1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dự án Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngành ong Việt Nam

54 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 11,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây nghề nuôi ong có xu hướng tăng trưởng rõ rệt: số lượng đàn, sản lượng mật và lượng mật xuất khẩu tăng khá nhanh nhờ chính sách về đầu tư vốn của nhà nước, đầu tư

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CỤC CHĂN NUÔI

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN

DỰ ÁN ĐIỀU TRA CƠ BẢN

Tên dự án:

“Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngành ong Việt Nam”

Cán bộ chủ trì: Nguyễn Ngọc Vững

CƠ QUAN CHỦ TRÌ: CỤC CHĂN NUÔI

CƠ QUAN THỰC HIỆN: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN ONG

Hà nội, 2010

Trang 2

i

Mục lục

Mục lục i

Danh mục các bảng iii

Danh mục các biểu đồ iv

I MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 3

1.2.1 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.2 Mục tiêu lâu dài 3

1.3 Nội dung và phương pháp 4

1.3.1 Nội dung 4

1.3.2 Phương pháp 4

1.3.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: 4

1.3.2.2 Phương pháp thống kê: 5

1.3.2.3 Tập huấn phương pháp điều tra và thu thập số liệu 5

1.3.2.4 Tiến hành điều tra: 6

1.3.2.5 Xử lý số liệu: 6

1.3.3 Đối tượng 6

1.3.4 Phạm vi 6

1.3.5 Thời gian và địa điểm 6

II KẾT QUẢ 7

2.1 Tình hình chung 7

2.2 Cây nguồn mật, phấn 7

2.3 Số lượng đàn ong và số người nuôi ong 17

2.3.1 Số lượng đàn ong 17

2.3.2 Số người nuôi ong 19

2.4 Tổ chức, phương thức và kỹ thuật nuôi ong 20

2.4.1 Các phương thức nuôi ong 20

2.4.2 Quy mô chăn nuôi ong 20

2.4.3 Trình độ kỹ thuật đang được áp dụng 21

2.5 Dịch hại ong mật 22

2.5.1 Ngoại ký sinh hại ong mật 23

2.5.2 Ngộ độc hóa học 24

Trang 3

ii

2.5.3 Bệnh gây hại với ấu trùng 25

2.5.4 Bệnh gây hại với ong trưởng thành 27

2.6 Chất lượng giống ong và cơ cấu giống trong sản xuất 28

2.6.1 Chất lượng giống 28

2.6.2 Cơ cấu giống trong sản xuất 30

2.7 Tình hình sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm ong 31

2.7.1 Khai thác sản phẩm 31

2.7.2 Năng suất mật ong 34

2.7.3 Tiêu thụ sản phẩm ong 35

2.7.4 Giá trị sản xuất các sản phẩm ong 37

2.7.5 Sơ chế, đóng gói, bảo quản và hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm 39

2.8 Kinh tế, xã hội trong ngành ong 40

2.8.1 Trình độ kỹ thuật của người nuôi ong 40

2.8.2 Hiệu quả kinh tế 41

2.9 Các quy định, chính sách liên quan đến ngành ong 42

2.10 Hướng phát triển nuôi ong của người nuôi ong 43

III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

3.1 Kết luận 44

3.2 Đề nghị 46

IV PHỤ LỤC 47

4.1 Tập huấn phương pháp điều tra 47

4.2 Các hình ảnh điều tra tại tại trại ong, cơ sở sản xuất, phỏng vấn người nuôi ong 47

4.3 Một số loại cây nguồn mật, phấn chính 49

Trang 4

iii

Danh mục các bảng

Bảng 1 Cây nguồn mật, phấn chính của Hưng Yên 9

Bảng 2 Cây nguồn mật, phấn chính của tỉnh Sơn La 11

Bảng 3 Cây nguồn mật, phấn chính của tỉnh Đắc Lắc 12

Bảng 4 Cây nguồn mật chính của tỉnh Tiền Giang 14

Bảng 5 Cây nguồn mật chính của tỉnh Đồng Nai 15

Bảng 6 Số lượng đàn ong mật của các tỉnh điều tra và cả nước trong giai đoạn 2001-2007 17

Bảng 7 Số lượng đàn ong mật của các tỉnh điều tra từ 2008-2010 18

Bảng 8 Số đàn ong (quy mô) trung bình của 1 trại ong 20

Bảng 9 Năng lực quản lý trại ong và trình độ nuôi ong 22

Bảng 10 Tình hình nhiễm ký sinh Tropilaelaps mercerdesae (Chí nhỏ) 23

Bảng 11 Tình hình nhiễm ký sinh Varroa destructor (Chí lớn) 23

Bảng 12.Các biện pháp điều trị ký sinh (chí nhỏ và chí lớn) 24

Bảng 13 Tình hình ong chết do ngộ độc thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật 25

Bảng 14 Tình hình nhiễm bệnh Ấu trùng tuổi lớn 25

Bảng 15 Tình hình nhiễm bệnh Ấu trùng tuổi nhỏ 26

Bảng 16.Các biện pháp điều trị bệnh ấu trùng tuổi nhỏ 26

Bảng 17 Tình hình đàn ong bị chết ong trưởng thành không rõ nguyên nhân 27

Bảng 18 Tình hình nhiễm bệnh Nosema spp 27

Bảng 19 Tình hình đàn ong bị các loại côn trùng khác phá hại (chủ yếu là các loài ong đất, ong bò vẽ) 28

Bảng 20 Chất lượng giống ong 28

Bảng 21 Sản lượng mật ong của cả nước và các tỉnh điều tra trong giai đoạn 2001-2007 31

Bảng 22 Sản lượng mật ong của các tỉnh điều tra trong giai đoạn 2008-2010 32

Bảng 23 Sản lượng mật ong bình quân của trại ong 33

Bảng 24 Sản lượng phấn hoa và sáp ong trung bình của trại ong 34

Bảng 25 Năng suất mật trung bình 34

Bảng 26 Xuất khẩu mật ong của cả nước giai đoạn 2001-2007 35

Bảng 27 Xuất khẩu mật ong của các tỉnh điều tra từ năm 2008-2010 36

Bảng 28 Tình hình tiêu thụ mật ong nội địa 37

Bảng 29 Giá trị mật ong sản xuất 38

Bảng 30 Giá trị các các sản phẩm khác như phấn hoa, sáp ong, sữa ong chúa 38

Bảng 31 Kinh nghiệm và trình độ của người nuôi ong 41

Bảng 32 Lợi nhuận thu được từ nuôi ong 42

Bảng 33 Hướng phát triển quy mô trại ong đến năm 2015 43

Trang 5

iv

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 1 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Hưng Yên 10

Biểu đồ 2 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn quả của Hưng Yên 10

Biểu đồ 3 Tỷ lệ diện tích các loại cây Nông nghiệp của Hưng Yên 10

Biểu đồ 4 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Sơn La 11

Biểu đồ 5 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn quả của Sơn La 11

Biểu đồ 6 Tỷ lệ diện tích các loại cây công nghiệp của Sơn La 12

Biểu đồ 7 Tỷ lệ diện tích các loại cây nông nghiệp của Sơn La 12

Biểu đồ 8 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Đắc Lắc 13

Biểu đồ 9 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn quả của Đắc Lắc 13

Biểu đồ 10 Tỷ lệ diện tích các loại cây công nghiệp của Đắc Lắc 13

Biểu đồ 11 Tỷ lệ diện tích các loại cây nông nghiệp của Đắc Lắc 13

Biểu đồ 12 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Tiền Giang 14

Biểu đồ 13 Tỷ lệ diện tích các loại cây nông nghiệp của Tiền Giang 14

Biểu đồ 14 Tỷ lệ diện tích các loại cây lâm nghiệp của Tiền Giang 15

Biểu đồ 15 Tỷ lệ diện tích các loại cây nông nghiệp của Tiền Giang 15

Biểu đồ 16 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Đồng Nai 16

Biểu đồ 17 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn quả của Đồng Nai 16

Biểu đồ 18 Tỷ lệ diện tích các loại cây công nghiệp của Đồng Nai 16

Biểu đồ 19 Tỷ lệ diện tích các loại cây nông nghiệp của Đồng Nai 16

Biểu đồ 20 Số lượng đàn ong mật của cả nước và các tỉnh điều tra trong giai đoạn 2001-2007 17

Biểu đồ 21 Số người nuôi ong thuộc hội ong của các tỉnh điều tra 19

Biểu đồ 22 Sản lượng mật ong của các tỉnh điều tra trong giai đoạn 2001-2007 32

Trang 6

1

I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nhiệt đới có thảm thực vật, nguồn hoa phong phú, các sản phẩm ong được coi là chất bổ cho sức khoẻ con nguời, là tiền đề cho nghề nuôi ong

Ở nước ta nuôi ong nội (Apis cerana) đã có từ rất lâu, giống ong ngoại (Apis mellifera ligustica) được nhập vào Việt Nam từ đầu những năm 1960

Ong mật cho con người những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, keo ong, sáp ong Các sản phẩm này được sử dụng làm thực phẩm, là thành phần không thể thiếu của nhiều loại thực phẩm,

đồ uống, bài thuốc cổ truyền và là nguyên liệu của nhiều sản phẩm mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm của các ngành công nghiệp khác Ngoài ra, ong mật còn là tác nhân thụ phấn hiệu quả cho các loại cây trồng, cây rừng góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và tăng năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt đối với các loại cây trồng cho hạt Nuôi ong là một nghề đặc biệt trong ngành nông nghiệp vì không bóc lột tài nguyên thiên nhiên, không cần sử dụng đất đai, tạo công ăn việc làm cho nhiều lứa tuổi và

là một trong những công cụ hữu hiệu để xoá đói giảm nghèo cho vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa

Năm 2007 ước tính cả nước có gần 900.000 đàn ong trong đó 650.000 đàn ong ngoại, và 250.000 đàn ong nội Sản lượng năm 2008 ước đạt 19,6 nghìn tấn mật ong, 200 tấn sáp Trong những năm gần đây nghề nuôi ong có

xu hướng tăng trưởng rõ rệt: số lượng đàn, sản lượng mật và lượng mật xuất khẩu tăng khá nhanh nhờ chính sách về đầu tư vốn của nhà nước, đầu tư cho nghiên cứu, khuyến nông ong và một yếu tố quan trọng là thị trường xuất khẩu các sản phẩm ong tăng Nuôi ong tạo công ăn việc làm cho một số lớn lao động ở nước ta với số người nuôi ong trên 26.000 người, trong đó có trên 3.000 người nuôi ong chuyên nghiệp qui mô từ 300 đến trên 3.000 đàn ong/ người Lợi nhuận bình quân thu từ một đàn ong là 180.000đ/đàn ong ngoại/năm và 150.000 đồng/đàn ong nội/năm

Từ năm 1985, nghề nuôi ong công nghiệp bắt đầu phát triển, số lượng đàn ong, sản lượng mật đã được tăng lên và đây là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu mật ong Mật ong là sản phẩm chăn nuôi duy nhất được xuất khẩu sang Cộng đồng châu Âu từ những năm 1987 và cấp chứng nhận đủ điều kiện

để xuất khẩu vào thị trường EU từ năm 2001 Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu mật ong hàng đầu trên thế giới Trong giai đoạn 1990-2009, mật

Trang 7

2

ong xuất khẩu chiếm đa số với tỷ lệ trên 85% tổng sản lượng, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 7%/năm Từ năm 1984 đến 1997 thị trường chủ yếu là các nước trong Cộng đồng châu Âu và Nhật Bản Thị trường chủ yếu hiện nay

là Hoa Kỳ sau khi bị Cộng đồng châu Âu ra lệnh tạm ngưng từ 6/2007, mặc

dù vậy năm 2008 Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ khoảng 16.800 tấn mật ong kim ngạch đạt khoảng 35 triệu USD Trong số các nước xuất khẩu mật vào Hoa Kỳ, năm 2008 Việt Nam đứng vị trí thứ 1 và năm 2009 đứng vị trí thứ 2 chỉ sau Brazil

Vùng sản xuất mật ong chủ yếu ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Bắc Bộ Cây nguồn mật chính ở đây bao gồm: cao su, cà phê, điều, vải, nhãn, keo, tràm Phương thức nuôi và khai thác mật là những phương pháp cũ cần được nghiên cứu cải tiến để tăng năng suất và chất lượng Một số các bệnh, ký sinh ong chưa được điều tra, nghiên cứu và đề ra các biện pháp phòng trị hiệu quả Yêu cầu của thị trường xuất khẩu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mật ong ngày càng khắt khe và nghiêm ngặt Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và ngành (TCN) cho mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, ban hành từ năm 1990 nay đã trở nên lạc hậu so với các qui định tiêu chuẩn của thế giới (Codex Alimentarius) và nhiều quốc gia nhập khẩu, do đó bộ tiêu chuẩn này cần phải được cập nhật và xây dựng lại để ban hành

Việt Nam có tiềm năng khai thác khoảng 40.000 tấn mật ong/ năm, nhờ vào sự phát triển diện tích của các vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, rừng trồng và tự nhiên Tuy nhiên hiện nay chưa có số liệu thống kê cụ thể về số lượng đàn ong, số người nuôi ong, quy mô sản xuất cũng như trữ lượng mật của từng vùng nhất là ở những vùng nuôi ong trọng điểm có nguồn hoa phong phú như Đắc Lắc, Gia Lai, Tiền Giang, Đồng Nai, Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Sơn La… Do thiếu các dữ liệu về trữ lượng nguồn hoa đã gây ra mất cân đối giữa lượng nguồn thức ăn tự nhiên cho ong trên hoa với số lượng đàn ong Ở một số vùng, có thời điểm, có tới hàng ngàn đàn ong đặt trên 1 diện tích rất nhỏ với nguồn hoa rải rác trong khi đó ở những vùng khác nguồn hoa rất dồi dào thì lại chỉ lác đác vài trại ong Hậu quả là, người nuôi ong hoặc để lãng phí khả năng khai thác của đàn ong khi mật độ ong quá cao hoặc

là phát sinh lan truyền dịch bệnh giữa trại này với trại khác trong khi để phí nhiều nguồn mật tự nhiên không khai thác Nhiều trại ong trong cả nước và đa

số người nuôi ong thiếu kiến thức cơ bản vì không qua đào tạo nên trình độ quản lý ong, phòng trừ dịch bệnh kém và sai, khai thác khi mật chưa chín nên hiệu quả kinh tế vừa thấp, sản phẩm ong vừa có dư lượng kháng sinh, chất

Trang 8

3

lượng lại không ổn định Kết quả là sản phẩm không xuẩt khẩu được do không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng để tiêu dùng và xuất khẩu Ngoài ra, sự suy thoái về chất lượng giống ong do việc làm giống của người nuôi ong là tự phát, không có kiểm soát làm cho năng suất cũng như khả năng kháng bệnh của đàn ong giảm sút Người nuôi ong gặp nhiều rủi ro

và phụ thuộc vào sự biến động thất thường của thời tiết, sự lan tràn dịch bệnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm do thiếu thông tin khoa học cũng như kết quả dự báo về trữ lượng cây nguồn hoa, diễn biến tình hình dịch hại… Thống kê, phân tích về tồn tại này từ đó đưa ra giải pháp là mấu chốt để đảm bảo hiệu quả kinh tế ngành ong

Gia nhập WTO, AFTA kèm theo kinh tế thị trường vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức để phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung và của ngành ong nói riêng Chỉ có điều tra, phân tích chi tiết, khoa học hiện trạng ngành ong từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp mới đảm bảo cho ngành ong phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế cao chính vì vậy TTNC&PTO

thực hiện dự án “Điều tra, đánh giá thực trạng sản xuất ngành ong Việt

Nam”

1.2 Mục tiêu

1.2.1 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá thực trạng sản xuất ngành ong Việt Nam hiện nay về:

- Trữ lượng cây nguồn mật, phấn chính;

- Phương thức tổ chức và kỹ thuật chăn nuôi ong;

- Các dịch bệnh - kí sinh chính hại ong và cách phòng trị;

- Tình hình giống ong, hệ thống quản lý giống ong;

- Tình hình sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm ong;

- Tình hình kinh tế và xã hội trong ngành ong;

- Các qui định và chính sách liên quan đến ngành ong;

1.2.2 Mục tiêu lâu dài

Điều tra thu thập dự liệu làm cơ sở để đánh giá hiện trạng và tiềm năng sản xuất ngành ong và đề xuất các giải pháp, qui hoạch và định hướng phát triển tổng thể ngành ong cả nước nhằm phát triển hiệu quả bền vững

Trang 9

- Số lượng đàn ong, số lượng người nuôi ong

- Điều tra về hình thức tổ chức chăn nuôi ong (công ty, hợp tác xã, cơ sở…), quy mô của các tổ chức, cá nhân chăn nuôi ong, phương thức chăn nuôi ong (nuôi ong di chuyển, nuôi ong cố định), trình độ kỹ thuật đang được áp dụng

- Điều tra, đánh giá tình hình dịch hại: thời gian, mức độ gây hại của các bệnh, thuốc bảo vệ thực vật và kẻ thù chính hại ong và cách phòng trị

- Điều tra chất lượng giống ong (thế đàn ong, sức đẻ trứng của ong chúa, tỉ

lệ cận huyết ), kỹ thuật chọn giống, tạo chúa, nhân đàn, cơ cấu và loại giống, thị trường giống, hệ thống quản lý giống ong

- Điều tra về sản xuất, chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm ong: loại sản phẩm, năng suất sản phẩm, kỹ thuật sơ chế, đóng gói, bảo quản, phương thức tiêu thụ, giá sản phẩm, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm

- Tình hình kinh tế và xã hội trong ngành ong (số lượng người nuôi ong,

độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, tham dự tập huấn nuôi ong, hiệu quả kinh tế ngành ong, xóa đói giảm nghèo )

- Điều tra về các qui định và chính sách liên quan đến ngành ong

- Tập huấn phương pháp điều tra cho các cán bộ thực hiện đề tài và cán bộ địa phương phối hợp triển khai đề tài

1.3.2 Phương pháp

1.3.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế:

- Điều tra trực tiếp trên thực địa, quan sát thực địa, chụp ảnh, phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra với người nuôi ong, cán bộ công ty, xí nghiệp, hợp tác xã nuôi, khai thác và chế biến sản phẩm, cán bộ hội ong, cán bộ CLB nuôi ong, cán bộ khuyến nông, thú y về:

+ Diện tích, phân bố, thời gian cho mật, phấn của một số cây nguồn mật, phấn chính cung cấp thức ăn cho ong

+ Hình thức tổ chức chăn nuôi ong, quy mô của các tổ chức chăn nuôi ong, phương thức chăn nuôi ong, trình độ kỹ thuật đang được áp dụng

Trang 10

Đối với nghề nuôi ong, trong năm thường có 2 mùa, mùa khó khăn cho nuôi ong do nguồn hoa khan hiếm đàn ong phát triển kém, chi phí nhiều và mùa thuận lợi khi nguồn hoa phong phú, người nuôi ong phát triển đàn và thu sản phẩm Vì vậy phải tiến hành 2 đợt điều tra tại mỗi điểm sử dụng phiếu điều tra Tại mỗi tỉnh, phối hợp với Hội nuôi ong lựa chọn ngẫu nhiên 20 người nuôi ong ở những vùng nuôi ong trọng điểm để thu thập dữ liệu theo bộ phiếu điều tra

- Phối hợp với người nuôi ong địa phương hoặc cơ sở nuôi ong tại địa phương theo theo dõi định kỳ các chỉ tiêu sinh học, mức độ bệnh, ký sinh, tỷ lệ cận huyết trực tiếp trên đàn ong: 30 đàn/ điểm điều tra

1.3.2.2 Phương pháp thống kê:

Thu thập dữ liệu trực tiếp từ các cơ quan chuyên môn về diện tích hiện tại, hướng phát triển cây trồng, cây lâm nghiệp là nguồn hoa chính cho ong; các qui định và chính sách liên quan đến ngành ong

1.3.2.3 Tập huấn phương pháp điều tra và thu thập số liệu

- Mỗi điểm điều tra chọn 3 người phối hợp để đào tạo phương pháp điều thu thập, phân tích, xử lý số liệu Sau khi đào tạo các học viên được thực hành điều tra tại hiện trường

- Đối tượng tham dự tập huấn: Cán bộ thực hiện dự án, cán bộ các Xí nghiệp và Công ty ong; cơ sở chế biến, xuất khẩu sản phẩm ong; những người nuôi ong có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên; cán bộ phòng nông nghiệp huyện nơi điều tra

Trang 11

6

1.3.2.4 Tiến hành điều tra:

- Cấp tỉnh/huyện điều tra bằng những câu hỏi thu thập số liệu thứ cấp và phỏng vấn trực tiếp cán bộ liên quan (các công ty, xí nghiệp sản xuất, nuôi ong, phòng ban cấp tỉnh/huyện )

- Với người nuôi ong: Sử dụng bảng câu hỏi và phỏng vấn về tình sản xuất, tiếp nhận khoa học kỹ thuật, đầu vào, đầu ra sản phẩm và hiệu quả sản xuất

1.3.2.5 Xử lý số liệu:

Số liệu được xử lý thống kê trên phần mềm MS-Excel

1.3.3 Đối tượng

Đối tượng là những hộ nuôi ong; các trại nuôi ong; các cơ sở, công ty,

xí nghiệp… nuôi ong, sản xuất và chế biến sản phẩm ong cả với ong ngoại và ong nội

1.3.4 Phạm vi

- Tiêu chí lựa chọn điểm điều tra: là những vùng nuôi ong trọng điểm trong cả nước, nơi có nghề nuôi ong phát triển; có nguồn hoa phong phú, tập trung; có số lượng lớn về người nuôi ong và đàn ong Trên cơ sở đó chúng tôi chọn ra 5 tỉnh:

+ Miền Bắc: Tỉnh Sơn La (ong ngoại), tỉnh Hưng Yên (ong nội và ong ngoại)

+ Tây nguyên: Đắc Lắc (ong ngoại)

+ Nam Bộ: Tiền Giang (ong nội và ong ngoại), Đồng Nai (ong nội và ong ngoại)

- Tại mỗi tỉnh tiến hành điều tra 1-2 huyện theo tiêu chí trên

1.3.5 Thời gian và địa điểm

- Thời gian: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 12 năm 2010

Trang 12

7

II KẾT QUẢ 2.1 Tình hình chung

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới và thảm thực vật phong phú với rừng tự nhiên, rừng trồng, cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp do vậy rất thuận lợi cho nghề nuôi ong Việt Nam có 5 loài ong mật bản địa và 1 loài ong nhập ngoại.Trong đó chỉ có hai loài ong mật có thể thuần hóa và nuôi

được là ong nội (Apis cerana) và ong ngoại (Apis mellifera)

Nghề nuôi ong nội cổ truyền đã có từ lâu đời trong đõ có bánh tổ cố định hoặc thùng/đõ có thanh xà Đến những năm 1960 mới được nuôi trong thùng

hiện đại có khung cầu di động Loài ong nội Apis cerana có khoảng 8 phân

loài và 34 dạng sinh thái sinh sống tự nhiên ở châu Á Hiện nay, ong nội ở

nước ta thuộc 2 phân loài là ong Apis cerana cerana và Apis cerana indica Ong ngoại được nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 với phân loài A

m ligustica Đầu những năm 1980 Công ty Ong Trung ương nhập thêm 3

phân loài là A m caucasica, A m carpatica (từ Liên Xô cũ) và A m

mellifera (từ Cu Ba), năm 2001 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Ong

nhập thêm 1 phân loài nữa là A m carnica (từ Đức và Áo), như vậy giống

ong ngoại hiện đang được nuôi ở nước ta thuộc 6 phân loài

Cả nước có khoảng 26.000 người nuôi ong ở 54 tỉnh/thành phố trong số

64 tỉnh thành của cả nước (Theo tổng cục Thống kê và Hội nuôi ong Việt Nam) Loài ong nội thích nghi với nguồn hoa rải rác do vậy được nuôi rộng rãi ở các vùng rừng núi, đồng bằng và cả ở thành phố Ong ngoại cần nguồn hoa lớn, tập trung nên được nuôi chủ yếu ở Tây Nguyên (Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước) và Nam Bộ (Đồng Nai, Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp…) Gần đây ong ngoại được nuôi nhiều ở một số tỉnh miền Bắc như Sơn La, Hưng Yên, Bắc Giang, Hoà Bình

Sản phẩm khai thác của ngành ong gồm có mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong, keo ong… nhưng sản phẩm chủ yếu là mật ong

2.2 Cây nguồn mật, phấn

Với nghề nuôi ong mật, để khai thác được mật thì yếu tố chi phối lớn nhất là cây nguồn mật Hiệu quả kinh tế của người nuôi ong, năng suất mật của đàn ong phụ thuộc chủ yếu vào trữ lượng mật từ cây nguồn mật Mỗi loại cây nguồn mật có trữ lượng mật khác nhau và nó phụ thuộc vào đặc tính tiết mật của loại cây đó cũng như diện tích và sự tập trung của loại cây nguồn mật

đó Ong mật thu hoạch tất cả các loại dịch ngọt nhưng mật ong thì chủ yếu

Trang 13

8

được thu hoạch từ những loại cây nguồn mật, có loại cây nguồn mật tiết mật

từ lá, có loại tiết mật từ hoa Loại cây nguồn mật lá chính của Việt Nam là Cao su (mật từ Cao su lá già và Cao su lá non), Keo, Tràm Số lượng loại cây nguồn mật từ hoa rất đa dạng và phụ thuộc vào từng Vùng, từng tỉnh nhưng ở Việt Nam thì chủ yếu là Cà phê, Điều, Nhãn, Vải, Chôm Chôm, Cỏ cúc áo, Táo, Cỏ lào

Mật ong khai thác được với trữ lượng lớn nhất và là nguồn mật xuất khẩu chủ yếu từ cây Cao su, Cà phê và 3 năm trở lại đây còn có thêm mật từ hoa Điều, Chôm chôm Trong số 3 loại cây công nghiệp trên (Cao su, Cà phê, Điều) thì diện tích Cao su là lớn nhất, năm 2009 cả nước có 674.200 hecta cây Cao su, 537.000 hecta Cà phê và 398.100 hecta Điều So với năm 1999 thì diện tích của 3 loại cây nguồn mật chính của Việt Nam đều tăng, tỷ lệ tăng diện tích cây Cao su là 41,4% (tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 1999 đến

2009 đạt 6,12%/năm), Cà phê là 11% (tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm

1999 đến 2009 đạt 1,3%/năm) và Điều là 53,5% (tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 1999 đến 2009 đạt 8,9%/năm) Các loại cây nguồn mật chính đều có xu thế tăng về diện tích và hiện nay số lượng các loại cây nguồn mật chính của Việt Nam cũng đang tăng lên Ngoài nguồn mật Cao su, Cà phê, Nhãn chủ yếu trước đây, đến nay các cây Keo, Tràm, Vải, Chôm Chôm, Mè

đã trở thành nguồn mật lớn Sự tăng trưởng về diện tích và số lượng các loại cây nguồn mật chính là tiềm năng cả về năng suất cũng như sản lượng mật khai thác của ngành ong Việt Nam

Cây nguồn mật lá không có phấn, cây nguồn mật hoa thì ong vừa khai thác được mật, vừa thu hoạch được phấn Trong nghề nuôi ong mật ong là sản phẩm khai thác chính nhưng phấn hoa lại vô cùng quan trọng vì nó liên quan đến sự tồn tại và phát triển của người nuôi ong Một số loại cây không cho mật như Ngô, Lúa, Trinh nữ nhưng lại là những cây trồng rất quan trong nghề nuôi ong vì nó cung cấp phấn hoa cho đàn ong phát triển

Tiền Giang là 1 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, cây nguồn mật nở hoa gần như quanh năm nên tại đây 1 năm có thể khai thác mật tới trên 10 tháng Tuy nhiên do chủ yếu là cây nguồn mật và lượng phấn rất ít, hơn nữa lại khai thác mật quanh năm nên người nuôi ong ở đây phải cho ăn thức ăn thay thế phấn hoa định kỳ 1 tuần 1 lần với lượng khoảng 1 kg cho 5 đàn Các tỉnh như Đồng Nai, Đắc Lắc việc cho ong ăn thức ăn bổ sung thay thế phấn hoa chỉ trong vụ mật khai thác Cao su do cây Cao su cho mật lá

Trang 14

9

Trước đây nghề nuôi ong của Sơn La không phải cho ăn thức ăn bổ sung thay thế phấn hoa mà thậm trí còn thu hoạch được phấn hoa do cây nguồn phấn vùng này rất nhiều Tuy nhiên hiện nay do có thêm vụ mật Keo nên nhìn chung để khai thác được mật và tránh ong bị suy giảm mạnh thì người nuôi ong phía Bắc hiện nay phải cho ăn thức ăn bổ sung thay thế phấn hoa trong thời điểm từ tháng 5 đến tháng 8 khi khai thác mật từ cây Keo

Thức ăn bố sung thay thế phấn hoa thành phần chính là bột đậu nành có trộn thêm với phấn hoa tự nhiên do người nuôi ong tự làm ra, tuy nhiên khu vực phía Nam hiện nay có 1 số công ty sản xuất loại thức ăn này đóng bao sẵn

và người nuôi ong chỉ cần trộn cho ong ăn

Kết quả điều tra về cây nguồn mật, phấn ở các tỉnh được trình bày trong các bảng từ 1 đến 5

Bảng 1 Cây nguồn mật, phấn chính của Hưng Yên

(ha) Tỷ lệ %

Khả năng cho mật/phấn

Thời vụ

nở hoa

Chú thích: Mật/phấn: +++ = cao, ++ = trung bình, + = ít, - không có

+ Với tỉnh Hưng Yên loại cây nguồn mật chính là cây Nhãn và cây Vải Ngoài ra các loại cây nguồn phấn khác cũng rất rồi rào như Lúa, Ngô các loại cây nguồn hoa (có cả mật và phấn nhưng lượng chỉ đủ cho ong phát triển) như Cam, Chanh, Bười, Bầu bí…

Hưng Yên là tỉnh đồng bằng nên loại cây nguồn hoa chính ít đa dạng và chủ yếu chỉ có nhóm cây ăn quả và cây nông nghiệp Nuôi ong ở Hưng Yên

có 2 thời điểm thuận lợi là từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 10

Vụ mật khai thác chính của Hưng Yên là Nhãn, Vải trong tháng 4 và vụ mật phụ cuối tháng 9 (vụ mật Táo) Nhìn chung với loại cây nguồn mật như tỉnh

Trang 15

Biểu đồ 1 Diện tích các loại cây nguồn mật, phấn chính của Hưng Yên

Biểu đồ 2 Tỷ lệ diện tích các loại cây

ăn quả của Hưng Yên

Biểu đồ 3 Tỷ lệ diện tích các loại cây

Nông nghiệp của Hưng Yên + Sơn La là 1 tỉnh miền núi phía Bắc, rừng tự nhiên rất phong phú các loại

cây nguồn mật phấn và được đánh giá là thuận lợi cho nghề nuôi ong nhất ở phía Bắc, đặc biệt là khu vực huyện Mộc Châu, hàng năm người nuôi ong của các tỉnh phía Bắc thường chuyển ong về Sơn La (huyện Mộc Châu) để dưỡng ong vào các tháng vụ Hè-Thu Ở đây có loại mật đặc sản từ hoa Cúc áo, ngoài

Trang 16

áo hoặc), do tập quán canh tác trên đất dốc (vùng đồi núi) nên ở đây cũng khai thác được sản lượng lớn phấn Ngô (từ tháng 8-9)

Bảng 2 Cây nguồn mật, phấn chính của tỉnh Sơn La

(ha) Tỷ lệ %

Khả năng cho mật/phấn

Thời vụ nở hoa

Biểu đồ 5 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn

quả của Sơn La

Trang 17

12

Biểu đồ 6 Tỷ lệ diện tích các loại cây

công nghiệp của Sơn La

Biểu đồ 7 Tỷ lệ diện tích các loại cây

nông nghiệp của Sơn La

+ Đắc Lắc là tỉnh Tây Nguyên nên rất đa dạng về loại cây nguồn mật, cây nguồn phấn Đắc Lắc là tỉnh được đánh giá là có khả năng nuôi ong quanh năm nhưng mùa vụ thuận lợi nhất cho nuôi ong từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Trước đây tỉnh này và Gia Lai được coi là những tỉnh thuận lợi nhất với nghề nuôi ong của khu vực phía Nam Vụ khai thác mật chính của tỉnh này từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Cây nguồn mật chính của Đắc Lắc là Cà phê

và Cao Su

Bảng 3 Cây nguồn mật, phấn chính của tỉnh Đắc Lắc

Khả năng cho mật/phấn

Trang 18

13

Biểu đồ 10 Tỷ lệ diện tích các loại cây

công nghiệp của Đắc Lắc

Biểu đồ 11 Tỷ lệ diện tích các loại cây

nông nghiệp của Đắc Lắc

+ Tiền Giang là tỉnh trung tâm của nghề nuôi ong trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Ở đây chủng loại cây nguồn mật rất đa dạng và thời gian khai thác mật của người nuôi ong đến trên 10 tháng/năm Hiện nay người nuôi ong của các tỉnh khu vực Tây Nguyên, miền đông Nam bộ thường chuyển ong về tỉnh này và các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Cửu long để dưỡng ong trong các vụ khó khăn, vụ nhân đàn hoặc để khai thác Nhãn

Biểu đồ 8 Diện tích các loại cây nguồn

mật, phấn chính của Đắc Lắc

Biểu đồ 9 Tỷ lệ diện tích các loại cây ăn

quả của Đắc Lắc

Trang 19

14

Bảng 4 Cây nguồn mật chính của tỉnh Tiền Giang

Loại cây Diện tích

(ha) Tỷ lệ %

Khả năng cho mật/phấn Thời vụ nở hoa

Chú thích: Mật/phấn: +++ = cao, ++ = trung bình, + = ít, - = không có

Biểu đồ 12 Diện tích các loại cây nguồn

mật, phấn chính của Tiền Giang

Biểu đồ 13 Tỷ lệ diện tích các loại cây

nông nghiệp của Tiền Giang

Trang 20

15

Biểu đồ 14 Tỷ lệ diện tích các loại cây

lâm nghiệp của Tiền Giang

Biểu đồ 15 Tỷ lệ diện tích các loại cây

nông nghiệp của Tiền Giang

- Trong số các tỉnh miền đông Nam bộ thì Đồng Nai là 1 tỉnh trung tâm nằm trong khu vực rất thuận lợi cho nghề nuôi ong với các vùng trồng Cao su, Cà phê, Điều, Chôm chôm tập trung quy mô lớn

Đồng Nai là tỉnh rất thuận lợi cho nghề nuôi ong chuyên nghiệp với số lượng đàn lớn do cây nguồn hoa quy mô lớn và tập trung như Cà phê, Cao su, Điều…

Bảng 5 Cây nguồn mật chính của tỉnh Đồng Nai

(ha) Tỷ lệ %

Khả năng cho mật/phấn Thời vụ nở hoa

Cây lâm nghiệp 26.040

Trang 21

16

Trong khu vực miền đông Nam bộ thì Đồng Nai là tỉnh thuận lợi nhất cho nghề nuôi ong vì tỉnh này thuận lợi cho ong phát triển quanh năm và có thể khai thác mật với thời gian dài hơn các tỉnh khác do có thêm các vụ mật từ Chôm chôm và Nhãn và Điều

Biểu đồ 18 Tỷ lệ diện tích các loại cây

công nghiệp của Đồng Nai

Biểu đồ 19 Tỷ lệ diện tích các loại cây

nông nghiệp của Đồng Nai

Đánh giá về trữ lượng cây nguồn mật và sản lượng mật thực tế cũng như tiềm năng của 1 loại cây nguồn mật, phấn là rất khó vì phải căn cứ vào diện tích, mật độ, tuổi cây, lượng mật (hoặc phấn) của 1 cây, thời gian cho mật (hoặc phấn) trong năm Hơn nữa, việc tiết mật của hoa và lá phụ thuộc nhiều vào thời tiết, tập quán canh tác, chất đất, giống cây của từng vùng, khu vực cụ thể do vậy cùng là 1 loại cây nguồn mật nhưng ở khu vực này thì tiết mật với trữ lượng lớn nhưng khu vực khác lại không có mật, cùng 1 loại cây (như Cao su) nhưng có giốn không có mật Ngoài ra, nghề nuôi ong là nghề di chuyển theo nguồn hoa do vậy việc đánh giá trữ lượng cây nguồn mật dựa vào sản lượng khai thác 1 loại cây của 1 tỉnh là rất khó vì người nuôi ong của tỉnh này nhưng lại chuyển ong đến khai thác mật ở tỉnh khác

Biểu đồ 16 Diện tích các loại cây nguồn

mật, phấn chính của Đồng Nai

Biểu đồ 17 Tỷ lệ diện tích các loại cây

ăn quả của Đồng Nai

Trang 22

Trong 5 tỉnh điều tra thì Đắc Lắc luôn có số lượng đàn ong lớn nhất Tỉnh có số lượng đàn ong thấp nhất là Tiền Giang (những năm 2001, 2002, 2006) và tỉnh Hưng Yên (những năm 2003, 2005, 2007)

Bảng 6 Số lượng đàn ong mật của các tỉnh điều tra và cả nước trong giai

đoạn 2001-2007

(Đơn vị: đàn ong)

tăng trưởng TB

(%/năm)

Hưng Yên 3.742 3.686 3.692 3.924 4.232 12.882 336 -33,1 Sơn La 13.897 20.918 15.545 15.715 15.492 12.394 30.000 13,7 Đắc Lắc 35.000 86.000 161.000 142.989 156.492 160.851 177.627 31,1 Đồng Nai 24.500 29.300 40.178 58.067 66.349 60.248 78.403 21,4 Tiền Giang 1.618 3.070 7.991 5.197 5.870 3.134 4.626 19,1

Cả nước 277.251 386.335 592.222 672.352 689.508 678.987 864.222 20,9

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Biểu đồ 20 Số lượng đàn ong mật của cả nước và các tỉnh điều tra trong giai

đoạn 2001-2007

Trang 23

18

Tốc độ tăng trưởng bình quân về số đàn ong của cả nước giai đoạn

2001-2007 đạt 20,9%/năm Trong số 5 tỉnh điều tra thì tỉnh Đắc Lắc có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt giá trị cao nhất (31,1%/năm) và thấp nhất là tỉnh Hưng Yên (-33,1%/năm)

Số lượng đàn ong của các tỉnh có xu thế tăng trong giai đoạn 2001-2007, chỉ duy nhất tỉnh Hưng Yên giảm mạnh năm 2007 mà không rõ nguyên nhân Trong số các tỉnh điều tra thì tỉnh Đồng Nai có số lượng đàn ong tăng trưởng đều qua các năm từ 2001-2007

Theo số liệu của Hội nuôi ong Việt Nam năm 2007 cả nước có khoảng

650 nghìn đàn ong ngoại (chiếm khoảng 75%), số còn lại là ong nội Đắc Lắc

là tỉnh có số đàn ong cao nhất của cả nước

Số liệu điều tra các tỉnh về số lượng đàn ong từ 2008-2010 được trình bày trong bảng 7

Bảng 7 Số lượng đàn ong mật của các tỉnh điều tra từ 2008-2010

(Đơn vị: đàn ong)

Hội nuôi ong

các tỉnh Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Tốc độ tăng trưởng TB

Việc thống kê đầy đủ số lượng đàn ong của 1 tỉnh là rất khó do nghề nuôi ong là nghề di chuyển theo nguồn hoa, người nuôi ong có thể ở tình này nhưng nhưng lại thường xuyên đặt ong ở tỉnh khác, số liệu điều tra cũng khó thống kê đầy đủ số đàn ong nuôi với quy mô hộ gia đình do vụ thuận lợi ong phát triển nhưng vụ khó khăn có thể các hộ đó mất hết ong, hơn nữa ở cả 5 tỉnh điều tra các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không có con số thống kê về lĩnh vực chăn nuôi ong Đối với nghề nuôi ong, số lượng đàn ong

Trang 24

19

biến động rất lớn ngay cả với trại ong vì đầu vụ nuôi dưỡng nhân đàn số lượng đàn thường thấp nhưng đến vụ thuận lợi và vụ khai thác mật thì số lượng đàn tăng cao hơn nhiều, vấn đề này tùy thuộc vào điều kiện nguồn hoa, khí hậu mỗi địa phương và kế hoạch đầu tư, phát triển của người nuôi ong

2.3.2 Số người nuôi ong

Theo báo cáo của Hội nuôi ong Việt Nam, hiện nước ta có khoảng 26.000 người nuôi ong, có trên 20 công ty xuất khẩu, 12 hội ong địa phương, các đơn vị này tập hợp trên 3000 người nuôi ong chuyên nghiệp

Số liệu điều tra năm 2010 tại hội nuôi ong các tỉnh được trình bày trong biểu

đồ 21

Biểu đồ 21 Số người nuôi ong thuộc hội ong của các tỉnh điều tra

Qua biểu đồ 21 cho thấy số lượng người nuôi ong chuyên nghiệp của hội ong Đắc Lắc cao nhất, rồi đến Sơn La (đều trên 1500 người) Các tỉnh Hưng Yên, Tiền Giang và Đồng Nai có số lượng dưới 300 người

Trong ngành ong việc thống kê đầy đủ số người nuôi ong là rất khó vì nuôi ong là nghề tự phát và người nuôi ong không đăng ký với bất cứ tổ chức hay cơ quan nào, hơn nữa khi chúng tôi tiến hành điều tra thì lĩnh vực chăn nuôi ong có nằm trong cơ cấu chăn nuôi của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhưng chưa được quan tâm do vậy số liệu về số người nuôi ong, số đàn ong, sản lượng… không đầy đủ Ngoài ra, nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa do vậy có những tỉnh (như Hưng Yên, Đắc Lắc, Đồng Nai) có thời điểm

số lượng đàn ong rất cao vào 1 vụ mật nào đó nhưng có lúc số lượng đàn ong lại rất thấp khi vào vụ khó khăn Có những người nuôi ong hộ khẩu của họ ở tỉnh này nhưng lại nuôi ong và thường xuyên ở tỉnh khác

Trang 25

20

2.4 Tổ chức, phương thức và kỹ thuật nuôi ong

2.4.1 Các phương thức nuôi ong

- Nuôi ong chuyên nghiệp: quy mô từ 150 đến 3.000 đàn, nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa

- Nuôi ong bán chuyên nghiệp: qui mô từ 50-149 đàn ong/chủ trại, chủ yếu đặt ong tại nhà nhưng di chuyển để khai thác mật trong một số vụ mật chính hoặc khi nguồn hoa tại địa phương khan hiếm

- Nuôi ong gia đình: quy mô từ 10 đến 49 đàn/hộ; thường nuôi ong nội

và đặt ong tại nhà rất ít di chuyển theo nguồn hoa

- Nuôi ong theo sở thích: Có qui mô dưới 10 đàn, và nuôi tại chỗ, không

di chuyển

- Săn mật ong từ các đàn ong mật hoang dã sống trong rừng

Số liệu điều tra cho thấy 100% số người nuôi ong theo hình thức nuôi ong di chuyển theo nguồn hoa để khai thác mật hoặc để dưỡng ong ở những vùng có cây nguồn mật, phấn thuận lợi

2.4.2 Quy mô chăn nuôi ong

Kết quả điều tra về quy mô nuôi ong được thể hiện trong bảng 8 Qua số liệu bảng 8 cho thấy 1 trại ong nội hiện nay chỉ có quy mô dưới 130 đàn/trại ong và những người nuôi ong này chủ yếu là nuôi ong bán chuyên nghiệp, ngoài nuôi ong thì người nuôi ong còn tham gia vào sản xuất hoặc kinh doanh lĩnh vực khác Với ong ngoại thì quy mô trại ong của các tỉnh điều tra từ 150 đến gần 600 đàn

Bảng 8 Số đàn ong (quy mô) trung bình của 1 trại ong

Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Trong giai đoạn từ 2008 đến 2010 số đàn ong của các trại ong nhìn chung là tăng lên

Trang 26

21

Trong giai đoạn từ 2008 đến 2010 thì quy mô các trại ong đều có động thái tăng dần về số đàn ong/trại ong Nhìn chung người nuôi ong có xu hướng tăng quy mô với giống ong ngoại

Ở tất cả các tỉnh điều tra người nuôi ong đều di chuyển đàn ong đến nguồn hoa thuận lợi để khai thác sản phẩm hoặc nuôi dương ong trung vụ khó khăn Ở miền Bắc người nuôi ong thường chuyển ong đến các địa điểm như Bắc Giang, Hưng Yên hoặc Sông Mã (Sơn La) để khai thác Nhãn, Vải trong tháng 3,4; đến Hòa Bình, Mộc Châu (Sơn La) để nuôi dưỡng ong từ tháng 5 đến tháng 10, khai thác mật Cúc áo từ tháng 10 đến tháng 11 và tại Yên Châu, Sơn La hoặc Hòa Bình khai thác mật Cỏ lào tháng 12 đến tháng 2

Cá tỉnh phía Nam có 1 vụ mật chính rất dài từ Cao su lá già, điều, Cao su

lá non, Cà phê, Chôm chôm và Nhãn từ cuối tháng 11 đến tháng tháng 5 tại các tỉnh có nguồn hoa tập trung như Đồng Nai, Đắc Lắc, Gia Lai, Bình Phước, Lâm Đồng Vụ dưỡng ong người nuôi ong có thể chuyển ong đến các vùng thuộc Đồng bằng sông Cửu long, Vũng tàu côn đảo, Phan thiết… Riêng các tỉnh như Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long thì từ tháng 6 đến tháng 10 người nuôi ong vẫn có thể khai thác được mật Nhãn, mật Tràm…

Vụ phấn hoa lớn nhất của phía Nam là vụ hoa Trinh nữ (tháng 10), khi đó người nuôi ong chuyển ong đến các vùng nhiều trinh nữ để vừa phát triển đàn ong, nhân đàn chuẩn bị cho vụ mật sắp tới và khai thác phấn tại Lâm Đồng, Phan Thiết, Đồng Nai, Bình Phước, Vũng tàu côn đảo…

2.4.3 Trình độ kỹ thuật đang được áp dụng

Trong ngành ong những kỹ thuật cơ bản như đánh giá về sự phát triển đàn ong, đánh giá mức độ cận huyết của giống ong đang nuôi và khả năng phát hiện, điều trị bệnh là những kỹ thuật cơ bản thể hiện trình độ tay nghề của người nuôi ong Kết quả điều tra trong bảng 9

Trang 27

22

Bảng 9 Năng lực quản lý trại ong và trình độ nuôi ong

Tỉnh

Tỷ lệ người nuôi ong theo dõi sức

đẻ trứng trung bình của ong chúa (%)

Tỷ lệ người nuôi ong theo dõi

tỷ lệ cận huyết (%)

Tỷ lệ người nuôi ong biết quản lý đàn ong bằng những kỹ thuật đơn giản (%)

Tỷ lệ người nuôi ong biết tạo chúa và nhân đàn ong (%)

Tỷ lệ người nuôi ong phát hiện

và điều trị được bệnh, dịch hại ong (%)

Số lần được tập huấn/năm

Khi được hỏi về trình độ đánh giá sức đẻ trứng, tỷ lệ cận huyết của đàn ong thì người nuôi ong của các tỉnh như Hưng Yên, Đồng Nai, Tiền Giang hầu như không biết Các tỉnh khác như Sơn La và Đắc Lắc tỷ lệ số người biết cũng rất thấp

Tuy nhiên ở tất cả các tỉnh điều tra người nuôi ong hầu như đều biết các

kỹ thuật đơn giản, cách tạo chúa, phát hiện và điều trị bệnh và ký sinh

Với ong ngoại loại dịch hại gây hại nặng nề nhất là ký sinh chí nhỏ Ngoài ra nó cũng bị các loại dịch hại khác tấn công như chí lớn, các bệnh với

ấu trùng, chết ong trưởng thành không rõ nguyên nhân và do nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật, bị côn trùng khác phá hại…

Việc kiểm tra phát hiện bệnh dịch hại ong chủ yếu do người nuôi ong tự kiểm tra và xác định nguyên nhân cũng nhưng tự đưa ra biện pháp điều trị Kết quả điều tra cả 5 tỉnh thấy 100% số người nuôi ong tự kiểm tra và tự mình

Ngày đăng: 07/07/2018, 00:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w