Y tế trường học (YTTH) là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh. Đây là một công tác vừa trực tiếp vừa gián tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều văn bản, chỉ thị, quyết định do Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhằm tăng cường công tác y tế tại các trường học [2,3,7,8,17,19,14,21]. Nhìn chung, công tác YTTH đã và đang được các ngành các cấp, phụ huynh học sinh và nhân dân quan tâm, đã thu được những kết quả nhất định. Đặc biệt, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế đã và đang có các chương trình dự án tài trợ công tác YTTH như Quĩ Nhi đồng liên hiệp quốc, tổ chức y tế thế giới(WHO), tổ chức Plan tại Việt nam, tổ chức mắt hột quốc tế v.v... [20]. Theo báo cáo tổng hợp tình hình YTTH năm 2002 của Bộ Y tế, chỉ có 44/61 tỉnh thành phố có báo cáo về YTTH, trong đó 40/61 tỉnh thành có ban chỉ đạo cấp tỉnh theo hướng dẫn của Liên Bộ (LB) Y Tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, 30/61 tỉnh có văn bản liên ngành y tế - giáo dục hướng dẫn các cấp thực hiện [21]. Chưa có tỉnh nào có đủ ban chỉ đạo y tế trường học cấp huyện. Các hoạt động YTTH triển khai chưa nhiều, nơi có triển khai cũng chỉ có một số nội dung như tạo phong trào xanh - sạch - đẹp, cung cấp nước uống cho học sinh, công tác khám sức khoẻ định kỳ, quản lý hồ sơ sức khoẻ hầu hết chưa thực hiện theo quy định [21]. Bên cạnh đó, nguồn lực thực hiện hoạt động YTTH còn rất nhiều bất cập như vấn đề đội ngũ cán bộ YTTH, kinh phí cho hoạt động YTTH, trách nhiệm của mỗi ngành (Y tế và Giáo dục) chưa được xác định rõ ràng. Những vấn đề này đã và đang là trở ngại cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả YTTH của từng địa phương và cả nước [18,20,21]. Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc, phía Bắc giáp Tuyên Quang, Nam giáp Hòa Bình, Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây, Tây giáp Sơn La và Yên Bái. Phú Thọ ở vị trí tiếp giáp giữa Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông Bắc. Diện tích chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng miền núi phía Bắc. Năm 2007, toàn tỉnh có 23 bệnh viện, 12 trung tâm y tế huyện và 273 trạm y tế xã, phường, thị trấn với 1528 giường bệnh, 70% trạm y tế được xây dựng kiên cố, 55% trạm y tế có bác sỹ, 100% trạm có y sỹ sản khoa hoặc nữ hộ sinh. Về trường học, năm 2007 tỉnh có tất cả 599 trường phổ thông với số học sinh là 250 448 em [13]. Nghiên cứu này là một phần trong đề tài cấp Bộ năm 2007 - 2009 với câu hỏi nghiên cứu là: • Ai là người thực hiện công tác y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007? • Năng lực thực hiện của đối tượng thực hiện công tác y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007? Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng cán bộ y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007” với các mục tiêu sau đây:
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Y tế trường học (YTTH) là một nhiệm vụ quan trọng trong công tácbảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh Đây là một công tác vừa trực tiếp vừagián tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước, coi “Giáo dục làquốc sách hàng đầu” Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều văn bản, chỉthị, quyết định do Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạoban hành chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhằm tăng cường công tác y tế tại cáctrường học [2,3,7,8,17,19,14,21] Nhìn chung, công tác YTTH đã và đangđược các ngành các cấp, phụ huynh học sinh và nhân dân quan tâm, đã thuđược những kết quả nhất định Đặc biệt, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế
đã và đang có các chương trình dự án tài trợ công tác YTTH như Quĩ Nhiđồng liên hiệp quốc, tổ chức y tế thế giới(WHO), tổ chức Plan tại Việt nam,
tổ chức mắt hột quốc tế v.v [20]
Theo báo cáo tổng hợp tình hình YTTH năm 2002 của Bộ Y tế, chỉ có44/61 tỉnh thành phố có báo cáo về YTTH, trong đó 40/61 tỉnh thành có banchỉ đạo cấp tỉnh theo hướng dẫn của Liên Bộ (LB) Y Tế và Bộ Giáo dục vàĐào tạo, 30/61 tỉnh có văn bản liên ngành y tế - giáo dục hướng dẫn các cấpthực hiện [21] Chưa có tỉnh nào có đủ ban chỉ đạo y tế trường học cấp huyện.Các hoạt động YTTH triển khai chưa nhiều, nơi có triển khai cũng chỉ có một
số nội dung như tạo phong trào xanh - sạch - đẹp, cung cấp nước uống chohọc sinh, công tác khám sức khoẻ định kỳ, quản lý hồ sơ sức khoẻ hầu hếtchưa thực hiện theo quy định [21] Bên cạnh đó, nguồn lực thực hiện hoạtđộng YTTH còn rất nhiều bất cập như vấn đề đội ngũ cán bộ YTTH, kinh phícho hoạt động YTTH, trách nhiệm của mỗi ngành (Y tế và Giáo dục) chưađược xác định rõ ràng Những vấn đề này đã và đang là trở ngại cho việc nângcao chất lượng và hiệu quả YTTH của từng địa phương và cả nước
Trang 2Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cách thủ đô Hà Nội 80 km vềphía Bắc, phía Bắc giáp Tuyên Quang, Nam giáp Hòa Bình, Đông giáp VĩnhPhúc và Hà Tây, Tây giáp Sơn La và Yên Bái Phú Thọ ở vị trí tiếp giáp giữaĐông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, là trung tâm tiểu vùng Tây -Đông Bắc Diện tích chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tíchvùng miền núi phía Bắc Năm 2007, toàn tỉnh có 23 bệnh viện, 12 trung tâm y
tế huyện và 273 trạm y tế xã, phường, thị trấn với 1528 giường bệnh, 70%trạm y tế được xây dựng kiên cố, 55% trạm y tế có bác sỹ, 100% trạm có y sỹsản khoa hoặc nữ hộ sinh Về trường học, năm 2007 tỉnh có tất cả 599 trườngphổ thông với số học sinh là 250 448 em [13]
Nghiên cứu này là một phần trong đề tài cấp Bộ năm 2007 - 2009 vớicâu hỏi nghiên cứu là:
Ai là người thực hiện công tác y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm2007?
Năng lực thực hiện của đối tượng thực hiện công tác y tế trườnghọc tại tỉnh Phú Thọ năm 2007?
Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiêncứu thực trạng cán bộ y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007” với cácmục tiêu sau đây:
1 Mô tả nguồn nhân lực thực hiện công tác y tế trường học tại tỉnhPhú Thọ năm 2007
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN1.1 Tổng quan về y tế trường học
1.1.1 Những khái niệm về y tế trường học
Cho tới nay khái niệm về YTTH chưa được định nghĩa rõ ràng trong cáctài liệu nên trong phần này tôi trích dẫn khái niệm về trường học nâng cao sứckhỏe (NCSK) (health promoting school) đã được WHO xây dựng
Theo WHO, “ Trường học nâng cao sức khoẻ là trường học trong đó cảlời nói và việc làm đều có những hoạt động hỗ trợ và cam kết thúc đẩy sứckhoẻ toàn diện cho tất cả mọi thành viên cộng đồng trong nhà trường từ tìnhcảm, xã hội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” [7,24]
YTTH là 1 bộ phận của y tế nói chung nhưng mang những đặc thùriêng: là tổ chức y tế chăm sóc sức khoẻ cho học sinh thuộc hệ thống giáo dụcđào tạo, đặc biệt chú ý đến lứa tuổi học sinh phổ thông, nhà trẻ và mẫu giáo.YTTH là một nghề đòi hỏi những kỹ năng tổng hợp của nhiều chuyên môn,rất cần thiết cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường của học sinh
1.1.2 Vai trò của y tế trường học
Học sinh nước ta chiếm trên 1/4 dân số, là thế hệ tương lai của đấtnước Trường học là nơi hàng ngày các em được học tập, rèn luyện, vui chơinhưng đấy cũng là môi trường rất dễ lây lan dịch bệnh và xảy ra tai nạn nếuchúng ta không quan tâm tới việc nâng cao công tác YTTH Trường học lànơi giáo dục về sức khỏe, vệ sinh cá nhân để tránh lây lan dịch bệnh hiệuquả nhất Trường học là môi trường trang bị cho học sinh những kiến thức yhọc thông thường trong cuộc sống tốt nhất Chính vì vậy công tác YTTH sẽgóp phần giảm thiểu tối đa những nguy cơ về tật khúc xạ, vẹo cột sống, bệnh
về răng cho học sinh
Trang 4Phần lớn thời gian ban ngày của các em là ở trong trường, vì thế việc
có một cán bộ y tế chuyên môn là vô cùng cần thiết Ngoài nhiệm vụ sơ cấpcứu ban đầu cho học sinh, họ còn chịu trách nhiệm về việc kiểm tra an toàn vệsinh thực phẩm trong bếp ăn, căng tin của trường Một khi trường học không
có cán bộ y tế chuyên trách sẽ thiệt thòi cho các em học sinh trong việc hướngdẫn phòng chống bệnh tật, giun sán, răng miệng, phòng chống suy dinhdưỡng v.v
Vì thế có thể thấy rằng YTTH đóng 1 vai trò hết sức quan trọng, cầntập trung thực hiện tốt công tác y tế trong các trường học, củng cố, phát triển
cơ sở y tế trong các trường học trong cả nước, bố trí đầy đủ và nâng cao nănglực chuyên môn cho cán bộ y tế trong các trường học, cải thiện điều kiện vệsinh môi trường học tập, đồng thời bảo đảm cơ bản nguồn lực cho các hoạtđộng y tế trong các trường học
1.1.3 Nội dung chủ yếu của y tế trường học [7,23,24]
1 Nâng cao hiệu quả GDSK trong chương trình học
1.1.4 Nhiệm vụ của cán bộ y tế trường học [7]
1 Tham mưu cho Hiệu trưởng nhà trường trong việc xây dựng kế
Trang 53 Sơ cấp cứu và xử lý các trường hợp tai nạn thương tích và bệnh tậtkhi xảy ra ở trường học.
4 Tổ chức các biện pháp giữ gìn vệ sinh, góp phần bảo vệ môi trườngtrường học xanh - sạch - đẹp
5 Kiểm tra vệ sinh an toàn các cơ sở học tập, phương tiện đồ dùng dạyhọc, nhà ăn, ký túc xá, các công trình vệ sinh, nước sạch
6 Triển khai các chương trình dự án về giáo dục chăm sóc sức khoẻ,
vệ sinh môi trường ở trong nhà trường
7 Quản lý sổ y bạ và các tài sản của phòng, trạm y tế
8 Tham gia đánh giá tình trạng sức khoẻ của học sinh, sinh viên
Trong nghiên cứu này sẽ bám sát 4 nội dung (mục 1.1.3) và 8 nhiệm vụnày để mô tả các thực trạng YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007
1.1.5 Quyền lợi của các bộ y tế trường học [7]
Được hưởng chế độ đãi ngộ theo chính sách hiện hành qui định cho cán
bộ y tế cơ sở hoặc hưởng chế độ thoả thuận giữa nhà trường và bảnthân
Được tham dự các lớp huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn để nâng caotrình độ nghiệp vụ
Được tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến đểcải tiến nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
Được tham gia các buổi sinh hoạt và các hoạt động khác như cán bộ,giáo viên nhà trường
Được mời giảng môn sức khoẻ, tham gia tuyên truyền phòng dịch bệnhcho học sinh, sinh viên và cán bộ giáo viên toàn trường về các chủ đềchăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
Được xét khen thưởng theo quy định hiện hành của ngành giáo dục và
Trang 6 Đề nghị Bộ khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc vềcông tác giáo dục thể chất và YTTH.
Chỉ đạo triển khai các chương trình dự án quốc gia và quốc tế về vệsinh môi trường, giáo dục thể chất và sức khoẻ học sinh, sinh viên cáccấp
Tổng kết đánh giá công tác giáo dục thể chất và y tế trường học theotiêu chí thi đua của Bộ ban hành
Kiểm tra việc thực hiện công tác giáo dục thể chất và YTTH tại các cơ
sở giáo dục nhà trường trong toàn ngành
Triển khai thực hiện việc bảo trợ nhà nước của Bộ giáo dục và đào tạođối với các tổ chức xã hội và quần chúng về thể dục thể thao của sinhviên, học sinh chuyên nghiệp và học sinh phổ thông Việt Nam
Phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất trình Bộ trưởng kế họach
mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực thể dục thể thao và y tế trườnghọc phục vụ mục tiêu giáo dục toàn diện
1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về y tế trường học
Từ thế kỉ thứ 19 nhiều nước ở châu Âu đã có những chủ trương vàphương pháp thực hiện y tế học đường Các nhà nghiên cứu tập trung vàoviệc thống kê xây dựng trường sở và bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn vệ sinhtrong lĩnh vực này
Năm 1877 giáo sư Babinski đã cho xuất bản cuốn sách giáo khoa về vệsinh học, giáo sư nhãn khoa Breslauer, giáo sư Herman Cohn từ năm 1864 đãnghiên cứu sự tăng nhanh bệnh cận thị học đường có liên quan đến chiếu sáng[19]
Trang 7chuyên khoa Trọng tâm công tác YTTH là phòng chống bệnh dịch và tổ chứcquản lí công tác tiêm chủng.
Đến thế kỉ 20 đã có sự cộng tác chặt chẽ giữa bác sĩ học đường với các
cơ sở phòng lao và đã đánh dấu một bước tiến bộ theo đường lối dự phòng
Từ năm 1960 người ta đã phát hiện ra hiện tượng gia tốc phát triển cơthể trẻ em ở lứa tuổi học đường Những công trình nghiên cứu về sự mệt mỏicủa trẻ em trong học tập đã được trình bày tại hội nghị quốc tế ở Tây Ban Nha
và sự thống nhất tổ chức y tế học đường và vệ sinh học đường cũng được đềcập tới Những công trình nghiên cứu về xây dựng trường sở, chiếu sáng vàtrang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy đặc biệt là những nghiên cứu về bànghế học sinh đã được chú trọng tới
Năm 1981 Vermer Kneist, viện vệ sinh xã hội Cộng Hòa Dân Chủ Đức
đã công bố mô hình xây dựng YTTH với nhiệm vụ của thầy thuốc học đường
và mối liên quan của các tổ chức xã hội [20]
Edith Ockel (1973) nghiên cứu về gánh nặng của trẻ em trong học tập
và chỉ rõ những em có hiệu suất học tập thấp có sự diễn biến về huyết áp vàtần số mạnh khác với trẻ em trung bình và với trẻ em có hiệu suất học tập caotrong giờ học và đã đề xuất cải thiện chế độ học tập nhằm nâng cao hiệu suấttrong học tập [20]
Những nghiên cứu về sức chịu đựng về sinh lí của trẻ em trong luyệntập thể dục thể thao đã đưa ra những quy định chế độ luyện tập riêng chonhững học sinh bị bệnh mãn tính như tim mạch, hô hấp và giờ đây vệ sinh
đã được đưa vào thành môn học chính khóa ở các trường phổ thông trên thếgiới
Nhằm đẩy mạnh công tác YTTH, năm 1995, WHO đã xây dựng sáng
Trang 8các “trường học nâng cao sức khỏe” (Health-Promoting Schools) Sáng kiếnnày nhằm mục đích NCSK cho học sinh, cán bộ trường học, gia đình và thànhviên của cộng đồng thông qua trường học Mặc dù có nhiều định nghĩa khácnhau tùy thuộc vào nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi nước, một trường họcNCSK được hiểu là trường học có môi trường khỏe mạnh để sinh hoạt, họctập và làm việc [22,23] Cơ sở để WHO xây dựng ra sáng kiến này là dựa vàotuyên ngôn Ottawa về NCSK (1986), tuyên bố Jakarta tại Hội nghị quốc tế lầnthứ 4 về NCSK (1997) và đề xuất của nhóm chuyên gia TCYTTG về giáo dục
và NCSK trường học toàn diện (1995)
Hưởng ứng mục tiêu của WHO, nhiều nước trong khu vực đã đẩy mạnhcông tác YTTH, đặc biệt có mô hình FRESH của Inđônêxia Tuy nhiên ở một
số nước trong khu vực, làm thế nào để có mô hình quản lý công tác YTTHvẫn đang là vấn đề quan tâm của các nhà hoạch định chính sách khi vấn đềnày đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của một ngành y tế hay giáo dục mà cần có sựphối hợp đồng bộ liên ngành [25]
1.3 Các nghiên cứu tại Việt Nam về y tế trường học
1.3.1 Quá trình phát triển của y tế trường học tại Việt Nam [20]
Trong nhiều năm, kể từ năm 1960 y tế học đường đã được sự quan tâmchỉ đạo của LB Y tế - GD và đã có những nghiên cứu về sức khoẻ học sinh Tiêu chuẩn vệ sinh về xây dựng, tiêu chuẩn chiếu sáng, bàn ghế với 6loại kích thước từ I đến VI đã được ban hành trong điều lệ bảo vệ sức khoẻ từnăm 1964
Thông tư Liên Bộ Y tế - GD (TTLB) số 32/TTLB ngày 27/2/1964 quyđịnh vệ sinh trường học Thông tư đã hướng dẫn tổ chức y tế trong các trường
Trang 9Trong 2 năm học 1966-1967, 1967-1968 Bộ Y tế đã tổ chức điều trasức khoẻ bệnh tật của trên 20000 học sinh ở 13 tỉnh thành phố: qua điều tra đãthấy có sự giảm sút về thể lực Sau khi có tờ trình của Bộ Y tế, Thủ tướng đã
có chỉ thị 46/TTg/Vg ngày 2/6/1969 giao nhiệm vụ các ngành, các cấp vàphối hợp thực hiện, giữ gìn và nâng cao sức khoẻ học sinh
Năm 1973, TTLB 09/LB/YT - GD ngày 7/6/1973 hướng dẫn YTTH,trong đó có phân cấp việc khám chữa bệnh và quản lý sức khoẻ học sinh từtuyến y tế xã đến bệnh viện tỉnh, thành phố Trong thông tư đã ghi rõ tại tuyếnđiều trị huyện, khu phố có thể tổ chức bàn khám bệnh riêng cho học sinh theongày quy định trong hệ thống phòng khám của bệnh viện
Đến năm 1982 lại có TTLB số 13/LB/GD - YT ngày 9/6/1982 về việcđẩy mạnh công tác vệ sinh trường học trong những năm 1980
Có thể nói công tác Y tế học đường đã được Bộ Y tế và Bộ Giáo dục vàĐào Tạo quan tâm từ những năm 1960, nhưng chỉ mới ở từng giai đoạn, thiếu
sự chỉ đạo và cũng chưa có những chính sách thích hợp Vì vậy các mô hình
tổ chức y tế trường học cũng như văn bản hướng dẫn của LB tỏ ra thiếu đồng
bộ, không có hiệu quả thiết thực
Từ năm 1998, Bộ Y tế có chủ trương khôi phục lại và phát triển YTTH
là 1 nội dung nằm trong chiến lược bảo vệ sức khỏe trẻ em và cộng đồng Và
để chỉ đạo hướng dẫn thực hiện công tác YTTH, LB đã có văn bản pháp quyhướng dẫn công tác y tế trường học như sau:
TTLB Giáo dục và Đào tạo - Y tế số 40/1998/TTLT – BGDDT -BYTngày 14/7/1998 “Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế học sinh” thay choThông tư số 14/TTLB ngày 19/9/1994 của LB Giáo dục và Đào tạo Ytế
TTLB Y tế - Giáo dục số 03/2000/TTLT/BYT - BGDDT ngày 1/3hướng dẫn công tác YTTH
Trang 10 Quy định của Bộ Y tế số 1211/QĐ/BYT ngày 18/4/2000 quy định vệsinh trường học.
Quy chế “GD thể chất và y tế trường học” ban hành theo QĐ số14/2001/QĐ BGD - ĐT ngày 03/5/2001 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về y tế trường học tại Việt Nam
Cho tới nay tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về YTTH đã được công bốtuy nhiên các nghiên cứu này mới chủ yếu tập trung vào tình hình sức khỏehọc sinh mà ít có nghiên cứu về các hoạt động YTTH Hầu hết các nghiêncứu tập trung vào tìm hiểu bệnh học đường ở học sinh(cong vẹo cột sống, cậnthị), tai nạn thương tích ở học sinh như nghiên cứu của Trần Văn Dần[9,10,11,12], nghiên cứu về cận thị của Chu Văn Thăng [17], Hoàng Văn Tiến[18,19], nghiên cứu mối liên quan giữa môi trường sống và sức khỏe của họcsinh như Nguyễn Võ Kỳ Anh [1], nghiên cứư về thực trạng YTTH củaNguyễn Huy Nga, Lê Thu Hiền và cộng sự [15] Bên cạnh đó một số canthiệp cũng đã được tiến hành nghiên cứu đánh giá như mô hình thí điểmphòng chống chấn thương dựa vào cộng đồng học sinh trường THCS củaHoàng Văn Phong năm 2001 [16], mô hình phòng chống cận thị của HoàngVăn Tiến năm 2005 [19]
Các nghiên cứu về hoạt động YTTH cho thấy hệ thống tổ chức quản lý
về YTTH chưa có cơ chế rõ ràng Theo báo cáo tổng hợp tình hình y tếtrường học năm 2002 của Bộ Y tế [21], chỉ có 44/61 tỉnh thành phố có báocáo về YTTH, trong đó 40/61 tỉnh thành có ban chỉ đạo cấp tỉnh theo hướngdẫn của liên Bộ Y Tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 30/61 tỉnh có văn bản liênngành y tế - giáo dục hướng dẫn các cấp thực hiện Chưa có tỉnh nào có đủ
Trang 11uống cho học sinh, cung cấp các dịch vụ YTTH như khám sức khỏe định kỳ,bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh thông thường Các công trình vệ sinh tạitrường học hiện nay có nhiều tiến bộ hơn so với trước nhưng tỷ lệ các điểmtrường có nhà tiêu đạt tiêu chẩn vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT do
Bộ Y tế ban hành ngày 31/3/2005 rất thấp, chỉ có 31,7% [6] Về chất lượngchăm sóc sức khỏe cho học sinh, công tác khám sức khoẻ định kỳ, quản lý hồ
sơ sức khoẻ hầu hết chưa thực hiện theo quy định Toàn quốc chưa có số liệuchính thức về các bệnh học đường như cận thị và cong vẹo cột sống ở họcsinh
Lý do dẫn tới thực trạng này, theo các nghiên cứu, báo cáo, là do nhiềukhó khăn, tồn tại chưa được giải quyết như vấn đề đội ngũ cán bộ YTTH(vừa thiếu vừa yếu), kinh phí cho hoạt động YTTH còn hạn chế, trách nhiệmcủa mỗi ngành (Y tế và Giáo dục và Đào tạo) chưa được xác định rõ ràng,vấn đề bảo hiểm y tế học sinh chưa được cha mẹ học sinh và các nhà trườngquan tâm, cơ sở vật chất nhà trường nói chung và cơ sở vật chất dành chocông tác YTTH còn rất nghèo nàn, đã và đang là trở ngại cho việc nâng caochất lượng và hiệu quả YTTH của từng địa phương và cả nước Do vậy, việc
nghiên cứu một cách hệ thống về công tác YTTH tại Việt Nam hiện nay hết
sức cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách đẩy mạnh hoạt động nàytrong thời gian tới nhằm NCSK cho học sinh
Trang 12CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 huyện: thành phố Việt Trì, huyệnThanh Sơn và huyện Tam Nông, đại diện cho ba vùng miền núi, đồng bằng vàthành thị tại tỉnh Phú Thọ
Bản đồ tỉnh Phú Thọ:
Trang 13Phú Thọ bao gồm 1 thành phố trực thuộc (Việt Trì), 1 thị xã (Phú Thọ) và
11 huyện
Thành phố Việt Trì: với diện tích tự nhiên 110 Km2, dân số trên 25 vạnngười, cách thủ đô Hà Nội 80 km Phát triển từ một trong những khucông nghiệp đầu tiên của miền Bắc từ năm 1962 đến nay Việt Trì đã trởthành thành phố đô thị loại II - Trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hoá
- Khoa học kỹ thuật của tỉnh
Thanh Sơn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp cáchuyện Yên Lập, Tam Nông, Thanh Thuỷ; phía Đông giáp Tân Sơn;phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình; phía Tây giáp tỉnh Sơn La
Tam Nông là huyện miền núi nằm ở phía Đông nam tỉnh Phú Thọ,huyện có địa hình núi cao xen kẽ với các đồng bằng nhỏ Địa hình nhìnchung không thuận lợi nên kinh tế huyện còn chậm phát triển, đời sốngnhân dân gặp nhiều khó khăn
Việc lựa chọn này là để phần nào phản ánh được tính chất khách quancủa nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Cán bộ phụ trách công tác YTTH tại các trường tiểu học (TH), trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tại ba huyện nghiên cứu
Các báo cáo, số liệu có sẵn về YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 142.3.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật như phỏng vấn theo bộ câu hỏi có sẵn, thu thập các số liệu có sẵn:
Phỏng vấn trực tiếp cán bộ YTTH theo bộ câu hỏi (xem phụ lục)
Thu thập các số liệu có sẵn về hoạt động YTTH tại địa phương theomẫu phiếu có sẵn (xem phụ lục)
2.3.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng (áp dụng công thức mô tả cắt ngang):
Tất cả các cán bộ y YTTH của trường TH, THCS và THPT trong huyệnlựa chọn được điều tra
Trung bình mỗi huyện có 13 trường TH và 10 trường THCS và 2 trườngTHPT Như vậy mỗi huyện điều tra 25 cán bộ YTTH
Tổng cộng 75 cán bộ YTTH sẽ được điều tra Thực tế đã điều tra được
73 cán bộ YTTH
2.3.4 Xử lý số liệu
Vào số liệu: mã hoá số liệu, tạo file số liệu bằng chương trình EXCEL
Phân tích số liệu: dùng test 2 để kiểm định sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ
2.3.5 Các biện pháp khống chế sai số
Chọn đối tượng theo đúng tiêu chuẩn nghiên cứu:
Là cán bộ YTTH, đang trực tiếp làm công tác YTTH tại các trường trong huyện lựa chọn được điều tra
Trang 15 Bộ câu hỏi được xây dựng theo mục tiêu và được thử nghiệm tại
Hà Tây sau đó được chỉnh sửa lại cho rõ ràng, dễ sử dụng và sátvới thực tế trước khi điều tra hàng loạt
Các định nghĩa được thống nhất trong nhóm nghiên cứu thông qua tậphuấn và sau tiến khi tiến hành thu thập thử
Người thu thập thông tin được tập huấn kỹ mục đích và cách thu thập sốliệu Tất cả quá trình thu thập số liệu đều có sự giám sát của nhóm giámsát viên
2.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 12/2007 – tháng 5/2008
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Mọi thông tin thu thập được đảm bảo bí mật cho đối tượng nghiên cứu,chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của địa phương và Bộ Y tế
Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho các địa điểm nghiên cứu
2.6 Nội dung nghiên cứu
2.6.1 Thực trạng nguồn nhân lực
Số trường theo cấp học
Số trường có cán bộ YTTH
Phân bố cán bộ YTTH theo lứa tuổi
Phân bố cán bộ YTTH theo giới (nam, nữ)
Phân bố cán bộ YTTH theo khu vực (thành thị, đồng bằng, miền núi)
Phân bố hình thức công tác của cán bộ YTTH (kiêm nhiệm, hợp đồng,
biên chế, khác)
Trang 162.6.2 Năng lực thực hiện của cán bộ YTTH
Trình độ học vấn chuyên ngành (Y, Sư phạm, khác)
Kinh nghiệm công tác (số năm công tác trung bình)
Đã tham gia công tác về YTTH
Đã từng tham gia các đợt tập huấn trong 5 năm trở lại đây
Kiến thức: hiểu đúng và đủ (là hiểu hết từng nội dung và đủ tất cả cácnội dung) :
4 nội dung chủ yếu của YTTH
8 nhiệm vụ của YTTH
Thực hành :
Các hình thức GDSK
Khả năng tự thực hiện các hoạt động NCSK
Trang 17số liệu có sẵn cung cấp bởi Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ.
Bảng 3.1 Phân bố số trường theo cấp học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.1cho thấy trong năm 2007 tại tỉnh Phú Thọ
có tất cả 160 trường phổ thông Trong đó số lượng trường TH chiếm số lượngcao nhất 72 trường(45%) và số lượng trường THPT chiếm số lượng thấp nhất
Kết
Trang 18quả ở bảng 3.2 cho thấy trong tổng số 160 trường thì có 7 trường không cócán bộ YTTH (tỷ lệ này là 4%) Tỉ lệ % trường có cán bộ YTTH chiếm 96%
và không có sự khác biệt giữa 3 cấp học
Biểu đồ 3.1 Phân bố cán bộ YTTH theo cấp học
Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ 3.1 cho thấy trong số 153 trường có cán bộ
YTTH tại tỉnh Phú Thọ thì tỉ lệ % cán bộ YTTH trường TH có cán bộ YTTHchiếm cao nhất 46% và ở trường THPT chiếm thấp nhất 12%
Bảng 3.3 Phân bố cán bộ YTTH theo cấp học và khu vực
Trang 19(thành thị: 18%, nông thôn: 10% và miền núi: 10%) Tỷ lệ trường THPT cócán bộ YTTH ở thành thị cao hơn tỷ lệ này ở miền núi và nông thôn (18% sovới 10%) Ngoài ra tỷ lệ trường TH và THCS có cán bộ YTTH không có sựkhác biệt giữa 3 vùng.
3.2 Nguồn nhân lực thực hiện công tác y tế trường học tại tỉnh Phú Thọ năm 2007
Tất cả các cán bộ YTTH của 3 huyện/thành phố được lựa chọn vàonghiên cứu để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu đã đề cập ở phần đặt vấn đềnghiên cứu Phần dưới đây mô tả nguồn nhân lực thực hiện công tác YTTHtại các huyện/thành phố lựa chọn trong năm 2007
Bảng 3.4 Phân bố nhóm tuổi của cán bộ y tế trường học theo khu vực tại
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ cán bộ YTTH ở độ tuổi
20-30 là cao nhất (35 cán bộ chiếm tỷ lệ 48%) Kết quả cũng cho thấy có sự khác
Trang 20biệt về phân bố nhóm tuổi của cán bộ YTTH theo khu vực (giữa thành thị vớinông thôn và miền núi, biểu đồ 3.2), trong đó ở nông thôn và miền núi, nhómtuổi của cán bộ YTTH từ 40 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (42%) và thấp nhất ởnhóm tuổi 20-30 (28%), trong khi đó ở thành thị thì ngược lại lứa tuổi 20-30chiếm tỷ lệ cao nhất (68%) và thấp nhất ở nhóm từ 40 trở lên (13%) Sự khácbiệt này có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 0,05.
Biểu đồ 3.2 Phân bố nhóm tuổi của cán bộ YTTH theo khu vực tại tỉnh Phú Thọ năm 2007
B ng 3.5 Phân b gi i c a cán b YTTH t i t nh Phú Th n m 2007 ố giới của cán bộ YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007 ới của cán bộ YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007 ủa cán bộ YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007 ộ YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007 ại tỉnh Phú Thọ năm 2007 ỉnh Phú Thọ năm 2007 ọ năm 2007 ăm 2007
Trang 21n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy trong tổng số 73 cán bộ YTTH
thì số cán bộ nữ là 60 người (chiếm 82%) và số cán bộ nam là 13 người(chiếm 18%) Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố giới của cán
bộ YTTH theo khu vực (giữa thành thị với nông thôn và miền núi, biểu đồ3.3), trong đó ở thành thị nam chiếm 8% còn ở nông thôn và miền núi namchiếm 28% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 0,05
Biểu đồ 3.3 Phân bố giới theo khu vực của cán bộ YTTH tại tỉnh Phú Thọ năm 2007 Bảng 3.6 Trình độ học vấn chuyên ngành của cán bộ YTTH tại tỉnh Phú
Trang 22Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy tỉ lệ cán bộ YTTH có chuyên
ngành y chiếm cao nhất 44% và tỉ lệ cán bộ YTTH có chuyên ngành sư phạmchiếm thấp nhất 23%
Kết quả cũng cho thấy thấy có sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị vớinông thôn và miền núi (biểu đồ 3.4): tỷ lệ cán bộ YTTH có chuyên ngành y ởthành thị chiếm rất cao 73% trong khi đó ở nông thôn và miền núi chiếm rấtthấp 14% Ngược lại tỉ lệ cán bộ YTTH có chuyên ngành khác (văn thư, trungcấp kế toán, trung học chính trị và đoàn đội, sơ cấp dược) ở thành thị chỉ có16% trong khi đó ở nông thôn và miền núi một nửa số cán bộ y tế trường học
có trình độ này (50%) Sự khác biệt về trình độ học vấn của cán bộ YTTHtheo khu vực có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 0,05