1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Báo cáo Khung nguyên lý về Quản lý Lâm nghiệp Cộng đồng tại tỉnh Quảng Bình

71 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.3 Tính khả thi của công tác trồng rừng và xây dựng vườn ươm hộ gia đình 6 2.5 Xác định lại các chỉ tiêu lên quan đến lâm nghiệp trong Bảng Ma trận Kế 5.1.2 Đánh giá các trường hợp tran

Trang 2

2.3 Tính khả thi của công tác trồng rừng và xây dựng vườn ươm hộ gia đình

6

2.5 Xác định lại các chỉ tiêu lên quan đến lâm nghiệp trong Bảng Ma trận Kế

5.1.2 Đánh giá các trường hợp tranh chấp hiện tại và những trường hợp tranh

chấp có khả năng sẽ xảy ra từ công tác giao đất giao rừng và hỗ trợ giải

5.1.4 Xây dựng/điều chỉnh, bổ sung các quy ước bảo vệ và phát triển rừng185.1.5 Tầm nhìn/định hướng dài hạn về sử dụng và phát triển rừng 19

5.1.8 Xác định trách nhiệm và nhiệm vụ của xã trong quá trình quản lý rừng

Trang 3

D A N H S Á C H P H Ụ L Ụ C

Phụ lục 1: Điều khoản tham chiếu

Phụ lục 2: Lịch trình chuyến công tác

Phụ lục 3: Danh sách những người tham gia trong chuyến công tác

Phụ lục 4: Số liệu về tài nguyên rừng, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và giao

đất giao rừng tại vùng dự án

Phụ lục 5: Các ví dụ về đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên

Phụ lục 6: Tổng quan những thay đổi cơ bản trong các chính sách liên quan đến

lâm nghiệp và các quy định liên quan đến quản lý rừng cộng đồng Phụ lục 7: Nhóm công tác quốc gia về Quản lý rừng cộng đồng - Bảng ma trận

Xây dựng các Kế hoạch thí điểm về QLRCĐ, giai đoạn 2003 – 2004 Phụ lục 8: Kế hoạch Hoạt động quý

Phụ lục 9: Kế hoạch Hoạt động năm

Phụ lục 10: Kế hoạch thực hiện xây dựng kế hoạch QLRCĐ

Phụ lục 11: Đề xuất mẫu đơn xin thực hiện QLRCĐ của xã

Phụ lục 12: Đề xuất các hoạt động tiếp nối sau lập kế hoạch QLRCĐ

Trang 4

Khung nguyên lý về Quản lý lâm nghiệp cộng đồng tại tỉnh Quảng Bình

N H Ữ N G C H Ữ V I Ế T T Ắ T

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

BQL RPH Ban Quản lý rừng phòng hộ

BQL thôn Ban Quản lý thôn

Chi cục KL Chi cục Kiểm lâm

Chi cục PTLN Chi cục Phát triển Lâm nghiệp

ĐGTNR Đánh giá tài nguyên rừng

Dự án ATLT Dự án An toàn Lương thực

Dự án QLBV NTNTN MT Dự án Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Miền

Trung FFI Tổ chức Động thực vật quốc tế

ICCO Tổ chức liên Nhà thờ về Hợp tác Phát triển

IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới

Phòng NN-ĐC Phòng Nông nghiệp Địa chính

QHSDĐ&GĐGR Quy hoạch sử dụng đất và Giao đất giao rừng

QLRCĐ Quản lý rừng cộng đồng

QLRCĐ Quản lý rừng cộng đồng

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

VDP/CDP Kế hoạch Phát triển thôn/xã

Trang 5

1 G I Ớ I T H I Ệ U

Trên cơ sở những kết quả đạt được của Dự án An toàn Lương thực Quảng Bình - được

Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) hỗ trợ từ năm 1996 đến 2002 tại hai huyện thí điểm Tuyên Hoá và Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình, Dự án tiếp nối về “Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Miền Trung” được triển khai với mục tiêu tổng thể là “cải thiện điều kiện sống của người dân tại hai huyện miền núi vùng dự án theo hướng bền vững về mặt sinh thái” Mục tiêu cụ thể của Dự án tập trung vào xây dựng năng lực, cụ thể là hỗ trợ các bên tham gia tại vùng dự án để họ có khả năng về quản lý và quản lý hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên của chính mình

Chiến lược thực hiện chung của Dự án QLBVNTNTN MT là củng cố các kết quả của Dự

án ATLT ở các hợp phần i) lập kế hoạch phát triển cấp xã và cấp thôn trên cơ sở cộng đồng (VDP/CDP), ii) áp dụng các hệ thống canh tác phù hợp, iii) quản lý lâm nghiệp cộng đồng, và iv) tăng cường các cơ hội nâng cao thu nhập từ các hoạt động marketing và chế biến các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm phi gỗ (LSNG) Trên cơ sở có học hỏi

từ những kinh nghiệm từ các dự án được tài trợ khác, đặc biệt là những dự án được Tổ chức GTZ tài trợ, các phương pháp và mô hình được Dự án QLBVNTNTN MT thử nghiệm và áp dụng sẽ được phổ biến rộng rãi trên cở sở nhu cầu cụ thể của các bên liên quan tại các tỉnh lân cận trong khu vực Miền Trung

Trong hợp phần lâm nghiệp, Dự án ATLT chủ yếu tập trung vào xác định những điều kiện tiên quyết cho công tác quản lý lâm nghiệp cộng đồng; như quy hoạch sử dụng đất và giao đất trống đồi núi trọc và giao đất rừng có sự tham gia (QHSDĐLN&GĐGR) với tổng

số 40.000 ha cho hơn 11.000 hộ gia đình Các hoạt động tiếp nối về xây dựng quy ước bảo vệ rừng và xây dựng kế hoạch quản lý lâm nghiệp cộng đồng chỉ mới bắt đầu triển khai vào năm 2001-2002 - giai đoạn cuối của Dự án ATLT Các hoạt động này đã được đánh giá; chiến lược đã được xác định và tổng hợp trong tài liệu “Khung nguyên lý về phát triển lâm nghiệp cộng đồng tại Miền Trung Việt Nam” (Apel và Wode 20021)

Do Dự án QLBVNTNTN MT chú trọng vào các hoạt động tiếp nối thuộc hợp phần lâm nghiệp, mục đích của chuyến công tác này là điều chỉnh và bổ sung vào chiến lược thực hiện các hoạt động liên quan đến lâm nghiệp của dự án Trên cơ sở những gì đã được

dự án ATLT triển khai, các hoạt động do dự án QLBVNTNTN MT thực hiện cũng như những kinh nghiệm học hỏi từ các dự án liên quan khác, những kiến nghị cụ thể cần được tài liệu hoá về phương pháp để đạt được các tác động mong muốn của Kết quả 3 (Lâm nghiệp) về nội dung, thời gian và giám sát và đánh giá các hoạt động cụ thể

Tham chiếu nhiệm vụ cũng như chương trình làm việc cụ thể của chuyến công tác tư vấn ngắn hạn được nêu rõ ở Phụ lục 1 và 2; và danh sách những cán bộ, cơ quan cung cấp thông tin cho tư vấn ngắn hạn được liệt kê tại Phụ lục 3

Chuyên gia quốc tế ngắn hạn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ông tiến sỹ Dr Hans-Jürgen Wiemer, Cố vấn trưởng Dự án, ông Trần Ngọc Lan, Giám đốc Dự án về những hỗ trợ và đóng góp quan trọng trong chuyến công tác Lời cảm ơn cũng xin gửi đến ông Nguyễn Văn Hợp, ông Vũ Văn Mạnh, cán bộ lâm nghiệp dự án và Bà Marianne Meijboom, chuyên gia về quản lý tài nguyên thiên nhiên của Dự án - những người thường xuyên hỗ trợ trong suốt chuyến công tác và có những đóng góp giá trị liên quan đến các kết quả của báo cáo

1 Apel, U and Wode, B 2002 Khung nguyên lý về phát triển lâm nghiệp cộng đồng tại Miền Trung Việt Nam Tài liệu do tư vấn ngắn hạn cung cấp thay mặt cho dự án ATLT Quảng Bình

Trang 6

này Ngoài ra, những lời cảm ơn chân thành xin được gửi đến các thành viên có liên quan trong nhóm kỹ thuật cũng như nhóm hỗ trợ của Dự án QLBV NTNTN MT cấp tỉnh, cấp huyện và xã về những hỗ trợ mà chuyên gia đã nhận được trong chuyến công tác

Trang 7

2 N H Ậ N Đ Ị N H V À K I Ế N N G H Ị

2 1 G i a o đ ấ t g i a o r ừ n g

Nhận định

Với sự hỗ trợ của Dự án ATLT trước đây, 40.000 ha đất lâm nghiệp đã được giao tại 16

xã thuộc hai huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá Ngoài ra, Dự án ICCO cũng đã hỗ trợ giao được 3.400 ha cho 3 xã tại huyện Minh Hoá

Trong bối cảnh tình hình chính sách tại thời điểm không chắc chắn về quyết định giao đất lâm nghiệp cho các bên liên quan tại địa phương, thì kết quả giao đất lâm nghiệp với quy

mô lớn như trên là một bước tiến triển lớn Theo các quy định lâm nghiệp có hiệu lực lcú

đó, diện tích đất lâm nghiệp có liên quan được tiến hành giao cho các hộ gia đình2, nhằm đảm bảo được tính công bằng giữa những người dân trong thôn Vì thế, nhìn chung các

hộ thường đêù nhận được những dãi đất hẹp và dài chạy dọc từ chân đồi/núi lên đến đỉnh đồi/núi và trong một số trường hợp có hộ nhận được khoảng hai hoặc ba lô, có kích thước dài như thế nhưng tại những địa điểm khác nhau Mặc dù có tính đến tính công bằng, nhưng những hậu quả về quản lý rừng đối với những lô đất được chia như thế lại không được xem xét đến trong suốt quá trình giao đất Trong khi hầu hết các hộ đều xác định được ranh giới của các lô đất tại diện tích đất trống, đồi núi trọc thì việc xác định ranh giới đối với rừng được chia lại không rõ ràng Trong một số trường hợp, không thể liên hệ được lô đất đã chia được hiển thị trên bản đồ sử dụng đất và giao đất với diện tích

đã giao cho các hộ theo như sổ đỏ do số lô đối chiếu hoặc bị lặp lại hoặc không được liệt

kê đầy đủ trên bản đồ Nói cách khác, các hộ không xác định được lô đất của họ hoặc trên bản đồ hoặc là trên thực địa

Theo như thông tin đề cập trong “Báo cáo về các trường hợp tranh chấp đất lâm nghiệp tại hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa”3, thì chỉ có một số ít trường hợp tranh chấp xuất phát từ quá trình giao đất lâm nghiệp, và thường xảy ra đối với các hộ mà không nhận được phần diện tích đất lâm nghiệp nơi họ đã canh tác hoặc trồng cây Nếu tính thực tế, tổng số vụ tranh chấp hiện có chỉ chiếm 1%4, tuy nhiên con số phần trăm này không đại diện cho số vụ tranh chấp có tiềm năng xảy ra liên quan đến tình hình cụ thể của công tác giao đất lâm nghiệp Hiện tại, không có vụ tranh chấp nào đối với diện tích rừng tự nhiên

do rừng tự nhiên đang ở “tình trạng vào ra tự do”, xuất phát từ nguyên nhân là các chủ rừng không có khả năng xác định được ranh giới lô rừng của họ sau khi nhận Tuy nhiên, ngay cả đối với trường hợp các hộ có thể xác định được ranh giới từng lô rừng tự nhiên thì họ cũng không có đủ nguồn lực để tự bảo vệ và quản lý lô rừng đã nhận

Khi được hỏi về những xem xét thực tế về quản lý rừng, kể cả việc xác định rõ ranh giới giữa các lô rừng tự nhiên hoặc xây dựng các kế hoạch quản lý cho từng lô một, thực tế rõ ràng là các hộ không được thông báo về kế hoạch giao đất giao rừng cụ thể và các phương án thực tế trong quản lý rừng5

2 Chỉ khi có Luật đất đai sửa đổi được Quốc hội ban hành vào tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực vào tháng 7 năm 2004, thì định nghĩa về chủ sử dụng đất mới được mở rộng và bao gồm cả các cộng đồng dân cư

3 Báo cáo điều tra các vụ tranh chấp đất lâm nghiệp tại hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa, do

Nguyễn Văn Hợp, cán bộ Dự án QLBV NTNTN MT thực hiện

4 Tổng số vụ tranh chấp được báo cáo là 49 vụ tại các xã thuộc hai huyện, trong tổng số 11.000 hộ gia đình nhận đất lâm nghiệp

5 Ngay cả đối với những trường hợp hộ gia đình được thông báo rõ về những lợi ích và trách nhiệm khi làm chủ rừng tại thời điểm giao, thì đến nay không có bất cứ một hoạt động tiếp nối

Trang 8

Tất cả các sổ đỏ được xem trong chuyến công tác6 đều chỉ có mỗi tên người chồng, trong khi để đảm bảo công bằng về giới thì sổ đỏ cần có cả tên chồng và tên vợ7 Do hai huyện không các số liệu liên quan nên không đánh giá được thực tế trên là đại diện ở mức độ nào và ở tất cả các xã hoặc hay chỉ tại bốn xã được Dự án ALTL hỗ trợ giao đất giao rừng ở gai đoạn đầu

Kiến nghị

Theo đề xuất, cần tiến hành giao diện tích đất rừng tự nhiên còn lại tại các xã Thanh Thạch và Hóa Phúc cho các nhóm hộ Tại xã Thanh Thạch, diện tích đất lâm nghiệp vẫn chưa được giao cho nên theo đề xuất thì nên giao diện tích đất trống và đồi núi trọc gần khu dân cư cho các hộ gia đình (để đầu tư và quản lý được dễ dàng và thường xuyên hơn); còn đối với diện tích rừng tự nhiên ở xa khu dân cư thì nên giao cho nhóm hộ nhằm đảm bảo và tạo điều kiện cho công tác bảo vệ và quản lý phù hợp Do kinh nghiệp giao đất giao rừng tại Quảng Bình chỉ hạn chế đối với hình thức giao theo hộ nên cần có hướng dẫn đầy đủ trong suốt quá trình giao đất giao rừng được đề xuất trên đây Hơn nữa, những tài liệu tổng kết và hướng dẫn về giao đất lâm nghiệp tại các huyện và tỉnh khác là những đóng góp quý giá cần được tham khảo và vận dụng

Về tình hình bình đẳng giới với tên chồng và tên vợ được viết trong sổ đỏ, cần khảo sát

và đánh giá lại xem liệu những phát hiện nêu trên chỉ xảy ra tại các xã được tiến hành giao đất lâm nghiệp trong đợt đầu tiên hay là cả ở những xã khác Đối với những sổ đỏ chỉ có tên chồng, cần tiến hành điều chỉnh và bổ sung để đảm bảo có được cả tên chồng

và tên vợ Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để tiến hành bước bổ sung này là cần có sự đồng ý rõ ràng của người chủ sử dụng đất hiện tại như được nêu trong sổ đỏ (cụ thể là người chồng) Vì thế, bước đầu tiên cần tiến hành là xác định cách thức phù hợp nhằm khuyến khích, huy động người chủ sử dụng đất hiện tại đồng ý với việc bổ sung tên người

sử dụng trong sổ đỏ của họ

Liên quan đến tình hình cụ thể trong sổ đỏ, đối với đất rừng tự nhiên và rừng phục hồi được ghi là “rừng bảo vệ”, thì cần làm rõ trên thực tế để thông báo rõ ràng cho chủ sử dụng đất rừng về quyền lợi cụ thể, các phương án và trách nhiệm của họ trong quản lý diện tích đã được giao8

2 2 Q u y ư ớ c B ả o v ệ v à P h á t t r i ể n r ừ n g

Nhận định

Dự án ALTL đã hỗ trợ xây dựng các quy ước bảo vệ và phát triển rừng tại hầu hết các xã thuộc hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa Tuy nhiên, theo phản ánh của cán bộ kiểm lâm huyện thì các quy ước được xây dựng mà không qua khảo sát, giám sát trong quá trình xây dựng nên việc thực hiện quy ước rất sơ sài Một số thôn thì cho rằng các quy ước

nào về quản lý rừng được tiến hành trên phần diện tích mà hộ đã nhận (ngoại trừ xây dựng quy ước bảo vệ rừng) do Dự án ATLT kết thúc

6 Liên quan đến chương 5.1 về danh sách các xã đã đến thăm và làm việc

7 Phòng Địa chính huyện chịu trách nhiệm thực hiện giao đất lâm nghiệp với sự hỗ trợ của Dự án ATLT Tính công bằng về giới trong giao đất lâm nghiệp là một điều khoản quan trọng trong các hợp đồng với Phòng Địa chính

8 Đại diện của Phòng NN-ĐC huyện Minh Hóa cho rằng diện tích rừng được nêu trong sổ đỏ

“rừng bảo vệ” thường dễ gây nhầm lẫn đối với các chủ sử dụng đất lâm nghiệp về khả năng phát triển và quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững

Trang 9

được xây dựng thông qua các cuộc họp xã (trong một ngày) và sau đó được chuyển cho các thôn Tuy nhiên, ở các thôn khác người dân cho biết là họ tự xây dựng quy ước và sau đó đề trình lên xã để có những điều chỉnh và bổ sung phù hợp với luật và các quy định9 Trở ngại lớn nhất về thiếu tính tuân thủ trong các quy định theo như tất cả các người dân được phỏng vấn trả lời là họ không biết được ranh giới đối với các lô đất rừng

tự nhiên mà họ đã nhận là ở đâu Tuy nhiên, như đã nêu rõ trong chương về giao đất giao rừng, ngay cả đối với các lô đất được chia cho các hộ riêng lẽ với ranh giới rất rõ ràng thì cũng không chắc là các hộ có đủ khả năng để bảo vệ phần diện tích đất rừng đã nhận hay không10

Theo phản ánh của người dân địa phương thì các quy ước bảo vệ và phát triển rừng hiện

có không bao gồm phần diện tích đất lâm nghiệp không được giao (ví dụ như rừng núi đá vôi) Điều này làm giảm đáng kể khả năng bảo vệ những phần diện tích như trên và kéo theo nguy cơ về khái thác quá tải, khai thác không có kiểm sóat và bất hợp pháp

Theo thông tin có được từ buổi làm việc với Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa, đối với các trường hợp như người dân phát hiện và báo cáo các trường hợp vi phạm lâm luật thì họ sẽ được thưởng 15% giá trị của tổng giá trị sản phẩm vị phạm bị tịch thu (hoặc thậm chí lên đến 30% giá trị tài sản tịch thu, nếu vụ vi phạm đã có hồ sơ); nhưng quy định thưởng này đã được Bộ Tài chính thu hồi vào đầu năm 2005 Hơn nữa, trường hợp người dân phát hiện đòi đền bù trực tiếp từ người vi phạm lại không được cho phép do hiện đang thiếu cơ sở pháp lý11

Đề xuất

Bên cạnh hỗ trợ các thôn chưa có quy ước xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng

có sự tham gia, cần tiến hành hỗ trợ điều chỉnh và bổ sung các quy ước đã được xây dựng nhưng chưa toàn diện và phù hợp Cần phải đảm bảo rằng các quy ước đều đề cập đến toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp trong thôn, đại diện của các hộ nhận đất cũng như các hộ không nhận đất đều tham gia vào quá trình xây dựng và các quy ước hiện có được bổ sung những thay đổi gần đây về các quy định về luật cũng như các điều kiện của địa phương Trên cơ sở kinh nghiệm đã qua12, cần giám sát quá trình xây dựng/điều chỉnh, bổ sung các quy ước cũng như các kết quả thực hiện nhằm đảm bảo chất lượng của quy ước Để thực hiện được điều này, cần xem xét việc thành lập nhóm giám sát rừng tại mỗi thôn nhằm đảm bảo các quy ước BVPTR được thực hiện trên thực tế

Các tài liệu hướng dẫn hiện có do Dự án ATLT cung cấp cần được cập nhật và bổ sung những thay đổi về quy định dưới luật, và cần chuyển thành dạng sổ tay hướng dẫn Theo

đề xuất, cần gửi các tài liệu hướng dẫn và sổ tay hướng dẫn liên quan đến Chi cục Kiểm lâm để phê duyệt trước khi bắt đầu thực hiện các bước xây dựng/điều chỉnh nhằm đảm bảo các quy ước bảo vệ và phát triển rừng được xây dựng hay điều chỉnh đều được của các thôn đều được Hạt Kiểm lâm phê duyệt

Sau khi tiến hành xây dựng/điều chỉnh các quy ước, cần làm các bảng tin thông báo quy ước tại mỗi thôn nhằm đảm đảo người ngoài khi vào rừng của thôn sẽ biết rõ các quy

9 Theo phản ánh riêng lẻ bởi người dân thôn Si và thôn Kiên Trinh tại xã Hóa Phúc

10 Xem chương 2.4 về các đề xuất thực tế đối với quản lý và bảo vệ rừng trong bối cảnh đã nêu

11 Mặc dầu Nghị định số 139/2004/NĐ-CP không đề cập đến trường hợp chuyển quyền bồi thường từ các đối tượng vi phạm cho các trưởng thôn nhưng một số tỉnh đã ban hành các quy định cho phép điều này Tỉnh Đăk lăk là một ví dụ điển hình trong việc ban hành Nghị quyết số 15/2002/NG-HDND, tháng 11 nă m 2002 về việc cho phép các trưởng thôn trực tiếp thu tiền bồi thường từ các đối tượng vi phạm lâm luật với số tiền lên tới 50.000 đ/vụ Quyền lợi theo nghị quyết này đóng vai trò rất quan trọng vì nó cung cấp cho người dân thêm nguồn khuyến khích bằng vật chất bổ sung để họ tự bảo vệ tài nguyên rừng

12 Xem Báo cáo của Apel và Wode (năm 2002)

Trang 10

định trong thôn Ngoài ra, để đảm bảo toàn thể cộng đồng dân cư trong thôn nhận thức rõ

về các quy định đã được đưa ra, cần có các tờ rơi nêu các điểm chính trong các quy định

và phát cho người dân trong thôn

tự phát Cây giống thường được mua với giá rất thấp từ các vườn ươm tại huyện Quảng Trạch Sau một khoảng thời gian trồng, gỗ bạch đàn được bán cho cho nhà máy giấy trong tỉnh

Nhu cầu của người dân địa phương về cây giống dường như khá cao mặc dù đã có nguồn hỗ trợ giống cây Keo con từ tỉnh Một số hộ đã bắt đầu xây dựng vườn ươm cá nhân cấp hộ về nhân giống Keo và Bạch đàn15 Chất lượng cây giống từ vườn ươm hộ gia đình cũng tương tự chất lượng trồng rừng từ các loài cây này vì họ không hề được tập huấn kỹ thuật về xây dựng vườn ươm thông qua các dịch vụ khuyến lâm Khi trả lời phỏng vấn, những chủ hộ làm vườn ươm cho biết nhu cầu về cây giống hiện tại vượt quá khả năng cung cấp của chương trình của tỉnh, nghĩa là họ có khả năng bán được cây con cho các hộ khác có nhu cầu

Đề xuất

Rõ ràng với nhu cầu rất cao về cây giống trồng rừng tại những phần diện tích đất trống đồi núi trọc được giao, cần tiến hành nghiên cứu tiền khả thi để xác định được tiềm năng làm vườn ươm giống cây lâm nghiệp cấp hộ gia đình Bên cạnh nghiên cứu về nhu cầu địa phương và tiềm năng thị trường đối với những loài cây khác nhau, nghiên cứu cần đánh giá các thủ tục pháp lý cần thiết gắn liền với việc xây dựng vườn ươm cây giống lâm nghiệp tư nhân với quy mô thương mại16 Trong trường hợp kết quả nghiên cứu xác định xây dựng vườn ươm cá nhân là khả thi, thì cần tiến hành thêm đầu vào kỹ thuật

13 Theo như thông tin có được thì tỉnh hợp đồng với các Lâm trường để cung cấp cây con giống

14 Một vài người dân có các tờ rơi với một vài thông tin cơ bản về trồng rừng với nguồn cây giống được cung cấp Tuy nhiên, những tờ rơi như thế không đủ để đảm bảo chất lượng trồng rừng

15 Một ví dụ là tại thôn Hạ Lào, xã Thuận Hóa, người dân đã tự trồng 4 ha với 15.000 cây Keo lá tràm

16 Cần có giấy chứng nhận chất lượng cây giống nếu người dân muốn bán cây giống họ tự sản xuất

Trang 11

nhằm xác định những loài cây phù hợp17 Vì hiện tại chỉ có 3 loài cây chủ yếu được trồng trong khi đó Keo lá tràm và Bạch đàn là những loài không đại diện cho phương án trồng dài hạn18, việc đa dạng hóa các loài (và đa dạng hóa sản phẩm trồng rừng) cần được tính đến19 Việc đa dạng hoá về loài được áp dụng trong trồng rừng cũng đóng góp vào việc giảm những rủi ro trong tương lai vì dự kiến loại gỗ tròn có giá ổn định hơn về lâu về dài Nhằm nâng cao chất lượng trồng rừng, cần hỗ trợ người dân địa phương có lãi cao hơn

từ các hoạt động đầu tư của họ cũng như tiến hành tập huấn kỹ thuật cho cả xây dựng, quản lý vườn ươm cũng như trồng rừng và chăm sóc rừng trồng

2 4 Q u ả n l ý R ừ n g t ự n h i ê n

Nhận định

Hiện người dân đang thiếu các khái niệm và phương pháp về quản lý rừng tự nhiên theo hướng cộng đồng; điều này cũng được thể hiện từ những thông tin được ghi trong sổ đỏ - với diện tích rừng tự nhiên và rừng phục hồi (loại IIA, IIB, IIIA1-A3) được ghi là “rừng bảo vệ”20 Qua các cuộc họp với các Hạt Kiểm lâm hai huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa cũng như cuộc họp với Công ty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình, “rừng bảo vệ” ở đây là phần diện tích rừng thuộc vào loại rừng phòng hộ xung yếu Theo cách phân loại các loại rừng của Việt Nam, rừng phòng hộ xung yếu có thể được sử dụng với hai mục đích, phòng hộ và sản xuất nhằm tăng cường việc công nhận rừng phòng hộ có thể được sử dụng theo các kế hoạch quản lý21 Còn theo những thông tin mới nhất cấp quốc gia thì rừng phòng hộ xung yếu được phân loại lại thành rừng sản xuất22

Đề xuất

Với tình hình khá thuận tiện là đã có hơn 11.000 các hộ gia đình đã nhận đất lâm nghiệp với sự hỗ trợ trước đây của Dự án ATLT cũng như tình trạng người dân đang thiếu các phương pháp và khái niệm quản lý rừng tự nhiên, cần hỗ trợ chủ sử dụng đất lâm nghiệp cách xây dựng và thực hiện các kế hoạch quản lý rừng có sự tham gia Việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình riêng lẽ, việc xác định ranh giới giữa các lô trong rừng tự nhiên không phải là một phương án thực tế23, và việc xây dựng các kế hoạch quản lý cho từng lô một không thực tế cũng không có ý nghĩa Đối với tình hình này, đặc biệt là đối với

17 Các kinh nghiệm về nhân giống và trồng rừng đối với các loài cây địa phương có thể tham khảo

từ Dự án KfW 4

18 Trồng bạch đàn là phù hợp nhất khi cần phải khắc phục sự thiếu hụt gỗ trước mắt Do những hạn chế về mặt sinh thái (đặc biệt là làm giảm đáng kể độ phì của đất sau một thời gian ngắn), cũng như dự kiến giá bột giấy và giấy sẽ giảm mạnh, khuyến cáo là nên không nên trồng bạch đàn trên quy mô lớn Đặc biệt cần ngăn chặn việc phát quang và đốt phần diện tích phục hồi với cây bụi lúp xúp để trồng Bạch đàn

19 Các loài cây có tiềm năng là … inter alia Peltophorum tonkinesis, trám, và Lát hoa

20 Theo hệ thống phân loại rừng của Việt Nam thì rừng bảo vệ rất xung yếu được gọi là “rừng

phòng hộ” Còn từ “bảo vệ” thường được nêu trong sổ đỏ có nghĩa về khía cạnh quản lý hơn là

bao hàm sử dụng đất lâm nghiệp

21 Xem Báo cáo của Apel, U và Wode, B năm 2002

22 Tại buổi làm việc với Trung tâm Điều tra và Quy hoạch Nông lâm nghiệp Quảng Bình, ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm cho biết gần đây, Sở NN&PTNT yêu cầu Trung tâm xác định và phân loại lại các loại đất rừng tại tỉnh Quảng Bình

23 Đặc biệt mất rất nhiều công lao động để phát ranh giới ở những chổ nhiều cây bụi và phát ranh giới thường ảnh hưởng đến việc tái sinh các lô rừng; và cũng rất tốn kinh phí để phát đi phát lại ranh giới vì sau một thời gian cây lại mọc trở lại (xem Chương 5.1.3 về thành lập các nhóm sử dụng để có thêm thông tin chi tiết)

Trang 12

diện tích rừng tự nhiên xa khu dân cư thì việc thành lập nhóm sử dụng rừng có thể là một phương án phù hợp tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế của địa phương

Do đa số đất rừng được giao đều bị thoái hoá24 (xem chi tiết tại Phụ lục 4), nên việc hỗ trợ lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch quản lý rừng được xem là phù hợp nhằm giúp phát triển và quản lý rừng bền vững về lâu dài theo hình thức nhóm

Các phương pháp quản lý rừng tự nhiên theo nhóm là một hình thức quản lý đổi mới tại tỉnh Quảng Bình, theo khuyến cáo là nên có sự phối hợp chặt chẽ với các cán bộ tỉnh, huyện và xã để thông báo trước cho họ về các hoạt động đã được lên kế hoạch và các bước thực hiện trong quản lý rừng cộng đồng

Chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010 sẽ được phối hợp xây dựng giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Trung tâm Điều tra

và Quy hoạch Nông lâm nghiệp tỉnh Chiến lược sẽ được xây dựng hoàn tất vào cuối năm nay Mỗi một khi Dự án giới thiệu thành công các phương pháp xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý rừng có sự tham gia bởi các bên liên quan tại tỉnh Quảng Bình, có thể dự kiến được các tác động tích cực đối với chiến lược lâm nghiệp của tỉnh Vì thế, Dự án nên phối hợp chặt chẽ với các dự án về môi trường khác đang hoạt động trong tỉnh (xem chi tiết tại Chương 3)

Với độ che phủ của rừng tại hai huyện hiện tại khoảng 70% (cao hơn nhiều so với độ che phủ của rừng trung bình của cả nước), việc tăng thêm được 10% chỉ có thể đạt được thông qua nỗ lực tập trung trong công tác trồng rừng, và có lẽ cũng bao gồm trồng rừng

từ đất nông nghiệp; trong khi đó canh tác nông nghiệp là mối quan tâm của các bên liên quan tại địa phương Hơn nữa, từ những kinh nghiệm của Dự án LNXH Sông Đà, đánh giá được độ che phủ của rừng không chỉ dựa trên công lao động và quy mô trồng rừng

mà còn là một công việc hầu như không thực hiện được vì nó đòi hòi đến tính chính xác của các tài liệu bản đồ hiện có25 Do đó, cần lược bỏ hay thay đổi chỉ tiêu này Thay vào

đó, có thể áp dụng phương án thay thế là tiến hành giám sát những thay đổi định tính của diện tích rừng hiện tại Tại vị những thay đổi định tính đối với rừng tự nhiên có thể đo được qua nhiều thập niên nên cần tập trung nỗ lực vào diện tích rừng được giao mà hiện tại đang ở vào giai đoạn phục hồi và tái sinh (những khu vực được phân loại IC, theo hệ thống phân loại rừng của Việt Nam) Đối với từng khu vực đất rừng đã được giao, cần tiến hành chọn các ô mẫu một cách có hệ thống và thuận tiện để tiến hành sử dụng hệ

24 Không có con số hoặc thông tin chính xác về tình trạng đất lâm nghiệp được giao Tuy nhiên,

dự kiến khoảng ¼ diện tích lâm nghiệp được thuộc vào đất cạn kiệt (loại III A1 với lô rừng có trữ lượng gỗ từ 30-80 m³), trong khi ¾ còn lại được phân loại là đất trống đồi núi trọc (từ loại I A , đất chăn thả đến loại IC, rừng tái sinh tự nhiên phân tán)

25 Dự án LNXH Sông Đà đã thuê một tiến sỹ đảm nhận việc đánh giá độ che phủ của rừng trong vùng dự án Dự án cũng đã tiến hành phân tích các hình ảnh chụp từ máy bay về diện tích đất rừng trước và sau khi có can thiệp của dự án Tuy nhiên, do mức sai số chuẩn cao hơn mức tăng độ che phủ nên kết quả thu được trở nên vô nghĩa

Trang 13

thống định vị địa lý (GPS-receivers26) Trong các ô mẫu, cần thu thập các thông tin về loài, khả năng tái sinh tự nhiên, đường kính ngang ngực của các cây cao trên 1,3 m và độ che phủ Là một chỉ tiêu để định lượng khả năng cải thiện điều kiện rừng tại những ô mẫu nên dùng là chỉ số giá trị cơ bản, đặc biệt xem xét đến thời gian cần thiết để tiến hành phân tích số liệu và tầm quan trọng của các kết quả Chỉ số giá trị liên quan có thể là ví dụ chứa các ngưỡng đối với khả năng tái sinh tự nhiên như điển hình nêu rõ trong Phụ lục 5

26 Để tránh được việc các bên liên quan biết vị trí của các ô mẫu, không nên đánh dấu ranh giới của các ô mẫu, nhưng chỉ ghi lại các toạ độ cụ thể để tiến hành đo đạc sau này

Trang 14

3 V A I T R Ò C Ủ A C Á C T Ổ C H Ứ C V À D Ự Á N L I Ê N

Q U A N

Sau đây là giới thiệu tổng quan về các tổ chức, chương trình và dự án khác nhau có liên quan đến công tác quản lý rừng tại tỉnh Quảng Bình Những thông tin nêu ra ở đây được phản ánh từ các cuộc họp với đại diện của các tổ chức, dự án và chương trình trong chuyến công tác ngắn hạn

Công ty lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình

Trực thuộc sự quản lý của UBND tỉnh Quảng Bình, Công ty Lâm công nghiệp bắc Quảng Bình là một đơn vị nhà nước quản lý sáu Lâm trường và ba Ban quản lý Rừng phòng hộ thuộc phía bắc của tỉnh Quảng Bình Tại hai huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá, công ty chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ diện tích đất rừng chưa được giao cho các hộ Ngoài nhiệm

vụ kinh doanh về lâm nghiệp và giám sát các QBL RPH, công ty còn được giao thực hiện chương trình 661 (xem chi tiết tại phần về Lâm trường) Công ty cũng có ít kinh nghiệm

về nhân giống và trồng một số loại cây bản địa27 Tuy nhiên, do chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang đơn vị tự kinh doanh nên những loại cây bản địa này không được nhân giống và trồng nữa vì công ty phải tập trung sang nhân giống và trồng các loại cây mang lại lợi nhuận trong thời gian ngắn hơn

Các lâm trường nhà nước

Theo Quyết định số 18728 của Thủ tướng chỉnh phủ, ban hành vào tháng 9 năm 1999, các Lâm trường nhà nước sẽ chuyển đổi thành các các đơn vị tự kinh doanh Mặc dù kinh doanh về lâm nghiệp, các lâm trường vẫn là các đơn vị thực hiện chương trình

66129 Rừng phòng hộ sông Yên thuộc sự quản lý của Lâm trường Tuyên Hóa và Rừng phòng hộ sông Rào Nam thuộc Lâm trường Minh Hóa Đối với những diện tích thuộc Chương trình 661, sự phối hợp giữa Lâm trường và người dân chỉ hạn chế qua các hợp đồng trồng và bảo vệ rừng, Liên quan đối với công tác trồng rừng, các hộ dân được chi trả cho công lao động trong khi các hợp đồng bảo vệ thường có mức giá 40.000 đ/ha và được trả theo hàng năm30 Tuy nhiên, các hộ ký hợp đồng lại không có quyền thu hái hay khai thác bất kỳ lâm sản nào ngoại trừ các lâm sản phụ31 Tổng diện tích trồng rừng được cấp ngân sách từ chương trình 661 dường như khá hạn chế, vào năm 2004 chỉ có 40 ha rừng được trồng tại huyện Minh Hóa và 70 ha tại huyện Tuyên Hóa32

27 Việc nhân giống được hợp đồng với các đơn vị kinh doanh nhỏ - những đơn vị thu hái hạt từ rừng và về nhân giống tại vườn ươm

28 Quyết định số 187/1999/QD-TTg, của Thủ tướng chính phủ ba hành ngày 16 tháng 9 năm 1999,

về việc đổi mới cơ chế tổ chức và quản lý của các Lâm trường nhà nước

29 Quyết định số 661/QD-TTg, ban hành ngày 29/07/1998 về việc thay đổi chương trình 327, thành chương trình chung là “Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng” hoặc đơn giản gọi là “chương

trình 661” Chương trình đổi mới này đại diện cho chính sách lâm nghiệp của Việt Nam đến

năm 2010

30 10.000 đ được Lâm trường trích lại để dành cho phí quản lý dịch vụ

31 Cần có giấy phép đồng ý của Sở NN&PTNT về việc cho phép khai thác mây trong diện tích rừng phòng hộ Tuy nhiên, việc xin được giấy phép dường như khá phức tạp nên đến nay vẫn chưa

có thông tin về việc Lâm trường đã được cấp giấy phép khai thác

32 Số liệu do Chi cục Phát triển Lâm nghiệp cung cấp

Trang 15

Một đại diện từ Lâm trường Minh Hóa cho biết các hộ dân được cấp cây giống và tiền công lao động cho việc trồng rừng trên phần diện tích đất của họ Sau khi thu hoạch, sản phẩm sẽ được phân chia giữa hộ và Lâm trường tùy theo chất lượng của rừng trồng33 Ngoài ra, Lâm trường cũng đã cung cấp cây giống để thực hiện chương trình trồng cây ngắn ngày nhằm hỗ trợ cải thiện điều kiện thu nhập của người dân thông qua các hợp đồng được ký trước (xem chi tiết tại Chương 2.3)

Ban Quản lý Rừng Phòng hộ

Các Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQL RPH) có trách nhiệm quản lý đối với các rừng phòng hộ nối liền nhau với diện tích lớn hơn 5.000 ha với mục đích chống khai thác bất hợp pháp Các xã Minh Hoá, Trọng Hoá, Dân Hoá và Hoá Sơn (huyện Minh Hoá) là những xã tiếp giáp với Lào với tổng diện tích đất lâm nghiệp được phân loại là rừng phòng hộ, thuộc sự quản lý của BQL RPH Minh Hoá Tại huyện Tuyên Hoá, BQL RPH Thanh Lâm quản lý phần diện tích phía tây bắc của các xã Lâm Hoá, Thanh Hoá và Hương Hoá

Việc người dân địa phương khai thác gỗ để làm nhà hoặc để dùng trong gia đình không được phép tại các khu vực rừng phòng hộ Người dân chỉ được phép lấy một số lâm sản phụ hoặc lấy củi tại khu vực rừng này Tương tự đối với việc quản lý rừng của các Lâm trường, các hộ dân được hợp đồng với Lâm trường hoặc bảo vệ34 hoặc trồng rừng Và việc trồng rừng theo các hợp đồng này lại phụ thuộc vào các quyết định của Sở Nông nghiệp Địa chính, với tổng gía trị khai thác là 1,750,000 đ/ha được trả cho năm đầu tiên cho công trồng và chăm sóc Các hợp đồng bảo vệ thường có thời hạn 5 năm, và sẽ được gia hạn mới nếu hộ gia đình bảo vệ hiệu quả hoặc đề xuất lên BQL RPH để chuyển thành rừng phòng hộ nếu thấy phù hợp

Dự án Lâm sản ngoài gỗ/IUCN

Dự án Lâm sản ngoài gỗ được thực hiện tại ba xã thuộc huyện Tuyên Hoá, xã Kim Hoá, Nam Hoá và Đồng Hoá Dự án chủ yếu tập trung hỗ trợ người dân tại các xã trồng mây, cây thuốc cho mục đích tiêu thụ tại chỗ và trồng Luồng Với sự hỗ trợ của Dự án, giảng viên địa phương cung cấp các khoá tập huấn kỹ thuật liên quan Các hoạt động khác bao gồm hỗ trợ nghề nuôi ong, mây tre đan lát

Đối với hoạt động trồng mây, mỗi thôn có một hộ được hỗ trợ làm vườn ươm từ mây mạ

Dự án sẽ mua cây mây con lứa đầu tiên từ vườn ươm của các hộ và phát cho 11 hộ trong thôn để trồng Ngoài ra, dự án đang có kế hoạch hỗ trợ làm vườn ươm mây con từ hạt35

Dự án Cải thiện Sinh kế Miền Trung (Giảm nghèo Miền Trung)

Dự án Giảm nghèo Miền Trung do Ngân hàng Châu Á (ADB) tài trợ được thực hiện tại bốn tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Kon Tum Dự án này có năm hợp phần chính: tạo thu nhập, an ninh lương thực, tăng cường thể chế, nâng cao năng lực địa phương và quản lý dự án Khả năng thực hiện các hoạt động trực tiếp liên quan đến lâm

33 Trong những trường hợp tốt nhất, hộ gia đình được giữ lại 50% số gỗ khai thác được Vì vậy, mặc dầu được đầu tư ban đầu nhưng các hộ vẫn phải chịu rủi ro

34 Cùng định mức được áp dụng bởi các Lâm trường

35 Một hộ gia đình tại thôn Hạ Lào, xã Thuận Hóa đã làm vườn ươm cây mây một cách thành công

từ năm 1999 với sự hỗ trợ của Dự án ATLT trước đây Việc nhân giống mây con từ hạt sẽ được tiến hành tại vườn hộ Người dân địa phương có nhu cầu khá cao về mây con giống

Trang 16

nghiệp khá hạn chế vì hiện tại hai huyện Tuyên Hoá và Minh Hoá đang tập trung chủ yếu vào giao thêm đất lâm nghiệp Mặc dầu rất chú trọng đến hỗ trợ cộng đồng trong quản lý rừng nhưng không có gì lấy làm chắc rằng Dự án Giảm nghèo Miền Trung sẽ tiến hành thực hiện các hoạt động liên quan trong những năm tới do hạn chế về ngân sách và mục tiêu chính của dự án nhằm vào công tác giao đất lâm nghiệp đã lên kế hoạch Đối với hoạt động hỗ trợ giao đất lâm nghiệp, Dự án Giảm nghèo Miền Trung định hướng giao đất lâm nghiệp cho các nhóm hộ hoặc cho cộng đồng trong trường hợp có các nghiên cứu điển hình và các hướng dẫn

Dự án Vườn Rừng Phong Nha - Kẻ Bàng

Dự án Vườn Rừng Phong Nha - Kẻ Bàng được thực hiện bởi tổ chức Động thực vật Quốc tế (FFI) và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tại sáu thôn vùng đệm thuộc bốn

xã36 Mục tiêu của Dự án là nhằm cung cấp kiến thức, kỹ thuật và công nghệ để thiết lập các vườn rừng theo dạng cấu trúc rừng tự nhiên với kết cấu loài mong muốn Bên cạnh việc bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo các chức năng của khu vực sinh thái và môi trường sống của cộng đồng được bảo tồn và duy trì, các vườn rừng cũng sẽ được thiết

kế nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh tế của người dân địa phương sống trong khu vực Hiện tại, Dự án đang xác định các loại cây phù hợp về mặt sinh thái và có khả năng tạo thu nhập nhanh cũng như lập kế hoạch làm vườn ươm cây lâm nghiệp để nhân giống các loài cây bản địa Đối với hoạt động làm vườn ươm giống cây bản địa cùng với kinh nghiệm có được từ trồng dặm có khả năng để phối hợp sau này giữa Tổ chức FFI hoạt động tại Quảng Bình và Dự án QLBV NTNTN MT

36 Xã Hưng Trạch, Sơn Trạch và Xuân Trạch tại huyện Bố Trạch và xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa

Trang 17

4 Đ Á N H G I Á K H Á I N I Ệ M K H U N G V Ề P H Á T T R I Ể N

L Â M N G H I Ệ P C Ộ N G Đ Ồ N G

Mục đích chính trong nhiệm vụ của chuyên gia ngắn hạn là đánh giá Khung nguyên lý về phát triển lâm nghiệp cộng đồng do hai chuyên gia Wode và Apel hỗ trợ Dự án ATLT xây dựng vào năm 200237 Trên cơ sở đánh giá, những can thiệp từ dự án đối với điều kiện đất đồi và đất bằng cũng như diện tích vùng đệm thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng phải được xác định rõ Những thay đổi cơ bản về các điều kiện pháp lý liên quan đến lâm nghiệp từ năm 2002, đặc biệt liên quan đến quản lý rừng cộng đồng được tóm tắt tại Phụ lục 6

Vùng đất đồi ở đây là những vùng đất do người dân tộc thiểu số sinh sống (người Chứt

và người Vân Kiều – hai dân tộc thiểu số chính sống gần biên giới Lào) nơi mà sản xuất nông nghiệp chỉ dựa vào hình thức đốt nương làm rẫy trên vùng đất dốc, làm tăng tỷ lệ phá rừng tại những vùng này Những vùng có điều kiện tương tự chủ yếu thuộc ba xã huyện Minh Hoá, xã Trọng Hoá, Dân Hoá và Hoá Sơn Do những xã này là những “xã biên giới” (có phía tây giáp với Lào) nên toàn bộ đất lâm nghiệp ở đây được phân loại là đất rừng phòng hộ thuộc sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Minh Hoá Công tác quản lý rừng phòng hộ của BQL RPH nhằm vào hai hướng38:

1) Công tác quản lý của người dân chỉ hạn chế với việc khai thác một số lâm sản phụ

và lấy củi39, không xem xét đến nhu cầu hợp lý về khai thác gỗ;

2) Thiếu quyền làm chủ đất lâm nghiệp dẫn đến tình trạng tiêu cực là hạn chế động lực của người dân đầu tư công lao động vào phát triển và quản lý bền vững các phần diện tích đất lâm nghiệp do họ không chắc chắn về những lợi ích sau này Những tình trạng trên hạn chế đáng kể những phương án can thiệp liên quan đến lâm nghiệp của dự án (Kết quả 3 trong Bảng ma trận lập kế hoạch Dự án) tại ba xã này Các điều kiện kinh tế xã hội của các dân tộc thiểu số không có gì thay đổi đáng kể từ năm

2002, họ vẫn ưu tiên vào sản xuất nông nghiệp và rất ít quan tâm và có khả năng thấp đối với phát triển lâm nghiệp40 Những nguyên nhân cơ bản của tình trạng phá rừng hiện tại

là do an ninh lương thực hạn chế và tình trạng nghèo đói ở nông thôn Những hỗ trợ của

dự án trong thời gian tới nên tập trung vào xây dựng các hệ thống canh tác nông nghiệp mang lại năng suất cao hơn và bền vững về mặt sinh thái (Kết quả 2), cũng như tạo các

cơ hội mang lại thu nhập từ chế biến và phát triển thị trường đối với các sản phẩm từ lâm sản ngoài gỗ (Kết quả 4) Liên quan đến điều này, cần tiến hành nghiên cứu phân tích và phát triển thị trường (PT&PTTT)

37 Apel, U và Wode, B 2002 – Khung nguyên lý về phát triển lâm nghiệp cộng đồng – Tài liệu Dự

án ATLT

38 Xem Chương 3 để biết thêm thông tin chi tiết về Ban Quản lý rừng phòng hộ

39 Không được chặt cây đang sống, chỉ được thu hái những cây, cành đã chết về làm củi

40 Được đề cập trong báo cáo của Apel và Wode (2002)

Trang 18

Vùng đất thấp ở đây là vùng chủ yếu có người Kinh sinh sống, với quyền sử dụng đất

lâu năm để sản xuất nông nghiệp có tưới tiêu và quản lý nguồn tài nguyên theo từng cá nhân41 Khái niệm về quản lý rừng cấp hộ gia đình do hai chuyên gia Apel và Wode đề

xuất (năm 2002) đã bị thay đổi và bổ sung dựa trên những nhận định và đề xuất đưa ra trong chương 2 và từ kinh nghiệp của Dự án LNXH Sông Đà, Dự án Phát triển Nông thôn Đăk Lăk và Dự án Hỗ trợ Lâm nghiệp do ADB tài trợ, từ năm 2002 Khái niệm quản lý

rừng cấp hộ gia đình được gọi tên lại là khái niệm quản lý rừng cộng đồng, do kinh

nghiệm chung cho thấy việc bảo vệ và quản lý diện tích rừng tự nhiên xa khu dân cư chỉ

có thể hiệu quả khi được quản lý bởi các nhóm hộ hoặc bởi cộng đồng Khái niệm quản lý rừng cộng đồng được hiểu là quản lý rừng bởi các nhóm sử dụng rừng, những người sẽ cùng nhau chọn một giải pháp tác động phù hợp trong quản lý rừng tự nhiên trong bối cảnh đất lâm nghiệp được giao cho các hộ gia đình riêng lẽ

Mặc dầu thuộc huyện Bố Trạch nhưng vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

được mở rộng đến xã Thượng Hóa thuộc phía Đông của huyện Minh Hóa Xã này cũng thuộc khu vực tác động của Dự án Vườn rừng Phong Nha-Kẻ Bàng của FFI, với khái niệm lâm nghiệp và hướng dẫn thực hiện lâm nghiệp42 mới được xây dựng bởi chuyên gia quốc tế lâm nghiệp của FFI Do những hạn chế nhất định, các nhiệm vụ cụ thể không thể đưa ra trong chuyến công tác ngắn hạn Vì thế, đề xuất ở đây là phương pháp hiện tại nên được tiếp tục và những sửa đổi, điều chỉnh sẽ được tíên hành qua các tài liệu hướng dẫn và tài liệu tập huấn của Dự án QLBV NTNTN MT

41 Apel và Wode (2002)

42 Wode, B 2005 FFI – Tài liệu Lập kế hoạch Phát triển lâm nghiệp cộng đồng

Trang 19

5 K H Á I N I Ệ M V Ề Q U Ả N L Ý R Ừ N G C Ộ N G Đ Ồ N G

5 1 C á c b ư ớ c t ổ c h ứ c v à k ỹ t h u ậ t

Khái niệm lâm nghiệp được đề cập ở đây chủ yếu được đúc rút từ những kinh nghiệm trong quản lý rừng cộng đồng của Dự án LNXH Sông Đà, Dự án Hỗ trợ Lâm nghiệp do ADB tài trợ và Dự án Phát triển Nông thôn Đăk Lăk Tuy nhiên, thực tế tình hình về giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình đã dẫn đến một số thay đổi đáng kể về cơ cấu tổ chức

và kỹ thuật dễ dàng nhận thấy, với việc thành lập các nhóm sử dụng đại diện cho một trong những hợp phần chủ yếu Những bước chính trong nguyên lý này theo như tài liệu

“Bảng ma trận về Thành lập các Kế hoạch thí điểm về quản lý rừng cộng đồng năm 2004”, do Nhóm Công tác quốc gia về QLRCĐ hướng dẫn và vì thế các bước này đều phù hợp với chính sách phát triển lâm nghiệp cấp quốc gia (xem Phụ lục 7)

2003-Các bước tổ chức và kỹ thuật được đề xuất về xây dựng công tác QLRCĐ được nêu rõ

trong các chương sau Khái niệm QLRCĐ gồm có chín bước như sau

Bước 1: Triển khai tại các xã

giao rừng và hỗ trợ giải quyết tranh chấp

Cộng đồng được yêu cầu gửi đơn xin giấy phép QLRCĐ Giấy phép sẽ do UBND xã chuẩn bị và gửi lên UBND huyện để phê duyệt Chủ tịch UBND huyện sẽ xem xét và

phê duyệt giấy phép QLRCĐ Ngoài ra, Phòng NN-ĐC và Hạt Kiểm lâm sẽ chịu trách nhiệm tham mưu cho UBND tỉnh về xem xét và phê duyệt giấy phép

Để hỗ trợ cho quá trình này, cần tổ chức một cuộc họp xã để giới thiệu cho đại diện lãnh đạo xã và các thôn có tiềm năng về các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và lợi ích của mô hình QLRCĐ

Trang 20

Đặc biệt là cần phải đề cập chi tiết những lợi ích và quyền lợi dài hạn - những điểm có thể không được xem xét đến trong bước lập kế hoạch của các bên liên quan Thông qua họp thôn, đại diện thôn sẽ cung cấp những thông tin cần thiết đến mọi người dân trong thôn

và hỗ trợ họ trong quá trình ra quyết định Các tờ rơi sẽ giúp nhắc nhở người dân, hướng dẫn và đảm bảo rằng tất cả những thông tin cần thiết được truyền tải và phổ biến thông qua các cuộc họp thôn

Các xã quan tâm đến giấy phép thực hiện QLRCĐ cần đệ trình đơn lên huyện để xin giấy phép Đơn xin giấy phép cần chuẩn bị theo mẫu chuẩn do UBND xã hướng dẫn, sau đó được trình lên UBND huyện để phê duyệt Phòng NN-ĐC và Hạt Kiểm lâm huyện là các

cơ quan tham mưu cho UBND huyện để xác định số liệu và tính phù hợp trong đơn xin giấy phép của xã

Trong quá trình xem xét và phê duyệt, Chủ tịch UBND huyện phải đảm bảo rằng các hệ thống hỗ trợ cần thiết sẽ được cung cấp với ngân sách liên quan được hỗ trợ từ các chương trình hay dự án của chính phủ và của địa phương như đóng góp từ các nhà tài trợ hoặc các Tổ chức phi chính phủ (NGO)

một khi các quy ước bảo vệ rừng được tăng cường áp dụng phù hợp Vì thế chắc chắn cần tiến hành giải quyết các vụ tranh chấp hiện tại trước khi triển khai phương pháp QLRCĐ

Bên cạnh những đánh giá ban đầu tại cấp xã, những vụ tranh chấp hiện tại cần được xác định rõ qua các cuộc họp thôn khi tiến hành đánh giá hình thức giao đất lâm nghiệp phù hợp Nguyên nhân chủ yếu của tranh chấp được phản ánh bởi các hộ gia đình - những

hộ không được xem xét trong quá trình giao đất lâm nghiệp và do vậy không được nhận đất Như đã đề cập ở trên, tranh chấp chỉ có khả năng xảy ra khi việc áp dụng các quy ước bảo vệ rừng được tăng cường và những hộ không nhận đất nhận thấy họ không được quyền sử dụng diện tích đất mà họ đã sử dụng trước đây Những nguyên nhân khác gây tranh chấp còn do ranh giới giữa các thôn và/hoặc xã lân cận không rõ ràng Mỗi một khi xác định rõ các vụ tranh chấp hiện có, dự án cần có những bước hỗ trợ và đóng vai trò trung gian trong giải quyết tranh chấp, khuyến khích các đối tượng có tranh chấp với nhau cùng nhau giải quyết vấn đề của họ Khi các đối tượng tranh chấp không

có khả năng thỏa thuận cùng nhau để giải quyết tranh cấp thì những thông tin liên quan

về vụ tranh chấp phải được phản ánh lên các cấp chính quyền cao hơn để giải quyết Thời gian cần thiết để giải quyết tranh chấp có thể là hàng tuần hay thậm chí hàng tháng tùy thuộc vào hình thức và mức độ tranh chấp thực tế

5 1 3 T h à n h l ậ p c á c n h ó m s ử d ụ n g r ừ n g

Do rừng tự nhiên được phân chia thành những lô khoảnh nhỏ để chia cho các hộ gia đình trong thôn nhằm đảm bảo tính công bằng, nên thực tế là cần phải tiến hành các bước

Trang 21

xem xét liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng Đầu tiên là việc quản lý theo những lô nhỏ bởi các hộ gia đình làm tăng khối lượng công việc đòi hỏi đối với xác định ranh giới , bảo

vệ và quản lý lô rừng tự nhiên Đặc biệt đối với rừng thứ cấp có mật độ cây bụi dày và phát triển nhanh thì công việc xác định làm rõ ranh giới giữa các lô cần phải được tiến hành thường xuyên

Các lô đã chia được chọn theo hình thức đảm bảo công bằng về đặc điểm, điều kiện trong mỗi lô Ngoài việc một số hộ nhận được hai hoặc 3 lô có diện tích nhỏ hơn, những

lô này thường dài và hẹp43, thường chạy từ chân đồi lên đến đỉnh đồi Hình dạng hẹp của các lô và độ cao trung bình của cây trong lô thường được khai thác lấy gỗ xây dựng là khoảng 20 đến 30 mét, nên có khả năng cây bị khai thác sẽ ngả về phía lô bên cạnh44, gây tổn hại đến lô rừng

Mặc dù xét dưới góc độ quản lý và bảo vệ các lô gần nhau sẽ phù hợp hơn nhưng thường thì mất nhiều công quản lý hơn45, rất khó chắc chắn rằng các hộ có đủ nguồn lực

để bảo vệ các lô nhỏ xa trung tâm thôn hơn Những phần diện tích rừng như thế thường rơi vào rừng tự nhiên - những chổ đã bị khai thác với nhiều mức độ khác nhau Ngoài ra, qua các cuộc phỏng vấn các hộ cho biết là họ không có trách nhiệm bảo vệ các lô rừng lân cận khỏi bị khái thác bất hợp pháp

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là cần xem xét khối lượng công việc hành chính từ việc xây dựng đến phê duyệt và giám sát các kế hoạch quản lý rừng đối với các

lô của các hộ gia đình

Mặc dầu có phản ánh thực tế về bảo vệ và quản lý rừng, chỉ có những hộ người Kinh đảm bảo quyền sở hữu mạnh hơn gắn với trách nhiệm các nhân trong quản lý bảo vệ rừng Tuy nhiên, những phản ánh như thế lại được nêu lên dựa trên thực tế là từ xưa đến nay không có lô nào được áp dụng công tác quản lý và bảo vệ Điều này chủ yếu xảy ra

do không có hoạt động tiếp nối nào được tiến hành sau khi giao đất giao rừng

Vì thế bước đầu tiên khi tiến hành thành lập nhóm sử dụng là cần phải thông báo rõ ràng và cụ thể với các chủ đất lâm nghiệp về những thông tin, phương pháp trong quản

lý rừng Đặc biệt là phải đảm bảo cho mọi người dân hiểu rằng việc giao đất giao rừng, quản lý và bảo vệ rừng có thể có những chức năng khác nhau Vì thế cần sử dụng

bản đồ sử dụng đất hiện tại với thông tin cụ thể về quyền sử dụng và hiện trạng rừng theo như kết quả của quá trình GĐGR để hỗ trợ bước này Trên cơ sở bản đồ này, diện tích rừng của thôn cần phải được chia thành các tiểu khu46 trước khi bắt đầu thảo luận về việc thành lập nhóm sử dụng rừng

Đồng thời việc cộng đồng thôn xác định các cơ chế phù hợp về chia sẻ kinh nghiệm và lợi ích trong và giữa các nhóm cũng quan trọng không kém Ngoài ra, cũng phải xác định các quy định, hình thức phân chia gỗ cho các hộ gia đình nên cần tổ chức họp thôn gồm các trưởng thôn và các nông dân nồng cốt trong thôn để thảo luận và xây dựng các phương án khác nhau để sau này có thể để đánh giá trong cuộc họp thôn chung nhằm đưa ra sự chọn lựa các thủ tục chuẩn có giá trị trong toàn thôn47 Trên cơ sở đó, người

45 Ví dụ trồng rừng hoặc canh tác trên đất trống đồi núi trọc được giao

46 Các tiểu khu thường được xác định theo diện tích loại rừng, cấu trúc rừng và cách quản lý Các tiểu khu thường là các đơn vị điều tra và lập kế hoạch quản lý

47 Vì đây sẽ là lần đầu đối với những người dân tham gia xây dựng và thống nhất các quy ước bảo

vệ và phát triển rừng để chia sẻ trách nhiệm và lợi ích với nhau, nên cần phải làm rõ là các quy

Trang 22

dân cần có khả năng thành lập các nhóm sử dụng rừng để quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên đã được giao Vì diện tích rừng của mỗi nhóm đại diện cho mỗi đơn vị lập kế hoạch quản lý rừng nên khuyến cáo là số nhóm trong mỗi thôn không nên vượt quá 10, và mỗi nhóm ít nhất phải có 5 hộ (có thể hơn) Lý tưởng là số nhóm được thành lập sẽ dựa trên

số tiểu khu rừng hiện có, thường là đại diện cho đơn vị điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng

5 1 4 X â y d ự n g / đ i ề u c h ỉ n h , b ổ s u n g c á c q u y ư ớ c b ả o

v ệ v à p h á t t r i ể n r ừ n g

Việc chuyển gia trách nhiệm về quản lý và bảo vệ rừng cho các bên liên quan tại địa phương đòi hỏi cần có chuyển gia về các quyền liên quan Vì thế, cần xây dựng khung quy định về quản lý rừng cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho người dân đưa ra và tăng cường các quyền tiếp cận và những hạn chế về sử dụng và khai thác tài nguyên của thôn

có thể dễ dàng bị người bên ngoài xâm phạm hoặc ngay cả các thành viên trong thôn, đặc biệt có xem xét tài nguyên rừng ở xã khu vực dân cư

Nhằm cung cấp môi trường quy định đối với cộng đồng để tăng cường các quyền lợi sử

dụng rừng của họ, Quy ước Bảo vệ và Phát triển rừng cấp thôn cần phải đưa vào áp

dụng theo quy định nêu rõ trong Thông tư số 56/1999/TT-BNN-KL Tuy nhiên, quy định lại không chỉ rõ sự cần thiết về sự tham gia, nên thường kéo theo một loạt các luật cấm áp đặt đối với cộng đồng, chỉ tổn gây ra các hiệu quả trái ngược Vì thế, quan trọng là cộng đồng phải tự họ xây dựng các quy ước phù hợp với những điều kiện và các nhu cầu cụ thể của họ

Quy ước bảo vệ và phát triển rừng nhằm hỗ trợ nâng cao khả năng của các bên liên quan tiến hành phân tích tài nguyên rừng và các quy định xưa nay của họ, vận dụng các quy ước về bảo vệ rừng đáp ứng được các nhu cầu và mối quan tâm của họ và của nhà nước trong quản lý rừng Việc tăng cường khả năng của người dân trong quản lý và bảo vệ rừng dựa trên các quy ước do họ xây dựng nên và được các cấp chính quyền liên quan phê duyệt là rất quan trọng trong việc tự tuân thủ và thực hiện và đảm bảo công tác quản

lý rừng được xã hội chấp nhận Các bên liên quan tham gia vào quá trình ra quyết định sẽ

hỗ trợ hơn nữa trong việc nâng cao sự tin tưởng và trao đổi thông tin với chính quyền địa phương

Quá trình xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng bao gồm các cuộc họp thôn bản qua đó các thành viên trong cộng đồng chia sẻ và trao đổi các ý tưởng và ý kiến về xây dựng quy ước và thống nhất họ muốn đạt được gì qua xây dựng và thực hiện quy ước Quy ước bảo vệ và phát triển rừng cần có các thông tin cụ thể về (a) các diện tích rừng được phân nhóm theo các mục đích cụ thể, (b) lợi ích và xử phạt, (c) các quy định về săn bắn và chăn thả và (d) phòng chống cháy rừng trên cơ sở các cuộc thảo luận cùng nhau trong hai đến bốn buổi họp thôn

Người dân trong thôn phải nhận thức và đảm bảo được quy ước bảo vệ và phát triển rừng đề cập đến toàn bộ diện tích rừng trong thôn, vì phần diện tích không đưa

vào quy định có khả năng bị khai thác các nguồn tài nguyên rừng tuỳ ý, dẫn đến việc xâm phạm và/hoặc khai thác bất hợp pháp Nếu trường hợp đã có các quy ước, cần khuyến cáo đánh giá mức độ tham gia của người dân trong trình xây dựng, nhận thức và mức độ chấp nhận của người dân địa phương đối với quy ước Một chỉ tiêu chính cần phải đánh giá đối với từng khu vực rừng được quản lý cụ thể (khu vực khai thác củi, khu vực chăn thả, khu vực rừng đầu nguồn …) có được đề cập cụ thể, đầy đủ và rõ ràng trong quy ước

ước sẽ tuỳ thuộc vào điều chỉnh và vận dụng nội bộ ngay khi các kinh nghiệm thực tế đầu tiên được người dân tiến hành (quá trình học hỏi tích cực)

Trang 23

không (với tên địa phương) và liệu người dân có thể xác định được những khu vực đó trên thực tế, tại hiện trường không Thường thì các quy định chỉ là giấy tờ được thông qua trong cuộc họp thôn mà người dân trong thôn không có cơ hội để đóng góp và bổ sung những nguyện vọng và nhu cầu của họ

Chỉ khi quy ước được xây dựng và thông qua bởi toàn bộ người dân trong thôn, thì trưởng thôn mới đệ trình quy ước đó lên chính quyền xã và sau đó chính quyền xã sẽ

trình lên chính quyền huyện để phê duyệt Kết quả quy ước được phê duyệt là tài liệu pháp lý mang tính bắt buộc nhằm đảm bảo các quyền sử dụng đất và cơ sở bổ sung

về quản lý hành chính cấp cao hơn để hỗ trợ trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm mà thôn bản không thể tự giải quyết

Người dân trong thôn phải tự chịu trách nhiệm đảm bảo rằng các quy ước do họ xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh Đây là một trong những lý do chính lý giải tại sao sự tham gia của các thành viên trong thôn trong quá trình xây dựng quy ước là hết sức quan trọng và cần thiết Qua quá trình thực hiện và tăng cường các quy ước bảo vệ và phát triển rừng, người dân địa phương trở nên quen dần với những quyền lợi và trách nhiệm của chính họ cũng như các mức phạt được áp dụng đối với từng trường hợp vi phạm Các tờ rơi với những thông tin quan trọng trong quy ước sẽ là một công cụ hữu hiệu thông báo cho toàn bộ cộng đồng về nội dung quy ước bảo vệ và phát triển rừng của chính họ

Các nhóm bảo vệ rừng được thành lập nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy ước bảo vệ

và phát triển rừng Việc hình thành các nhóm bảo vệ cũng giúp giảm chi phí cơ hội khi có nhiều hộ gia đình hợp tác cùng nhau bảo vệ tài nguyên rừng của họ

Bên cạnh những nghĩa vụ của người dân về bảo vệ tài nguyên rừng, các quy ước cũng tạo cơ hội hơn cho người dân về hưởng lợi ích từ rừng thông qua khai thác gỗ và các lâm sản phụ

Các quy ước chỉ trở thành các công cụ hiệu quả trong bảo vệ rừng nếu người dân vẫn ý thức cao sau khi quy ước đã được xây dựng Điều này có thể được hỗ trợ thông qua việc

phản ánh việc thực hiện quy ước trong các cuộc họp thôn và việc giám sát và đánh giá

phải được tiến hành hàng năm

Việc GS&ĐG nên kết hợp với giám sát bên ngoài bởi Hạt Kiểm lâm và với giám sát nội

bộ bởi chính cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức của các bên liên quan và đánh giá

kiệu có cần điều chỉnh hay cần thêm sự hỗ trợ bên ngoài dựa trên nhu cầu của người

dân Trong khi tiến hành GS&ĐG quá trình xây dựng quy ước, việc nắm rõ nội dung quy ước cũng như tiêu chuẩn thực hiện cần được đánh giá

Vì tiềm năng rừng của lô rừng khác nhau về phân bố các loài cây, sản lượng và chức năng, nên phải xây dựng hệ thống quản lý áp dụng trên cơ sở nhằm đảm bảo các lợi ích được tối đa hóa về lâu về dài Chỉ khi nếu hệ thống quản lý được áp dụng nhất quán với mục tiêu quản lý được xác định từ những giai đoạn đầu thì có thể tránh những can thiệp không thuận lợi trong suốt quả trình sản xuất Nói cách khác, một định hướng về cấu trúc

Trang 24

rừng mong muốn có thể cung cấp các chức năng rừng và các lâm sản nhìn thấy được và không nhìn thấy được cần được xây dựng trước khi tiến hành bất cứ hệ thống quản lý lâm sinh nào

Quá trình này được tạo điều kiện bằng cách phản ánh tài nguyên rừng hiện có (phân bố các loài cây lẫy gỗ có giá trị và các lâm sản ngoài gỗ) và điều kiện tại khu vực rừng (độ

phì của đất được xem là một chỉ tiêu để đánh giá tiềm năng tăng trưởng của rừng) trong khi tiến hành đi khảo sát thực địa trong mảnh rừng48 Để tạo điều kiện và khả năng cho các chủ rừng nắm rõ các cơ cấu rừng, phân bố loài và các tác động liên quan (như chăn

thả, cháy rừng, cỏ) cơ sở để xác định các phương án quản lý rừng phù hợp thì mô tả khoảnh rừng có sự tham gia cần được tiến hành đối với mỗi phần diện tích rừng thuộc

sự quản lý của mỗi nhóm sử dụng Bằng cách xác định các sản phẩm rừng từ các loài cây và đường kính tối thiểu phù hợp đủ điều kiện để khai thác, có thể tiến hành xác định được cấu trúc rừng sau này một cách rõ ràng Sự khác nhau giữa cấu trúc rừng hiện tại

và tương lai sẽ xác định được cách quản lý nào nên được áp dụng

Hỗ trợ việc lập kế hoạch này thông qua phương pháp có sự tham gia sẽ giúp người dân hiểu rõ lý do và cách thức các quyết định về quản lý được đưa ra và đảm bảo rằng các nguyện vọng và nhu cầu của người dân được đưa vào trong các kết quả kế hoạch Kinh nghiệm cho thấy khi người sử dụng rừng có cơ hội thể hiện các nhu cầu của họ và tham gia sự hiểu biết của họ trong quá trình thì họ tăng quyền làm chủ và sẵn sàng đảm nhận các trách nhiệm quản lý về lâu dài Sử đảm nhận tiếp nối độc lập là một yếu tố để đạt được mục tiêu mong muốn về lâu về dài

Vì thế, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định để xác định và thống nhất mục tiêu quản lý phù hợp được xem là một cơ chế mang tính nguyên tắc cần phải làm để đạt được sự sử dụng tài nguyên rừng bền vững, và do vậy kết nối được việc

sử dụng rừng với việc bảo vệ rừng hiệu quả

5 1 6 Đ á n h g i á t à i n g u y ê n r ừ n g c ó s ự t h a m g i a

Mục tiêu chính của việc đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia là đánh giá tài nguyên rừng và cung cấp các thông tin cần thiết cho các mục đích lập kế hoạch và quản lý rừng

Cách đánh giá tài nguyên rừng theo hình thức kiểm kê rừng được tiến hành tại một ô

mẫu rừng qua từng đợt có khoảng cách thời gian cụ thể và với cường độ khác nhau phụ thuộc vào diện tích khu vực rừng, loại dữ liệu và tính chính xác của các dữ liệu cần thiết Đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia chỉ cần thiết đối với những khu vực rừng hiện có rừng sản xuất49 cần được bàn giao cho người dân và có thể tiến hành các tác động lâm sinh như tỉa thưa hay khai thác sau 5 năm tới Vì thế không cần tiến hành kiểm kê đối với các loại rừng IA, IB, và IC theo tiêu chuẩn phân loại rừng của Việt Nam

Để áp dụng phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia, cần phải tiến hành xây dựng các mô hình điển hình đối với từng loại rừng trước khi bắt đầu thực hiện Mục đích của việc xây dựng các mô hình lý tưởng hay cơ cấu rừng quản lý bền vững để có

48 Mỗi tiểu khu đại diện cho mỗi đơn vị quy ước cho lập kế hoạch quản lý rừng, là một khu vực rừng có cùng cấu trúc, phân bố các loài và cách thức quản lý Tuy nhiên, với cách thức quản lý theo nhóm thì những khu vực rừng thuộc sự quản lý của các nhóm sẽ được xem là một đơn vị

để lập kế hoạch quản lý Điều này đòi hỏi cần xây dựng các mục tiêu quản lý dài hạn riêng cho mỗi khu vực rừng thuộc sự quản lý của mỗi nhóm

49 Mặc dù rừng tự nhiên và rừng tái sinh được giao luôn được gọi là “rừng bảo vệ” trong các sổ đỏ nhưng khu vực rừng này là rừng phòng hộ ít xung yếu Vì thế, có thể tiến hành việc quản lý theo các kế hoạch quản lý đã được đề xuất đối với những khu vực này (xem chi tiết tại Chương 2.4)

Trang 25

thể so sánh với cơ cấu rừng thực tế là nhằm hình thành các phương án có khả năng định lượng và/hay các hạn chế đối với công tác quản lý rừng sau này Tiếp nối Hội thảo Quốc gia về Quản lý Rừng cộng đồng50, Nhóm công tác quốc gia về quản lý rừng cộng đồng đã

đề xuất phối hợp với Quỹ Ủy thác Lâm nghiệp để tiến hành xây dựng các mô hình lý tưởng đối với tất cả bảy vùng sinh thái của Việt Nam

Trong tình hình phát triển rừng cộng đồng tại Việt Nam các phương pháp phù hợp để đánh giá tài nguyên rừng cần phải được dựa trên hình thức đánh giá tài nguyên có sự tham gia đơn giản hơn là phương pháp kiểm kê rừng mang tính khoa học đạt tính chính xác Kiểm kê rừng mang tính khoa học có khả năng tạo ra hàng loạt số liệu quá khó để người dân địa phương có thể diễn giải Nếu người sử dụng rừng không được tham gia vào việc đánh giá tài nguyên rừng thì họ sẽ không nhận thấy tinh thần làm chủ về những kết quả và vì thế họ không sẵn sàng tuân thủ thực hiện kế hoạch quản lý được xây dựng

từ những số liệu như thế Và vì thế, đơn giản hóa các hướng dẫn là rất quan trọng để đảm bảo các nhóm sử dụng rừng đều có khả năng nắm rõ, thúc đẩy và giám sát việc lập

kế hoạch quản lý rừng Sự tham gia đầy đủ của những người sử dụng rừng tại địa phương cần phải được đảm bảo trong suốt quá trình, tận dụng được các kỹ thuật hiệu quả nhưng đơn giản về điều tra rừng và phân tích các số liệu điều tra

Đánh giá tài nguyên rừng cần được triển khai như một hoạt động cùng hợp tác, có sự tham gia của Ban Quản lý rừng của xã đóng vai trò là cán bộ kỹ thuật, cán bộ khuyến nông khuyến lâm xã đóng vai trò là người hỗ trợ và những ngưởi sử dụng rừng tại địa phương Sự tham gia trong suốt quá trình sẽ (i) hỗ trợ các bên liên quan tự tin trong các vấn đề kỹ thuật-tạo điều kiện cho họ tiến hành các đợt đánh giá tài nguyên rừng sau này một cách độc lập, (ii) giảm khối lượng công việc của các ban ngành liên quan như Hạt Kiểm lâm và (iii) tạo ra sự tin tưởng và trao đổi thông tin giữa cán bộ Kiểm lâm và các bên liên quan tại địa phương

Những kinh nghiệm thực tế đầu tiên từ các tỉnh tại Việt Nam51 khẳng định những người

sử dụng rừng có đầy đủ khả năng và mối quan tâm trong quá trình, và thường thì người dân tự nhấn mạnh nhu cầu về số liệu phù hợp sử dụng để cải thiện công tác quản lý rừng

Đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia, gồm thu thập và tổng hợp số liệu và phân tích

số liệu được tiến hành đối với từng khu vực rừng thuộc sự quản lý của mỗi nhóm, sử dụng những công cụ đơn giản như thước dây, dây dài để đo xác định ranh giới Đặc điểm chính trong đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia là không đo độ cao của cây và không tính tóan trữ lượng Mà trữ lượng rừng được định lượng bằng cách xác định số lượng cây trên một cấp độ đường kính như các chỉ tiêu thực tế đối với công tác thực hiện

và giám sát, cũng như dựa trên khả năng của người dân và các cán bộ hỗ trợ

Ngay khi hoàn tất điều tra rừng, cần tiến hành tổng hợp, phân tích và lưu trữ các số liệu thu thập được vào hệ thống dữ liệu điều tra để sử dụng cho việc xác định và đưa ra các quy định sau này Vì bước này đòi hỏi một số kỹ năng tính tóan cơ bản nên cần đến một

số công cụ đơn giản như máy tính bỏ túi, sự hỗ trợ của các cán bộ kỹ thuật đã được tập huấn và cán bộ khuyến lâm Tuy nhiên, những người sử dụng rừng cần tham gia tích cực trong suốt quá trình Kinh nghiệm từ trước đến nay cho thấy phương pháp là một công cụ đơn giản trong lâm nghiệp cộng đồng và người dân thấy dễ hiểu và dễ sử dụng

Trang 26

Trong suốt các cuộc điều tra tiến hành lặp lại qua một khoảng thời gian, những kiến thức vần thiết về tốc độ tăng trưởng sẽ có được để xác định và điều chỉnh thêm cách quản lý lâm sinh trong quá trình đánh giá tiếp

Luật mới về phát triển và bảo vệ rừng52 quy định đánh giá tài nguyên rừng nên được tiến hành 5 năm một lần đối với tất cả các lô rừng có tiến hành khai thác gỗ

5 1 7 X â y d ự n g k ế h o ạ c h q u ả n l ý r ừ n g c ộ n g đ ồ n g

Trên cơ sở các số liệu có được từ đánh giá tài nguyên rừng và công tác giao đất giao rừng, các kế hoạch QLRCĐ sẽ được xây dựng thông qua các cuộc họp thôn Việc lập kế hoạch đòi hỏi sự cân nhắc kỹ càng về cần định hướng hoặc trong đợi vào điều gì và có

sự điều phối của tất cả các hoạt động để đạt được mục đích quản lý dài hạn Kế hoạch QLRCĐ là cơ sở để quản lý rừng hiệu quả

Các kế hoạch quản lý là các tài liệu cơ sở và cần phải có và được sử dụng bởi những người có vai trò trong việc ra quyết định Kế hoạch cần phải đề cập đến các tác động lâm sinh bao gồm cả các cấp định lượng quy mô khai thác dựa trên các kết quả điều tra, phương án cải thiện lô rừng và công tác trồng rừng, gồm chuẩn bị tài chính và xác định rõ trách nhiệm Kế hoạch QLRCĐ phải lưu giữ được và chứng minh được sự chọn lựa hệ thống lâm sinh nhăm đảm bảo rằng tất cả các cấp quản lý đều nẵm rõ về công việc và lý

do cụ thể mà họ sẽ triển khai Mục đích của việc lập kế hoạch QLRCĐ không chỉ là xác định rõ các mục tiêu quản lý đã được thông qua mà còn phổ biến những mục đích này đến các đối tượng liên quan đến việc thực hiện kế hoạch

Kế hoạch QLRCĐ là công cụ lập kế hoạch và giám sát chính đối với người sử dụng

rừng, những cơ quan, ban ngành liên quan và dự án

Trong quá trình lập kế hoạch, các hoạt động lâm nghiệp của mỗi nhóm sử dụng rừng sẽ được xác định và đinh lượng nhằm cân bằng tỷ lệ cung cầu về tài nguyên rừng của thôn bản Tình hình cung cấp tài nguyên rừng sẽ được đánh giá bằng cách so sánh tình hình thực tế thông qua đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia với mô hình lý tưởng hoặc tiêu chuẩn được xây dựng đối với từng loại rừng cụ thể.Trong trường hợp có không đủ tài nguyên rừng đối với một lâm sản cụ thể thì các giải pháp có thể sẽ được thảo luận nhằm đưa ra tình hình cung cấp trong tương lai

Điều này sẽ kéo theo kế hoạch 5 năm về QLRCĐ, kế hoạch sẽ được trưởng thôn đệ trình lên chính quyền xã và sau đó sẽ được xã gửi lên chính quyền huyện để phê duyệt Sau khi kế hoạch được phê duyệt, Phòng NN-ĐC sẽ chịu trách nhiệm gửi kế hoạch xuống cho BQL thôn

Phê duyệt là bước rất quan trọng nhằm đảm bảo các cam kết đã có (bao gồm cả quyền

sử dụng rừng đối với người dân) sẽ được thực hiện và tăng cường Nó kết nối kế hoạch QLRCĐ đã được xây dựng với phương pháp có sự tham gia dựa trên số liệu có được tại hiện trường với một loạt các tiêu chuẩn bắt buộc được xây dựng cấp cao hơn

Sau khi được phê duyệt, kế hoạch QLRCĐ 5 năm sẽ được chi tiết hóa thành các kế hoạch thực hiện hang năm nhằm dần dần đạt được các mục tiêu quản lý dài hạn Kế hoạch thực hiện hang năm được xây dựng theo dạng bảng biểu, liệt kê các hoạt động cần triển khai trong năm và xác định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ đối với rừng chủ rừng cụ thể

Các kế hoạch sẽ được đưa vào các kế hoạch Phát triển Thôn/Xã (VDP&CDP) nhằm đảm bảo phát triển lâm nghiệp trong khuông khổ phát triển nông thôn Vì CDP là kế hoạch

52 Quy định này đã được Quốc hội thông qua vào ngày 10 tháng 11 năm 2004 và được ban hành vào 01 tháng 04 năm 2005

Trang 27

được các ban ngành địa phương chấp thuận và hỗ trợ nên việc đưa kế hoạch QLRCĐ vào CDP cũng phải đảm bảo rằng lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng là yếu tố không thể thiếu được trong môi trường thể chế của địa phương

Một lần nữa phải nhất mạnh rằng Kế hoạch QLRCĐ cần phải được áp dụng và phát huy hiệu quả như một điều kiện tiên quyết đối với công tác quản lý rừng đã được dự kiến Chỉ khi tài nguyên rừng được cộng đồng bảo vệ hiệu quả thì kế hoạch quản lý rừng mới có thể được thực hiện và phát huy hiệu quả, và vì thế tạo ra mối ảnh hưởng qua lại giữa hai phương pháp này

Về bên ngoài, xã có nhiệm vụ cung cấp cho Hạt Kiểm lâm các thông tin liên quan về thời gian, địa điểm và số lượng cây có đường kính khác nhau sẽ được khai thác Để có khả năng đạt được điều này, các nhóm sử dụng rừng cần chuẩn bị các đề xuất khai thác đối với tiểu khu rừng của họ, liên quan đến “khoảng thời gian quản lý” (ví dụ như 3 tháng một lần) Vì thế số cây được phép chặt hàng năm53 phải cân bằng với số cây đề xuất được khai thác – nên là nhiệm vụ của BQL thôn

Khi BQL thôn đã phê duyệt và tổng hợp các đề xuất khai thác của các nhóm sử dựng rừng trong thôn (nên tiến hành vào ngày tháng đã định, ví dụ như 2 tuần trước giai đoạn quản lý), các đề xuất sẽ được đệ trình lên chính quyền xã và xã chịu trách nhiệm thông báo lên Hạt Kiểm lâm Đề xuất phải nêu rõ địa điểm tiểu khu rừng của nhóm, tên nhóm sử dụng cũng như số lượng cây có các cấp đường kính khác nhau sẽ khai thác

Mỗi một khi gỗ được khai thác có thể bán54, xã sẽ chịu trách nhiệm tính toán và thu thuế trên số lượng gỗ đã bán để cùng chia sẻ lợi ích Tuy nhiên, với tình hình hiện tại về phần lớn đất lâm nghiệp đã giao thì cần có một khoảng thời gian đáng kể trước khi các hộ có thể bắt đầu khai thác gỗ để bán

54 Do một số phức tạp hiện tại về việc thực hiện chia sẻ lợi ích theo Quyết định số TTg và Thông tư liên ngành số 80/2003/TTLT/ BNN-BTC, đối với các kế hoạch quản lý rừng sắp tới chỉ nên đối chiếu với việc khai thác gỗ để dùng còn việc khai thác gỗ để bán sẽ được xem xét khi các hướng dẫn cụ thể được ban hành

Trang 28

178/2011/QD-• Cấp thôn: Giám sát cần tiến hành bằng phương pháp có sự tham gia Có nghĩa rằng các bên tham gia đảm nhận những trách nhiệm và nhiệm vụ để đánh giá tiến

độ thực hiện của họ so với mục tiêu kế hoạch đã đặt ra Trong quá trình giám sát, cộng đồng sẽ tự phân tích các thông tin mà họ xác định là quan trọng (như các trường hợp vi phạm lâm luật, hiệu quả trong các quy định về vùng chăn thả hay tác động của các biện pháp lâm sinh như tỉa thưa, trồng dặm hay khai thác)

• Cấp xã và cấp huyện: cán bộ giám sát của xã và huyện cần hoàn tất các bước báo cáo và các thủ tục để được phê duyệt (mẫu đơn xin khai thác gỗ hay cam kết chia sẻ lợi ích, chia sẻ mức đóng thuế) và hiệu quả tập huấn các phương phápđược tiến hành tại cấp thôn và cấp xã

• Cấp tỉnh: Dự án cũng với các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh sẽ tiến hành đánh giá trên cơ sở ngẫu nhiên tại các cấp tham gia đánh giá nhu cầu để điều chỉnh kế hoạch quản lý rừng cộng đồng đã đưa ra hoặc nhu cầu về nâng cao năng lực hay

hỗ trợ tài chính bổ sung Giám sát tại cấp tỉnh có thể cung cấp các thông tin có giá trị để điều chỉnh chính sách chung về lâm nghiệp của tỉnh và chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh

Cần tiến hành đánh giá giữa kỳ vào cuối giai đoạn I của Dự án (xem Chương 6.2) nhằm đánh giá tính thực tế và khả thi về các công tác kỹ thuật, tổ chức, hành chính và tài chính

đã được xây dựng, cho phép có những điều chỉnh cần thiết và áp dụng các phương pháp đưa ra tại dp, nếu cần thiết

5 2 C á c t h ủ t ụ c h à n h c h í n h

Lâm nghiệp cộng đồng sẽ không thể bền vững nếu được xây dựng ngoài chính sách chung về lâm nghiệp và ngoài các cơ cấu hành chính hiện hành Như đã đề cập ở phần trước, các thủ tục chính về khái niệm đề xuất là phù hợp với xây dựng chính sách lâm nghiệp cấp quốc gia (xem Phụ lục 7) Cấp phê duyệt hợp pháp quá trình QLRCĐ nên là cấp tỉnh - cấp đưa ra cơ sở pháp lý hỗ trợ thực hiện thí điểm quản lý rừng cộng đồng

Cơ sở pháp lý này cần được thông báo rộng rãi cho các cán bộ nhà nước phụ trách các

xã thực hiện quản lý lâm nghiệp cộng đồng để họ nắm rõ vai trò của họ trong hỗ trợ thực hiện quá trình Sự tham gia của các cơ quan, ban ngành liên quan và của các cán bộ hiện trường trong quá trình thí điểm sẽ cung cấp thêm các số liệu có giá trị về khối lượng công việc, chi phí và yêu cầu về nâng cao năng lực khi xem xét đến việc mở rộng quy mô thực hiện khái niệm/ý tưởng ra các xã khác Ngoài ra, sự tham gia trực tiếp cũng đảm bảo rằng xây dựng năng lực sẽ tập trung vào các cơ quan liên quan tại cấp huyện và xã hơn là chỉ hạn chế tập huấn cho các cán bộ hỗ trợ từ dự án hoặc từ các tổ chức, đơn vị đào tạo Việc xây dựng và thử nghiệm phương pháp quản lý rừng cộng đồng thông qua trao đổi kỹ với các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh đảm bảo khái niệm/phương pháp đã được xây dựng

sẽ là kết quả chung được hình thành phù hợp với nhu cầu và khả năg của ngành lâm nghiệp của tỉnh

Xét quy mô và mục đích của dự án, thì hoạt động hỗ trợ các xã trên hai huyện về lập kế hoạch quản lý rừng theo phương pháp có sự tham gia và thể chế kế hoạch dường như khá thuận lợi, nhưng vai trò quyết định vẫn thuộc về cấp tỉnh55 Tại Hội thảo quốc gia về

55 Tỉnh Đăk lăk là một ví dụ tích cực, với khái niệm/phương pháp về lâm nghiệp cộng đồng đã được thử nghiệm thành công và đang chuẩn bị các bước hướng dẫn cấp tỉnh

Trang 29

Cơ sở Pháp lý và Thể chế về Lập kế hoạch lâm nghiệp cộng đồng mới được tổ chức gần đây tại Việt Nam’56, các vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý rừng cộng đồng đã được thảo luận, cụ thể là các tiêu chuẩn về điều tra tài nguyên rừng, lập kế hoạch quản lý rừng, khai thác cũng như trách nhiệm tổ chức và chia sẻ lợi ích Dự kiến, kỷ yếu Hội thảo này sẽ có ảnh hưởng đến chính sách hiện tại ở tất cả các cấp hành chính liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng

56 Do Nhóm công tác cấp quốc gia về QLRCĐ tổ chức tại Hà Nội vào ngày 30 tháng 11 năm 2004

Trang 30

6 Đ Ề X U Ấ T T H Ự C H I Ệ N Q U Ả N L Ý R Ừ N G C Ộ N G

Xem xét chỉ tiêu số 2 của Kết quả 3 trong Bảng ma trận Kế hoạch Dự án: Ít nhất có 40%

số xã Dự án được chọn xây dựng được các kế hoạch quản lý rừng cộng đồng theo phương pháp có sự tham gia vào tháng 12 năm 2005, dự án cần tiến hành chiến dịch tập huấn trên quy mô rộng

Đối chiếu với số xã, số lượng cán bộ dự án và cán bộ huyện hạn chế cũng như thời gian cần thiết để áp dụng và hoàn chỉnh các phương pháp cũng như các tài liệu tập huấn hiện

có57, chiến dịch tập huấn cần được chia thành nhiều đợt, trong đó mỗi đợt bao gồm tập huấn giảng viên và hỗ trợ thêm trong triển khai các phương pháp tập huấn Mỗi xã/huyện

sẽ được chọn để tiến hành đợt tập huấn lần đầu Điều này được xem là bước giới thiệu

và thử nghiệm các phương pháp luận mới Tiếp đến, đợt hai sẽ chọn 3 xã/huyện và các đợt tiếp theo sẽ chọn 4 xã/huyện

Các xã đã được lựa chọn và sắp xếp trong hai đợt đầu theo kế hoạch hoạt động năm

2005 của Dự án Và việc lựa chọn và sắp xếp các xã và các bước thực hiện được đề xuất trong đợt đầu, kể cả thời gian thực hiện được trình bào trong các chương tiếp theo

6 1 L ự a c h ọ n v à s ắ p x ế p t h ứ t ự c á c x ã t r o n g v ù n g

D ự á n

Bước xem xét trước khi lựa chọn đã được tiến hành với toàn bộ 36 xã trên hai huyện Dự

án Tuyên Hóa và Minh Hóa trong khuôn khổ thời gian hạn chế của chuyến công tác Những chỉ tiêu sau đây được áp dụng cho bước xem xét trước khi lựa chọn:

o Giao đất giao rừng – quyền làm chủ đất lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, đảm

bảo người dân được hưởng lợi từ công tác quản lý rừng và tạo ra sự khích lệ cho các bước đầu tư về lâu dài Vì thế, một điều kiện tiên quyết đối với bước lập kế hoạch QLRCĐ là đất lâm nghiệp đã được giao cho người dân ở các thôn

o Tình hình tranh chấp – những trường hợp tranh chấp ranh giới đất lâm nghiệp hiện

tại trong thôn, giữa các thôn cũng như giữa các xã có thể cản trở đáng kế việc thực hiện lập kế hoạch QLRCĐ và thậm chí một số trường hợp không thể giải quyết được Đối với những xã theo điều ra là có tranh chấp hoặc các trường hợp tranh chấp được

đề cập đến trong chuyến công tác thì nên đưa vào tập huấn đợt hai thay vì đợt một,

để có thời gian giải quyết tranh chấp Cụ thể là các xã Thạch Hóa và Nam Hóa tại huyện Tuyên Hóa nơi trường hợp tranh chấp ranh giới xã vẫn chưa giải quyết được theo tập quán của địa phương

57 Tài liệu tập huấn hiện tại có thể thu thập được từ nhiều dự án phát triển khác nhau, như Dự án ATLT, FFI, Dự án Hỗ trợ Lâm nghiệp của ADB, Dự án LNXH Sông Đà và Dự án PTNT Đăklăk

Trang 31

o Dễ tiếp cận - Thực tế cho thấy việc thực hiện lập kế hoạch QLRCĐ bước đầu ở hai

huyện là một quá trình tốn công và mất nhiều thời gian, vì phải tiến hành thử nghiệm

và vận dụng các phương pháp liên quan tại điều kiện địa phương nên tính dễ tiếp cận đã được xác định là quan trọng, đặc biệt liên quan đến đợt đầu tiên trong chiến dịch tập huấn Hơn nữa, những khu vực dễ tiếp cận vẫn còn nguồn tài nguyên rừng

ở trong điều kiện thuận lợi mà người ngoài thường vào khai thác bất hợp pháp

o Việc quản lý – những khu vực rừng phòng hộ có diện tích hơn 5000 ha được giao

cho các BQL RPH, chịu trách nhiệm quản lý tất các các hoạt động liên quan đến lâm nghiệp Tuy nhiên, qua trao đổi với Công ty Lâm công nghiệp bắc Quảng Bình và BQL RPH Minh Hóa thì các BQL RPH dường như khá đề phòng trong công tác quản

lý, không cho phép người dân địa phương quản lý những khu vực rừng này ngoại trừ được thu hái các lâm sản ngoài gỗ và lấy các thân, cành cây khô làm củi (xem chi tiết tại Chương 3) Trong tình hình này, các xã có phần lớn diện tích thuộc BQL RPH đã không được chọn cho đợt đầu thực hiện lập kế hoạch QLRCĐ Đó là các xã Trọng Hóa, Dân Hóa và Hóa Sơn (xem Chương 4)

o Hiện trạng tài nguyên rừng – để tiến hành và thử nghiệm phương pháp toàn diện

về lập kế hoạch QLRCĐ, trên cơ sở hiện trạng khác nhau cụ thể về rừng tại hai huyện, các xã có rừng với hiện trạng khác nhau đã được chọn theo thứ tự ưu tiên Với những chỉ tiêu đưa ra, bốn xã trên hai huyện đã được chọn để đánh giá hiện trạng lâm nghiệp cụ thể, liên quan đến tiềm năng thực hiện lập kế hoạch QLRCĐ (xem Biểu 1) Các xã Thanh Thạch, Tuyên Hóa và Hóa Phúc, Minh Hóa cũng đã được khảo sát qua nhằm đánh giá sâu hơn về tính phù hợp đối với việc dự án hỗ trợ giao đất lâm nghiệp, trên cơ sở yêu cầu của hai huyện Việc sắp xếp các xã theo như Biểu 1

Trước khi khảo sát qua tại các xã, đoàn công tác đã có buổi làm việc với UBND xã để đánh giá chung về tình hình lâm nghiệp của xã Sau đó đoàn công tác tiến hành phỏng vấn một số người dân và quan sát, đánh giá chung về điều kiện tài nguyên rừng trong xã

Biểu 1: Chọn lựa và sắp xếp thứ tự các xã tham gia

Xã1: (1) Đồng Hoá

(2) Thanh Thạch*

(2) Thuận Hóa (2) Hương Hóa

(1) Hoá Hợp (2) Hoá Tiến (2) Hoá Phúc*

Trang 32

đưa vào các Kế hoạch hoạt động quý và Kế hoạch hoạt động năm58 của dự án, với khung thời gian từ tháng 2 năm 2005 đến tháng 3 năm 2006 (xem Phụ lục 8 và 9)

Hội thảo cấp tỉnh về Quản lý rừng cộng đồng

Việc hỗ trợ xây dựng các kế hoạch quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia như định hướng của Dự án sẽ là một hoạt động mới và đầu tiên tại tỉnh Quảng Bình Thực tế cho thấy qua chuyến công tác thực địa, những nỗ lực hiện tại trong lâm nghiệp cộng đồng của người dân trên hai huyện dường như chỉ tập trung vào bảo vệ đơn thuần tài nguyên rừng hiện có và trồng rừng trên đất trống đồi núi trọc và đất có cây bụi lúp xúp trong khi chưa

có các khái niệm, ý tưởng và phương pháp để hỗ trợ người dân trong phát triển và sử dụng rừng tự nhiên Vì thế, điều cần thiết đối với Dự án là phải có sự thống nhất của các đại diện liên quan cấp tỉnh, huyện và xã về những hoạt động dự kiến và chọn lựa sơ bộ các xã tham gia Thành viên tham gia Hội thảo là đại diện của UBND tỉnh, Sở NN&PTNT

và Chi cục PTLN tại cấp tỉnh và đại diện của hai huyện cũng như đại diện của các xã dự kiến sẽ tham gia, bao gồm UBND huyện, Phòng NN-ĐC, Hạt Kiểm lâm và UBND các xã

Thực hiện tại các xã

Trên cơ sở có sự thống nhất của các cơ quan, ban ngành liên quan về những hoạt động của dự án dự kiến và các xã được chọn, cần tiến hành các cuộc họp tại cấp xã và cấp thôn nhằm cung cấp cho tất cả người dân liên quan về những thông tin làm đơn xin thực hiện QLRCĐ Hướng dẫn cụ thể liên quan đến quá trình làm đơn và nộp đơn được nêu rõ trong Phụ lục 10 Và về khung thời gian cần thiết để hoàn tất quá trình có được đơn phê duyệt được đề cập đến trong Kế hoạch hoạt động quý (xem Phụ lục 8) Vì chưa có mẫu đơn chuẩn nào nên Dự án nên đảm nhận trách nhiệm này (mẫu đề xuất tại Phụ lục 11)

Mẫu đơn xin thực hiện QLRCĐ cần có những thông tin sau đây:

 Tên xã, các thôn tham gia, hiện trạng về công tác giao đất giao rừng, tổng diện tích đất lâm nghiệp, mô tả ngắn gọn về hiện trạng rừng và các loại rừng (rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng) và phương pháp quản lý dự kiến

 Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và những đối tượng chính sẽ tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch QLRCĐ

 Biên bản họp thôn của các thôn liên quan

 Đơn xin cấp giấy phép QLRCĐ và cung cấp các hệ thống hỗ trợ cần thiết

 Chữ ký của các trưởng thôn và các tổ chức trong thôn

Đánh giá các trường hợp tranh chấp hiện có và có khả năng sẽ xảy ra đối với việc giao đất giao rưùng và tạo điều kiện giải quyết tranh chấp

Trước khi tiến hành các bước quản lý rừng cộng đồng, cần đánh giá tình hình tranh chấp đất đai qua giao đất giao rừng và tiến hành các bước cần thiết để giải quyết tranh chấp

Do đánh giá tình hình tranh chấp đóng vai trò quan trọng và mang tính quyết định đối với việc lựa chọn các xã tham gia (xem chi tiết tại Chương 6.1), nên bước này đã được thực hiện tại các xã được lựa chọn tham gia tập huấn đợt 1 và đợt 2 trong chiến dịch tập huấn

đề xuất Tuy nhiên, đồng thời với việc xây dựng kế hoạch QLRCĐ tại tám xã được chọn lựa trong đợt đầu, cần tiến hành đánh giá và giải quyết các trường hợp tranh chấp tại các

xã còn lại trước khi tiến hành xây dựng kế hoạch QLRCĐ tại đó Do thời gian cần thiết để giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào bản chất của các cụ tranh chấp nên rất khó dự kiến thời gian cụ thể đối với những xã này

58 Do tính chất của công tác lập kế hoạch dài hạn, nên không phải tất cả các hoạt động trong bản

Kế hoạch Hoạt động năm đều có khung thời gian cụ thể Khung thời gian cụ thể phải được dự kiến mỗi một khi bắt đầu việc thực hiện và có các số liệu chính xác hơn

Trang 33

Thành lập các nhóm sử dụng rừng và Xây dựng/Điều chỉnh, bổ sung các Quy ước bảo vệ và phát triển rừng

Tiếp theo quá trình có được đơn thực hiện QLRCĐ và xác định các thôn tham gia vào quá trình QLRCĐ, bước đầu tiên là thành lập các nhóm sử dụng rừng trước khi tiến hành điều chỉnh, bổ sung hay xây dựng các quy ước bảo vệ và phát triển rừng Vì các lý do thực tế, nên tiến hành hay bước này trong một đơn vị tập huấn Hướng dẫn về lập kế hoạch QLRCĐ được nêu rõ tại Phụ lục 10 (xem các bước 3 và 4) Ở hầu hết các thôn, các quy ước bảo vệ và phát triển rừng đã được xây dựng hơn một năm vì thế cần có những điều chỉnh và bổ sung đối với những quy ước này phù hợp với những thay đổi mới đây về cơ sở luật định và tình hình thôn bản Do Hạt Kiểm lâm là cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng nên các cán bộ kiểm lâm liên quan phải được tập huấn về phương pháp xây dựng hay điều chỉnh, bổ sung Sau khi tiến hành cuộc họp xã lần đầu, thông báo về kế hoạch thời gian thực hiện cho tất cả các trưởng thôn và các cán bộ hành chính của xã, khóa tập huấn ToT sẽ được tiến hành tại thôn đầu tiên của xã Đồng Hóa Ngày cuối cùng trong khóa tập huấn này sẽ là cuộc họp chung của người dân để hỗ trợ họ xem những điểm quy định nào trong quy ước cần được sửa đổi, bổ sung và được đại diện của các hộ gia đình trong thôn thông qua Trên

cơ sở đó, các học viên sẽ hỗ trợ việc điều chỉnh, bổ sung quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cuộc họp thôn lần 2 và cán bộ dự án chỉ đóng vai trò hỗ trợ Tiếp tục, ba nhóm hiện trường (mỗi nhóm gồm có 2 cán bộ kiểm lâm, được hỗ trợ bởi đội ngũ kỹ thuật hiện trường) sẽ tiếp tục tiến hành xây dựng/điều chỉnh, bổ sung các quy ước tại các thôn còn lại Đồng thời, cán bộ dự án sẽ tiếp tục đợt tập huấn ToT tương tự tại xã Hóa Hợp Sau khi kết thúc quá trình tại cả hai xã, các cuộc họp xã đợt hai sẽ được tổ chức để tổng hợp các tài liệu về quy ước bảo vệ và phát triển rừng và đệ trình lên UBND huyện để phê duyệt Tổng thời gian đối với mỗi đợt tập huấn như thế sẽ mất 3 tuần Sau khi xây dựng/điều chỉnh, bổ sung xong các quy ước, cần tiến hành làm các bảng tin với nội dung chính của quy ước và đặt ở đường chính dẫn vào rừng của thôn

Lập Kế hoạch Quản lý rừng cộng đồng

Mỗi một khi các thôn tiến hành xong các bước cụ thể trong xây dựng/điều chỉnh, bổ sung quy ước bảo vẹ và phát triển rừng, bước tiếp theo là cần hỗ trợ họ trong quá trình lập kế hoạch quản lý và phát triển rừng Tương tự như tập huấn về thành lập nhóm sử dụng rừng và xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng, chỉ khác là có thêm đại diện của Chi cục Kiểm lâm, Chi cục PTLN và Phòng NN-ĐC cũng tham gia tập huấn ToT Điều này đóng vai trò rất quan trọng vì các phương pháp được giới thiệu trong tập huấn và hoàn toàn mới đối với công tác quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Quảng Bình Sau tập huấn ToT, khóa tập huấn cụ thể sẽ được tiến hành vào tuần thứ 2, gồm các cán bộ Hạt Kiểm lâm và Phòng NN-ĐC59, cũng như cán bộ lâm nghiệp, địa chính và cán bộ khuyến lâm của xã Tốt nhất là nên thành lập bốn nhóm hiện trường để thực hiện các công việc ngoại nghiệp Cán bộ dự án sẽ đồng thời triển khai quá trình tương tự tại xã Hóa Hợp và ngay khi các nhóm hiện trường tại Minh Hóa có khả năng hoạt động độc lập Cùng với công tác ngoại nghiệp, tất cả các nhóm cần được cán bộ dự án hỗ trợ để xây dựng các kế hoạch QLRCĐ theo phương pháp có sự tham gia Khi xây dựng xong các kế hoạch quản lý rừng cần có thời gian để chuẩn bị các tài liệu chính thức để tổng hợp trong cuộc họp xã có sự tham gia của chính quyền xã và tất cả các trưởng thôn Cuộc họp xã này sẽ thảo luận vai trò của xã trong quá trình QLRCĐ và xác định các nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể (xem

59 Mặc dù thực tế là Phòng NN-ĐC có rất ít cán bộ nhưng sự tham gia của họ vào khóa tập huấn ToT và tập huấn cụ thể sau ToT là hết sức quan trọng bởi Phòng NN-ĐC là đơn vị tham mưu cho UBND huyện trong toàn bộ quá trình phê duyệt các kế hoạch quản lý rừng

Trang 34

Phụ lục 12 - đề xuất cề các bước tiếp theo của lập kế hoạch QLRCĐ) Sau đó, những tài liệu liên quan sẽ được đề trình lên UBND huyện60 để phê duyệt Hướng dẫn thực tế đối với bước lập kế hoạch được nêu rõ tại Phụ lục 11 (các bước 5 - 8)

So với việc xây dựng/điều chỉnh, bổ sung các quy ước bảo vệ và phát triển rừng - chỉ tiến hành qua các cuộc họp thôn, đối với xây dựng kế hoạch QLRCĐ có sự tham gia thì rất khó để đưa ra con số chính xác về khoảng thời gian cần thiết Cụ thể, điều này phụ thuộc rất lớn vào tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao, hiện trạng tài nguyên rừng và khoảng cách từ khu vực rừng đó đến trung tâm thôn Vì thế, dự kiến thời gian trung bình cần thiết

là hai tuần đối với mỗi thôn – là cơ sở để dự đoán tổng thời gian cần thiết đối với cả 2 xã

Vì thế, tổng thời gian cần thiết để hoàn thành đơn vị tập huấn này là 10 tuần, khung thời gian dự kiến tại Phụ lục 9

Hỗ trợ thực hiện các Kế hoạch Quản lý rừng đã được phê duyệt

Sau khi các kế hoạch quản lý rừng được UBND huyện phê duyệt, thực hiện kế hoạch cụ thể là bước tiếp theo

Liên quan đến công tác quản lý rừng thực tế, nâng cao năng lực cho các bên tham gia tại địa phương là một yếu tố hết sức quan trộng nhằm đảm bảo các phương án hoạt động trong kế hoạch quản lý có thể được thực hiện phù hợp và hiệu quả Với khối lượng công việc gắn liền với thực hiện các phương án hoạt động, cần có sự tham gia của các cán bộ huyện và xã liên quan trong các khóa tập huấn, nhằm xây dựng đầy đủ năng lực cho địa phương qua thực hiện công việc

Liên quan đến cải thiện điều kiện của các lô rừng, cần có các phương án hoạt động bao gồm trồng dặm, xác định và đánh dấu các cây mục tiêu, tỉa thưa tùy điều kiện, tỉa xén và làm cỏ Còn liên quan đến nâng cao kỹ thuật trồng rừng, cần tiến hành các khóa tập huấn

về xây dựng và chăm sóc vườn ươm cũng như trồng và chăm sóc rừng trồng Cũng có thể giới thiệu một số loài cây bản địa trong trường hợp cần đa dạng các loài cây đối với trồng rừng và/hoặc trồng dặm ở những lô rừng đã bị xuống cấp Về khai thác gỗ61, các hoạt động tiếp nối cần thiết là đánh dấu cây (khai thác có lựa chọn), nâng cao kỹ thuật đốn cây (đốn cây ngã theo hướng) cũng như tiến hành đánh giá sau khai thác về thiệt hạn đối với những cây, loài cong lại trong lô

Hỗ trợ thực hiện các kế hoạch QLRCĐ là một quá trình tiếp nối của dự án và cán bộ dự

án cần triển khai các bước giám sát đối với tiến độ thực hiện kế hoạch của người dân và

hỗ trợ thêm các bộ xã và huyện

Đánh giá giữa kỳ

Sau khi hoàn tất bước giới thiệu lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng và có được những kinh nghiệm đầu tiên qua thực hiện các kế hoạch quản lý rừng tại các xã Đồng Hóa và Hóa Hợp, cần tiến hành một đợt đánh giá toàn diện Xem xét tổng thời gian cần thiết để

có được các kế hoạcg QLRCĐ được phê duyệt và hỗ trợ ban đầu cho việc thực hiện, đợt đánh giá này nên tiến hành 3 tháng sau khi kết thúc quá trình xây dựng kế hoạch (xem chi tiết tại Phụ lục 9) Với kết quả của quá trình đánh giá, tính phù hợp của các phương pháp và công cụ được giới thiệu cũng như những điều chỉnh cần thiết và các hoạt động tiếp nối cần có sẽ được xác định, bao gồm cả đánh giá mức độ chấp thuận các phương

60 Theo luật mới về bảo vệ và phát triển rừng, UBND huyện có quyền phê duyệt các kế hoạch quản lý rừng

61 Theo kết quả đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và phân tích số liệu như được lượng hóa trong kế hoạch quản lý

Trang 35

pháp nói chung Trong suốt quá trình đánh giá nên có sự tham gia của đại diện từ Chi cục Kiểm lâm, Chi cục PTLN cũng như Hạt Kiểm lâm và Phòng NN-ĐC và đại diện xã

Sau khi đánh giá, cần tiến hành chỉnh sửa các phương pháp và các tài liệu tập huấn nhằm cung cấp những hướng dẫn về QLRCĐ cho tỉnh để áp dụng sau này Tổng thời gian cần thiết đối với toàn bộ quá trình đánh giá là khoảng 4 tuần

Ngày đăng: 07/07/2018, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w