1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp _ Phân tích các doanh nghiệp ngành ngân hàng”.

26 1,5K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp _ Phân tích các doanh nghiệp ngành ngân hàng
Tác giả Phạm Thị Nga
Người hướng dẫn Ngô Văn Thứ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Toán tài chính
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất cứ doanh nghiệp nào khi vận hành cũng đều có một cấu trúc vốn nhất định dù họ có ý thức xây dựng nó hay không. Có thể là 100% vốn cổ phần hoặc là 30% nợ vay, 70% vốn cổ phần v.v. Có gì khác nhau giữa hai cấu trúc vốn này?… Vâng, sẽ là không có gì đáng bàn cãi nếu giá trị mang lại cho các cổ đông của hai cấu trúc vốn khác nhau này là như nhau. Tuy nhiên, vì những ưu nhược điểm nhất định của nợ vay và vốn chủ mà mỗi cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn được gọi là cấu trúc vốn. Phần đông doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhìn nhận về tỷ lệ này khá đơn giản. Thường thì chúng ta tự nhẩm tính khi nào thì nên mượn nợ, khi nào thì kêu gọi thêm vốn chủ sỡ hữu. Dĩ nhiên những tính toán đó phần nào cũng có “lý” của người ra quyết định. Việc xác định một cấu trúc vốn doanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay nợ bao nhiêu để có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là một vấn đề lớn, rất quan trọng trong tài chính doanh nghiệp, là một trong những vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý. Đây là một vấn đề khá thú vị cả trong nghiên cứu lý luận lẫn áp dụng trong thực tiễn. Xuất phát từ vấn đề trên, em quyết định chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp _ Phân tích các doanh nghiệp ngành ngân hàng”.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Bất cứ doanh nghiệp nào khi vận hành cũng đều có một cấu trúc vốnnhất định dù họ có ý thức xây dựng nó hay không Có thể là 100% vốn cổphần hoặc là 30% nợ vay, 70% vốn cổ phần v.v Có gì khác nhau giữa haicấu trúc vốn này?… Vâng, sẽ là không có gì đáng bàn cãi nếu giá trị manglại cho các cổ đông của hai cấu trúc vốn khác nhau này là như nhau Tuynhiên, vì những ưu nhược điểm nhất định của nợ vay và vốn chủ mà mỗi

cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng khác nhau tới hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp

Tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn được gọi là cấu trúc vốn Phần đôngdoanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhìn nhận về tỷ lệ này kháđơn giản Thường thì chúng ta tự nhẩm tính khi nào thì nên mượn nợ, khinào thì kêu gọi thêm vốn chủ sỡ hữu Dĩ nhiên những tính toán đó phầnnào cũng có “lý” của người ra quyết định Việc xác định một cấu trúc vốndoanh nghiệp như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay nợ bao nhiêu để

có thể tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là một vấn đề lớn, rất quan trọngtrong tài chính doanh nghiệp, là một trong những vấn đề làm đau đầu cácnhà quản lý Đây là một vấn đề khá thú vị cả trong nghiên cứu lý luận lẫn

áp dụng trong thực tiễn Xuất phát từ vấn đề trên, em quyết định chọn đề

tài: “Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp _ Phân tích các doanh nghiệp ngành ngân hàng” Mục

tiêu của bài viết này là xem xét cơ cấu nợ trên tổng tài sản ảnh hưởng nhưthế nào tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Từ đó làm nền tảng cho hànhtrình đi tìm cơ cấu vốn tối ưu của các doanh nghiệp

Trang 2

Dù đã cố gắng song do còn hạn chế về kiến thức nên trong quá trìnhlàm đề án em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để

em hoàn thiện hơn trong những đề tài tiếp theo

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo Ngô Văn Thứ đãnhiệt tình giúp đỡ để em hoàn thành đề án này!

Trang 3

NỘI DUNG

I.GIỚI THIỆU VỀ CƠ CẤU VỐN.

1 Khái niệm về cơ cấu vốn.

Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được định nghĩa như là sự kết hợpgiữa nợ (debt) và vốn cổ phần (equity) trong tổng nguồn vốn dài hạn màdoanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các dự án đầu tư

Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanhnghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau Trong điềukiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệpđược đa dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế Nguồnvốn của một doanh nghiệp bao gồm hai khoản mục chủ yếu sau đây:

 Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp bao gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, tăng vốn bằngphát hành cổ phiếu mới

 Nợ vay

Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp

có thể sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại

và vay thông qua phát hành trái phiếu

2 Ưu, nhược điểm của vốn chủ sở hữu.

Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sỡ hữu đó là giáthành (hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ Bởi lẽ, không người đầu

tư nào bỏ tiền đầu tư vào công ty gánh chịu những rủi ro về hoạt động vàkết quả kinh doanh của công ty mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho

Trang 4

vay nợ Bên cạnh đó với tính chất không được miễn trừ thuế làm cho chiphí vốn càng cao hơn Việc này này dẫn tới một điểm không thuận lợikhác, là khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lượng người chủ sỡ hữu càngnhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sátcủa họ lên các nhà điều hành công ty càng lớn.

Tuy vậy vốn chủ sỡ hữu sẽ vẫn phải tăng khi công ty cần tiền Tăng

để cân bằng với nợ và giữ cho công ty ở trong tình trạng tài chính lànhmạnh Một lý do để các nhà đầu tư tăng vốn nữa là khi thị trường định giá

cổ phiếu của nó cao hơn giá trị nội tại, phát hành vốn trong trường hợp đó

sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho công ty, và thực chất là tăng phần lợinhuận cho những nhà đầu tư hiện hữu

3 Ưu, nhược điểm của nợ.

Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốnchủ sỡ hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế.Trong khi đó thì cổ tức hay các hình thức thưởng khác cho chủ sỡ hữu phải

bị đánh thuế Trên nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữubằng nợ thì sẽ giảm được thuế doanh nghiệp phải nộp, và vì thế tăng giá trịcủa doanh nghiệp lên

Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sỡhữu Sở dĩ nói nợ vay rẻ hơn vốn cổ phần là vì: Thứ nhất, quyền của cácchủ nợ được ưu tiên trước quyền của cổ đông nếu trường hợp doanhnghiệp lâm vào tình trạng phá sản, do vậy chủ nợ được xem là có mức độrủi ro thấp hơn các cổ đông; tương ứng với sự an toàn này, họ sẽ nhậnđược một tỷ suất sinh lợi (chính là lãi suất vay nợ) thấp hơn tỷ suất sinh lợitrên vốn cổ phần của các cổ đông Thứ hai, chi phí lãi vay được khấu trừ

Trang 5

trước thuế làm giảm mức thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp xuống,mang đến cho doanh nghiệp lợi ích lá chắn thuế.

Một ưu điểm khác của nợ vay cũng cần phải kể đến là: Nợ giúp chocác nhà điều hành thận trọng hơn khi đầu tư: Thực tế từ các thị trường chothấy, đối với các công ty dồi dào tiền mặt, và không có khả năng tăngtrưởng nhanh, các nhà quản lý hay có khuynh hướng đầu tư tiền vào những

dự án “ồn ào” nhưng không hiệu quả, hoặc dùng tiền, tăng chi phí để tạo ratăng trưởng Dĩ nhiên những dự án này không tạo ra giá trị cao cho công

ty Thuật ngữ tài chính gọi việc này là overinvestment – đầu tư thái quá.Nếu công ty không có hội đồng quản trị giám sát chặt chẽ thì hiệu ứng đầu

tư thái quá này này sẽ xảy ra nhiều Nhưng nếu công ty mượn nợ để tài trợcho những khoản đầu tư, thì việc phải trả lãi định kỳ, cũng như trả vốntheo định kỳ sẽ ngăn, hoặc giảm việc đầu tư thái quá này

Do đó, về lý thuyết mà nói thì khi công ty tăng nợ tức là giảm chiphí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng như giátrị của công ty Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao

so với chủ sỡ hữu Khi đó công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chính khônglành mạnh, và dẫn doanh nghiệp đến nguy cơ phá sản và những rủi rokhác

Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản Một công trình nghiên cứutại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khoảng 3% thị giá của tất cả cáccông ty niêm yết Nghiên cứu còn cho thấy chi phí “hao mòn” doanhnghiệp (cost of business erosion) còn cao và nghiêm trọng hơn nhiều.Những công ty có tỷ lệ nợ cao, sẽ "nhát tay” trong việc nắm bắt những cơhội đầu tư Chúng cũng có khuynh hướng giảm bớt những chi phí tạo rahiệu quả trong tương lai như chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện,xây dựng thương hiệu Kết quả là những doanh nghiệp này đã bỏ qua

Trang 6

những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp Mức nợ cao còn dẫn đếnnhững nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp Nguy cơ càngcao hơn khi sản phẩm của công ty có vòng đời phục vụ và bảo hành lâudài Một ví dụ rõ nhất là công ty xe hơi Chrysler đã bị giảm 40% doanh sốkhi phải đối diện nguy cơ phá sản vì nợ nần vào năm 1979.

Ngoài ra công ty có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa cácchủ nợ và nhà đầu tư khi công ty sắp phải ngừng hoạt động để trả nợ Khi

có nguy cơ đó xảy ra, các nhà đầu tư “khôn ngoan” sẽ tìm cách đầu tư dướimức – underinvestment Tức là họ sẽ tập trung đầu tư vào những dự án rủi

ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền mặt để

có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này Trong khi đó những chủ nợ lạimuốn công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trongtương lai Và mâu thuẫn vì thế phát sinh

Chi phí phá sản, chi phí hao mòn được coi như là 1 lực ma sát trongmôi trường thực tế để hạn chế doanh nghiệp sử dụng nợ Các nhà quản lý

sẽ dừng việc tăng nợ khi lợi ích của lá chắn thuế cân bằng với chi phí tạo

ra do sử dụng nợ

4 Cơ cấu vốn tối ưu.

Như đã phân tích ở trên ta thấy nợ vay và vốn chủ có những ưu điểmnhất định Với mỗi doanh nghiệp sẽ có cơ cấu nợ và vốn chủ khác nhau tùytheo đặc điểm, mục đích của từng doanh nghiệp, hay với mỗi doanh nghiệp

sẽ tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu được hiểu như một tỷ

lệ nợ lý tưởng trong tổng nguồn vốn mà tại đó doanh nghiệp có thể tối đahóa được mục đích đề ra như: tối thiểu WACC, tối đa giá trị doanh nghiệp,tối đa giá trị cổ phần… Vay nợ chỉ thật sự là tốt nếu như doanh nghiệp cókhả năng tạo ra được thu nhập từ nợ vay nhiều hơn chi phí lãi vay và các

Trang 7

chi phí liên quan kèm theo Tuy nhiên, vay nợ đến một mức nào đó thì mỗilượng nợ tăng thêm sẽ trở nên rủi ro hơn và doanh nghiệp sẽ đối mặt vớinhững chi phí phát sinh khác Bởi vậy, trong tài chính người ta nói rằng nợ

là thí dụ tốt nhất của con dao hai lưỡi… Do đó doanh nghiệp nào mùquáng tin rằng vay nợ tốt và cứ thế vay nhiều đến mức mất khả năng chitrả lãi vay đúng hạn thì nguy cơ phá sản là không có gì phải bàn cãi Dư nợtối ưu của doanh nghiệp cần cân bằng khoản thuế được giảm trừ nhờ việc

Khi nào doanh nghiệp nên vay nợ và vay bao nhiêu là hợp lý? Hànhtrình đi tìm lời giải cho bài toán này chính là hành trình doanh nghiệp đitìm cấu trúc vốn tối ưu cho chính mình

II PHÂN TÍCH CƠ CẤU VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH NGÂN HÀNG.

1 Phạm vi nghiên cứu.

Trong phần này chúng ta sẽ tiến hành mô hình hóa để đánh giá xemliệu xét trong cùng một ngành, tương ứng với các mức sử dụng nợ khácnhau thì hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có khác nhau không?Các phân tích được thực hiện đối với một ngành kinh tế cấp 4 là ngànhNgân Hàng (mã ngành J6519) _ bộ số liệu điều tra doanh nghiệp 2006

(dnmau_2006.sav) và sử dụng phần mềm thống kê SPSS 13.0.

Cơ cấu vốn được xem xét là tỷ lệ giữa nợ vay trên tổng tài sản Hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp đuợc đánh giá thông qua khả năng tối ưu suấtsinh lời của tài sản (ROA) và suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

2 Tổng quan về ngành ngân hàng năm 2006.

Trang 8

Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có nhữngđặc thù riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính Cũng giống như các DNphi tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thịtrường cạnh tranh và đầy biến động Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loạihình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết đến các lĩnh vực kháctrong nền kinh tế NHTM có đặc điểm giống như các DN khác, cũng sửdụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng laođộng (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu radưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu Tuy nhiên,NHTM là loại hình DN đặc biệt ở chỗ, hoạt động kinh doanh của NHTM

có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượngkhách hàng khác nhau Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ảnhhưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các DN, tâm lý của ngườidân, cũng như của cả nền kinh tế

Trong năm 2006, tổng tài sản có toàn hệ thống NHTM tiếp tục tăng;đạt 1,7 triệu tỉ đồng tăng 34% so với cùng kỳ năm 2005 Điều này thể hiện,quy mô hoạt động của các NHTM tại Việt Nam ngày một tăng lên với mứctăng tương đối cao Việc mở rộng quy mô hoạt động là rất cần thiết trongđiều kiện cạnh tranh gia tăng nhưng các ngân hàng cần có chiến lược hoạtđộng cũng như các biện pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp để đảm bảo việc

mở rộng quy mô không gây ra những rủi ro tiềm ẩn quá lớn đối với cácngân hàng

Hệ số an toàn vốn của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ xấu trên tổng

dư nợ còn ở mức cao đặc biệt là khối các NHTM quốc doanh: hệ số antoàn vốn của 4 NHTM quốc doanh đều dưới mức tiêu chuẩn quốc tế (dưới8%), tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ khoảng 3% so với tỷ lệ 0,06% của các

Trang 9

chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam (số liệu tính đến cuối năm2006).

Rủi ro do chênh lệch về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và chovay: ước tính khoảng 50% nguồn vốn huy động ngắn hạn được sử dụng đểcho vay trung và dài hạn, trong khi theo quy định của ngân hàng Nhà nước

tỷ lệ an toàn chỉ là 40% đối với các NHTM

Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn 2003-2006 quá nóng,bình quân trên 30%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 7-8% làvượt ngưỡng an toàn và có thể tạo ra bong bóng tín dụng theo đánh giá củacác nhà kinh tế (với mức tăng trưởng GDP của Việt Nam, tốc độ tăngtrưởng tín dụng nên nằm trong khoảng 14-20%)

Kết quả kinh doanh của toàn hệ thống NHTM tính đến hết năm 2006đạt xấp xỉ 14 nghìn tỉ đồng, tăng hơn so với năm 2005 là 39,15%, mức độtăng lợi nhuận của các ngân hàng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quantrọng đối với từng ngân hàng nhưng mức dộ tăng nên ở biên độ vừa phải

để tránh tình trạng tăng trưởng quá nóng

ROA trung bình ngành đạt 1.0%/năm trong giai đoạn 2004 – 2006.Chỉ số này dao động trong khoảng từ 0,3% đến 1,7% ROA trung bìnhngành năm 2006 tăng khá mạnh và đạt 1,3% Xu hướng tăng ROA thể hiệnhiệu quả quản lý ngày càng tăng của khối ngân hàng nói chung (Năm

2006, ROA các ngân hàng ở Mỹ đạt được trong khoảng 0,6 – 1,5%)

ROE trung bình ngành đạt gần 14% giai đoạn 2004 – 2006, trong đó

có thể xếp hạng như sau: khối quốc doanh, VCB (19%) dẫn đầu; khốiTMCP: ACB (28%), TCB (20%) ROE các ngân hàng ở Mỹ đạt khoảng 10– 25% (S&P) Nếu chỉ xét riêng năm 2006, ROE trung bình ngành đạt 19%(2005 đạt 17%) ROE khá cao cho thấy ngành ngân hàng có hiệu quả hoạt

Trang 10

động tốt Tuy vậy, điều này cũng có nghĩa là nền tảng về vốn của các ngânhàng Việt Nam còn tương đối nhỏ.

Các chỉ tiêu ROA, ROE của khối các ngân hàng TMCP tươngđương với chỉ số trung bình của các ngân hàng trong khu vực (ROA củaNHTM cổ phần Việt Nam ~ 1,76% so với ROA khu vực ~ 1,1%, ROE củaNHTM cổ phần Việt Nam ~ 18,29% so với ROE khu vực ~ 11%)

Như vậy, tất cả các chỉ tiêu quan trọng nhất của một ngân hàngthương mại đều có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các năm trước đó,cũng như so với tốc độ tăng bình quân chung của toàn ngành ngân hàng,bình quân chung của khu vực và thế giới Có thể nói rằng trong năm 2006ngành ngân hàng đã có những buớc tiến đáng kể Tuy nhiên, cũng khôngtránh khỏi còn tồn tai những hạn chế như: mức độ thâm nhập thị trườngcòn rất thấp so với khu vực và trên thế giới, nợ xấu vẫn là một vấn đề phổbiến trong các ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là NHTM quốc doanh…

3 Mô hình lý thuyết.

Để phân tích xem hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có mức

độ sử dụng nợ khác nhau có thật sự sai khác nhau không, hay cơ cấu vốn

có ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp thật không ta sẽ sử dụng môhình phân tích phương sai một nhân tố hiệu quả xác định và mô hình sosánh cặp

Gọi X là biến cần phân tích (các chỉ tiêu hiệu quả); F là nhân tố phântích (tỷ lệ nợ trên tổng tài sản), giả sử F có k dấu hiệu

Xét mô hình:

Xij = m + aj + uij

Trang 11

H0 : aj = 0 (trung bình theo nhóm là như nhau)

H1 : aj ≠ 0 (trung bình theo nhóm là khác nhau)

Ta phân tích tổng bình phương sai số (TSS) thành tổng của tổngbình phương sai số giữa các nhóm (GSS) và tổng bình phương sai số trongcác nhóm (WSS)

TSS = WSS + GSS

Với:

2 1

) (

) (

X X n GSS

X X WSS

X X TSS

j k

j j

j k

j

n

i ij

n

i

k

j ij

j J

) 1 (

k n WWS

k GSS F

Trang 12

Fqs > Fα(k-1, n-k)

Khi đó có thể kết luận rằng trung bình giữa các nhóm là khác nhau

So sánh cặp nhằm so sánh trung bình giữa 2 nhóm cụ thể có bằngnhau hay không

F có k dấu hiệu, chọn dấu hiệu j làm dấu hiệu cố định Lập các biếnngẫu nhiên:

DX(p, j) = (Xp – Xj) với mọi p ≠ j

Kiểm định các giả thiết:

H(0, p) : E (DX(p, j)) = 0 (trung bình giữa 2 nhóm j và p bằng nhau)H(1, p) : E (DX(p, j)) ≠ 0 (trung bình giữa 2 nhóm j và p khác nhau)Việc kiểm định có thể được thực hiện bằng nhiều tiêu chuẩn khácnhau, trong đó có tiêu chuẩn LSD

Thống kê LSD được thiết lập:

k n p

j

F k n

WWS m

m p

Trang 13

Hệ số nợ cho thấy mức độ sử dụng nợ của ngân hàng, hệ số nàycung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ tình huống mất khả năng thanh toán củangân hàng và thể hiện năng lực ngân hàng tiếp nhận các nguồn tài chính từbên ngoài đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình.

Trên phương diện chủ nợ: hệ số nợ càng cao thì khả năng thu hồi nợcàng thấp, mức độ phá sản của ngân hàng càng cao

Trên phương diện ngân hàng: hệ số nợ chứng tỏ thành tích vaymượn tốt

Hệ số nợ nói chung là cao đối với ngành ngân hàng bởi với ngànhngân hàng, vốn vay là tư liệu sản xuất, vốn chủ thường chiếm một tỷ lệnhỏ, thường chỉ để tạo ra cơ sở hạ tầng Hệ số nợ cao khiến ngân hàng cóthể tận dụng được nhiều lợi ích từ lá chắn thuế, tuy nhiên cũng đồng nghĩarằng ngân hàng đó rủi ro cao

4.2/ NHSno: mức độ sử dụng nợ của ngân hàng.

Biến “NHSno” là biến được tạo ra từ biến “HSno”

Thông qua thủ tục Transform/ Rank Cases…ta phân hạng các ngân hàng thành ba nhóm (Ntiles = 3) với các mức độ sử dụng nợ khác nhau.

Biến “NHSno” có 3 giá trị:

NHSno = 1: Ngân hàng có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (HSno) ở mứcthấp

NHSno = 2: Ngân hàng có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (HSno) ở mứctrung bình

NHSno = 3: Ngân hàng có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (HSno) ở mứccao

4.3/ ROA: suất sinh lời trên tài sản.

Ngày đăng: 07/08/2013, 12:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng ANOVA cho ta thấy với mức ý nghĩa 10% thì hiệu quả hoạt động của các nhóm ngân hàng (xét cả về ROA và ROE) tuơng ứng với mức cơ cấu vốn khác nhau là sai khác nhau thật sự. - “Phân tích ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp _ Phân tích các doanh nghiệp ngành ngân hàng”.
ng ANOVA cho ta thấy với mức ý nghĩa 10% thì hiệu quả hoạt động của các nhóm ngân hàng (xét cả về ROA và ROE) tuơng ứng với mức cơ cấu vốn khác nhau là sai khác nhau thật sự (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w