1 Báo cáo tổng hợp Kết quả tham vấn cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ Mục tiêu của mạng lưới là thúc đẩy sự tham gia, tăng cường sự đóng góp của các CSO/VNGO và cộng đồng vào quá trình
Trang 11
Báo cáo tổng hợp Kết quả tham vấn cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ
Mục tiêu của mạng lưới là thúc đẩy sự tham gia, tăng cường sự đóng góp của các CSO/VNGO và cộng đồng vào quá trình đàm phán và thực thi Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi Lâm luật, Quản trị Rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT) giữa Chính phủ Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU), góp phần thực hiện kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam, thúc đẩy chính sách thu hút cộng đồng địa phương sống ven rừng, gần rừng và dựa vào rừng được tiếp cận, sử dụng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách công bằng và bền vững
Hiện nay Liên minh Châu Âu (EU) là một trong những thị trường xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam, thu hút khoảng 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ của cả nước Năm
2010, Nghị viện và Hội đồng Châu Âu đã ban hành Quy chế 995/2010 ngày 20/10/2010 về kiểm soát nguồn gốc gỗ hợp pháp nhập khẩu vào thị trường EU Theo quy định này, từ tháng 3/2013, các lô hàng xuất vào EU không có giấy phép FLEGT sẽ phải thực hiện trách nhiệm giải trình Nhằm thích ứng với các quy định mới của EU về nguồn gốc gỗ hợp pháp và đảm bảo giữ vững và mở rộng thị trường EU cho đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam Chính phủ đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện đàm phán “Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA)” về FLEGT với EU
Một trong những nội dung quan trọng trong đàm phán VPA/FLEGT là “Định nghĩa gỗ hợp pháp”, cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã soạn thảo “Dự thảo 5 về định nghĩa gỗ hợp pháp” Dự thảo này đã xem xét các ý kiến đóng góp của: (i) Các cơ quan Chính phủ như: các
Bộ liên quan, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở 30 tỉnh khác nhau: (ii) Các Hiệp hội nghề nghiệp, như: Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, Hiệp hội gỗ và lâm sản Bình Định, Hiệp hội gỗ và thủ công mỹ nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; (iii) Các đoàn thể chính trị-xã hội, như: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam Tiến trình xây dựng “Đinh nghĩa gỗ hợp pháp” đã đáp ứng được nguyên tắc mà phía EU yêu cầu,
đã thu hút sự tham vấn của các bên liên quan Tuy vậy “Dự thảo 5 về định nghĩa gỗ hợp pháp” vẫn chưa thu hút đầy đủ ý kiến của cộng đồng thông qua quá trình tham vấn của cộng đồng
Xuất phát từ bối cảnh trên, từ tháng 8 đến tháng 11/2012, Mạng lưới đã triển khai hoạt động tham vấn cộng đồng trên địa bàn của 6 tỉnh tại 3 vùng Bắc Trung Nam, đó là: Yên Bái, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng và Bà Rịa-Vũng Tàu để thu thập các ý kiến của người dân/cộng đồng về những vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của gỗ nhằm thu thập
Trang 22
thêm thông tin từ phía cộng đồng, cung cấp cho các cơ quan Chính phủ Việt Nam và EU tham khảo và sử dụng trong tiến trình đàm phán và thực hiện VPA/FLEGT
2 MỤC TIÊU THAM VẤN
Khảo sát sự hiểu biết/nhận thức của người dân/cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ,
Phân tích việc thực thi lâm luật và ảnh hưởng của nó đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân/cộng đồng,
Đề xuất những giải pháp liên quan đến tính hợp pháp của gỗ nói chung và đóng góp cho “Dự thảo 5 về định nghĩa gỗ hợp pháp” nói riêng
3 NỘI DUNG THAM VẤN
Căn cứ các nguyên tắc của “Dự thảo 5 về định nghĩa gỗ hợp pháp” và khả năng hiểu biết/nhận thức của cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ, chúng tôi tập trung tham vấn hai nội dung sau:
Các quy định về khai thác gỗ hợp pháp trong nước,
Các quy định về vận chuyển gỗ hợp pháp
Liên quan đến 2 nội dung tham vấn nói trên, chúng tôi còn tham vấn thêm những nội dung liên quan đến an toàn môi trường và an toàn xã hội trong quá trình khai thác và vận chuyển gỗ
có liên quan đến đảm bảo tính hợp pháp của gỗ
4 TIẾN TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP THAM VẤN
- Viết báo cáo kết quả tham vấn ở các tỉnh
- Hội thảo báo cáo kết quả tham vấn ở các tỉnh và thu nhận thông tin phản hồi
- Viết báo cáo tổng hợp 11-
12/2012
Bước 4: Chia
sẻ kết quả
tham vấn
- Hội thảo chia sẻ kết quả tham vấn trong nội bộ Mạng lưới
- Hội thảo chia sẻ kết quả tham vấn với Tổng cục lâm nghiệp
Trang 33
4.2 Phương pháp tham vấn
4.2.1 Đối tượng tham vấn
Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao, cho thuê rừng, đất trồng rừng để sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (Chủ rừng),
Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng được nhận khoán quản lý bảo vệ rừng (Bên nhận khoán),
Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng sống gần rừng, ven rừng và phụ thuộc vào rừng nhưng không thuộc hai đối tượng trên
4.2.2 Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm được tiến hành với 2 nhóm chính như sau:
Nhóm 1: BQL rừng cộng đồng và Tổ trưởng tổ bảo vệ rừng (5-7 người)
Nhóm 1A: Các cộng đồng được Nhà nước giao, cho thuê rừng, đất trồng rừng
(Chủ rừng),
Nhóm 1B: Các cộng đồng nhận khoán quản lý bảo vệ rừng hoặc tham gia đồng
quản lý rừng (Bên nhận khoán),
Nhóm 1C: Các cộng đồng sống gần rừng, ven rừng và phụ thuộc vào rừng
nhưng không thuộc hai đối tượng trên
Thảo luận với các Nhóm 1A, 1B và 1C chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của gỗ từ rừng tự nhiên
Nhóm 2: Các hộ gia đình, cá nhân (7-10 người)
Nhóm 2A: Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất trồng
rừng (Chủ rừng),
Nhóm 2B: Các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng trồng
hoặc tham gia đồng quản lý rừng (Bên nhận khoán)
Nhóm 2C: Nhóm hộ trồng rừng trên đất nông nghiệp có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
Các tiêu chí (theo thứ tự ưu tiên) để chọn các hộ tham gia thảo luận nhóm 2A và 2B là: (1) Có rừng trồng (đã và chưa khai thác); (2) Bao gồm các loại: hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ không nghèo; (3) Bao gồm cả Nam và Nữ
Thảo luận với các Nhóm 2A, 2B chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến tính hợp pháp của gỗ từ rừng trồng
4.3.3 Họp thôn: Những thông tin thu thập được từ các cuộc thảo luận nhóm được trình bày ở
cuộc họp thôn để thu nhận ý kiến đóng góp của cộng đồng/thôn
Trang 44
Trong quá trình tham vấn cộng đồng ở 6 tỉnh đã thực hiện được 73 cuộc thảo luận nhóm với
sự tham gia của 540 người dân và đã tổ chức được 35 cuộc họp thôn (xem chi tiết ở bảng 2)
Bảng 2 Tổng hợp các đối tượng tham vấn
Đối tượng Yên Bái Bắc Kạn Thanh
Hóa
Thừa Thiên Huế
Lâm Đồng
Bà Vũng Tàu
5 MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN Ở CÁC ĐỊA BÀN THAM VẤN
Mạng lưới tiến hành tham vấn cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ tại 35 thôn/bản, thuộc 14
xã của 6 huyện, 6 tỉnh: Yên Bái, Bắc Kạn (Vùng miền núi phía Bắc); Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế (Vùng Bắc Trung Bộ); Lâm Đồng, Bà Rịa-Vũng Tàu (vùng Đông Nam Bộ) như trình bày
Thiên-Lâm Đồng Bà Vũng Tàu Rịa- Huyện Văn Chấn Na Rì Bá Thước Nam Đông Đạ Tẻ Xuyên Mộc
Xã (1)
Thượng
Bằng La
(3) Cư Lễ, Lạng Sang, Văn Minh
(2) Điền
Hạ, Điền Quang
(3) Thượng Nhật, Thượng Long,
Thượng Quảng
(2) Mỹ Đức, Quốc Oai
(3) Bông Trang, Bưng Riềng, Hòa Hiệp
Dưới đây sẽ giới thiệu một số thông tin về các địa bàn tham vấn nói trên
Trang 55
5.1 Xã Thượng La Bằng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Ở tỉnh Yên Bái, mạng lưới tiến hành tham vấn ở xã Thượng Bằng La, một xã miền núi vùng
cao thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Thông tin liên quan ở Huyện Văn Chấn
Văn Chấn là một trong 9 huyện /thị thuộc tỉnh Yên Bái, là huyện miền núi, vùng cao;
Nằm cách thành phố Yên Bái 70km về phía Tây, điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của huyện Văn Chấn có thể phản ảnh được những đặc điểm chung về rừng và lâm nghiệp
ở các huyện miền núi vùng cao của tỉnh Yên Bái
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Văn Chấn là 121.090 ha, chiếm 17% tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh Diện tích đất nông nghiệp trong toàn huyện có 86.787 ha chiếm 71,67% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, bao gồm:
- Đất canh tác nông nghiệp: 15.943 ha chiếm 18,3% diện tích đất nông nghiệp,
- Đất dùng để kinh doanh lâm nghiệp: 70.630 ha chiếm 81,3% diện tích đất nông nghiệp Trong đó:
o Đất rừng sản xuất là 48.390 ha chiếm 68,5% đất dùng để kinh doanh lâm nghiệp,
o Đất rừng phòng hộ 22.239 ha chiếm 31,5% đất dùng để kinh doanh lâm nghiệp
Dân số toàn huyện có khoảng 145.711 người, mật độ dân số 121 người/km2 gồm 23 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó có 8 dân tộc, chủ yếu là các dân tộc: Kinh 34,05 %; Thái 22,38%; Tày 17,11%; Dao 8,93 %; Mường 7,57%; H'Mông 6,22 %; Giáy 1,48%; Khơ Mú 0,74 %, chia thành 3 vùng cư trú: (i) Vùng ngoài là vùng cư trú của đại đa số dân tộc Tày; (ii) Vùng đồng bằng có đa số đồng bào dân tộc Thái, Kinh
và Mường cư trú; (iii) Vùng cao chủ yếu đồng bào dân tộc Dao, H'Mông cư trú Tổng
số lao động trong độ tuổi 88.554 người; số lao động trong độ tuổi hoạt động kinh tế 70.866 người; số lao động trong độ tuổi không hoạt động kinh tế 17.688 người
Huyện Văn Chấn, có 31 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn (03 thị trấn và 28 xã) Xã Sơn Thịnh đồng thời là huyện lỵ
Điều kiện sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, dựa vào các sản phẩm canh tác trên đồi rừng, như: Chè, sắn, ngô nương, trồng rừng và bảo vệ rừng
Các con đường QL 37, QL 32 chạy qua huyện, tạo điều kiện nối liền các địa phương trong huyện với các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Nội… , thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa của người dân trong huyện với các nơi khác
Thông tin liên quan ở xã Thượng Bằng La
Xã Thượng Bằng La nằm ở phía Tây Nam của huyện Văn Chấn, cách trung tâm Huyện Văn Chấn là 32 km Phía Bắc của xã giáp với thị trấn Nông trường Trần Phú (huyện Văn Chấn); Phía Nam giáp với xã Mường Cơi, xã Tân Lang (huyện Phụ Yên,
Trang 6 Địa hình trên địa bàn xã có nhiều đặc trưng của các xã vùng núi cao
Diên tích đất nông nghiệp (gồm cả diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất thuỷ sản): 8.677 ha, chiếm 93,86 %
Diên tích đất phi nông nghiệp: 275 ha, chiếm 2,98 %
Diên tích đất chưa sử dụng: 101 ha, chiếm 1 %
Diên tích đất lâm nghiệp: 6.717 ha; Trong đó: Diên tích đất rừng tự nhiên và phòng hộ; 3.164 ha, chiếm 34,18%
Xã Thượng Bằng La là xã có diện tích rừng rộng lớn và có đủ các loại rừng: rừng tự nhiên có mục đích phòng hộ, rừng tự nhiên có mục đích sản xuất và rừng trồng.Trong
đó, rừng tự nhiên có mục đích sản xuất khá lớn Trước đây, loại rừng này do Lâm trường Ngòi Lao quản lý, khai thác và khoanh nuôi, trồng bổ sung Năm 2011, diện tích rừng này đã được UBND huyện Văn Chấn giao cho nhóm cộng đồng tại các thôn quản lý, bảo vệ, hưởng lợi và đã cấp sổ đỏ Tại xã Thượng Bằng La, diện tích rừng sản xuất kinh doanh được giao cho các hộ nông dân và được cấp sổ đỏ tương đối sớm Trên đất này đã trồng chủ yếu các loại cây: Mỡ, Bồ đề, Keo, Quế, Do thời gian giao đất còn ngắn, nên việc lập kế hoạch xin khai thác và khoanh nuôi trồng bổ sung cũng như các tác động của Nhà nước vào quá trình phát triển loại rừng này chưa nhiều và chưa có tác động rõ ràng
Trên địa bàn xã có 5 dân tộc chính và 1 số dân tộc ít người khác cùng sinh sống, trong
đó dân tộc chiếm tỷ lệ đông nhất là người Kinh và người Tày
Xã có 2 trục đường quốc lộ chạy qua là QL 32 và QL37 với chiều dài 18 km
Tình hình và lịch sử giao đất rừng của xã Thượng Bằng La:
Rừng tự nhiên phòng hộ đã được giao cho 121 hộ thuộc 17 nhóm cộng đồng quản lý từ năm 1995 (theo Chương trình 327)
Rừng tự nhiên sản xuất đã được giao cho 1.084 hộ thuộc 17 nhóm cộng đồng quản lý
5.2 Xã Cư Lễ, Văn Minh và Lạng Sang, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Cạn
Trang 77
Thông tin liên quan ở huyện Na Rì (tỉnh Bắc Cạn)
Na Rì là huyện miền núi vùng cao, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 85.300 ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Cạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 232 thôn, bản Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn; Phía Nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên; Phía Đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn); Phía Tây giáp huyện Bạch Thông Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thị xã Bắc Kạn 69 km và cách thành phố Thái Nguyên
130 km theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 3
Na Rì có địa hình núi non hiểm trở, trong đó đồi núi chiếm 90% diện tích tự nhiên Một số xã có nhiều dãy núi đá vôi, nổi lên là khối núi Kim Hỷ có diện tích khoảng 15.000ha , với những ngọn núi cao từ 700 đến 800m
Na Rì có tài nguyên rừng và nhiều loại khoáng sản quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Do địa hình hiểm trở, núi non bao bọc xung quanh nên việc giao thông đi lại của người dân trước đây gặp nhiều khó khăn Sau khi hoàn thành đường nối Quốc lộ 3 với huyện
Na Rì (1965) và tiếp tục phát triển hệ thống giao thông nông thôn đến cấp xã, cấp thôn /bản, đã góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế - văn hóa giữa Na Rì với các địa phương lân cận
Na Rì là huyện có “đất rộng người thưa” Dân số toàn huyện hiện có xấp xỉ 40.000 người, bao gồm 6 dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Kinh, H.Mông, Sán chỉ (65% là dân tộc Tày) đang sinh sống theo quan hệ cộng đồng dòng họ, đời sống gắn với ruộng vườn Các dân tộc Tày, Nùng thường quần cư trong các thung lũng, ven sông suối, canh tác trên các thửa ruộng bậc thang Đồng bào người Dao trước đây thường có tập quán du canh du cư, phát nương làm rẫy Người Kinh, người Hoa sống tập trung ở vùng trung tâm, làm các nghề may mặc hoặc bán hàng phục vụ ăn uống, buôn bán tạp hóa
Do tập quán canh tác lâu đời còn ảnh hưởng sâu đậm trong suy nghĩ của người dân, nên đến nay, nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất tự túc tự cấp Trên địa bàn huyện đã
có Lâm trường quốc doanh Na Rì hoạt động, nhưng hoạt động kinh doanh sản xuất của lâm trường mới thực hiện ở mục đích khai thác gỗ thương mại phục vụ cho lợi ích của lâm trường, nên chưa có tác động rõ ràng và tích cực đến đời sống cộng đồng Người dân tham gia sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là trồng lúa, hoa màu và khai thác gỗ theo phương thức làm thuê cho lâm trường Số hộ nghèo còn chiếm tỷ lệ cao (34,3%), số hộ nghèo thường tập trung ở những thôn bản gần rừng, nơi thiếu đất canh tác, thiếu việc làm ổn định, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng tự nhiên
để khai thác gỗ và thu hái các loại lâm sản Đời sống kinh tế của nhân dân trong huyện còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư xong vẫn còn nhiều khó khăn
Tổng diện tích tự nhiên của Huyện là 86.400 ha Trong đó diện tích đất kinh doanh lâm nghiệp 74.760 ha chiếm 86,52%; diện tích đất có rừng là 58.961,29 ha, trong đó rừng
tự nhiên 48.260,78 ha và rừng trồng là 10.700,51 ha (kể cả rừng mới trồng là 1.980,11 ha), đất chưa có rừng là 15.768,02 ha, đất khác là 10.570,69 ha, độ che phủ rừng là 66,8% 1
1
Tổng hợp độ che phủ rừng theo đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Kạn đến ngày 31/12/2011
Trang 88
Trong năm 2011, toàn huyện đã cấp 65 giấy phép khai thác lâm sản, với tổng khối lượng gỗ khai thác được cấp phép là 1.536,53 m3
gỗ ; đã khai thác: 731,729 m3, đạt 47,6% so với khối lượng gỗ được cấp phép khai thác2
Thông tin liên quan ở 3 xã Cư Lễ, Văn Minh và Lạng Sang (huyện Na Rì)
Đối chiếu với bản Hướng dẫn tham vấn cộng đồng về tính hợp pháp của gỗ, nhóm tham vấn đã lựa chọn các xã Cổ Lễ, xã Lạng San, xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn vì đã hội tụ đầy đủ các đối tượng để tiến hành tham vấn như:
- Cộng đồng cư dân thôn được giao rừng tự nhiên bảo vệ và sản xuất (có sổ đỏ)
- Có các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ hoặc khai thác với Lâm trường Na Rì
- Có các hộ gia đình được giao đất rừng sản xuất (có sổ đỏ) để tự trồng rừng và kinh doanh
- Có đồng bào dân tộc thiểu số
- Có người dân sống ven rừng, phụ thuộc vào rừng mà không sở hữu rừng
Xã Cư Lễ nằm cách huyện lỵ Na Rì 10 km về phía Nam Tổng diện tích tự nhiên của
xã là 6.017 ha Dân số toàn xã có 2.054 người, gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông (85% số dân là dân tộc Tày) Diện tích đất có rừng là 4.891 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 4.096 ha và rừng trồng là 795 ha (kể cả rừng mới trồng là
239 ha); diện tích đất chưa có rừng là 736 ha, diện tích các loại đất khác là 389 ha, độ
che phủ rừng của 77,3%
Xã Văn Minh nằm cách trung tâm của huyện Na Rì 14 km về phía nam, cách trục
đường quốc lộ 3B khoảng 2 km, có tổng diện tích tự nhiên là 3.808 ha Dân số của xã Văn Minh có 1.104 người, gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông (trong đó 80% số dân là dân tộc Tày), sống trên 12 thôn, bản Diện tích đất có rừng là 2.715 ha, trong đó diện tích đất có rừng tự nhiên là 2.236 ha và diện tích đất rừng trồng là 478
ha (kể cả rừng mới trồng là 85 ha) Diện tích đất chưa có rừng là 714ha , diện tích các loại đất khác là 378 ha, độ che phủ rừng là 69% Rừng trồng phát triển khá tốt với các loại cây trồng như Luồng, Keo và Mỡ Sản lượng gỗ khai thác hàng năm đạt 1.500 m3
Xã Lạng Sang là một xã miền núi vùng cao, nằm cách trung tâm huyện Na Rì 30 km
về phía tây, có quốc lộ 279 chạy qua xã về đến huyện Ngân Sơn Nhờ đó, đã tạo điều kiện thuận lợi về giao lưu, trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế - xã hội của xã Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.478,7 ha, diện tích đất có rừng là 2.025 ha, trong đó rừng
tự nhiên là 1.831 ha và diện tích rừng trồng là 193 ha (kể cả rừng mới trồng là 26 ha) Diện tích đất chưa có rừng là 998 ha, diện tích các loại đất khác là 463 ha; độ che phủ rừng là 57,3% Rừng trồng phát triển với những cây trồng như Luồng, Keo và
Mỡ, sản lượng khai thác hàng năm đạt 650 m3 Trong xã có các dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông cùng sinh sống (81% số dân là dân tộc Tày)
5.3 Xã Điền Hạ và Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
2
Báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện Na Rì
Trang 99
Thông tin liên quan ở huyện Bá Thước
Bá Thước là một huyện miền núi, nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa Mặc dù là huyện
có nhiều tiềm năng, tài nguyên về rừng, đã có lâm trường quốc doanh trên địa bàn huyện từ lâu, nhưng đến hiện nay, huyện này vẫn đang là một trong 62 huyện nghèo nhất của Việt Nam
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 77.522 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp phân loại theo tác dụng của rừng như sau:
- Rừng phòng hộ: 20.992 ha; Trong đó: (i) rừng tự nhiên có 7.492 ha; (ii) rừng trồng có 300 ha; (iii) đất không có rừng có 3.200 ha,
- Rừng đặc dụng: 8.088 ha, 100% diện tích rừng đặc dụng là rừng tự nhiên,
- Rừng sản xuất: 14.122 ha; Trong đó: (i) rừng tự nhiên là 8.394 ha; ii) rừng trồng là 5.728 ha Hàng năm sản lượng gỗ khai thác khoảng 7.000 m3
gỗ các loại
Toàn huyện có 23 xã, thị trấn và trên 22 ngàn dân Có khoảng 72% số hộ gia đình có rừng hoặc có sinh kế dựa vào rừng Những số liệu nói trên cho thấy tầm quan trọng của rừng trong đời sống và phát triển kinh tế của huyện
Công tác giao đất giao rừng được bắt đầu thực hiện từ năm 2002 Loại hình sở hữu rừng và loại hình chủ rừng rất đa dạng, cụ thể là: Hộ gia đình, Nhóm cộng đồng dân
cư thôn /bản, Nông lâm trường, Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý khu bảo tồn Đến thời điểm 2012, đã có khoảng 90% diện tích rừng được giao và đã hoàn thiện các thủ
tục giao đất và cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất lâm nghiệp (sổ đỏ) đạt 65%
Thông tin liên quan ở 2 xã : Điền Hạ và Điền Quang (huyện Bá Thước)
Cả 2 xã đều có diện tích rừng lớn và đã phân chia theo tác dụng của rừng Việc giao đất, giao rừng đã tạo nên nhiều loại chủ rừng, rất đa dạng, như: Hộ gia đình, Nhóm cộng đồng, Đội sản xuất của lâm trường Các đối tượng trên đều có cả những người
và tổ chức được giao rừng, có vị trí pháp lý là chủ rừng; có cả những hộ gia đình được nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp cũng có vị trí pháp lý là chủ rừng
Cả 2 xã đều đã tham gia thực hiện các chương trình KTXH của huyện có liên quan đến Nông-Lâm nghiệp, như : Chương trình 327, 141, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661)…
Đến thời điểm này, tại hai xã diện tích rừng trồng đều tăng lên hàng năm và có khoảng 40% số hộ gia đình đã được khai thác rừng trồng từ năm 2010 với loại cây chủ yếu như: Cao su, Keo, Xoan, Bạch đàn
Thu nhập bình quân đầu người tại Điền Hạ và Điền Quang đạt khoảng 4,2 triệu đồng/người/năm, tỷ trọng thu nhập từ Nông-Lâm nghiệp chiếm khoảng 77% tổng thu nhập của hộ gia đình
- Rừng tự nhiên, rừng phòng hộ trước đây đều do các Lâm trường trên địa bàn huyện Bá Thước quản lý về sau chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp và hiện nay chỉ còn một công ty Lâm nghiệp quản lý 5.760 ha rừng phòng hộ và sản xuất
Trang 1010
- Bắt đầu từ 1992, đã triển khai thực hiện chương trình 327 Nhà nước đã giao rừng cho các nhóm hộ trong thôn quản lý bảo vệ Tuy nhiên theo đánh giá của các hộ gia đình, khi nhận rừng, các khu rừng chỉ còn 1 số ít cây gỗ, còn lại, kích thước nhỏ nhưng cũng không được bàn giao về số lượng và ranh giới cụ thể
- Đến nay việc giao đất rừng tự nhiên đã được chính thức hóa bằng việc cấp
“sổ đỏ” cho các nhóm cộng đồng và 100% những người tham gia các cuộc họp đều đã được cấp sổ đỏ
- Việc khai thác chính ở rừng tự nhiên đã không còn là công việc của người dân và cộng đồng từ nhiều năm trước Hiện nay chính quyền xã, kiểm lâm và các Ban quản lý khu bảo tồn chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn
5.4 Thông tin liên quan ở Huyện Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên-Huế ) và các xã Thượng Nhật, xã Thượng Long
Thông tin liên quan ở Huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên -Huế
Nam Đông là một trong 2 huyện miền núi thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế Phía Bắc giáp thị xã Hương Thủy; Phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; Phía Đông giáp huyện Phú Lộc; Phía Tây giáp huyện A Lưới Toàn huyện có 10 xã và 01 thị trấn, trong đó có 07 xã đặc biệt khó khăn, 6 xã có đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 70% tổng số dân
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 64.778 ha3
Dân số toàn huyện là: 24.390
xã hội của huyện có bước phát triển khá, tỉ lệ hộ đói nghèo ngày càng giảm, đời sống của nhân dân từng bước ổn định và đang tiến đến ấm no Công tác định canh định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng đi vào thế vững chắc
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 54.657 ha, chiếm 84% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện Trong đó, đất rừng đặc dụng là 26.079 ha, đất rừng phòng hộ là 11.733 ha và đất rừng sản xuất là 16.844 ha Đối tượng được giao quản lý và sử dụng rừng bao gồm: Hộ gia đình được giao đất rừng sản xuất trong 50 năm; Cộng đồng dân
cư thôn được giao rừng sản xuất (rừng tự nhiên) để quản lý bảo vệ trong 50 năm Hầu hết rừng được giao cho cộng đồng là rừng nghèo; UBND xã quản lý diện tích rừng và đất rừng chưa có chủ thể quản lý Trên địa bàn huyện có Vườn quốc gia Bạch Mã và Khu bảo tồn Sao la và Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông, là tổ chức sự nghiệp do nhà nước thành lập, được giao nhiệm vụ quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ
Trang 11Thông tin liên quan ở xã Thượng Nhật, xã Thượng Long và xã Thượng Quảng
Hai xã này đều thuộc xã nghèo của huyện Nam Đông
Thượng Nhật là một xã thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Xã Thượng
Nhật có diện tích 11.374 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 9.800 ha Tổng dân số của xã
là 2.081 người với 1.927 người là dân tộc thiểu số, mật độ dân số khoảng 1,81 người/km²5
Thương Long cũng là một xã thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Xã
Thượng Long có diện tích 5.066 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 3.936 ha Xã có dân tổng dân số là 2.488 người, trong đó có 2.354 người là dân tộc Cơ Tu, với mật độ dân
số là 4,86 người/km²6
Thượng Quảng là xã thuộc huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Tổng diện tích
tự nhiên của xã là 15.522 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 14.320 ha Dân số của xã là 1.961 người với 1.286 người là dân tộc Cơ Tu, mật độ dân số 1,25 người/km²7
5.5 Thông tin liên quan ở huyện Đạ Tẻh và xã Mỹ Đức, xã Quốc Oai (huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng)
Thông tin liên quan ở huyện Đạ Tẻh
Huyện ĐạTẻh nằm trên phần chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc với vùng Đông Nam Bộ, địa hình thấp dần về phía Tây, Tây Nam, từ độ cao 600m xuống còn dưới 120m, có tổng diện tích tự nhiên là 52.343ha Phía Bắc giáp với huyện Bảo Lâm; Phía Nam giáp với tỉnh Đồng Nai; Phía Đông giáp với huyện Đạ Huoai; Phía Tây giáp với huyện Cát Tiên
- Tổng diện tích đất tự nhiên: 52.343ha, được phân ra:
o Đất nông nghiệp có: Đất trồng cây hàng năm: 6.114ha; Đất trồng cây lâu năm: 3.211ha
o Đất lâm nghiệp có: Rừng tự nhiên: 37.504 ha; Rừng trồng: 1.533ha
o Đất chưa sử dụng có: Đất có khả năng nông nghiệp: 737ha; Đất đồi núi chưa sử dụng: 767ha
o Đất mặt nước: 81ha; Đất chưa sử dụng khác: 514ha
5
Niên giám thống kê huyện Nam Đông năm 2011
6 Niên giám thống kê huyện Nam Đông năm 2011
7
Niên giám thống kê huyện Nam Đông năm 2011
Trang 1212
Thông tin liên quan ở xã Mỹ Đức, xã Quốc Oai (huyện Đạ Tẻh)
Xã Mỹ Đức có diện tích hơn 10.300 ha, số dân gần 4000 người Xã Quốc Oai có diện tích hơn 8.500ha, số dân hơn 3.900 người Hai xã này là nơi sinh sống của người Châu
Mạ là người bản địa và những người Kinh di cư đến từ nhiều đợt, bắt đầu từ đầu năm
1980 Do nằm ở vùng sâu, vùng xa, đời sống khó khăn, người dân tại hai xã này có cuộc sống gắn bó với rừng và dựa vào rừng Bên cạnh những người dân bản địa đã sống dựa vào rừng từ nhiều đời nay, những người Kinh mới di cư đến, cuộc sống của
họ cũng phụ thuộc vào rừng rất nhiều Do điều kiện tự nhiên, những cánh rừng lá rộng thường xanh và lồ ô tre nứa ở địa phương đã cung cấp các sản phẩm rất đa dạng cho người dân như: gỗ, tre nứa, măng, tươi, song mây, các loại rau, quả, thuốc, mật ong,
và nhiều loại thú rừng nhỏ
Về mặt quản lý rừng ở hai xã đã có nhiều biến động Cho đến đầu năm 2000, các khu vực rừng ở 2 xã đều do Lâm Trường Đạ Tẻh quản lý Vào khoảng 1989-1993, người dân đã được Lâm trường giao khoán bảo vệ rừng theo nguồn vốn từ ngân sách hỗ trợ của tỉnh Lâm Đồng theo chương trình thành lập làng lâm nghiệp Sau đó giai đoạn từ năm 1993 - 2008, các cộng đồng này cùng với người dân ở nơi khác đã được giao khoán rừng theo chương trình 327 và sau đó là chương trình 661 Bên cạnh đó vào năm 2003, khi dự án bảo tồn đa dạng sinh học (WINROCK) hỗ trợ kinh phí cho UBND huyện Đạ Tẻh tiến hành việc khoán bảo vệ rừng, một số người dân ở xã Quốc Oai cũng được tham gia Đến năm 2008, diện tích rừng tự nhiên trong huyện đã được chuyển giao cho các công ty tư nhân tận thu gỗ rừng tự nhiên để chuyển sang trồng cây công nghiệp và trồng rừng sản xuất Năm 2010, nhiều hộ nhận khoán quản lý bảo
vệ được trả thêm tiền thuộc chương trình chi trả dịch vụ môi trường (PES) thí điểm tại tỉnh Lâm Đồng
Trên địa bàn huyện Đạ Tẻh, có tổng cộng 22 công ty và doanh nghiệp được cho thuê đất lâm nghiệp với diện tích 8.255 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 8.069 ha và diện tích đất không có rừng là 186 ha Dù diện tích trồng cao su và trồng rừng của các công ty trong địa bàn huyện Đạ Tẻh là nhiều nhưng những công ty có thuê đất tại khu vực xã Quốc Oai và xã Mỹ Đức được người dân cho là chưa làm gì nhiều trên đất được thuê
Một số công ty, doanh nghiệp trên địa bàn là (dưới đây gọi chung là “các công ty”, để phân biệt với công ty TNHH1TV Lâm nghiệp Đạ Tẻh)
Hiện có hai cách tiếp cận về việc sử dụng rừng ở địa phương, đó là: (i) cách tiếp cận rừng theo truyền thống – xem rừng là tài sản chung của cộng đồng, là tài nguyên của
tổ tiên truyền từ đời này sang đời khác; mọi người bản địa đều có quyền tiếp cận theo
truyền thống Đây là hiện trạng sử dụng rừng trên thực tế của người dân (de facto) (ii) Cách tiếp cận thứ hai, là theo luật pháp (de jure) Hiện nay, rừng là tài sản của toàn
dân do nhà nước quản lý Ở địa phương, rừng được nhà nước giao quyền sử dụng cho các chủ rừng bao gồm các công ty nhà nước và tư nhân Các chủ rừng có toàn quyền,
có thể giao, hoặc thuê, khoán người dân trồng hay bảo vệ rừng, khai thác rừng theo như luật định Ngược lại đa số người dân không được giao rừng (với giấy CNQSD) sẽ không có vai trò gì, không có quyền tiếp cận được công nhận vào tài nguyên rừng Hiện nay, các hình thái và quan hệ pháp lý của cộng đồng với các bên ở địa phương bao gồm quan hệ giữa các hộ hoặc nhóm hộ nhận khoán QLBVR với chủ rừng nhà
Trang 1313
nước (Công ty TNHH1TV Lâm nghiệp Đạ Tẻh); quan hệ giữa các hộ hoặc nhóm hộ nhận khoán QLBVR với chủ rừng tư nhân (các công ty, tổ chức tư nhân); giữa các hộ được giao đất trồng rừng và Công ty TNHH1TV Lâm nghiệp Đạ Tẻh (Cty đóng vai trò hỗ trợ, giám sát); và những hộ sống phụ thuộc vào rừng theo cách truyền thống đang cùng tồn tại
Như vậy, các lý do mà xã Mỹ Đức và xã Quốc Oai được chọn làm địa điểm tham vấn cộng đồng như sau:
- Người dân tộc Châu mạ là người bản địa sinh sống tại địa phương và có cuộc sống gắn bó với rừng và đất rừng; đất sản xuất, mồ mã của cha ông họ đều gắn với rừng và đất rừng; nguồn sinh kế chủ yếu của họ cũng dựa vào rừng và đất rừng,
- Người nhập cư (chủ yếu là người Kinh và người Tày) theo các chương trình kinh tế mới của nhà nước trong thập niên 80 cũng có sự phụ thuộc lớn vào rừng và đất rừng Họ khai thác rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp, khai thác gỗ cho các nhu cầu sử dụng tại chỗ và bán ra bên ngoài
- Người dân địa phương (cả người nhập cư và người bản địa) đều được giao khoán quản lý và bảo vệ rừng theo các chương trình của nhà nước, nhưng đang bị ảnh hưởng bởi việc chuyển đổi mục đích sử dụng của rừng tại địa phương
- Các công ty được giao thực hiện chuyển đổi từ rừng nghèo kiệt sang rừng sản xuất và trồng cây công nghiệp đã làm phát sinh mâu thuẫn giữa người dân địa phương với các chủ rừng, chủ yếu là mâu thuẫn liên quan đến sự hưởng lợi từ
gỗ và các sản phẩm từ rừng
5.6 Xã Bông Trang, Bưng Riềng và Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Thông tin liên quan ở huyện Xuyên Mộc (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu)
Huyện Xuyên Mộc nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 64.093 ha.Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch
là 17.608 ha
Diện tích rừng đặc dụng: 10.451 ha, Diện tích rừng sản xuất: 6.197 ha; Diện tích rừng phòng hộ 960 ha8 Huyện xuyên Mộc có 14.186 ha rừng, trong đó có 6.617 ha rừng trồng (chủ yếu là rừng trồng keo lá tràm và keo lai)
Rừng trồng thuộc rừng sản xuất của tỉnh tập trung trên diện tích quy hoạch phát triển rừng sản xuất Đây là diện tích đất đai thuộc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bà Rịa
- Vũng Tàu Công ty lâm nghiệp này là đơn vị duy nhất trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý và kinh doanh rừng sản xuất
80,7% diện tích tự nhiên của huyện là diện tích đất nông, lâm nghiệp Trong đó, có 61,5% diện tích là đất tốt và đất trung bình, nên Xuyên Mộc có thế mạnh trong việc phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày
8 Quy hoạch 3 loại rừng ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Trang 1414
như: cao su, nhãn, cà phê, tiêu Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng xây dựng những vùng chuyên canh có giá trị cao, năng suất cao đang là chủ trương chung của huyện
Trên địa bàn huyện hiện có Công ty lâm nghiệp (tiền thân là Lâm trường Xuyên Mộc) được thành lập từ năm 1978, diện tích quản lý của Công ty là 15.990 ha Tổng diện tích đất sau khi điều chỉnh của Lâm trường là 8.273 ha.9
Tổng diện tích đất của Công
ty LN sau khi rà soát phục vụ việc cấp GCNQSDĐ là 5.605 ha, trong đó: diện tích đất của dân đang sử dụng nằm trong lâm phần quản lý của Công ty là 1.041 ha (dự kiến giao về địa phương quản lý); đất khác là 117 ha Diện tích đất Công ty đang trực tiếp
sử dụng là 4.447 ha, trong đó: Đã cấp giấy CNQSDĐ là 2.847 ha và đang làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ là 1.600 ha
Thông tin về vấn đề giao khoán đất lâm nghiệp tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Xuyên Mộc
Trên cơ sở diện tích được giao và cấp giấy CNQSDĐ, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp
Bà Rịa – Vũng Tàu đã liên doanh với Công ty Sanrim Johap ViNa (Hiệp hội Lâm nghiệp Hàn Quốc); Công ty TNHH Vĩnh Hưng (Đài Loan) và một số Cty TNHH khác
để trồng rừng nguyên liệu Diện tích đất được giao khoán cho các hộ dân (162 hộ) trồng rừng theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 8/11/2005 của Chính phủ về giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông lâm trường quốc doanh là 1.976,5 ha Toàn bộ diện tích đất đai được giao khoán cho các hộ dân để trồng rừng cây gỗ nguyên liệu đều thuộc diện tích đất đã có GCN QSDĐ
Các hộ dân khi được giao khoán đất để trồng rừng đã ký kết “Hợp đồng giao khoán sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, mặt nước nuôi trồng thủy sản” với Cty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu Nội dung chính của hợp đồng giao khoán đất gồm: Vị trí (địa danh khoảnh, tiểu khu); Diện tích đất giao khoán; Loài cây trồng; Mật độ trồng; Thời hạn hợp đồng (theo chu kỳ loài cây trồng)
Trong hợp đồng có ghi các nội dung về quyền lợi của hộ nhận khoán là: được chủ động trồng rừng sản xuất; được hưởng toàn bộ sản phẩm thu hoạch sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ tài chính với Cty Lâm nghiệp; được trồng xen cây hàng năm
và hưởng 100% sản phẩm; được hoàn trả chi phí đầu tư ban đầu nếu có nguyện vọng không tiếp tục sản xuất; được đền bù khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển KTXH
Nghĩa vụ của hộ nhận khoán theo hợp đồng là: sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch và chịu sự kiểm tra giám sát của Cty Lâm nghiệp về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật, chất lượng sản phẩm Hộ nhận khoán đất phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nhà nước theo quy định; Hộ nhận khoán phải nộp 5% sản lượng khai thác của mỗi chu kỳ trồng rừng cho Cty Lâm nghiệp (là chủ rừng); bán sản phẩm cho Cty LN; Hộ không được giao khoán lại và chuyển nhượng đất Đối với Cty LN: Cty
có trách nhiệm lập hồ sơ giao khoán đất cho các hộ; hướng dẫn các hộ trồng rừng theo
9
Quyết định số 3075/QĐ.UBT ngày 26/12/1996 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về điều chỉnh diện tích đất đai của Lâm trường Xuyên Mộc