đồng kiểm toán;
Ba là: Chuẩn mực số 230: Hồ sơ kiểm toán;
Bốn là: Chuẩn mực số 700: Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính Thứ hai: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 2 – Ban hành theo
Quyết định 219/2000/QĐ – BTC (29/12/2000):
Trang 19Một là: Chuẩn mực số 250: Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các
quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính;
Hai là: Chuẩn mực số 310: Hiểu biết về tình hình kinh doanh;
Ba là: Chuẩn mực số 500: Bằng chứng kiểm toán;
Bốn là: Chuẩn mực số 510: Kiểm toán năm đầu tiên - Số dư đầu năm
tài chính;
Năm là: Chuẩn mực số 520: Quy trình phân tích;
Sáu là: Chuẩn mực số 580: Giải trình của Giám đốc
Thứ ba: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 3 – Ban hành theo Quyếtđịnh 143/2001/QĐ – BTC (21/12/2001):
Một là: Chuẩn mực số 240: Gian lận và sai sót;
Hai là: Chuẩn mực số 300: Lập kế hoạch kiểm toán;
Ba là: Chuẩn mực số 400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ;
Bốn là: Chuẩn mực số 530: Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa
chọn khác;
Năm là: Chuẩn mực số 540: Kiểm toán các ước tính kế toán;
Sáu là: Chuẩn mực số 610: Sử dụng tư liệu của kiểm toán nội bộ
Thứ tư: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 4 – Ban hành theo Quyếtđịnh 28/2003/QĐ – BTC (14/3/2003):
Một là: Chuẩn mực số 220: Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán;
Hai là: Chuẩn mực số 320: Tính trọng yếu trong kiểm toán;
Ba là: Chuẩn mực số 501: Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các
khoản mục và sự kiện đặc biệt;- Chuẩn mực số 560: Các sự kiện phát sinhsau ngày khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính;- Chuẩn mực số 600: Sửdụng tư liệu của kiểm toán viên khác
Thứ năm: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đợt 5 – Ban hành theoQuyết định 193/2003/QĐ – BTC (28/11/2003):
Một là: Chuẩn mực số 401: Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin
học
Hai là: Chuẩn mực số 550: Các bên liên quan;
Ba là: Chuẩn mực số 570: Hoạt động liên tục;