1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

việc sử dụng các công cụ và biện pháp tài chính để điều tiết hoạt động thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

83 587 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc Sử Dụng Các Công Cụ Và Biện Pháp Tài Chính Để Điều Tiết Hoạt Động Thương Mại Của Việt Nam Trong Điều Kiện Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Tác giả Lê Quang Đại
Người hướng dẫn PGS-TS Nguyễn Thường Lạng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 847,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nhập kinh tế thế giới là một điều tất yếu do sự tăng trưởng của lực lượng sản xuất mà vượt trội khả năng thu hút của thị trường trong nước và vì vậy mà đưa các nước có sự cố gắng cùng nhau để làm cho các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động có thể dễ dàng hơn. Sự đấu tranh và thỏa hiệp được thể hiện để mở rộng hơn nữa thị trường vì lợi ích của sự phát triển kinh tế. Theo nhu cầu phát triển của nền kinh tế và phù hợp các quan niệm cũ “ thương mại đòi hỏi phường hội và đối tác” thì Việt Nam cũng không thể nằm ngoài sự vận động này.

Trang 1

Trường đại học kinh tế quốc dân

Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế

Đề án môn học

Đề tài: việc sử dụng các công cụ và biện pháp tài chính để điều tiết hoạt

động thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Đề cương chi tiết

Giáo viên hướng dẫn : PGS-TS NGUYỄN THƯỜNG LẠNG

Sinh viên thực hiên : LÊ QUANG ĐẠI

Khoa : KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Lớp : KINH TẾ QUỐC TẾ

Khoá : 47

Trang 2

Phần mở đầu:

1: Tớnh cấp thiết của đề tài:

Hội nhập kinh tế thế giới là một điều tất yếu do sự tăng trởng của lực lợngsản xuất mà vợt trội khả năng thu hút của thị trờng trong nớc và vì vậy mà đa các n-

ớc có sự cố gắng cùng nhau để làm cho các dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao

động có thể dễ dàng hơn Sự đấu tranh và thỏa hiệp đợc thể hiện để mở rộng hơnnữa thị trờng vì lợi ích của sự phát triển kinh tế Theo nhu cầu phát triển của nềnkinh tế và phù hợp các quan niệm cũ “ thơng mại đòi hỏi phờng hội và đối tác” thìViệt Nam cũng không thể nằm ngoài sự vận động này

Đối với Việt Nam thì hội nhập bao gồm cả cơ hội và thách thức Để có thêmcác thị trờng mới thì quốc gia phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và sự cạnhtranh sẽ còn càng tăng thêm hơn nữa bởi những điểm yếu vốn có của nền kinh tế:sức cạnh tranh yếu, kém sự năng động, cơ cấu đầu t và nên kinh tế không hợp lý,các nguồn lực phát triển dồi dào nhng không đợc sử dụng hợp lý do cơ chế khaithác kém, suy nghĩ kinh doanh và quản lý còn bị động Bởi vì các lí do đó nênviệc thực hiện các chính sách bao gồm cả chính sách thơng mại gặp nhiều khó khănlớn

Sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động thơng mại quốc tế đã đợc các nhàkinh tế đề cập đến trong các lý thuyết của mình trong các giai đoạn khác nhau nhAdam Smith, David Ricardo và trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giớihiện nay Chính phủ Việt Nam đã có các cơ chế, chính sách kinh tế nhằm đa nềnkinh tế Việt Nam nói chung và thơng mại quốc tế nói riêng có thể hoà nhập màkhông hoà tan vơí nền kinh tế thế giới và đặc biệt là thông qua các biện pháp tàichính - một trong các biện pháp, chính sách kinh tế quan trọng

2: Mục đớch nghiờn cứu:

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, cú nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thương mại quốc tế của mỗi quốc gia việc đưa ra cỏc biờn phỏp, chớnh sỏch nhằm hỗ trợ cỏc doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đặc biệt thụng qua cỏc biện phỏp tài chinh là hết sức cấp thiết Do đú viờc nghiờn cứu cặn kẽ lý thuyết cũng như việc ứng dụng cỏc cụng

cụ đú sao cho đạt hiệu quả cao la điều cần thiết thụng qua đề tài này giỳp chỳng ta

Trang 3

rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, những thành tựu đã đạt được, những mặt còn tồn tại hạn chế sự phát triển của hoạt động nay.

3: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài la các công cụ tài chính điều tiết hoạt động thương mại quốc tế như: trợ cấp xuất nhập khẩu, tài trợ xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, lãi suất, thuế xuất nhập khẩu ,…

4: Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng một số phương pháp cơ bản của nghiên cứu kinh tế như

phương pháp thống kê, phương pháp nhân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống,…

5: Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vaf phụ lục nội dung chính của đề án bao gồm 3 chương:

_Chương 1: lý thuyết về thương mại quốc tế và các hoạt động hỗ trợ của chínhphủ tới hoạt động thương mại quốc tế đặc biệt thông qua các biện pháp tài chính _ Chương 2: tình hình hội nhập,và hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam

và những thành tựu đạt được của các biện pháp tài chính mà chính phủ sử dụng trong thời gian qua

_Chương 3: một số giải pháp mà chính phủ nên thực hiện thông qua các công

cụ tài chính trong thời gian tới nhằm tăng cường hoạt động thương mại quốc tế

CHƯƠNG 1: Lý thuyết về thương mại quốc tế và các hoạt động hỗ trợ tới hoạt động thương mại quốc tế đặc biệt thông qua các biện pháp tài chính.

1.1 Vấn đề hội nhập thông qua thương mại quốc tế:

1.1.1 Thương mại quốc tế:

1.1.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế:

Trang 4

Thơng mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các nớc thông qua buônbán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hóa là một hình thức của cácmoói quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngờisản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của các các quốc gia Thơng mại quốc tế làlĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc tham gia vào phân công lao

động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nớc

Ngày nay, thơng mại quốc tế không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà

là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậycoi trọng thơng mại quốc tế nh là một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trongnớc trên cơ sở lựa chọn một cách tối u sự phân công lao động và chuyên môn hóaquốc tế

Thơng mại quốc tế một mặt, phải khai thác đợc mọi lợi thế tuyệt đối của đấtnớc phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế, mặt khác phải tính

đến lợi thế tơng đối có thể đợc theo quy luật chi phí cơ hội

- Nghiên cứu chiến lợc , chính sách và công cụ nhằm phát triển Thơng mạiquốc tế, hớng tiềm năng, khả năng kinh tế nói chung và sản xuất hàng hóa dịch vụcủa các quốc gia vào sự phân công lao động quốc tế

- Nghiên cứu chiến lợc và Marketing xuất nhập khẩu để từ đó tìm hiểu thị ờng, tìm mọi cách, mọi hình thức giao dịch và chọn cách tiếp cận thị trờng có lợinhất cho nớc mình

tr Nghiên cứu và xây dựng hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu với nớcngoài dới nhiều hình thức và tập quán quốc tế một cách chặt chẽ làm cơ sở khoahọc và pháp lý cho hai bên thực hiện Hợp đồng và nội dung cụ thể trong hợp đồng

là kết quả của quá trình nghiên cứu, phát hiện, giao dịch và giới thiệu của cả haibên trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, chính trị xã hội tổng hợp, trong đó hiệuquả kinh tế phải đợc chú ý hàng đầu

- Nghiên cứu các phơng cách tổ chức thắng lợi hợp đồng Đây là nhiệm vụquan trọng cần đợc quán triệt vì một sự trục trặc trong hợp đồng nh chậm giaohàng, bốc hàng đều gây ra những tổn thất kinh tế Việc theo dõi và kiểm tra thực

Trang 5

hiện hợp đồng để tránh những sự cố xảy ra là điều cần thiết khi tham gia kinhdoanh Thơng mại quốc tế

- Biết cách lợi chọn các phơng tiện, phơng thức hình thức và điều kiện thanhtoán, tỷ giá hối đoái một cách có lợi nhất

- Tổ chức quản lý và hạch toán chặt chẽ Toàn bộ quá trình xuất nhập khẩuhàng hóa dịch vụ đều phải đợc quản lý thống nhất và quản lý chặt chẽ Qunả lý lànhằm phối hợp các hoạt động để đạt đợc mục tiêu đã định là tăng xuất khẩu tăngthu giảm chi, tích lũy ngoại tệ Đó là khâu quản lý về xuất nhập khẩu, giấy phép,hạn ngạch, quản lý ngoại tệ, vốn, hiệu quả và các chơng trình, kế hoạch có mụctiêu về xuất nhập khẩu, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh , quản lý tổ chức vàmạng lới kinh doanh xuất nhập khẩu

1.1.1.3 í nghĩa của thương mại quốc tế:

- Thơng mại quốc tế là một lĩnh vực và là ngành phân phối lu thông hàng hóa

và dịch vụ với nớc ngoài Đây là lĩnh vực kinh doanh hàng hóa thuộc hai khâu củaquá trình tái sản xuất mở rộng, chắp nối sản xuất và tiêu dùng của một quốc gia vớisản xuất và tiêu dùng của các quốc gia khác, nếu làm tốt sẽ ảnh hởng rất lớn đếnsản xuất và đời sống Nếu xem xét quá trình tái sản xuất theo nghĩa liên tục khôngngừng và theo ý nghĩa kinh tế mở thì hai khâu phân phối và lu thông hàng hóa dịch

vụ là những khâu đột phá đầu tiên của tiến trình sản xuất Nền sản xuất phát triểncao hay thấp, nhanh hay chậm phụ thuộc một phần rất lớn vào chúng

- Thơng mại quốc tế nhằm giới thiệu, thúc đẩy khai thác tiềm năng và thếmạnh của một quốc gia với nớc ngoài một cách có lợi nhất Trên cơ sở đó tiến hànhphân công lại lao động khai thác mọi tiềm năng để sản xuất nhiều sản phẩm hànghóa dịch vụ xuất khẩu

- Mặt khác, cũng không kém phần quan trọng là tranh thủ khai thác đợc mọitiềm năng và thế mạnh về hàng hóa, công nghệ, vốn của các nớc và các khu vựctrên thế giới phù hợp với hoàn cảnh của từng quốc gia để thúc đẩy quá trình tái sảnxuất, tiêu dùng phát triển kịp thời với tiến trình chung của nhân loại Trên cơ sở đó,nền sản xuất xã hội của quốc gia đó sẽ tiếp thu đợc những tiến bộ về kỹ thuật và

Trang 6

công nghệ của thế giới, sử dụng các hàng hóa và dịch vụ tốt, rẻ nhằm nâng cao hiệuquả sản xuất, tiêu dùng.

- Trong xu thế hội nhập hiện nay của toàn thế giới các nớc trên thế giới vừalàm kinh tế vừa hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau từ đó có điều kiện giúp các nớc cân đốixuất nhạp khẩu, tiến lên xuất siêu và có tích lũy và tăng tích lũy cho tái sản xuất

mở rộng Kinh tế quốc dân có vững mạnh thì uy tín chính trị cao và có thể gópphần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại

- Thơng mại quốc tế làm cho quá trình liên kết kinh tế, xã hội của một quốcgia với các nớc trong khu vực và trên thế giới ngày càng chặt chẽ hơn và đợc mởrộng hơn nữa, góp phầnvào sự ổn định kinh tế và chính trị của mỗi quốc gia

1.1.2 Vấn đề hội nhập thụng qua thương mại quốc tế:

1.1.2.1 Quan niệm về vấn đề hội nhập:

Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ thìquá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu và khuvực cũng đã và đang đợc phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững

Có thể nói hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay đợc hiểu là một quốc gia thựchiện chính sách kinh tế mở, tham gia vào các chế tài kinh tế tài chính quốc tế, thựchiện tự do hóa thơng mại, đầu t, bao gồm: đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tớimức thuế suất bằng 0% đối với hàng nhập khẩu Xóa bỏ hàng rào phi thuế quan gâycản trở đối với thơng mại, tự hóa về cung cấp và kinh doanh các loại dịch vụ; giảmhạn chế đối với đầu t để tự do hóa thơng mại theo những quy tắc và luật chơi chungquốc tế

1.1.2.2 í nghĩa của vấn đề hội nhập:

- Xuất phát từ lợi ích quốc gia thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ gópphần mở rộng thị trờng trên cơ sở “ dễ ngời dễ ta, khó ngời khó ta ”, “ có đi có lại ”

và trên cơ sở việc cạnh tranh trên thị trờng hội nhập sẽ có tác động tích cực đến sảnxuất trong nớc và phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia

- Đối với các nớc đang phát triển thì việc hội nhập kinh tế quốc tế vừa là cơhội và là thách thức bởi đây là tác nhân quan trọng thúc đẩy cải tiến công nghệ và

Trang 7

hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong từng quốc giavà sản xuất các sảnphẩm có đủ sức cạnh tranh và ngoài ra hội nhập còn đem lại cho nền kinh tế nóichung và cá doanh nghiệp nói riêng cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại, phơngpháp quản lý khoa học Đồng thời cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp ởcác quốc gia này do sự chênh lệch so với các nớc khác đặc biệt là các nớc phát triểnvì vậy sản phẩm của họ sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩmcùng loại của các công ty nớc ngoài ngay tại quốc gia mình.

- Việc hội nhập tạo điều kiện cho hoạt động thơng mại quốc tế giữa các quốcgia diễn ra một cách dễ dàng và sôi nổi hơn bởi việc tham gia vào các tổ chức kinh

tế quốc tế sẽ giúp hàng xuất khẩu của các quốc gia sẽ đợc hởng thuée suất u đãi,thúc đẩy xuất khẩu và thơng mại quốc tế và từ đó góp phần tăng trởng nền kinh tế

1.2 Cỏc cụng cụ và biện phỏp tài chớnh điều tiết hoạt động thương mại quốc tế.

1.2.1 Thuế xuất nhập khẩu:

1.2.1.1 Sự hỡnh thành và phỏt triển của thuế xuất nhập khẩu.

Thuế xuất nhập khẩu là một biện phỏp tài chớnh mà nhà nuếoc dung để can thiệp vào quỏ trỡnh hoạt động ngoại thương, buụn bỏn trao đổi hàng hoỏ giữa cỏc quốc gia

Thuế xuất nhập khẩu là tờn gọi tắt của hai loại thuế: thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu trong hai loại thuế thuế xuất khẩu thường chỉ được đề cập trong phạm

vi quốc gia, khụng phải là đối tượng nghiờn cứu, thong tin trờn phạm vi quốc tế một nớc cú một chớnh sỏch quản lý, đỏnh thuế hang xuất khẩu riờng Tuy nhiờn cú một điểm chung là cỏc nước đều muốn đẩy mạnh xuất khẩu hang hoỏ, nờn hang xuất khẩu thường khụng bị đỏnh thuế hoặc nếu cú thỡ thuế xuất của hang xuất khẩurất thấp

Thuế nhập khẩu cũn cú tờn gọi khỏc là thuế quan (customs duty) : “Thuế quan, hinhg thức đơng giản nhất trong chớnh sỏch buụn bỏn, là loại thuế đỏnh vào hang hoỏ nhập khẩu”

Thuế nhập khẩu ra đời khi xuất hiện buụn bỏn giữa cỏc quốc gia và phỏt triển cho đến nay Cựng với việc phỏt triển của chủ nghĩa tư bản, thỏi độ sử dụng

Trang 8

thuế quan trong quá trình phát triển quan hệ ngoại thương, buôn bán giữa các quốc gia cũng co những điểm khác nhau trong từng giai đoạn.

Thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, được khuyến khích bởi các học thuyết kinh tế thuộc trào lưu tự do kinh tế, người ta cho rằng thuế quan là một cản trở lớn cho quá trình phát triển kinh tế, do vậy đã đấu tranh đòi xoá bỏ thuế quan trong buôn bán, giao dịch quốc tế

Đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền và trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thuế quan được coi là công cụ quan trọng của nhà nước dùng để diều chỉnh hoạt động ngoại thương thuế quan cho phép độc quyền thâu tóm thị trường nội địa và nâng cao giá hang hoá để trang trải chi phí chiến tranh, bù khoản

lỗ cho xuất khẩu nhằm chiếm ưu thế cạnh tranh trên thị truờng quốc tế

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thái độ sử dụng công cụ thuế quan

đã có sự thay đổi căn bản, thuế quan được hạ thấp tới mức tối đa và thậm chí bị xoá bỏ đối với nhiều loại hàng Để thúc đẩy mạnh mẽ buôn bán quốc tế, Hiệp định GATT( Genneral Agrement on Tariff and Trade) đã ra đời và rất nhanh chóng được nhiều nước hưởng ứng và tham gia đến nay, GATT đã trở thành một tổ chức toàn cầu, một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế

1.2.1.2 Vị tri, vai trò của thuế xuất nhập khẩu.

thuế xuất nhập khẩu là một công cụ của chính sách thưong mại:

_chính sách tự do hoá thưong mại: cơ sở của chính sách này là học thuyết về lợi

thế so sánh của Adam Smith và David Ricardo Lý thuyết này được phát biểu như sau: mỗi nước sẽ có lợi nếu chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu các hang hoá

mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp( tức là những hang hoá mà nó tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi nước sẽ có lợi nếu nhập khẩu những hang hoá mà mình sản xuất với chi phí tương đối cao

_chính sách bảo hộ mậu dịch: để bảo hộ nền sản xuất trong nước trước sự cạnh

tranh của hang hoá nước ngoài, những nước theo đuổi chính sách bảo hộ mậu dịch thường thi hành chính sách thuế quan cao, theo quan niệm của những nước này, thuế quan cao có tác dụng di chuyển tỷ lệ trao đổi thương mại theo hướng có lợi cho đất nước đại biểu cho người cổ vũ cho quan niệm này là John Smart Mill, ông

Trang 9

này khi nghiên cứu kinh tế mỹ với mặt hàng xăng dầu cho rằng, vì thuế quan nên giá xăng trong nước cao hơn giá xăng nước ngoài, do việc mỹ chiếm phần lớn trong tổng cầu của thế giới, nên khi cầu giảm sẽ dẫn đến giá hạ một phần thuế quan rơi vào những người sản xuất dầu mỏ của mỹ tuy nhiên, lập luận này không đúng với những nước nhỏ, khi tổng cầu của những nước này là không đáng kể, do vậy không ảnh hưởng đến giá cả của thế giới.

_ tác động của thuế quan đến giá cả hàng hóa: đối với nhà kinh doanh hàng hóa

nhập khẩu, thuế quan được quan niệm là một loại phí vận chuyển.Khi không có thuế, giá trong nước và nước ngoài cân bằng ở mức Pw Việc áp dụng thuế quan sẽtạo ra sự ngăn cách các mức giá trên hai thị trường thuế quan làm nâng giá nội địa lên Pt và hạ giá ở nước ngoài xuống P*t = Pt – t trong nội địa khi giá cao hơn các nhà sản xuât sẽ cung ứng nhiều, trong khi người tiêu dung có nhu cầu ít hơn, nên lượng cầu nhập khẩu sẽ giảm đi Thị trường nước ngoài giá thấp hơn sẽ đưa đến tình trạng giảm cung và tăng cầu, và do đó giảm cung xuất khẩu

Sơ đồ 1: tác động của thuế quan đến giá cả hàng hóa

Thị trường nội địa thị trường thế giới thị trường nước ngoài Giá P Gía P Gía P

D S D S D SPt

Pw T

Số lương Q Qt Qw Số lượng Q

Trang 10

Mức tăng giá nội địa từ Pw lên Pt ít hơn mức thuế, là bởi vì một phần của mức thuế được thể hiện qua sự giảm giá hàng xuất khẩu của nước ngoài và không được chuyển sang cho người tiêu dung ỏ nội địa đây là kết quả thường tình của thuế quan và bất kỳ chính sách thương mại nào dung để hạn chế nhập khẩu tuy vậy, trong thực tế mức độ ảnh hưởng kiểu này rất nhỏ , khi một nước nhỏ đưa

ra một loại thuế, phần hàng nhập khẩu của nước này trên thi trường nhỏ, vì vậy lượng hàng nhập khẩu giảm sẽ có ảnh hưởng không đáng kể đối với cả thế giới minh họa bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 2: tác động của thuế quan đến giá cả hàng hóa

Giá p S

Pw+t

Pw

D

S1 S2 D2 D1 số lượng Q

Nhìn trên biểu đồ ta thấy trong trường hợp này thuế làm tăng giá hàng nhập khẩu đúng bằng toàn bộ mức thuế, từ Pw lên Pw + t sản xuất sẽ tăng từ S1 lên S2, trong khi tiêu dung giảm từ D1 xuống D2

Như vậy: thuế quan tác động lên giá cả hàng hóa, trong trường hợp một nước nhập khẩu hàng chiếm tỷ lệ lớn, có ảnh hưởng đến cung cầu của thế giới, thì thuế quan có tác động không chỉ đến giá cả hang hóa trong nước mà còn cả ở nước ngoài Trong qua giá cả, thuế quan có tác động đến sản xuất trong nước và nước ngoài

_ Tác động của thuế quan đến luồng thương mại thế giới:

Đường D và S biểu thị mức cầu của người tiêu dung trong nước về quần áo và mức cung quần áo của những nhà sản xuất trong nước

Trang 11

Khi chưa có thương mại, thị trường trong nước cân bằng ở mức giá 8$/bộ quần áo Khi có thương mại tự do: mức giá thế giới là 4$/bộ mức giá trong nước phải cân bằng với mức giá thế giới tại mức giá 4$/bộ, người tiêu dùng trong nước muốn mua 300 bộ, các nhà sản xuất trong nước chỉ muốn bán 100 bộ, mức chênh lệch 200 bộ được đáp ứng bằng việc nhập khẩu.

Sơ đồ 3: Tác động của thuế quan đến luồng thương mại thế giới

và được đáp ứng bằng việc nhập khẩu

Khi nhà nước đánh thuế cao hơn 4$/ bộ, mọi hoạt động trao đổi quần áo giữa thị trường trong nước và thế giới bị ngưng trệ Bởi lẽ, nhà nhập khẩu chỉ có

Trang 12

thể bán được quần áo với giá cao nhất là 8$/ bộ, trong khi chi phí để nhập khẩu quần áo đã trên 8$/bộ chưa tính phí vận chuyển.

Như vậy thuế quan có tác dụng điều chỉnh luồng thương mại thế giới, điều tiết, hỗ trợ sản xuất trong nước và tăng thu ngân sách nhà nước

1.2.1.3 Những quy định về chính sách thuế xuất nhập khẩu của một số tổ chức kinh tế thế giới và khu vực.

_Tổ chức thương mại thế giới (WTO): (tổ chức thương mại thế giới có tiền than là

tổ chức hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT)

Một số quy định chung về thuế quan trong tổ chức thương mại thế giới:

+ Các cam kết ràng buộc về thuế quan: nước xin ra nhập phải có các cam kết

ràng buộc về thuế suât thuế nhập khẩu đối với các nhóm hàng, mặt hàng chịu thuếnhập khẩu, để đảm bảo sau này trong quá trình điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩuthì không được tăng vượt lên mức thuế đã cam kết ràng buộc này

+Cam kết giảm thuế: nếu nước xin gia nhập có cam kết rang buộc mức thuế

trần thấp hơn mức thuế hiện hành thì sẽ phải đưa ra cam kết về bước giảm thuế vớicung thời gian nhất định

+Cam kết khác co liên quan đến chính sách thuế:

Thực hiện chế độ tối huệ quốc: tức là nếu đã giành cho một nước nào đó

hưởng một ưu đãi về thuế nhập khẩu hoặc các ưu đãi về phí hải quan: cách thức thu phí hải quan, cách áp dụng luật lệ và thủ tục có liên quan tới xuất nhập khẩu thù cũng phải giành cho tất cả các nước thành viên như vậy

Thực hiện quy tắc đối xử quốc gia: tức là hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau Không được áp dụng các loại thuế nội địa, các hàng rào phi thuế quan, các biện pháp hạn chế khối lượng nhập khẩu và một sốbiện pháp phi thuế quan khác sẽ phải được loại bỏ

Áp dụng hiệp định giá hải quan theo GATT, tức là phải quy định và thực hiện

cớ chế xác định giá thuế nhập khẩu chủ yếu phải được căn cứ theo giá giao dịch thực, không áp dụng giá tính thuế tối thiểu

Trang 13

_ Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương(APEC): APEC được thành

lập tháng 11/1989 , lúc đầu gồm 12 thành viên, sau một số nươc xin gia nhập và đến tháng 11/1998, cùng với Nga, Peru, Việt Nam đã chính thức thành thành viên của APEC, nâng tổng số thành viên lên 21 nươc APEC đưa ra một số nghuyên tắc quan trọng quy định về chính sách thuế:

+ Nguyên tắc giữ nguyên trạng (Standstill): các thành viên APEC không

được tăng thêm mức bảo hộ so với hiện trạng(và phải giảm dần theo thời gian) nhằm giúp tạo cơ sở dư báo việc thực hiện tự do hóa thương mại

+Nguyên tắc công khai: tất cả các chính sách và biện pháp nhằm tự do hóa

thương mại và đầu tư đều phải đưa ra công khai để các thành viên có thể hiểu các thành viên khác đang làm gì và thực hiện đến đâu

+APEC đưa ra chương trình hành động tập thể: cắt giảm mạnh thuế quan và

công khai các chế độ thuế quan của các nước thành viên; xây dựng hệ thống vi tính

về cơ sở dữ liệu thuế quan của APEC và nối mạng giữa các nước APEC với nhau; cùng hành động để cắt giảm mạnh và tiến tới loại bỏ những hạn chế phi thuế quan không chính đáng đối với xuất nhập khẩu

+Các thủ tục hải quan (Customs procedures): xây dựng biểu thuế quan chung

bằng cách thông qua các nguyên tắc của hệ thống quốc tế về mã số và phân loại hàng hóa(HS) Ngoài ra, các nước thành viên APEC cũng đang triển khai hệ thống

vi tính hóa các thủ tục hải quan và sẽ hoàn tất năm 2000 Thống nhất hệ thống đánh giá thuế quan trên cơ sở các nguyên tắc của WTO vào năm 2000

_ Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA): các quy định chung về vấn đề thuế quan của AFTA:

Hiệp định CEPT áp dụng với tất cả các sản phẩm chế tạo, kể cả sản phẩm cơ bản và sản phẩm nông sản, ngoại trừ những sản phẩm được các nước đưa vào danhmục loại trừ hoàn toàn theo Điều 9 của Hiệp định CEPT ban đầu, sản phẩm nông sản chưa chế biến sẽ được loại trừ ra khỏi Chương trình CEPT Tuy nhiên, Hiệp định CEPT sửa đổi năm 1994 đã quyết định đưa tất cả sản phẩm nông sản chưa chếbiến vào Chương trình CEPT

Danh mục các sản phẩm và tiến trình giảm thuế theo kế hoạch của CEPT:

Trang 14

Danh mục giảm thuế ngay: các sản phẩm nằm trong Danh mục này được cắt

giảm thuế quan với lịch trình giảm nhanh và giảm bình thường đối với tiến trình giảm bình thường, các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 20% vào 1/1/1998, và tiếp tục giảm xuống còn 0 – 5% vào 1/1/2003 Các sản phẩm

có thuế bằng hoặc thấp hơnn sẽ được giảm xuống còn 0 – 5% vào 1/1/2000 Đối với tiến trình giảm thuế nhanh,các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 0 – 5% vào 1/1/2000 Các sản phẩm có thuế bằng hoặc thấp hơn sẽ giảm

Danh mục loại trừ hoàn toàn: danh mục này bao gồm những sản phẩm không

tham gia Hiệp định Các sản phẩm trong Danh mục này là những sản phẩm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cuộc sống, sức khỏe của con người, động thực vật, đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuât, di tích lịch sử… việc cắt giảm thuế cũng như xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan đối với các mặt hàng này sẽ không được tính đến trong chương trình CEPT

Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhậy cảm: theo hiệp định CEPT

sửa đổi năm 1994, các sản phẩm nông sản chưa chế biến này sẽ được đưa vào3 Danh mục khác nhau: danh mục giảm thuế, danh mục loại trừ tạm thời và danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm nhũng sản phẩm trong Danh mụccắt giảm thuế ngay được chuyển vào chương trình cắt giảm thuế nhanh hoặc

chương trinh cắt giảm thuế bình thường vào 1/1/1996 và sẽ được giảm thuế xuống còn 0 – 5% vào 1/1/2003 Các sản phẩm trong Danh mục tạm thời loại trừ của hàng nông sản chưa chế biến sẽ được chuyển sang Danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm Từ 1/1/1998 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%

1.2.1.4: Chính sách thuế xuất nhập khẩu của một số nước trong điều kiện hội nhập và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Indonexia: về thuế quan, chương trình cải cách và giảm thuế được bắt đầu

từ năm 1985, mức thuế bình quân đã giảm từ 27% xuống còn 20% năm 1993 Đồng thời mức thuế quan được hợp lý hóa, mức thuế tối đa được giảm xuống 30% năm 1995, thuế quan đối với 6030 mặt hàng giảm xuống tới mức bình quân 15%

và INDONEXIA cũng đã công bố thời biểu giảm thuế tới năm 2003

Malaixia: về thuế quan Mailaixia đã bắt đầu quá trình giảm thuế quan từ

năm 1980 Thuế suất danh nghĩa bình quân giảm từ 37,9% năm 1978n xuống còn

Trang 15

27,2% năm 1987 và xuống tiếp 14% năm 1992 Thuế quan là công cụ chủ yếu của chính sách ngoại thương của Mailaixia, và cơ cấu thuế quan được xem xét lại hằng năm để thực hiện tự do hóa thương mại trên cơ sở nhất quán.

Philipin: về thuế quan, thực hiện thuế quan hóa các hạn chế về số lượng

điều này làm mức thuế quân bình từ 20% năm 1994 lên 27,6% năm 1995, nhưng Chính phủ philipin cũng đưa ra cam kết sẽ hạ thấp mức thuế quan bình quân này xuống còn 9%vào năm 2000

Về định giá hải quan: đầu năm 1996, việc định giá hải quan được chuyển

từ giá trị tiêu thụ nội địa sang định nghĩa của Brussels(áp dụng giá tối thiểu), việc định giá hàng nhập khẩu sẽ tuân theo thỏa thuận định giá Hải quan của WTO

Mehico: bắt đầu quá trình tự do hóa thương mại với một nền kinh tế được

bảo hộ mạnh mẽ năm 1983, 100% hàng nhập khẩu phải xin giấy phép mức thuế quan bình quân là 27% vơi 16 mức thuế và mức thuế tối đa là 100% Công cuộc tự

do hóa được bắt đầu bằng việc xóa bỏ hầu hết các giấy phép và sau đó chuyển tới việc đơn giản hóa cơ cấu thuế quan và hạ thấp các mức thuế quan tối đa Kết quả của việc làm này là đến tháng 1/1986, số giấy phép chỉ còn được cấp cho 25% mặt hàng nhập khẩu, mức thuế quan bình quân hạ xuống còn 22,6% với 11 mức thuế

và mức thuế cao nhất là 100% Công cuộc cải cách vẫn được tiếp tục và đến năm

1998 giá trị hàng nhập khẩu phải xin phép chỉ còn 6,7%, mức thuế bình quân còn 13%, số mức thuế giảm xuống còn 5 và mức thuế quan tối đa giảm xuống còn 20%

Bài học kinh nghiệm hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu cho Việt Nam: qua nghiên cứu kinh nghiệm một số nước có thể rút ra một số bài học như

sau:

Về thuế suất và biểu thuế: các nước trong xu thế hội nhập đã thực hiên

việc giảm thuế suất của nhiều mặt hàng, từ đó giảm thuế suất bình quân của biểu thuế; thực hiện cơ cấu lại biểu thuế theo hướng giảm bớt các mức thuế; mở rộng diện thu thuế Trong việc thực hiện giảm thuế suất các nước đều xây dựng cho mình một lịch trình giảm thuế cụ thể đảm bảo cho các ngành sản xuất kinh doanh của nước mình có đủ thời gian và điều kiện thực hiện đổi mới công nghệ, đứng vững trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài

Trang 16

Về giá tính thuế và hàng rào thuế phi thuế quan khác các nước đều thực

hiện việc áp dụng giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT Thực hiện thuế quan hóa các công cụ phi thuế quan như hạn nghạch, giá tính thuế Tuy thời gian đầu cácmức thuế suất đều tăng cao, nhưng do có cam kết và đưa ra lịch trình giảm thuế cụthể nên đều được các tổ chức quốc tế và khu vực mà các nước đó tham gia chấp nhận, do vậy đều đã thực hiện thành công việc cải cách chính sách thuế xuất nhập khẩu

1.2.2: Trợ cấp xuất nhập khẩu

1.2.2.1: Khái niệm về trợ cấp và các thuật ngữ liên quan:

Trợ cấp là sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ

dành cho tổ chức, cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu hàng hóa và đem lại lợi ích cho

tổ chức, cá nhân đó

Theo hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, một ngành sản xuất được coi là được hưởng trợ cấp khi lợi ích được dành cho ngành đó dưới hình thức:Giao vốn trực tếp của chính phủ (chẳng hạn cấp vốn, các khoản cho vay hoặc góp vốn cổ phần) hoặc chính phủ bảo lãnh các khoản vay; Chính phủ miễn những khoản lẽ ra phải đóng; Chính phủ cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ, hay mua hàng

Biên độ trợ cấp(margin of subsidy)Biên độ trợ cấp dùng để tính toán thuế

chống trợ cấp (hay còn gọi là thuế đối kháng) được tính theo phần trăm mức trợ cấp trên trị giá hàng hoá

Mức trợ cấp: Để xác định hàng hoá nhập khẩu có được trợ cấp hay không, cơ

quan điều tra nước nhập khẩu sẽ tiến hành tính toán mức trợ cấp của hàng hoá đó Phương pháp tính toán chi tiết tuân thủ pháp luật của nước điều tra về vấn đề này, nhưng về cơ bản theo các hướng dẫn sau: -Nếu Nhà nước cho doanh nghiệp vay một khoản với mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất thương mại bình thường cho khoản vay tương tự: Mức trợ cấp được tính là phần chênh lệch giữa 2 mức lãi suất này; -Nếu Nhà nước bảo lãnh vay với phí bảo lãnh thấp hơn chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay thương mại tương tự nếu không có bảo lãnh của Nhà nước: Mức trợ cấp sẽ được tính là phần chênh lệch giữa 2 mức này; -Nếu Nhà nước mua hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ với giá mua cao hơn mức hợp lý hoặc

Trang 17

giá cung cấp thấp hơn mức hợp lý (xác định theo các điều kiện thị trường của hànghoá/dịch vụ liên quan): mức trợ cấp là mức chênh lệnh giá.

Thuế chống trợ cấp hay thuế đối kháng(countervailing duty)Thuế chống

trợ cấp là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu Đây là biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp (thông qua thủ tục điều tra chống trợ cấp do nước nhập khẩu tiến hành) chứ không nhằm vào chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp (WTO quy định các cơ chế xử lý khác mang tính đa phương cho trường hợp này)

1.2.2.2 Các hình thức trợ cấp:

Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ chuyển vốn cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cấp vốn, chuyển giao cổ phần, cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo lãnh để được vay với lãi suất thấp hơn khi không có bảo lãnh này

Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ bỏ qua hoặc không thu những khoản thu mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp

Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ cung cấp hàng hoá, dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung hoặc mua hàng hóa, dịch vụ vào với giá cao và bán ra cho tổ chức, cá nhân với giá thấp hơn giá thị trường

Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ đóng góp tiền vào một cơ chế tài trợ, giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều hình thức quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này

Các khoản trợ cấp khác không thuộc các hình thức trợ cấp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này được xác định một cách công bằng, hợp lý và không trái với thông lệ quốc tế

1.2.2.3 Các quy định của WTO về trợ cấp:

Trong khuôn khổ WTO, những quy định về trợ cấp được trình bày tại 4 văn

bản

_Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)

_Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994)

Trang 18

- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

- Hiệp định về Nông nghiệp (AOA)

Sau thời điểm này, Uỷ ban SCM vẫn chưa đạt được bất kỳ sự nhất trí nào về việc

có gia hạn điều khoản về trợ cấp dạng này hay không Vì vậy, hiện nay theo quy định của WTO thì trên thực tế chỉ tồn tại hai nhóm trợ cấp vàng và đỏ Tức là lúc nào Việt Nam cũng có thể bị kiện

Trợ cấp là gì? phải thoả mãn 2 điều kiện

_ Có sự đóng góp tài chính của CP (hoặc tổ chức công) hoặc hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá

_ Đem lại lợi ích cho đối tượng nhận được sự đóng góp tài chính

Ví dụ về sự đóng góp tài chính gián tiếp (kiểu trực tiếp như cho vay, cấp phát xưa rồi, không ai dùng nữa):

+ CP trả tiền cho một cơ chế tài chợ hoặc uỷ thác hoặc chỉ đạo (rỉ tai) một tổ chức

tư nhân đứng ra thực hiện các chức năng nói trên

+ Bảo lãnh xuất khẩu với mức phí không bù đắp nổi chi phí

Riêng trong Nông nghiệp thì quy định khác, chia 3 loại

- Xanh lá cây: được duy trì, không phải cắt giảm

- Xanh lơ: được duy trì, không phải cắt giảm nhưng phải chịu sự điều chỉnh chặt

chẽ hơn Ví dụ: có thể gây bóp méo thương mại nhưng lại thuộc diện thu hẹp sản xuất nông nghiệp (ví dụ Việt Nam đang trên đường công nghiệp hoá, không chú trọng nông nghiệp nữa) nên vẫn cho tồn tại

- Hổ phách: phải cắt giảm theo cam kết nhưng có ngưỡng de minimis (kiểu ít quá,

dưới 5% thì thôi, coi như khuyến mại, tha)

Trợ cấp dịch vụ: đọc SCM, nói chung chưa có gì

Trang 19

1.2.2.4 Thời gian qua Việt Nam áp dụng trợ cấp như thế nào? Cam kết của Việt Nam khi vào WTO là gì?

Tình hình áp dụng: 17 chương trình trợ cấp theo Hiệp định SCM (tức là

công nghiệp) (thống kê đầy đủ)

_ Ưu đãi thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá đối với sản phẩm cơ khí, điện và điện tử (QĐ 1944/1998/QĐ-BTC ngày 25/12/1998, Thông tư 176/1998)

_ Hỗ trợ triển khai thực hiện các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (QĐ 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000, QĐ 19/2001/QĐ-TTg ngày 20/2/2001 và một số thông tư hướng dẫn)

_ Ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp trong nước sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu (Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998, Nghị định 51/1999/NĐ-CP,Nghị định 35/2002/NĐ-CP, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định 164/2003/NĐ-CP)

_ Ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề và địa bàn khuyến khích đầu tư (không dựa trên tiêu chí xuất khẩu hoặc tiêu chí sử dụng nguyên liệu trong nước) (Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, nhiều Nghị định)

_ Ưu đãi đầu tư dựa trên tiêu chí xuất khẩu áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003)

_ Ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề và địa bàn khuyến khích đầu tư (không dựa trên tiêu chí xuất khẩu hoặc tiêu chí sử dụng nguyên liệu trong nước) (Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và một số Nghị định)_ Ưu đãi về tín dụng đầu tư phát triển dựa trên tiêu chí xuất khẩu (Nghị định

43/1999/NĐ-CP, Nghị định 106/2004/NĐ-CP, Qđ 133/2001/QĐ-TTg, QĐ

80/2002/QĐ-TTg)

_ Ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển dựa trên tiêu chí sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất (NĐ 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 106/2003/NĐ-CP)

Trang 20

_ Các ưu đãi tín dụng đầu tư phát triển khác của nhà nước (không thuộc nhóm ưu đãi tín dụng để phục vụ xuất khẩu hoặc nội địa hoá sản xuất trong nước)

_ Hỗ trợ phát triển ngành dệt may thực hiện Chíên lược phát triển ngành dệt may Việt Nam thời kỳ đến năm 2000 (QĐ 55/2001/QĐ-TTg, QĐ 17/2002/QĐ-TTg)_ Hỗ trợ xuất khẩu thông qua thưởng xuất khẩu (QĐ 1116/2003/QĐ-BTM và QĐ 1462/2003/QĐ-BTM)

_ Hỗ trợ xúc tiến thương mại thông qua hỗ trợ tìm kiếm thị trường và hỗ trợ kinh phí thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại khác

_ Hỗ trợ đối với mặt hàng cơ khí

_ Trợ đối với ngành công nghiệp đóng tàu

_Hỗ trợ phát triển thương mại miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc

_Hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn do các nguyên nhân khách quan

_ Khuyến khích đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ

Theo hiệp định Nông Nghiệp:

Gồm: trợ cấp trong nước và trợ cấp xuất khẩu

Trợ cấp trong nước: tổng lượng hỗ trợ tính gộp AMS

Trợ cấp xuất khẩu: giá trị và khối lượng hàng xuất trong giai đoạn cơ sở

_Hỗ trợ trong nước

Việt Nam hỗ trợ 4 mặt hàng: gạo đường bông thịt lợn + chi phí tưới tiêu (không theo sản phẩm cụ thể)

_Giai đoạn 1999-2001

+ Tổng giá trị cho 4 mặt hàng gạo, thịt lợn, cà phê, rau quả: 1098.5 tỷ

+ Tổng khối lượng cho 4 mặt hàng trên: 3124 tấn

Chắc chắn trợ cấp xuất khẩu nông sản sẽ bị cắt giảm tối đa -> duy trì trợ cấp xuất khẩu là không khả thi

Trang 21

Bỏ hoàn toàn các biện pháp cấp phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước.

Bỏ ưu đãi đầu tư dựa trên kết quả xuất khẩu

Bỏ phụ thu và đóng góp khác trong khuôn khổ Quỹ xúc tiến xuất khẩu

Miễn thuế và hoàn thuế theo đúng Hiệp định SCM phụ lục I và II

Bãi bỏ QĐ 55/2001/QĐ-TTg ngành dệt may (mặc dù đã chấm dứt từ ngày

30/5/2006 theo QĐ 126/2006/QĐ-TTg)

_Trong nông nghiệp

Bỏ hết trợ cấp xuất khẩu nông sản

Tuân thủ hoàn toàn hiệp định AOA

Dịch vụ: không có cam kết gì

1.2.2.5 Tổng hợp yêu cầu dỡ bỏ và đề xuất đổi mới

Đề nghị dỡ bỏ trong công nghiệp: các chương trình 1,3,5,7,8,10,11,12 trong nông nghiệp:

+ trợ cấp trong nước: không nặng nề vì Việt Nam là nước nông nghiệp từ bao đời nay

+ trợ cấp xuất khẩu: phải bỏ tất trợ cấp từ ngân sách

Dịch vụ: không có gì

Đề xuất đổi mới:

Trang 22

_Ít các biện pháp trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng sản xuất trong nước hơn hàngnhập khẩu Việt Nam có hầu hết các biện pháp trợ cấp bị cấm theo quy định của WTO đối với trợ cấp xuất khẩu dù trực tiếp hay gián tiếp.

_Đối chiếu qui định của WTO và cam kết của Việt Nam thì ưu tiên hàng trong nước hơn hàng nhập sẽ bị bỏ Vấn đề là trợ cấp xuất khẩu sẽ như thế nào để vừa tuân thủ WTO, vừa đạt hiệu quả mục tiêu đề ra Nguyên tắc cơ bản:

_ loại bỏ tất cả các biện pháp trợ cấp từ ngân sách, trực hay gián

_ tập trung xây dựng và áp dụng các loại hình gián tiếp hoặc các loại trợ cấp WTO

đc miễn trừ dựa trên việc xem xét đặc điểm cụ thể của Việt Nam

Cụ thể:

_ Hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm xuất khẩu

_ Hỗ trợ cho hoạt động tư vấn, đào tạo, kể cả đào tạo chuyên ngành cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu

_ Hỗ trợ cho hoạt động để nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu

_ Hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến thương mại không gắn với ngân sách để giảm chi phí xúc tiến cho các doanh nghiệp

_ Hỗ trợ chung để phát triển một số lĩnh vực, ngành nghề địa bàn có đk đặc biệt đề gián tiếp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu

1.2.3 Tỷ giá hối đoái:

1.2.3.1 Khái niệm:

Trong thanh toán mậu dịch, phi mậu dịch cũng như thanh toán tiền tệ khác giữa các nước với nhau chủ yếu sử dụng ngoại tệ do đó phải có sự chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác Việc chuyển đổi tù đồng tiền này sang đồng tiền khác được gọi là hối đoái và được thực hiện bằng một tỷ lệ nhất định gọi là tỷ giá hối đoái

Vậy, Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền này được biểu thị bằng số

lượng những đồng tiền khác.

Nhà kinh tế học người Mỹ Sammuelson cho rằng: tỷ giá hối đoái là tỷ giá

để đổi đồng tiền của một nước lấy đồng tiền của một nước khác

Trang 23

Theo lý thuyết P.P.P thì Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan sức mua đối ngoại giữa đơn vị tiền tệ nước này với đơn vị tiền tệ nước khác.

Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác ( theo cuốn: “Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở” – NXB Thống kê,

Hà Nội 2003)

1.2.3.2 Các loại Tỷ giá hối đoái:

_ Dựa vào phương diện thanh toán quốc tế thì có:

+ Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ

+ Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán hối phiếu ghi bắng ngoại tệ

_ Dựa vào phương tiện chuyển hối:

+ Tỷ giá điện hối là tỷ giá mua bán, thanh toán ngoại tệ được thực hiện bằng điện tín(Telegraphic Transfer – T/T)

+Tỷ giá thư hối là tỷ giá mua bán, thanh toán ngoại tệ được thực hiện bằng thư (Mail Transfer – M/T)

_ Dựa vào hình thức ngoại tệ mua bán:

+ Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá dùng để mua bán ngoại tệ tiền mặt

+Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá dùng để mua bán ngoại tệ chuyển khoản

_ Dựa vào thời điểm mua bán ngoại tệ:

+ Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá áp dụng khi mua, bán, món ngoại tệ đầu tiên ở giờ giao dịch trong ngày trên các thị trường hối đoái

+ Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá áp dụng khi mua, bán, món ngoại tệ cuối cùng trong ngày trên các thị trường hối đoái

_ Dựa vào phương thức mua bán, giao nhận ngoại tệ:

+ Tỷ giá trao ngày: là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhân ngoại tệ được thực hiện sau 2 ngày làm việc tính từ thời điểm giao dịch

Trang 24

+ Tỷ giá kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định tính từ thời điểm giao dịch.

_ Dựa vào nghiệp vụ mua bán ngoại tệ của ngân hàng:

+ Tỷ giá mua: là tỷ giá ngân hàng dùng mua ngoại tệ của khách hàng hay là tỷ giá khách hàng bán ngoại tệ cho ngân hàng

+ Tỷ giá bán: là tỷ giá ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng hay là tỷ giá khách hàng mua ngoại tệ của ngân hàng

_ Dựa vào chế độ quản lý ngoại hối:

+ Tỷ giá chính thức: là tỷ giá hối đoái do nhà nước công bố

+Tỷ giá kinh doanh: là tỷ giá dùng để mua bán ngoại tệ, dựa trên tỷ giá chính thức của NHTW công bố

+ Tỷ giá chợ đen: tỷ giá này hình thành từ các hoạt động mua bán ngoại tệ, ngoại hối lén lút để lẩn tránh sự kiểm soát của nhà nước

1.2.3.3 Hoạt động quản lý và điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong thời gian qua và trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia Từ vai trò của tỷ giá hối đoái đối với sự phát triển một cách ổn định và bền vững nền kinh tế mà trong thời gian qua, đặc biệt là từ sau khi đất nước đi vào đổi mới kinh tế đến nay các nhà chức trách Việt Nam luôn coi trọng công cụ tiền tệ đặc biệt này Chính vì thế, sau những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của VND đã không có những biến độngmang tính đột biến Do nhận thức được vai trò cũng như đặc điểm của tỷ giá hối đoái đối với phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nước ta đã có những quan điểm đúng về tỷ giá hối đoái Đây cũng là lý do để năm 1994, Nhà nước ta đã không làmtheo khuyến cáo của một số chuyên gia nước ngoài về việc phá giá mạnh VND để tạo ra bước “nhảy vọt” trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam như họ đã từng

có dịp đề cập đến Lúc bấy giờ, theo tư vấn của một số chuyên gia nước ngoài thì Việt Nam cần giảm sức mua của VND so với USD; hay nói một cách khác là phá giá mạnh VND từ 1USD ăn 10.965 Đồng Việt Nam xuống còn 1USD ăn 20.000 Đồng Việt Nam Điều này cũng có nghĩa là cần phải phá giá VND khoảng 45% so

Trang 25

với USD Lưu ý rằng, thế giới đã từng chứng kiến những cuộc phá giá của một số nước mà hiện nay họ là những nước công nghiệp hàng đầu như Mỹ Tuy nhiên, để thực hiện một cuộc phá giá tiền tệ nhằm đạt được một mục tiêu kinh tế nào đó, thông thường là nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, người ta phải có những sự chuẩn bị rất

kỹ càng về nhiều mặt; đặc biệt là việc cân đối lại ngân sách quốc gia Nếu ngân sách quốc gia còn đủ khả năng để thực hiện việc phá giá tiền tệ, thì việc phá giá tiền tệ mới được thực hiện Thực hiện việc phá giá tiền tệ cũng chính là việc làm cho sức mua của tiền tệ giảm đi; theo đó là thu nhập của người lao động cũng giảm

đi tương ứng Do vậy, bất cứ Chính phủ nào khi thực hiện việc phá giá tiền tệ, người ta cũng phải tính đến nguồn tiền từ ngân sách có được bao nhiêu để bù vào phần thiệt hại về thu nhập của người lao động khi thực hiện việc phá giá tiền tệ Với những nước phát triển, những nước có nền tiền tệ tiên tiến (có đồng tiền tự do chuyển đổi, tỷ lệ lạm phát tiền tệ hàng năm rất thấp, khoảng trên dưới 1%/năm; đại

bộ phận việc thanh toán trong nền kinh tế đều thực hiện theo phương thức không dùng tiền mặt theo nhiều hình thức khác nhau, tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở dưới mức 5%; nhà nước thực hiện chính sách tự do ngoại hối, tự do hoá lãi suất ) thì khi Nhà nước có dự định thực hiện việc phá giá đồng tiền >1% cũng là khi các nhà chức trách cân nhắc rất kỹ càng, xem đây là một biện pháp mạnh nên không phải lúc nào cũng có thể sử dụng được Nhận thức được một cách sâu sắc mục tiêu, điềukiện của các cuộc phá giá tiền tệ nên năm 1994, Ngân hàng Nhà nước đã cùng các ngành liên quan như Bộ Tài chính, Uỷ ban Vật giá nhà nước, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại đã nhất trí kiến nghị Nhà nước không thực hiện việc phá giá VND như tư vấn của một số chuyên gia nước ngoài Lý do chủ yếu là thời gian này, kinh tế của nước ta vẫn đang trong tình trạng khó khăn, Ngân sách Nhà nước vẫn tiếp tục bội chi; tiền tệ - tín dụng - ngân hàng thì vừa mới đi qua cuộc đổ

vỡ hàng loạt quỹ tín dụng Trong hoàn cảnh đó, nếu thực hiện việc phá giá “cực mạnh” như vậy thì liệu nền kinh tế của Việt Nam lúc bấy giờ tồn tại được bao lâu;

và hậu quả đối với những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước chưa thể hình dung được như thế nào Rõ ràng, đây là một sự lựa chọn đúng đắn của các nhà chức trách Việt Nam lúc bấy giờ trong quan điểm đối với chính sách tỷ giá hối đoái Tuynhiên, sự lựa chọn này cũng đã làm cho một số “chuyên gia” của Việt Nam còn tỏ

ra phân vân, nuối tiếc về một cơ hội “hiếm có” mà đã bị bỏ qua Họ cho rằng, việc phá giá mạnh như vậy là một trong những cơ hội vàng để có thể đẩy rất mạnh xuất khẩu của Việt Nam lúc bấy giờ (theo quan điểm của những người “làm yếu” đồng bản tệ để kích thích xuất khẩu) Làm yếu đồng tiền quốc gia để đẩy mạnh xuất

Trang 26

khẩu đã được một số nước trên thế giới vận dụng Tuy nhiên, thường là những nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nhưng có những thời điểm nào đó kinh tế của họ

“chững lại”, hoặc đang xuất hiện những dấu hiệu của suy thoái thì mới sử dụng biện pháp này Cần lưu ý rằng, khi quyết định sử dụng các biện pháp mạnh trong kinh tế như vậy, trước hết họ vẫn là những nước đang có tiềm lực.Với nền kinh tế của Việt Nam lúc bấy giờ thì chắc chắn rằng, nếu đã thực hiện việc phá giá mạnh tới mức như vậy (45%) thì không thể hình dung nổi kinh tế - xã hội của Việt Nam sau đó đã là như thế nào Rõ ràng là, với quyết định sáng suốt đó, kinh tế của Việt Nam trong những năm tiếp theo đã có những bước phát triển khá vững chắc

Những số liệu về chỉ số giá và tốc độ tăng trưởng từ năm 1994 đến 1998 là một trong những minh chứng về sự đúng đắn trong chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam thời kỳ đó

Như vậy, với việc không thực hiện “phá giá” theo gợi ý của các chuyên gia nước ngoài; và với việc tăng cung ứng tiền tệ vừa phải vào lưu thông; mục tiêu kìmchế và đẩy lùi lạm phát trong thời kỳ này đã được thực hiện một cách thành công Đây chính là “cái đà” cho việc tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt cho tới tận những năm sau, và đến bây giờ Thời kỳ này cũng là thời kỳ các tổ chứctiền tệ - tín dụng quốc tế có khá nhiều khuyến cáo về việc một số nước “không chịu” phá giá đồng tiền của mình; đặc biệt là đối với Trung Quốc Tuy nhiên, Trung Quốc đã có những quan điểm nhất quán về đồng tiền của họ; nền kinh tế vẫntiếp tục phát triển, xã hội vẫn tiếp tục ổn định; Nhân dân tệ đang là một trong những đồng tiền được quan tâm trên thị trường thế giới

Do thực hiện việc phá giá quá mức cần thiết, nên trong những năm đầu của những thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, nền kinh tế Mỹ liên tục bị suy thoái trongthời gian này

Đánh giá lại một cách khách quan, có căn cứ khoa học và thực tiễn một chính sách kinh tế nào đó là điều cực kỳ cần thiết cho hoạch định các chính sách kinh tế cho tương lai Đây đang là một trong những khiếm khuyết mà không ít Bộ, Ngành đang gặp phải Đó là việc chưa coi trọng công việc tổng kết thực tiễn; chưa coi trọng công việc nghiên cứu lý luận trong điều hành kinh tế vĩ mô

Hiện nay, việc hoạch định chính sách tiền tệ; trong đó việc xác định cho được định hướng cho chính sách tỷ giá hối đoái của đất nước đang gặp phải không

ít khó khăn, nhất là sau khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO

Những khó khăn đó thường thể hiện:

Một là, những diễn biến khó lường về những thay đổi trong chính sách phát

triển kinh tế của các nước trên thế giới; đặc biệt là với những nước có tiềm lực

Trang 27

kinh tế mạnh nhất Những thay đổi này lại gắn liền với những thay đổi về đường lối quân sự, chính trị và ngoại giao của các nước; nhất là những nước có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu Thời gian gần đây,

đi đôi với những khủng hoảng chính trị tại những nước “dầu hoả” là sự biến động liên tục của giá dầu mỏ, giá vàng làm cho giá của USD liên tục biến động Sự diễn biến phức tạp của giá USD trên thị trường thế giới đã làm cho không ít quốc gia trên thế giới lúng túng trong chính sách tỷ giá hối đoái của mình; đặc biệt với những nước có chính sách gắn đồng bản tệ của họ với USD Sự tăng, giảm giá của USD phụ thuộc vào chính sách lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) Lưu ý rằng, FED đặc biệt quan tâm đến chính sách lãi suất; xem lãi suất như là một công

cụ tiền tệ quan trọng bậc nhất trong chính sách tiền tệ quốc gia Với quan niệm rằng, lãi suất huy động và cho vay của USD không chỉ trong vai trò của một đồng tiền quốc gia, mà quan trọng hơn là trong vai trò của một ngoại tệ tự do chuyển đổi

có vai trò đặc biệt trong đời sống kinh tế thế giới nên diễn biến tăng, giảm lãi suất của USD đều có những ảnh hưởng có tính quyết định đến chính sách tiền tệ của các nước; đặc biệt là đối với chính sách tỷ giá hối đoái

Hai là, Việt Nam thực hiện đổi mới kinh tế từ năm 1986, nhưng đến nay

mới có tương đối đầy đủ quy chế của kinh tế thị trường Do vậy, trước mắt, hàng loạt vấn đề đang đặt ra để các quy chế này có thể phát huy được tác dụng Trong

đó, việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước (đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ tài chính - ngân hàng); cải cách hành chính quốc gia; điều chỉnh lại cơ cấu của toàn

bộ nền kinh tế; sửa đổi, bổ sung, thay thế, hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật

là những việc trọng tâm hàng đầu, là nền tảng cho hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những mục tiêu đã đề ra trong Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, đặc biệt đối với chính sách tiền tệ quốc gia trong những năm tới cần phải có những cái nhìn toàn cảnh của đời sống kinh tế thế giới mới có thể có được những định hướng đúng cho chính sách tiền tệ nói chung, trong đó quan trọng nhất vẫn là chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá hốiđoái

Ba là, tính minh bạch trong tài chính của các doanh nghiệp; tình trạng buôn

bán lậu liễm, hiện tượng đầu cơ, nâng giá ép giá vẫn đang là những trở ngại lớn cho việc xác định đúng giá thành của nhiều loại hàng hoá - dịch vụ, kể cả các loại hàng hoá - dịch vụ thiết yếu cho đời sống của đại bộ phận dân chúng cũng làm méo

mó việc xác định giá “mua” vào cũng như giá “bán” ra trong hoạt động tín dụng ngân hàng Theo đó, sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia rất khó được xác định một cách hợp lý Đặc biệt, trong điều kiện thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa thực sự trở thành “kênh” dẫn vốn cho nền kinh tế mà vẫn đang còn là địa chỉ khá hấp dẫn cho các nhà “đầu tư’ cá thể tìm kiếm những khoản lợi nhuận khổng lồ theo kiểu “đánh bạc” Tình trạng này đã làm sản sinh ra hiện tượng đầu tư thiếu

Trang 28

tính toán mà chỉ trông đợi vào sự may rủi nên đã góp phần tạo ra các nguồn vốn

“ảo”, lợi nhuận “ảo” tác động không tốt cho việc xác định “cung”, “cầu” thực trên thị trường

Bốn là, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cũng làm phát sinh tình

trạng “độc quyền” về giá cung cấp hàng hoá - dịch vụ cũng như tạo ra sự chênh lệch không hợp lý trong thu nhập của người lao động ở các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau; nhất là các ngành cung ứng dịch vụ như ngân hàng, bưu điện, viễn thông Tình hình này đã và đang là một trong những trở ngại rất lớn cho việc xác định một tỷ giá “thực” của VND với các ngoại tệ tự do chuyển đổi

Năm là, một trong những khó khăn cho việc định hướng chính sách tỷ giá

hối đoái là vẫn còn sự khác biệt đối với những quan niệm về tiền tệ, lạm phát tiền

tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái trong kinh tế thị trường nên một số quan điểm về các vấn đề này được đưa ra làm cơ sở lý luận trong hoạch định chính sách là chưa chính xác Năm 2004, khi đưa ra khái niệm “lạm phát cơ bản”, người ta đã kiến nghị bỏ nhóm hàng hoá thuộc lương thực thực phẩm Việc loại bỏ nhóm hàng hoá này để xác định chỉ số giá cả đã không phản ảnh sức mua thực tế của đồng tiền; và như vậy đã làm méo mó sức mua đối ngoại của VND trong tương quan với sức mua của các ngoại tệ được sử dụng trong so sánh

Trong hoạch định chính sách tiền tệ, những quan niệm khác nhau về lạm phát đã chưa được các nhà nghiên cứu lý thuyết phân tích một cách đầy đủ để có thể đi đến một sự đồng thuận nào đó trong cách hiểu và cách vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam nên chưa tạo ra được tính thuyết phục cao trước công luận, cũngnhư gây ra sự nghi ngờ về một vài số liệu được đăng tải trên các phương tiện thôngtin đại chúng Trường hợp năm 2004 là một bài học kinh nghiệm cho vấn đề này, theo cách tính toán của các chuyên gia ngân hàng thì 5 tháng đầu năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam khoảng 1,78% (Theo phương pháp “Lạm phát cơ bản”); trong khi đó, số liệu của Tổng cục Thống kê thì con số CPI của Việt Nam 5 tháng đầu 2004 là 6,3% Rõ ràng là, sự khác nhau về cách tiếp cận lý thuyết đã dẫnđến sự khác biệt về những kết quả rút ra được từ tính toán từ thực tiễn Sự khác nhau đó càng ở cấp độ càng cao, càng có thể tạo ra những hậu quả cực kỳ lớn cho kinh tế và xã hội Cần nói thêm rằng, diễn biến của CPI chính là biến động về sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền Diễn biến đó được tính toán chính xác thì

tỷ giá hối đoái của đồng bản tệ so với một ngoại tệ nào đó càng sát với thực tế hơn.Đây là một trong những vấn đề cốt lõi mà các nhà hoạch định chính sách tỷ giá hốiđoái cần đặc biệt lưu tâm

Nói tóm lại, để có được một định hướng đúng cho chính sách tỷ giá hối đoái, trước hết cần nhận biết được một cách chính xác vai trò của chính sách tỷ giá

Trang 29

với tư cách là một trong những công cụ tiền tệ quan trọng nhất; đồng thời cũng là một trong những công cụ mà việc xác định nó luôn phải tính đến rất nhiều các nhân tố tác động từ trong nước cũng như từ ngoài nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế cũng như tình hình diễn biến trong đời sống chính trị củathế giới

Như vậy, để định hướng cho chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam trongthời gian tới, cần quan tâm đến các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, về mặt lý luận: Việc vận dụng các lý thuyết về tỷ giá hối đoái để

thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia cần được chọn lọc Một trong những lý thuyết tỷ giá hối đoái mà việc vận dụng nó đòi hỏi cần nghiên cứu kỹ các điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam trong từng thời kỳ khác nhau là lý thuyết

về phá giá đồng bản tệ để kích thích xuất khẩu Nên nhận thức rằng, việc phá giá tiền tệ luôn đồng nghĩa với lạm phát tiền tệ; theo đó là việc làm giảm sức mua của đồng tiền, và đồng thời là làm giảm thu nhập thực tế của tất cả các thành viên trong

xã hội

Tỷ giá hối đoái cũng là một loại giá cả, nên về nguyên tắc là chịu sự tác động của quan hệ “Cung”, “Cầu” trên thị trường Tuy nhiên, Nhà nước vẫn chưa nên để cho tỷ giá hối đoái hoàn toàn bị chi phối bởi quan hệ này chừng nào mà kinh tế trong nước cũng như kinh tế thế giới vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau; và mức độ chênh lệch về tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia cũng như mỗi tập đoàn, mỗi doanh nghiệp còn có sự cách biệt rất lớn

Trong tình hình chung về các mặt đời sống kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự trên toàn thế giới hiện nay thì tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ tiền tệ được sử dụng như những vũ khí lợi lại để làm suy yếu nhau, trước hết là về mặt kinh tế

Thứ hai, về mặt thực tiễn: Để có được một định hướng đúng cho chính

sách tỷ giá hối đoái xét về ý nghĩa thực tiễn của nó, có nghĩa là xét về hiệu quả kinh tế do vận dụng chính sách tỷ giá vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau Trong giai đoạn hiện nay, nếu việc xác định chỉ số hàng hoá tiêu dùng mà loại bỏ nhóm hàng lương thực - thực phẩm

ra khỏi rổ hàng hoá - dịch vụ cần tính toán thì chỉ số đó không thể phản ảnh đúng sức mua thực tế của VND, vì đại bộ phận những người Việt Nam vẫn dành chủ yếuthu nhập của họ cho các nhu cầu về lương thực và thực phẩm Hơn nữa, những người này chủ yếu sống ở nông thôn, nơi mà việc làm ra thu nhập bằng tiền là rất khó

Việt Nam mới chỉ được công nhận là một trong những nước có đủ quy chế của kinh tế thị trường Điều này không có nghĩa là Việt Nam đã là một nước cómột nền kinh tế thị trường đầy đủ vì còn rất nhiều việc mà Việt Nam phải làm

Trang 30

trong thời gian tới Trong khi đó, Việt Nam lại chưa phải là nước có chế độ tiền tệ tiên tiến Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, Việt Nam vẫn là một nước chưa áp dụng quy chế tự do hoá hoàn toàn đối với ngoại hối, đối với tài khoản vốn, đối với lãi suất Từ nay đến năm 2011, Việt Nam mới dỡ bỏ dần các “rào cản” đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

Về cơ cấu hàng hoá - dịch vụ tiêu dùng của Việt Nam vẫn là cơ cấu tiêu dùng của một trong những nước nghèo nhất thế giới, nên tỷ trọng hàng hoá - dịch

vụ được tạo ra từ sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn Việc sử dụng cơ cấu tiêu dùng này để xác định sức mua của VND trong quan hệ với sức mua của các ngoại tệ tự do chuyển đổi sẽ không phản ảnh được sức mua thực tế của các đồng tiền liên quan được sử dụng để so sánh Thực tế này đã và đang một trở ngại rất lớn cho việc xác định được một tỷ giá thực của VND trong quan hệ đối với thị trường thế giới

Từ những phân tích trên đây, việc định hướng cho chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới cần được làm rõ Trước hết, việc nhận thức đúng vai trò cũng như đặc điểm của tỷ giá hối đoái là rất cần thiết Tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ tiền tệ rất quan trọng, đặc biệt cho chính sách quản lý và kiểmsoát ngoại hối; cho việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia nên việc định hướng cho chính sách tỷ giá cần được quan tâm hơn nữa; đồng thời tỷ giá hối đoái là loại công cụ tiền tệ mà diễn biến của nó rất nhanh, và có khi rất bất thường

Vì vậy, việc định hướng cho chính sách tỷ giá hối đoái cần căn cứ vào vai trò và đặc điểm của tỷ giá hối đoái để có thể đưa ra được một định hướng phù hợp

_Về mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái:

Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái không chỉ được đặt ra trong ngắn hạn,

mà còn phải được đặt ra trong dài hạn Nên thống nhất quan niệm rằng, tỷ giá hối đoái là một công cụ của chính sách tiền tệ, nên mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái cũng chính là việc hướng tới các tiêu của chính sách tiền tệ Vì vậy, mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái là vì ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền quốc gia, và vì sự ổn định giá cả hàng hoá - dịch vụ trên thị trường

_ Về nguyên tắc vận hành chính sách tỷ giá hối đoái:

Với điều kiện hiện tại về kinh tế - xã hội của Việt Nam thì việc thực hiện một cơchế tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà nước là phù hợp Cơ chế này có thể còn kéo dài trong một thời gian nữa khi Việt Nam thực sự có một tiềm lực kinh tế mạnh, có một lực lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết nhằm ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, ổn định được giá cả hàng hoá - dịch vụ trên thị trường Như vậy, một cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp

Trang 31

phải là một cơ chế phản ảnh được các mối quan hệ đặc biệt giữa tỷ giá hối đoái vớilãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát tiền tệ trong từng thời kỳ khác nhau Trong đó, chính sách lãi suất được xem như là cơ sở quan trọng nhất để hoạch định chính sách tỷ giá

Trong những trường hợp thật cần thiết, Nhà nước có thể thực hiện phá giá

“nhẹ” đồng tiền của mình nhưng chỉ trong giới hạn được tính toán kỹ lưỡng; vì mỗi lần phá giá tiền tệ, là mỗi lần chấp nhận tăng thêm mức độ lạm phát tiền tệ, là mỗi lần chấp nhận sức mua của đồng tiền bị mất giá Trong tình huống như vậy, việc tính toán cân đối Ngân sách quốc gia nhằm bù đắp thiệt hại do phá giá tiền tệ đem đến cho các thành viên trong xã hội cần được thực hiện một cách chính xác, thận trọng Để có thể có được quyết định chính xác việc phá giá nhẹ đồng tiền, việcxác định tỷ lệ phá giá trong quan hệ với lạm phát tiền tệ và tăng trưởng kinh tế cần được đặt ra và xem xét một cách kỹ lưỡng Thực hiện việc phá giá tiền tệ cần được xem là một bài toán kinh tế mà đáp số cuối cùng phải là kinh tế tiếp tục được tăng trưởng một cách bền vững Do vậy, quan hệ giữa phá giá tiền tệ, lạm phát tiền tệ, với tăng trưởng kinh tế sau khi thực hiện việc phá giá sẽ là:

% phá giá tiền tệ <% lạm phát tiền tệ < % tăng trưởng kinh tế

Trong kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ tiền

tệ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ quốc gia Việc nghiên cứu một cách đầy

đủ vai trò, đặc điểm của tỷ giá hối đoái để có thể xác định được cho nó một định hướng phù hợp luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trung ương của các quốc gia trên thế giới Bài viết trên đây chỉ mới đề cập đến những vấn đề mà người viết tâm đắc từ nhiều năm nay Rất mong bạn đọc gần xa có những sự chia sẻ cần thiết bằng cách trao đổi, bàn luận thêm để cho những vấn đề vừa mang tính nghiên cứu lý thuyết, vừa mang được dấu ấn của nghiên cứu ứng dụng đối với một trong những vấn đề khá hóc búa này có thêm những cái nhìn mới

lạ, và thú vị cho công tác nghiên cứu

1.2.4 Lãi xuất:

CHƯƠNG 2: Tình hình hội nhập, hoạt đông thương mại quốc tế va

sự điều tiêt của chính phủ thông qua các biện pháp tài chính tại Việt

2.1 Tình hình hội nhập của Việt Nam thông qua thương mại quốc tế.

Trang 32

2.1.1 Hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới thông qua thơng mại quốc tế:

2.1.1.1 Quá trình hội nhập của Việt Nam trong thời gian qua.

Thực hiện chủ trơng, đờng lối của Đảng trong những năm qua chúng ta đã

đạt đợc nhiều thành tựuquan trong trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại vàhội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực đó là đã đẩy mạnh quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế: mở rộng quan hệ kinh tế song phơng cũng nh đa phơng; phát triểnquan hệ đầu t với gần 70 nớc và lãnh thổ; bình thờng hóa quan hệ với các tổ chứctài chính-tiền tệ quốc tế nh: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF),gia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) và khu vực mậu dịch tự soASEAN (AFTA); tham gia sáng lập Diễn đàn á - Âu (ASEM); gai nhập Diễn đànhợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC), trở thành thành viên của Tổchức Thơng mại thế giới (WTO) Nớc ta cũng đã ký hiệp định khung về hợp táckinh tế với Liên minh châu Âu (EU) và mới đây chungs ta đã ký Hiệp định songphơng với Hoa Kỳ (có hiệu lực từ 10/12/2001)

2.1.1.2 Đánh giá về hiệu quả của việc hội nhập của Việt Nam:

Từ năm 1990, Việt Nam đã hội nhập một cách nhanh chóng và mạnh mẽvào nền kinh tế thế giới Thơng mại quốc tế của Việt Nam liên tục tăng và ổn định,

đợc phản ánh thông qua doanh thu xuất nhập khẩu: tỷ lệ đóng góp của xuất khẩuvào GDP trong giai đoạn 1990-1998 đã tăng 15,6%, từ 26,4% lên 42,0%, trong khi

đó của nhập khẩu đã tăng 13,6%, từ 35,7% lên 49,3%

Nếu chúng ta so sánh con số trên với các nớc đang phát triển có thu nhậpthấp trong giai đoạn 1980-1998, có thể thấy rằng tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu vàoGDP chỉ tăng 2% từ 25% lên 27% và của nhập khẩu thì tăng 7% từ 23% lên 30%.Bớc đi nhanh chóng trong việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới cóthể thấy trong tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu trong GDP năm 1990, ngang bằng vớicác nớc đang phát triển có thu nhập thấp năm 1980, nhng năm 1998 tỷ lệ này củaViệt Nam đă tăng lên 42% trong khi đó của các nớc đang phát triển có thu nhậpthấp sau gần hai thập kỷ chỉ tăng lên 27%

Trang 33

So sánh sự thực hiện thơng mại quốc tế ở Việt Nam với Trung Quốc, chúng

ta có thể thấy rằng tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu vào GDP là 6% và của nhập khẩucũng là 6% Sự cải cách trong thơng mại quốc tế của Trung Quốc đã dẫn đến tốc độtăng trởng cao, nhng tỷ lệ đóng góp của xuất khẩu vào GDP chỉ là 22% và của nhậpkhẩu là 17% tức là thấp hơn Việt Nam

Việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới bằng cách thực hiện

th-ơng mại quốc tế có thể thấy qua tỷ lệ xuất khẩu ròng trong GDP:

- Đầu tiên: sử dụng công thức sau để tính toán GDP và GDS của một quốcgia:

GDP = C + I + E - M (1)GDS = GDP - C (2)

Trong đó: C: tiêu dùng, I: đầu t

E và M là xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia

- Cán cân thanh toán của nền kinh tế có thể đợc tính toán theo công thức sau:

E - M + OT + PCT - NOFP - DS + F - R(+E&O) = Ohay: E+OT+PCT-NOFP-M-DS = - {F-R(+E&O)} = O (3) trong đó: OT (official transfer) là viện trợ không hoàn lại

PCT (private current transfer):

DS là tiền nợNOFP là các chi tiêu thực khác

F là các dòng vốn

DR là sự thay dổi của quỹ tiền tệE&O là những lỗi của việc tính toán (những lỗi nhẹ và khôngquan trọng)

Trang 34

Bảng 1: cấu trúc của GDP ở Việt Nam trong

Trong đó: C: tiêu dùng, I: đầu t

E và M là xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia

- Cán cân thanh toán của nền kinh tế có thể đợc tính toán theo công thức sau:

E - M + OT + PCT - NOFP - DS + F - R(+E&O) = Ohay: E+OT+PCT-NOFP-M-DS = - {F-R(+E&O)} = O (3) trong đó: OT (official transfer) là viện trợ không hoàn lại

Trang 35

PCT (private current transfer):

DS là tiền nợNOFP là các chi tiêu thực khác

F là các dòng vốn

DR là sự thay dổi của quỹ tiền tệE&O là những lỗi của việc tính toán (những lỗi nhẹ và khôngquan trọng)

Từ (1) và (2) ta có phơng trình: GDS - I = E - M kết hợp phơng trìnhnày với phơng trình (3) ta có:

GDS - I + OT + PCT - NOFP - DS = E - M + OT + PCT - NOFP - DS = - (F+ R)

Nếu tiết kiệm của quốc gia là cân bằng với tiết kiệm trong nớc cộng các sự dichuyển của các tài khoản hiện thời và các tài khoản thanh toán khác, ta có:

GNS - I = E - M + OT + PCT - NOFP - DS = - (F+R) (4)

Công thức (4) chỉ ra rằng khi tiết kiệm của quốc gia qua nhiều thì đầu t sẽ

đ-ợc cân bằng với thâm hụt tài khoản hiện thời và/hoặc cân bằng với các dòng vốn

n-ớc ngoài Đièu này nghĩa là xu hớng tăng của các dòng tài chính quốc tế trong mộtquốc gia sẽ đợc cân bằng với thâm hụt của tài khoản hiện thời và đầu t mà vợt quátiết kiệm của quốc gia

ở đó nói lên giá trị xuất khẩu ròng của Việt Nam giai đoạn 1990 - 1998, cânbằng với các dòng vốn ròng (bao gồm cả tăng và giảm các tiết kiệm ngoại tệ củaquốc gia).Theo bảng 2 chỉ ra rằng tỷ lệ của các dự trữ ngoại tệ của Việt Nam trongGDP năm 1998 là 4,3% cao hơn các nớc đang phát triển có thu nhập thấp Từ khi tỷ

lệ S/GDP của Việt Nam bằng với các nớc đang phát triển, sự khác nhau giữa tỷ lệ I/GDP của Việt Nam và ở các nớc khác là tỷ lệ tiết kiệm nớc ngoài trong GDP, vìvậy tỷ lệ đầu t của Việt Nam cao hơn các nớc đang phát triển khác, chủ yếu nhờ cóviệc tăng nhanh chóng các dòng vốn nớc ngoài ở Việt Nam, dới hình thức thơngmại quốc tế và đầu t trực tiếp nớc ngoài

Trang 36

Từ các phân tích trên, chúng ta có thể đa ra một số kết luận quan trọng nhsau:

- Qua so sánh với các nớc đang phát triển có thu nhập thấp khác, thực hiệnxuất nhập khẩu của Việt Nam đã có bớc đi nhanh chóng trong việc hội nhập vào thịtrờng quốc tế, một bớc đi thậm chí còn nhanh hơn Trung Quốc

- Hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới cũng có tốc độ cao hơn cácnớc đang phát triển có thu nhập thấp khác, đợc phản ánh chủ yếu qua sự đẩy mạnhthơng mại quốc tế và các dòng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) vào Việt Nam

- Sự khác nhau về tỷ lệ tăng trởng của Việt Nam so với các nớc khác chủ yếubởi vì do các tác động của thơng mại quốc tế và các dòng vốn đầu t trực tiếp nớcngoài (FDI) (bảng 2)

Trang 37

BẢNG 2: TỶ LỆ TẲNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM DO TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

2.1.1.3 Những thách thức và khó khăn của sự phát triển thơng mại quốc tế của Việt Nam.

Song song với những lợi ích cả về tĩnh và động thu đợc bởi Việt Nam trởthành thành viên của AFTA, quá trình hội nhập của Việt Nam vào khu vực ĐôngNam á và thế giới phải đối mặt với một số thách thức cần phải vợt qua

Hàng hóa thuộc về nhóm IL và TEL (nh là: xi măng, quần áo, nông sản chếbiến và các sản phẩm da ) phụ thuộc vào việc giảm thuế của tất cả các thành viêncủa AFTA Vì vậy, nếu các sản phẩm của Việt Nam không có sức cạnh tranh caothì chúng sẽ bị đánh bại bởi các sản phẩm của các nớc khác đặc biệt là Thái Lanthậm chí cả trên thị trờng trong nớc, phụ thuộc vào khi việc giảm thuế theo nhAFTA, điều này có thể xảy ra từ khi các hàng hóa công nghiệp và nông nghiệp đ ợcsản xuất ra bởi các nớc thành viên của AFTA có sức cạnh tranh cao hơn của Việt

Trang 38

Nam, chủ yếu bởi vì điều kiện địa lý tốt hơn và trình độ phát triển cao hơn nh kếtquả của các mẫu sản phẩm của họ hiện đại hơn và có vốn đầu t nhiều hơn.

Trong các nớc thành viên của AFTA, Singapore là nhà đầu t lớn nhất vàoViệt Nam Thơng mại hai chiều giữa Việt Nam và Singapore đã tạo nên tỷ lệ cao vềgiá trị xuất khẩu của Việt Nam Thuế xuất khẩu đánh vào các hàng hóa củaSingapore (trong quốc gia này) hiện nay là rất thấp Việc giảm thuế theo đúng kếhoạch của chơng trình CEPT-AFTA sẽ chắc chắn không thể giúp việc tăng khối l-ợng hàng hóa Việt Nam vào thị trờng Singapore nhng có tác động xấu đến việcthực hiện xuất khẩu của Việt Nam, từ khi các hàng nông sản của Việt Nam đợcxuất khẩu sang Singapore và các nớc thành viên khác của AFTA giải thích cho tỷ lệcao Theo nh hiệp định CEPT-AFTA, nhiều hàng nông sản cha chế biến của ViệtNam không đợc hởng những u đãi về giảm thuế nh các sản phẩm công nghiệp khác

đợc xuất khẩu sang Việt Nam từ các nớc ngoài AFTA

Việc mở rộng thơng mại quốc tế của Việt Nam theo xu hớng tự do hóa hiệnnay hiện nay có thể dẫn đến con đờng sai Theo nh các nguyên tắc của kinh tế thếgiới, con đờng thơng mại sai xảy ra khi việc nhập khẩu của một hàng hóa nào đó ởmức giá thấp hơn từ một khu vực không tự do thơng mại sẽ đợc thay thế bằng việcnhập khẩu hàng hóa cùng loại đợc sản xuất của các nớc thành viên của khu vực tự

do thơng mại Đây là kết quả về u đãi thơng mại đợc công nhận bởi các nớc thànhviên cho một thành viên khác Khi là một thành viên của AFTA, Việt Nam phảinhập khẩu các loại hàng hoá khác nhau từ các nớc thành viên khác của AFTA và cóthể nhập khẩu hàng hóa từ các nớc ngoài AFTA ở mức giá tơng tự hoặc thấp hơn.Khi sản phẩm đợc sản xuất các nớc ngoài AFTA thì không đợc hởng u đãi thuếnhập khẩu, chúng sẽ bán ở mức giá cao hơn các sản phẩm cùng loại đợc sản xuấtbởi các nớc thành viên của AFTA ở phạm vi rộng hơn, điều này sẽ cản trở sự cốgắng của Việt Nam trong việc mở rộng các quan hệ thơng mại với các nớc kháctrên thế giới nơi mà các sản phẩm là có lợi thế so sánh hơn các nớc thành viên củaAFTA

Những thách thức đối với công nghiệp hóa hớng về xuất khẩu của Việt Namtrớc mắt là rất nhiều Ngành dệt và xi măng là những ví dụ điển hình Cho đến nay,

sự phát triển của ngành dệt vẫn cha theo kịp với sự tiến bộ của ngành xi măng hớng

về xuất khẩu Các sản phẩm của ngành dệt nói chung là có chất lợng kém, hoàn

Trang 39

toàn không có lợi thế so sánh trong khu vực và trên thế giới, thậm chí ở thị trờngThái Lan và Malaisia Ngoài ra, việc mất giá liên tục của các đồng tiền trong khuvực đã làm cho tính cạnh tranh trở nên gay gắt hơn Các con số thống kê đã chỉ rarằng rất nhiều hợp đồng đợc ký để xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Nhật Bản vàHàn Quốc bị hủy bỏ bởi vì các đối tác của Việt Nam đòi hỏi giá thấp hơn, nh là kếtquả của việc mất giá đồng tiền của nhiều nớc trong khu vực Xa hơn nữa, hàu hếtcác nguyên liệu đợc sử dụng trong ngành dệt của Việt Nam là đợc nhập khẩu và vìvậy nó phải đơng đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, việc cung cấp nguyên liệu bịchậm trễ là một ví dụ và vì vậy không đáp ứng kịp thời các nhu cầu và thị hiếu củakhách hàng.

Xem xét các tác động của việc mở rộng/phát triển thơng mại quốc tế của cáchàng nông sản của Việt Nam - một trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu củaViệt Nam - chúng ta có thể thấy rằng chúng ta phải vợt qua nhiều khó khăn Ví dụ,mục tiêu của việc tăng doanh thu xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tơng lai gần sẽ

là rất khó khăn, từ cả mặt cung cấp và nhu cầu Về mặt nhu cầu, những cố gắng gần

đây của Việt Nam để tăng giá xuất khẩu gạo có chất lợng tơng tự nh của Thái Lantrên thị trờng thế giới phải đối mặt với các thách thức mới Về lý thuyết, các nớc

đang phát triển phải giải quyết sự thay đổi về giá cả, sự mất giá của các hàng nôngsản hớng về xuất khẩu Báo cáo của tổ chức lơng thực thế giới (FAO) công nhậnrằng có một sự kiểm kê lớn về gạo ở các nhà xuất khẩu gạo châu á, là nguyên nhâncác nớc đó giảm giá bán để giữ thị phần và giảm chi phí bảo quản và kiểm kê Theocác chuyên gia, về mặt cung cấp, chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn thấphơn các nhà xuất khẩu gạo khác của châu á Theo thời gian, phần lớn phải thựchiện các biện pháp đầu t và phát triển nhằm mục đích nâng cao sức cạnh tranh củagạo Việt Nam trên thị trờng thế giới

Kết luận: thành công thu đợc của tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nềnkinh tế thế giới thông qua thơng mại quốc tế là không thể phủ nhận Nhờ có cơ chế

đẩy mạnh xuất khẩu doanh thu thơng mại quốc tế của Việt Nam là 14 tỷ USD (cuối2000) tăng 20% so với năm 1999

Với các phân tích trên chỉ ra rằng Việt Nam đã có sự hội nhập nhanh chóngvào nền kinh tế thế giới và khu vực Đông Nam á hơn là các nớc đang phát triển cóthu nhập thấp khác Nhng, sự phát triển của nền kinh tế của Việt Nam sẽ có tầm

Trang 40

quan trọng hơn nữa nếu chúng ta biết rằng, từ kinh nghiệm của nớc ngoài, hội nhậpthế giới trong quá trình tự do hóa thơng mại luôn luôn đi song song với sự vận độngcủa vốn quốc tế và đối với nhiều nớc, thực sự vô vùng khó khăn để duy trì và/hoặc

ổn định nền kinh tế của chúng trong giai đoạn hiện nay Vì vậy việc mở rộng thơngmại quốc tế và tiếp nhận vốn nớc ngoài từ các nhiều nớc thờng dẫn đến cơ cấu lạikinh tế hơn là tạo ra kích thích cho sự tăng trởng kinh tế theo nh mô hình Harrod-Domar và mô hình hai vùng

Để thu đợc lợi ích từ việc mở rộng thơng mại quốc tế, Chính phủ Việt Namnên có sự điều chỉnh lại cơ cấu về công nghiệp hớng về xuất khẩu với ý định tăng

tỷ lệ sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm mà đợc hởng u đãi về thuế theo nhhiệp định CEPT Phải chú ý hơn nữa đến việc giảm lãng phí nguyên liệu, giảm chiphí sản xuất và cải thiện chất lợng sản phẩm để đáp ứng đợc các nhu cầu và thị hiếuluôn thay đổi của khách hàng Về việc các hàng nông sản của Việt Nam, đặc biệt làgạo, trọng tâm là cải thiện chất lợng hơn là thu đợc lãi ngay lập tức Kinh nghiệmcủa Thái Lan trong trờng hợp này có thể là bài học tốt cho Việt Nam

Cuối cùng các chính sách vi mô và vĩ mô trong việc đẩy mạnh thơng mạiquốc tế cần phải đợc thực hiện đúng lúc và cân đối Quá trình kiểm tra SOE cầnphải đợc nâng cao Các thành công sẽ ít ý nghĩa (chủ yếu bởi vì u đãi về thuế chỉ đ-

ợc áp dụng cho tỷ lệ rất nhỏ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào AFTA) trongkhi thua lỗ là kết quả của sự cạnh tranh sẽ là vô cùng lớn Vấn đề này trở nên quantrọng hơn khi Trung Quốc gia nhập WTO và vì vậy vấn đề cạnh tranh sẽ trở nêngay gắt hơn trên thị trờng ngoài khu vức AFTA và thị trờng trong nớc cũng vậy

2.2 Sự điều tiết của chớnh phủ vào thương mại quốc tế thụng qua cỏc biện phỏp tài chớnh: thành cụng và tồn tại.

Sau 15 năm đổi mới, với chính sách đa phơng hóa các hoạt động kinh tếquóc tế và thực hiện chủ trơng khuyến khích xuất nhập khẩu của Đảng và Nhà nớc,hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có những bớc tiến vợt bậc Sở dĩ nh vậy

là do các chính sách, biện pháp của Nhà nớc và sự can thiệp của Chính phủ đặc biệt

là qua các chính sách, biện pháp tài chính, có thể nhìn lại chính sách tài chính củanớc ta nhằm thúc đẩy thơng mại quốc tế trong thời kỳ đổi mới: trong những năm

Ngày đăng: 07/08/2013, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Công nghiệp hóa hớng ngoại - “ Sự thần kỳ” của các nớc NICs Châu á - Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thần kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
10.Tạp chí Thơng mại số 2+3/2001, 10/2001, 24/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thơng mại
Năm: 2001
13.Tài liệu của cuộc hội thảo “Sự nghiên cứu chung giữa Việt Nam và Nhật Bản” (3 - 9/12/2000 tại Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiên cứu chung giữa Việt Nam và Nhật Bản
Năm: 2000
1. Giáo trình Thơng mại quốc tế - PGS - TS Nguyên Duy Bột Khác
2. Tạp chí tài chính số 7, 9/2001 Khác
3. Tạp chí Vietnam Economic Review số 9/1999, 3/2000, 4/2001 Khác
4. Tập chí Nghiên cứu kinh tế số 261/2001, 271/2000 Khác
5. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á 2/2001 Khác
6. Nghị định 57/1998- Thông t 18/1998 7. Nghị định 46/2001 - Thông t 11/2001 Khác
8. Tạp chí Phát triển kinh tế Khác
11.Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10/2000, 11/2000 Khác
12.Thời báo Kinh tế năm 2001 Khác
14. APEC những thách thức và cơ hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 1997 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2: TỶ LỆ TẲNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM  DO TÁC ĐỘNG CỦA  THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ - việc sử dụng các công cụ và biện pháp tài chính để điều tiết hoạt động thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
BẢNG 2 TỶ LỆ TẲNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM DO TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (Trang 38)
Bảng 7: Sự đóng góp của các doanh nghiệp trong hoạt động  thơng mại quốc tế. - việc sử dụng các công cụ và biện pháp tài chính để điều tiết hoạt động thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 7 Sự đóng góp của các doanh nghiệp trong hoạt động thơng mại quốc tế (Trang 78)
Bảng 1: Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam  giai đoạn 1986 - 2001 (trang 32) - việc sử dụng các công cụ và biện pháp tài chính để điều tiết hoạt động thương mại của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1 Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1986 - 2001 (trang 32) (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w