1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BÁO CÁO KHOA HỌC PHÁT TRIỂN PHÂN SINH HỌC ĐA CHỦNG TRÊN NHIỀU LOẠI CÂY TRỒNG CHÍNH (lúa cao sản, đậu nành, bắp lai) Ở TỈNH CẦN THƠ

70 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân sinh học đa chủng tập trung nghiên cứu trên cây lúa cao sản, đậu nành và bắp lai trồng trên nhiều địa bàn khác nhau trong tỉnh Cần Thơ trong 2 năm 2003 và 2004; kết quả ghi nhận hiệ

Trang 1

Viện Công nghệ sinh học Sở Khoa học và Công nghệ

******* ******

BÁO CÁO KHOA HỌC

PHÁT TRIỂN PHÂN SINH HỌC ĐA CHỦNG

TRÊN NHIỀU LOẠI CÂY TRỒNG CHÍNH

(lúa cao sản, đậu nành, bắp lai)

Ở TỈNH CẦN THƠ

CẦN THƠ - 2005

Trang 2

Viện Công nghệ sinh học Sở Khoa học và Công nghệ

******* ******

BÁO CÁO KHOA HỌC

PHÁT TRIỂN PHÂN SINH HỌC ĐA CHỦNG

TRÊN NHIỀU LOẠI CÂY TRỒNG CHÍNH

(lúa cao sản, đậu nành, bắp lai)

Ở TỈNH CẦN THƠ

CHỦ NHIỆM: PGs Ts CAO NGỌC ĐIỆP

CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC - ĐẠI HỌC CẦN THƠ

CƠ QUAN QUẢN LÝ: SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG CÁN BỘ THAM GIA ĐỀ TÀI

Chủ nhiệm đề tài: PGs Ts CAO NGỌC ĐIỆP

Viện NC & PT Công nghệ sinh học, Đại học Cần Thơ Tham gia đề tài:

1 Th.S HÀ ANH DŨNG

Giám Đốc Trung Tâm Khuyến Nông Thành phố Cần Thơ

2 Th.S NGUYỄN ĐỨC THANH BÌNH

Trung Tâm Khuyến Nông Thành phố Cần Thơ

3 Th.S NGÔ THANH PHONG

Khoa KHOA HỌC, Đại học Cần Thơ

4 KS PHAN VĂN BẰNG PHI

Trung Tâm Khuyến Nông Thành phố Cần Thơ

* Trạm Khuyến Nông huyện Châu Thành, Vị Thủy, Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang)

* Trạm Khuyến Nông Quận Ô Môn, huyện Cờ Đỏ (Thành phố Cần Thơ)

Trang 4

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI “PHÁT TRIỂN PHÂN SINH HỌC ĐA CHỦNG TRÊN NHIỀU LOẠI CÂY TRỒNG CHÍNH (lúa cao sản, đậu nành, bắp lai)

Ở TỈNH CẦN THƠ”

Áp lực tăng giá của dầu mỏ đã tác động đến giá cả phân hoá học và nông dược làm cho thu nhập của nông dân giảm và lạm dụng quá nhiều các hoá chất đã ảnh hưởng xấu đến môi trường Sử dụng các vi sinh vật có ích nhất là các vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng thực vật (PGPR=Plant Growth Promoting Rhizobacteria) đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới phát triển để giảm bớt phân bón hoá học nhưng năng suất và chất lượng nông sản ổn định Đề tài áp dụng các vi sinh vật có lợi như vi khuẩn

cố định đạm, hoà tan lân và tổng hợp nhiều phytohormone trong một dạng phân sinh học đa chủng để tiết kiệm một lượng lớn phân hoá học, nhất là phân đạm và lân hoá học, nhưng năng suất không giảm và nông dân có lời hơn

Phân sinh học đa chủng tập trung nghiên cứu trên cây lúa cao sản, đậu nành và bắp lai trồng trên nhiều địa bàn khác nhau trong tỉnh Cần Thơ trong 2 năm (2003 và 2004); kết quả ghi nhận hiệu quả của phân sinh học đa chủng trên cây BẮP NÙ và BẮP LAI tương đương với nghiệm thức chỉ bón phân hóa học, tưới thêm dịch lên men cho BẮP LAI đã cho hột bắp nhiều hơn; bón phân sinh học đa chủng trên đậu nành cho năng suất tương đương với năng suất đậu bón phân hoá học nhưng chất lượng hột (hàm lượng protein và lipid) cao hơn đậu bón phân hoá học đặc biệt hàm lượng các acid amin cần thiết đều cao hơn đậu bón phân hoá học nhất là tổng lượng methionin (loại acid amin thường thiếu hụt trong đậu nành) cao hơn hẳn Bón phân sinh học đa chủng kết hợp tưới thêm dịch lên men cho lúa cao sản giúp cây lúa phát triển tốt và cho năng suất bằng hay hơn nghiệm thức bón phân hoá học nhất là hệ số sử sụng đạm hoá học (ANUE) ở các

lô bón phân sinh học cao hơn hẳn và có ý nghĩa kinh tế thiết thực nhưng hàm lượng các acid amin thiết yếu trong gạo bón phân sinh học chưa cao gạo bón phân hoá học, tuy nhiên tổng lượng lysin và threonin (2 acid amin thường thiếu trong gạo) trong gạo bón phân sinh học cao hay không khác biệt với gạo chỉ bón phân hoá học

Bón phân sinh học giúp cho nông dân thu nhập nhiều hơn so với bón phân hoá học chưa kể đến sự tác động đến môi trường và độ phì của đất

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH SÁCH HÌNH

Hình 5 Tương quan số trái và năng suất đậu nành MTĐ-176 ở Thốt Nốt 16

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 18 Thành phần năng suất lúa cao sản ở huyện Châu Thành vụ 1 42

Trang 8

Bảng 25 Hàm lƣợng protein trong gạo 53

Trang 9

DANH SÁCH ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM

1 THÍ NGHIỆM BẮP

- BẮP NÙ : Nông dân TRẦN VĂN TRỌNG,

địa chỉ: ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

- BẮP LAI G49: Nông dân VÕ HOÀNG NAM,

địa chỉ: ấp 2, xã Vĩnh thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

2 THÍ NGHIỆM ĐẬU NÀNH (giống MTĐ-176)

- ĐỊA ĐIỂM 1: Nông dân TRẦN VĂN TRỌNG,

địa chỉ: ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

- ĐỊA ĐIỂM 2: Nông dân LÊ VĂN PHƯỚC,

địa chỉ: ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ

3 THÍ NGHIỆM LÚA CAO SẢN (giống MTL-250)

- ĐỊA ĐIỂM 1: Nông dân NGUYỄN THANH VÂN,

địa chỉ: ấp 12, xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

- ĐỊA ĐIỂM 2: Nông dân Hai Thanh (do anh PHÚC - Trạm Khuyến Nông giới thiệu),

địa chỉ: ấp Bình an, xã Long Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

- ĐỊA ĐIỂM 3: Nông dân TRẦN VĂN THÀNH,

địa chỉ: ấp Khánh Hội A, xã Phú An, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

- ĐỊA ĐIỂM 4: Nông dân (không biết tên – do anh KHÔI - Trạm Khuyến Nông Ô Môn giới thiệu),

địa chỉ: thị trấn Thới Lai, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ

Trang 10

Đề tài:

Phát triển phân sinh học đa chủng trên nhiều loại cây trồng chính

(lúa cao sản, đậu nành, bắp lai) ở tỉnh Cần Thơ

và hai lá mầm (Shimshick và Hebert, 1979; Terouchi và Syono, 1990), những dòng vi khuẩn này giúp cho lông hút và rễ của những cây trồng phát triển nhanh chóng (Molla

và ctv, 2001) Nhiều dòng vi sinh vật cố định đạm, hòa tan lân và cả PGPR có thể tổng

hợp ra nhiều kích thích tố tăng trưởng (phytohormone) gia tăng sư hấp thu nhiều dưỡng chất hơn (Chabot và ctv, 1993; Lippmann và ctv, 1995; Sergeeva và ctv, 2002), chính vì vậy mà các nhà khoa học phối hợp nhiều nhóm vi sinh vật để phát huy tác dụng của tất

cả các nhóm vi sinh vật có ích (Dashti và ctv, 1997, 1998; Parmar và Dadarwal, 1999)

và điều này đã được nhiều nhà khoa học nghỉ ra ý tưởng tổng hợp một dạng phân bón sinh học đa chủng đa chức năng cho cây trồng (Okon và Kapulnik, 1986) Loại phân bón này đã phát huy tác dụng trên cây bắp lai (Chabot và ctv, 1996), đậu nành (Molla

và ctv, 2001), đậu pea (Kumar và ctv, 2001), lúa mạch (Belomov và ctv, 1995), cải ăn lá

(Antoun và ctv, 1998), trên lúa gạo và lúa mì (Rasul và ctv, 1998)

Trang 11

Với hơn 2 triệu ha đất trồng lúa, đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả

nước và góp phần giử vững an ninh lương thực cả nước và xuất khẩu; bên cạnh cây lúa, đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều cây trồng khác như đậu nành, bắp lai….tạo nên tính đa dạng phong phú ở vùng này Tuy nhiên giá thành sản xuất còn cao trong đó có gía thành từ phân bón do phải nhập nội như urê, DAP , vì thế nhiều công ty hay xí nghiệp trong nước cũng tham gia vào thị trường phân bón với nhiều chủng lọai từ phân bón vô cơ đến hữu cơ như các lọai phân sinh học khác nhau như Komix, sông Gianh, phân hữu cơ vi sinh “Đầu trâu”, phân hữu cơ Baconco, phân EM…để cung cấp nhiều dưỡng chất hữu cơ cho cây trồng Nghiên cứu và sản xuất phân vi sinh vật chủng cho cây đậu nành trồng trên đất ruộng vào mùa khô đã Trường Đại học Cần thơ phát triển (Trần Phước Đường và ctv, 1984; Trần Phước Đường và Cao Ngọc Điệp, 1986) và dùng chất đồng vị 15N để tính được lượng nitơ cố định qua sự cộng sinh (Trần Phước Đường

và ctv, 2000) cũng như đánh giá sự cộng sinh tự nhiên của đậu nành và đậu phọng với

vi khuẩn sẳn có trong đất (Nguyễn hữu Hiệp và ctv, 2002) cũng như đánh giá lượng nitơ cố định ở cây đậu nành rau (Cao Ngọc Điệp và ctv, 2002).Tuy vậy, phân vi sinh vật

chủng cho cây họ đậu (rhizobial inoculant) chỉ bón cho cây đậu và cũng chỉ giải quyết

được lượng nitơ cần thiết; bên cạnh lượng lân (phospho) cũng rất cần thiết cho những

cây trồng và nhiều nghiên cứu đã xác định được loài vi sinh vật có khả năng hòa tan lân

khó tan để sử dụng làm phân sinh học (Đặng thị Hùynh Mai và Cao Ngọc Điệp, 2002; Nguyễn văn Được và Cao Ngọc Điệp, 2002a) và phân lân sinh học thể hiện hiệu quả trên cây lúa cao sản (Nguyễn văn Được và Cao Ngọc Điệp, 2002b), trên cây bắp lai C919 (Nguyễn Hữu Hiệp và Cao Ngọc Điệp, 2002), phân lân sinh học phối hợp tốt với phân vi sinh vật chủng cho cây đậu nành MTĐ-176 (Nguyễn Hữu Hiệp và Cao Ngọc Điệp, 2004) Vì vậy, sự cần thiết phối hợp nhiều chủng vi sinh vật có nhiều chức năng khác nhau trong một lọai phân sinh học sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu của cây trồng

2 Mục tiêu đề tài

 Phát triển phân sinh học với nhiều chủng loại vi sinh vật khác nhau phù hợp cho từng loại cây trồng khác nhau có năng suất tương đương với nghiệm thức bón phân đạm và lân hoá học, gia tăng hàm lượng protein trong hột (trong gạo > 8,5%; đậu nành > 37,5%), hàm lượng lipid trong đậu nành (> 18%)

Trang 12

 Giới thiệu một ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp với gía thành thấp, thông qua Trung tâm Khuyến nông sản phẩm sẽ được giới thiệu

và hướng dẩn cách sử dụng cho nông dân

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Qui trình nuôi cấy vi sinh vật để sản xuất phân sinh học

* Vi sinh vật cố định đạm:

- Vi khuẩn nốt rễ (Bradyrhizobium japonicum/Sinorhizobium fredii) dòng VNR71,

USDA 110 và dòng VN082 Vi khuẩn được nuôi trong môi trường Yeast Extract mannitol trong các bình tam giác 1 L, đặt trên máy lắc ngang từ 2 - 4 ngày (tuỳ theo dòng lên nhanh hay lên chậm) để mật số đạt từ 108 - 109 tế bào/ml, sau đó trộn với than bùn hay mùn mía tiệt trùng ở ẩm độ 50%, trữ trong mát cho đến khi sử dụng trong các thí nghiệm; Phân được trộn với tro trấu lấp lổ hột đậu nành hay bắp

- Vi khuẩn Pseudomonas spp (vi sinh vật hòa tan lân khó tan) dòng P18 và P24

được nuôi trong môi trường sucroz - apatit (Whitelaw và ctv, 1999) trong các chai nuớc suối 0,5 L - 1,25 L trong điều kiện tỉnh (không lắc) trong 14 ngày, vi khuẩn đạt mật số

>108/ml, 5,2 - 6,5 mg P2O5/ml, 2,6 - 4,2 g/ml (P18) và 6,6 -7,2 mg P2O5/ml, 5,4 - 10,8

g/ml IAA (P24) tiến hành trộn với than bùn hay mùn mía tiệt trùng (phân sinh học) hay để dùng tưới trực tiếp cho cây trồng Sản phẩm sau khi lên men xong, phối trộn với chất mang hay dùng như dịch lên men sẽ được trữ trong mát và tối cho đến sử dụng cho thí nghiệm phân được trộn với tro trấu lấp lổ hột đậu nành hay bắp hoặc rải đều trên mặt ruộng trước hay sau khi sạ hay cấy lúa

Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, đề tài sẽ tổ chức 8 thí nghiệm trên 3 lọai cây trồng chính là lúa cao sản, đậu nành, bắp lai tại các huyện trồng nhiều lọai hoa màu này như huyện Ô Môn, huyện Thốt nốt, huyện Châu thành, huyện Cờ Đỏ, huyện Long Mỹ

Cụ thể cách bố trí thí nghiệm như sau:

Trang 13

2 Bón theo công thức của nông dân (100 kg N, 60 kg P2O5)

3 Chủng phân Vidana (10 kg/ha), bón 20 kg N, 60 kg P2O5

4 Không bón phân Vidana, bón phân Lân sinh học (100 kg/ha) bón 20 kg N,

5 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên)(100 kg/ha) với chất độn là than bùn + 20 kg N

6 Nghiệm thức 5 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

7 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên)(100 kg/ha) với chất độn là mùn mía + 20 kg N

8 Nghiệm thức 7 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

Nghiệm thức 5, 6, 7 và 8 được tổ hợp 25% phân đạm sinh học và 75% phân sinh học

Phân N (100 kg N) được bón 2 lần (10 và 30 ngày sau khi gieo=NSKG) hay 20 kg

N lúc 10 NSKG, các phân khóang khác bón sau khi gieo và phân sinh học trộn chung với tro trấu để lấp lổ bỏ hột đậu, dịch lên men tưới lúc 10 và 30 NSKG Phương pháp canh tác phổ biến theo khuyến cáo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cần thơ Mẫu được thu lúc đậu ra hoa (nốt rễ/cây) và thu họach để đo các chỉ tiêu thành phân năng suất và năng suất thực tế Hột được sấy ở 70oC trong 24 giờ để đo hàm lượng protein

(phương pháp micro-Kjeldah) và hàm lượng lipid (phương pháp shock-let) Mẫu đất được thu trước khi thí nghiệm để đo pH, N tổng số, P tổng số, P dể tiêu, K trao đổi, chất

hữu cơ

* Bắp lai (giống G-49)

Thí nghiệm gồm các nghiệm thức sau: (phân K [30 K2O] bón đều cho toàn bộ thí nghiệm)

1 Đối chứng (không bón phân sinh học, không bón phân N, phân lân)

2 Bón theo công thức của nông dân (120 kg N, 60 kg P2O5)

3 Chủng phân cố định đạm, bón 60 kg N, 60 kg P2O5

4 Không bón phân cố định đạm, bón phân Lân sinh học bón 120 kg N

5 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên với nồng độ 50% - 50%) với chất độn là than bùn (100 kg/ha) + 60 kg N

Trang 14

6 Nghiệm thức 5 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

7 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên với nồng độ 50% - 50%) với chất độn là mùn mía (100 kg/ha) + 60 kg N

8 Nghiệm thức 7 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

* Thí nghiệm với giống bắp NÙ thì luợng phân đạm hoá học giảm xuống 50% (30 hay 60 kg N/ha tùy nghiệm thức)

Phân N (120 kg N) được bón 3 lần (10, 20 và 30 NSKG) hay 60 kg N bón 2 lần lúc 10 và 30 NSKG, các phân khóang khác bón sau khi gieo và phân sinh học trộn chung với tro trấu để lấp lổ bỏ hột bắp Phương pháp canh tác phổ biến theo khuyến cáo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cần thơ Mẫu được thu lúc bắp trổ cờ (chiều cao cây và sinh khối) và thu họach để đo các chỉ tiêu thành phân năng suất và năng suất Mẫu đất được thu và đo các chỉ tiêu như thí nghiệm đậu nành

* Lúa cao sản (giống MTL-250)

Thí nghiệm gồm các nghiệm thức sau: (phân K [30 K2O] bón đều cho toàn bộ thí nghiệm)

1 Đối chứng (không bón phân sinh học, không bón phân N, phân lân)

2 Bón theo công thức của nông dân (100 kg N, 60 kg P2O5)

3 Chủng phân cố định đạm, bón 20 kg N, 60 kg P2O5

4 Không bón phân cố định đạm, bón phân Lân sinh học (100 kg/ha), 100 kg N

5 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên với tỉ lệ 50% - 50%) với chất độn là than bùn (100 kg/ha) + 20 kg N

6 Nghiệm thức 5 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

7 Bón phân sinh học đa năng (hổn hợp 2 lọai phân trên với tỉ lệ 50% - 50%) với chất độn là mùn mía (100 kg/ha) + 20 kg N

8 Nghiệm thức 7 + tưới dịch lên men vi sinh vật tổng hợp kích thích tố sinh trưởng thực vật (phytohormone) 500 lít/ha

Phân N (100 kg N) được bón 2 lần (1 và 35 NSKG) hay 20 kg N lúc 35 NSKG, các phân khóang khác bón sau khi cấy hay sạ và phân sinh học được rãi trước khi cấy hay

Trang 15

sạ Phương pháp canh tác phổ biến theo khuyến cáo của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cần thơ Mẫu được thu lúc thu họach để đo các chỉ tiêu thành phân năng suất (chiều cao cây, số chồi/m2, số hột chắc/gié, trọng lượng 1000 hột chắc, tỉ lệ hạt lép) và năng suất thực tế (4 m2

bên trong giữa lô thí nghiệm) và mẫu gạo được phân tích hàm lượng protein và acit amin (đo trên máy phân tích acit amin tự động) Mẫu đất được thu và đo các chỉ tiêu như thí nghiệm đậu nành

Hiệu quả sử dụng N nông học (ANUE = Agronomic N-use efficiency) theo công thức sau :

ANUE (g N/g gạo) = NS lô bón phân N - NS lô không bón phân N/lượng N bón ở mỗi lô

* NS = Năng suất

4 Kết quả và thảo luận

* THÍ NGHIỆM BẮP

Trong bảng 1 cho thấy hàm lượng dưỡng chất ở đất thí nghiệm ở ấp Thới Ngươn A,

phường Phước Thới, quận Ô Môn (thành phố Cần Thơ) tương đối tốt hơn hơn đất thí nghiệm ở ấp 2, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang)

Bảng 1 Thành phân lý hoá tính đất thí nghiệm bắp lai ở ấp Thới Ngươn A, phường

Phước Thới, quận Ô Môn (thành phố Cần Thơ) và xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy (tỉnh Hậu Giang)

Trang 16

Trong bảng 2 cho thấy hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên số trái/ m2, chiều dài trái và trọng lượng 100 hột bắp và trong hình 1 cho thấy chiều dài trái bắp NÙ chịu ảnh hưởng rỏ rệt với phân bón trong đó bón phân đạm hoá học và lân hoá học cho chiều dài trái bắp rỏ rệt, điều này cho thấy bắp địa phương cũng đòi hỏi lượng phân bón cao

để cho thành phần năng suất cao

Bảng 2 Hiệu quả của phân sinh học trên thành phần năng suất bắp NÙ trồng trên đất

phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn vụ Xuân Hè 2004

Nghiệm

thức

chiều cao cây (cm)

số trái /m 2

chiều dài trái (cm)

đường kính trái (cm)

Tr lượng

100 hột (g)

Trang 17

Hình 1 Hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên chiều dài trái bắp NÙ

Trang 18

Từ hình 2 cho thấy bón phân sinh học hay phân hóa học làm tăng năng suất hột bắp NÙ

và không khác biệt ý nghĩa giữa các nghiệm thức có bón phân hoá học hay sinh học,

như vậy nếu bón phân sinh học sẽ làm giảm lượng phân hoá học cần bón

Chú thích: NT 2: 60 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 30N + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 30 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 30 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 30 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 30 N

(Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%)

Hình 2 Hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên năng suất (kg/ha) bắp NÙ trồng

trên đất phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ vụ Xuân hè 2004

Trong bảng 3 cho thấy bón phân sinh học hay phân hoá học ảnh hưởng rỏ rệt lên bắp lai (giống G49) trồng trên đất phù sa Vị Thủy trong vụ Hè Thu, tuy nhiên bón phân sinh học hổn hợp và tưới thêm dịch lên men cho năng suất hột bắp lai cao nhất (nghiệm thức 6)(hình 3) Bắp lai nói chung và giống bắp G49 là giống bắp cần nhiều phân bón để cho năng suất tối đa đặc biệt là phân đạm hoá học, bón ở mức độ 120 kg N/ha cho năng suất hột dao động từ 6 tấn đến 6,5 tấn (nghiệm thức 2 và nghiệm thức 4), bón phân sinh học

đã giảm bớt 50% lượng phân đạm hoá học và tưới bổ sung dịch lên men đã gia tăng

Trang 19

năng suất thêm 2,5 tấn (nghiệm thức 6), điều này cho thấy vi khuẩn tổng hợp IAA giúp

rễ bắp hấp thu nhiều dưỡng chất hơn, kết quả này phù hợp với kết quả thí nghiệm bắp lai V98-1 ở Đức Hoà (Cao Ngọc Điệp, 2003) và trên bắp lai DK888 ở Tân Hiệp (Nguyễn văn Được và Cao Ngọc Điệp, 2004)

Bảng 3 Hiệu quả của phân sinh học trên thành phần năng suất bắp lai G49 trồng trên

đất phù sa ấp 2, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2004

Nghiệm

thức

chiều cao cây (cm)

số trái /m 2

chiều dài trái (cm)

đường kính trái (cm)

Trọng lượng

100 hột (g)

Trọng lượng hột/trái (g)

120 N + 60 P2O5 200,0 b 8,55 a 14,70 c 4,100 ab 18,13 a 71,94 b Phân đạm sinh

Trang 20

Chú thích: NT 2: 120 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 120 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 60 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 60 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 60 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 60 N

(những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%)

Hình 3 Hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên năng suất (kg/ha) bắp lai G49

trồng trên đất phù sa ấp 2, xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vụ Hè Thu 2004

Hiệu quả kinh tế:

Để tính lợi ích kinh tế khi sử dụng phân sinh học so sánh với việc sử dụng phân hoá học, chúng tôi dựa trên kết quả thí nghiệm BẮP LAI G49 ở ấp 2, xã Vĩnh Thuận tây, huyện Vị Thuỷ để tính toán như sau:

Ngoài những khoản chi phí chung trong qui trình canh tác bắp như gieo hột, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, làm cỏ , khi bón phân hoá học hay phân sinh học sẽ phải tốn thêm chi phí mua phân và bón phân sau:

+ Nghiệm thức 2 (bón 120 kg N và 60 kg P2O5/ha)

- 120 kg N/ha tương đương 260,87 kg urê x 4500 đ/kg = 1.173.915 đồng

- 60 kg P2O5/ha tương ứng với 400 kg supe lân x 1200 đ/kg = 480.000 đồng

Trang 21

- công lao động để rải số phân trên là 30.000 đồng/ha

- công rải phân sinh học kết hợp khi gieo hột bắp là 30.000 đồng

- công tưới dịch lên men tương ứng 5 công lao động x 30.000 đ/công = 150.000 đồng

Tổng chi phí là 1.391.980 đồng

Số lượng hột bắp thu thêm so với lô đối chứng (không bón phân):

+ Nghiệm thức 2: 6146 - 3385 = 2761 kg x 3000 đ/kg bắp hột = 8.283.000 đồng + Nghiệm thức 6: 8470 - 3385 = 5085 kg x 3000 đ/kg bắp hột = 15.255.000 đồng

Số tiền thu được từ nghiệm thức 2: 8.283.000 đ - 1.683.915 đ = 6.599.085 đồng

Số tiền thu được từ nghiệm thức 6: 15.255.000 đ - 1.391.980 đ = 13.863.020 đồng Như vậy lợi nhuận thu từ nghiệm thức bón phân sinh học so với bón phân hoá học là:

13.863.020 đồng - 6.599.085 đồng = 7.263.935 đồng/ha

Sau đây là cách hướng dẩn sử dụng phân sinh học cho bắp lai, bắp ăn (bắp nấu)

 Trộn đều với hột trước khi gieo hoặc

 Trộn với tro trấu, phân hữu cơ rãi theo hàng hay lấp lổ bắp

Bảo quản

 Giử phân sinh học nơi thoáng mát, không để gần thuốc bảo vệ thực vật, phân hoá học

 Không để ngoài nắng hay nơi ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào phân sinh học

Trang 22

2 THÍ NGHIỆM ĐẬU NÀNH

* Huyện Thốt Nốt

Đặc điểm lý hoá tính đất thí nghiệm ở xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt như sau trong bảng 4 cho thấy đất thí nghiệm ở ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn tốt hơn đất thí nghiệm ở ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt

Bảng 4 Thành phần lý hoá tính ở ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn

và ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt

và tưới thêm dịch lên men) cải thiện đặc tính nông học của cây đậu nành với cây nhiều trái và hột to

Trang 23

Bảng 5 Hiệu quả phân sinh học trên thành phần năng suất đậu nành (giống MTĐ-176)

trồng trên đất phù sa ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt vụ Xuân Hè 2004

Nghiệm

thức

Chiều cao cây (cm)

TL 100 hột (g)

100 N - 60 P2O5 45,02 b 3,625 bc 8,937 ab 23,62 b 12,12 e Phân đạm sinh học +

Trang 24

Từ hình 4 cho thấy bón phân lân sinh học bổ sung thêm phân đạm hoá học (nghiệm thức 4) và nghiệm thức 8 (bón phân sinh học hổn hợp [mùn mía] và tưới thêm dịch lên men) cho năng suất cao nhất trong khi đó bón phân hoá học (urê và supe lân) cho năng suất hột tương đương với các nghiệm thức còn lại và không bón (nghiệm thức đối chứng) có năng suất thấp nhất

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 20 N

(những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%)

Hình 4 Hiệu quả phân sinh học và hoá học trên năng suất đậu nành (giống MTĐ-176)

(kg/ha) trồng trên đất phù sa ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt vụ Xuân

Trang 25

Hình 5 Tương quan giữa số trái chắc/cây và năng suất đậu hột ở mức độ 5%

Bón phân sinh học hổn hợp bổ sung tưới dịch lên men cho đậu nành đã cải thiện chất lượng hột đậu nành thông qua hàm lượng protein và hàm lượng lipid trong hột (hình 6), với sự gia tăng năng suất đậu hột, phân sinh học bổ sung dịch lên men gia tăng tổng lượng protein và lipid trong một đơn vị diện tích (kg/ha)(hình 7)

Trang 26

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2 O 5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2 O 5, NT 4: Phân lân sinh học + 60

N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8: Phân sinh học hổn hợp (mùn mía)

+ dịch lên men + 20 N

Hình 6 Hiệu quả của phân sinh học và hoá học trên hàm lượng protein (thanh cao) và

lipid (thanh thấp)(%) trong hột đậu nành trồng trên đất phù sa ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ vụ Xuân hè 2004

Hình 7 Hiệu quả của phân sinh học và hoá học trên tổng lượng protein (thanh cao, màu

xậm) và lipid (thanh thấp, màu lợt)(kg/ha) trong hột đậu nành trồng trên đất phù sa ấp Tân Thạnh, xã Thuận Hưng, huyện Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ vụ Xuân hè 2004

Trang 27

* quận Ô Môn

Từ bảng 4 cho thấy đất thí nghiệm ở Ô Môn tương đối tốt hơn đất ở Thốt Nốt thông qua lượng N tổng số, P dể tiêu và chất hữu cơ, điều này cho thấy đậu nành trồng trên đất Ô Môn phát triển tốt hơn (bảng 5) Tuy nhiên bón phân sinh học cũng ảnh hưởng rỏ

rệt trên cây đậu nành thể hiện qua đặc tính nông học, thành phần năng suất (bảng 6)

Bảng 6 Hiệu quả phân sinh học trên thành phần năng suất đậu nành (giống MTĐ-176)

trồng trên đất phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn vụ Xuân Hè

2004

Nghiệm

thức

Chiều cao cây (cm)

TL 100 hột (g)

100 N - 60 P2O5 57,10 a 3,812 a 10,10 a 35,10 ab 12,86 bc Phân đạm sinh học +

Trang 28

và năng suất đậu hột (hình 8) và năng suất đậu hột bón phân sinh học (đặc biệt là nghiệm thức 8) có năng suất gấp đôi so với đối chứng và tương đối với nghiệm thức bón phân hóa học

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 20 N

(những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%)

Hình 8 Hiệu quả phân sinh học và hoá học trên năng suất đậu nành (kg/ha)(giống

MTĐ-176) trồng trên đất phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn

vụ Xuân Hè 2004

Bón phân sinh học tác động đến số trái chắc/cây làm tăng năng suất đậu hột (hình 9),

làm tăng lượng protein và lipid trong hột (hình 10) và dỉ nhiên làm tăng tổng lượng protein và lipid trong một đơn vị diện tích (hình 11)

Trang 29

Hình 9 Tương quan giữa số trái chắc/cây và năng suất hột ở mức độ 5%

N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8: Phân sinh học hổn hợp (mùn mía)

+ dịch lên men + 20 N

Hình 10 Hiệu quả của phân sinh học và hoá học trên hàm lượng protein (thanh cao) và

lipid (thanh thấp)(%) trong hột đậu nành trồng trên đất phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ vụ Xuân hè 2004

y = 1.6601x - 2.1285

R2 = 0.8675

15 20 25 30 35 40

Trang 30

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 20 N

Hình 11 Hiệu quả của phân sinh học và hoá học trên tổng lượng protein (thanh cao,

màu xậm) và lipid (thanh ngắn, màu dợt)(kg/ha) trong hột đậu nành trồng trên đất phù

sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ vụ Xuân

hè 2004

Trong bảng 7 cho thấy thành phần acid amin bao gồm 17 loại acid amin, trong đó các loại acid amin cần thiết như threonin, valin, methionin, isoleucin, leucin, phenylalanin, methionin, histidin, lysin, arginin đều đạt mức cao nhưng bón nhiều phân đạm và lân hoá học làm cho hàm lượng một số acid amin cần giảm thấp như valin, methionin, histidin và arginin so với các nghiệm thức không bón phân hay chỉ bón phân sinh học,

mặc dù không có sự khác biệt về hàm lượng acid amin giữa các nghiệm thức

Trang 31

Bảng 7 Hiệu quả của phân sinh học và hoá học trên hàm lượng acid amin (mg/g) trong

hột đậu nành (giống MTĐ-176) trồng trên đất phù sa ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn, Thành phố Cần Thơ vụ Xuân Hè 2004

Glutamic

44,744 46,432 47,739 49,190 47,862 46,339 46,107 48,014

Prolin 24,984 25,322 24,923 26,373 25,820 23,611 19,761 25,897 Glycin 16,681 16,276 16,907 16,683 16,194 16,544 17,249 16,378 Alanin 19,798 19,097 20,360 19,919 19,948 20,848 20,971 19,528 Cystein 10,020 9,330 9,324 10,098 9,423 9,309 10,552 10,079 Valin 19,281 18,009 19,225 19,046 19,006 19,971 20,384 19,345 Methionin 6,527 5,939 6,642 6,032 5,969 8,458 8,380 8,014

Isoleucin 19,412 18,870 19,576 19,005 18,908 20,179 20,851 18,883 Leucin 25,826 25,119 25,769 25,278 25,541 26,227 27,068 25,160 Tyrosin 20,104 18,651 19,164 19,191 19,324 20,678 20,853 19,464 Phenylalanin 26,717 25,315 25,929 25,439 25,253 26,021 27,775 25,643 Histidin 17,815 16,585 22,315 17,797 18,056 17,919 18,145 17,738 Lysin 27,065 25,751 29,831 27,328 26,835 28,218 27,925 27,541 Arginin 31,165 29,816 30,948 29,725 31,187 31,451 31,471 30,609

Tổng cộng 377,847 367,985 388,882 379,945 377,916 384,651 385,532 382,472

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 20 N

Trang 32

Theo Wikipedia thì trong hột đậu các loại lượng acid amin cần thiết thường thiếu hụt là methionin tuy nhiên bón phân sinh học cải thiện tổng lượng methionin/ha so với nghiệm thức bón phân hoá học và đối chứng (hình 12), đặc biệt là bón phân sinh học hổn hợp với chất mang là mùn mía và bổ sung dịch lên men (nghiệm thức 8) có tổng lượng methionin cao nhất

Chú thích: NT 2: 100 N + 60 P2O5, NT 3: Phân đạm sinh học + 60 P2O5, NT 4: Phân lân sinh học + 60 N, NT 5: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + 20 N, NT 6: Phân sinh học hổn hợp (than bùn) + dịch lên men + 20 N, NT 7: Phân sinh học hổn hợp (mùn miá) + 20 N, NT 8:

Phân sinh học hổn hợp (mùn mía) + dịch lên men + 20 N

(những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%)

Hình 12 Hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên tổng lượng methionin/ha

Chủng vi khuẩn nốt rễ cho hột đậu nành trước khi gieo để tạo sự cộng sinh hữu hiệu giữa vi khuẩn và cây đậu thông qua đó nitơ được cố định và cung cấp cho cả vi khuẩn lẩn cây đậu, tuy nhiên hổ trợ hay cải thiện quá trình cộng sinh này còn có những vi

khuẩn vùng rễ đâc biệt là vi khuẩn Pseudomonas spp., sự phối hợp giữa hai nhóm vi

Trang 33

khuẩn này đã mang lại hiệu quả cao trên đậu nành đã được chứng minh thông qua các thí nghiệm ngoài đồng (Nguyễn Hữu Hiệp và Cao Ngọc Điệp, 2004; Cao Ngọc Điệp, 2005b)

Hiệu quả kinh tế:

Để tính lợi ích kinh tế khi sử dụng phân sinh học so sánh với việc sử dụng phân hoá học, chúng tôi dựa trên kết quả thí nghiệm đậu nành ở ấp Thới Ngươn A, phường Phước Thới, quận Ô Môn để tính toán như sau:

Ngoài những khoản chi phí chung trong qui trình canh tác đậu như gieo hột, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, làm cỏ , khi bón phân hoá học hay phân sinh học sẽ phải tốn thêm chi phí mua phân và bón phân sau:

+ Nghiệm thức 2 (bón 100 kg N và 60 kg P2O5/ha)

- 100 kg N/ha tương đương 217,40 kg urê x 4500 đ/kg = 978.300 đồng

- 60 kg P2O5/ha tương ứng với 400 kg supe lân x 1200 đ/kg = 480.000 đồng

- công lao động để rải số phân trên là 30.000 đồng/ha

- công rải phân sinh học kết hợp với tro trấu khi gieo hột đậu nên không tính công

- công tưới dịch lên men tương ứng 5 công lao động x 30.000 đ/công = 150.000 đồng

Tổng chi phí là 895.660 đồng

Số lượng hột đậu thu thêm so với lô đối chứng (không bón phân):

+ Nghiệm thức 2: 2213 - 1246 = 967 kg x 6000 đ/kg đậu hột = 5.802.000 đồng + Nghiệm thức 8: 2290 - 1246 = 1044 kg x 6000 đ/kg đậu hột = 6.264.000 đồng

Số tiền thu được từ nghiệm thức 2: 5.802.000 đ - 1.488.300 đ = 4.313.700 đồng

Số tiền thu được từ nghiệm thức 8: 6.264.000 đ - 895.660 đ = 5.868.340 đồng

Trang 34

Như vậy lợi nhuận thu từ nghiệm thức bón phân sinh học so với bón phân hoá học là:

5.868.340 đồng - 4.313.700 đồng = 1.554.640 đồng/ha

Ngoài ra, chất lượng hột đậu với hàm lượng protein và thành phần acid amin cân đối dồi dào hơn nghiệm thức bón phân đạm và lân hoá học chưa được tính kỷ trong phân hiệu quả kinh tế nhất là đất là tăng cường lượng dưỡng chất sau vụ đậu nành với phân

sinh học

Sau đây là cách hướng dẩn sử dụng phân sinh học cho đậu nành

 Trộn với tro trấu, phân hữu cơ rãi theo hàng hay lấp lổ đậu

Bảo quản

 Giử phân sinh học nơi thoáng mát, không để gần thuốc bảo vệ thực vật, phân hoá học Không để ngoài nắng hay nơi ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào phân sinh học

Trang 35

+ THÍ NGHIỆM LÚA CAO SẢN

* Huyện Vị Thủy

Trong bảng 8 cho thấy pH của đất thí nghiệm ở ấp 12, xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy

và độ phì của đất tương đối thấp thể hiện qua hàm lượng N tổng số, P dể tiêu và chất hữu cơ thấp hơn mức tiêu chuẩn

Bảng 8 Thành phần lý hoá tính ở ấp 12, xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy và ấp Bình An,

xã Long Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

60 kg P2O5)

Ngày đăng: 07/07/2018, 00:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w