1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và làm rõ một số khía cạnh liên quan đến sáng chế công nghiệp theo Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

19 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 34,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU1NỘI DUNG2I.Hệ thống lý luận chung:21.Sơ lược về lịch sử phát triển của pháp luật sáng chế22.Hệ thống lý luận chung3II.Nội dung điều kiện bảo hộ với sáng chế81.Tính mới của sáng chế92.Trình độ sáng tạo của sáng chế113.Khả năng áp dụng công nghiệp12III.Đánh giá.15KẾT LUẬN17DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO18

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp, ngày càng nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh mới xuất hiện Nhằm đáp ứng nhu cầu về chất lượng cũng như số lượng sản phẩm, con người không ngừng nghiên cứu các giải pháp kĩ thuật tiến bộ hay còn gọi là các sáng chế công nghiệp Chính vì thế, các nhà làm luật không ngừng nghiên cứu lí luận và thực tiễn các quyền sở hữu công nghiệp Một mặt nhằm tạo môi trường pháp lí cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh; một mặt, đảm bảo các quyền cơ bản của chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ Trong khuôn khổ các quyền sở hữu công nghiệp, trong bài tiểu luận này em xin đi sâu phân tích và làm rõ một số khía cạnh liên quan đến sáng chế công nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu vì kiến thức còn hạn hẹp nên còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô giúp đỡ và bỏ qua !

Trang 2

NỘI DUNG

I Hệ thống lý luận chung :

1 Sơ lược về lịch sử phát triển của pháp luật sáng chế

Nói về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì sáng chế là một trong những đối tượng được bảo hộ sớm nhất và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội

Năm 1474 luật sáng chế đầu tiên trên thế giới ra đời tại Venice Tuy là luật đầu tiên, nhưng nếu nói về sự ảnh hưởng đến hệ thống sáng chế hiện đại và là điều hướng cho luật sáng chế ở nhiều quốc gia thì không thể không nhắc tới cái

tên “Luật độc quyền” của Vương quốc Anh, ban hành năm 1623 Theo quy định

của luật này thì ngoại trừ độc quyền với sáng chế, các hình thức độc quyền trong thương mại đều bị xóa bỏ, cơ sở của quy định trên là công nhận các độc quyền đối với sáng chế, cho phép nhà sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế đối với sáng chế của họ Ngoài ra, pháp luật sáng chế của Hoa Kỳ, Pháp và

Áo cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới tới pháp luật sáng chế của các quốc gia khác như Nga, Bỉ, Hà Lan, Tây Ba Nha, Italya, Đức, Thụy Sĩ…

Từ các cách tiếp cận khác nhau, ảnh hưởng khác nhau của pháp luật các nước trên thế giới đã xuất hiện bốn quan điểm khác nhau ủng hộ việc bảo hộ sáng chế

Thứ nhất, quan điểm Luật tự nhiên: theo đó con người có quyền tài sản tự

nhiên đối với sáng tạo của họ, xã hội có trách nhiệm công nhận, tôn trọng và bảo

vệ quyền tài sản này

Thứ hai, quan điểm khen thưởng: cho rằng con người cần nhận được phần

thưởng tương xứng với sự phục vụ hữu ích cho xã hội, vì thế các nhà sáng tạo được trao cho các độc quyền tạm thời dưới hình thức quyền độc quyền pháp lý đối với sáng chế của họ

Thứ ba, quan điểm khuyến khích: cho rằng phát triển công nghiệp là quan

trọng với sự phát triển của xã hội, và sáng chế cũng như khai thác sáng chế có

Trang 3

vai trò quan trọng cho phát triển công nghiệp Quan điểm này sẽ khuyến khích sáng tạo ra sáng chế và khai thác sáng chế một cách đầy đủ nhất bằng cách trao cho họ độc quyền sáng chế để họ được bù đắp về thời gian, công sức, chi phí…

Thứ tư, quan điểm công bố: cho rằng bảo hộ sáng chế thực sự là “trao đổi các bí mật” hay trao đổi đối với việc bộc lộ thông tin đối giữa xã hội và nhà

sáng chế

Với các quan điểm ủng hộ như vậy, đến cuối thế kỷ XIX đã có 45 nước ban hành luật sáng chế và hiện nay hầu hết các nước đều đã có quy định pháp luật về bảo hộ sáng chế

Tại Việt Nam, Điều lệ về sáng kiến cải tiến kĩ thuật - hợp lý hóa sản xuất

và sáng chế được ban hành kèm theo Nghị định 31 – CP ngày 23/1/1981 của Hội đồng Chính phủ là văn bản đầu tiên quy định về việc bảo hộ sáng chế Đến năm 1989, Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ra đời Và đặc biệt, là

sự xuất hiện các quy định về sở hữu trí tuệ trong BLDS Hiện nay, Việt Nam đã

có Luật sở hữu trí tuệ riêng, văn bản Luật đang hiện hành và có hiệu lực giải quyết các vấn đề về sở hữu trí tuệ là Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

2 Hệ thống lý luận chung

2.1 Khái niệm sáng chế

Hiện nay trên thế giới có hai cách tiếp cận trong việc đưa ra khái niệm sáng

chế: Thứ nhất, khái niệm sáng chế đưa ra dựa trên bản chất, kỹ thuật của sáng

chế hoặc trên cách thức tạo ra sáng chế Ví dụ như theo Luật sáng chế của Nhật Bản, sáng chế là sự sáng tạo ra những ý tưởng ký thuật ở trình độ tiên tiến cao

bằng cách sử dụng quy luật tự nhiên Thứ hai, là cách tiếp cận dựa trên tiêu

chuẩn bảo hộ Ví dụ như pháp luật Việt Nam khi chưa có Luật sở hữu trí tuệ, tại

Điều 4 Pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1989 quy định “Sáng chế là

giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có tính sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội”.

Ở nước ta, hiện nay đang áp dụng Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009),

có quy định khái niệm sáng chế ở khoản 12 Điều 4 từ một cách tiếp cận khác –

Trang 4

đó là tiếp cận từ bản chất kỹ thuật của sáng chế, như sau “sáng chế là giải pháp

kỹ thuật duới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.

Từ khái niệm trên, ta dễ dàng nhận thấy rằng bản chất của sáng chế là giải pháp kỹ thuật để giải quyết một vấn đề xác định nào đó Vậy, giải pháp kỹ thuật

ở đây có thể hiểu là gì? Đó là tập hợp đầy đủ tất cả các thông tin, cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ xác định Thế nhưng, không phải tất cả các giải pháp kỹ thuật đều là sáng chế, đều được bảo hộ, nó phải đáp ứng được các điều kiện, các tiêu chuẩn bảo hộ do pháp luật quy định Dạng tồn tại của giải pháp kỹ thuật có thể là sản phẩm hoặc quy trình

Thứ nhất, sáng chế là sản phẩm được bảo hộ sáng chế dưới dạng: Vật thể

như dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện…; dưới dạng chất thế như chất liệu, dược phẩm, vật liệu, chất liệu…; hoặc dưới dạng vật liệu sinh học như gen động vật, gen thực vật…

Thứ hai, sáng chế là quy trình, được thể hiện bằng một tập hợp thông tin

xác định cách thức tiến hành bằng một quá trình, công việc cụ thể được đặc trưng bởi các đặc điểm về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được mục đích nhất định

Ngoài ra, pháp luật cũng còn quy định rõ ràng các trường hợp không được coi là giải pháp kỹ thuật, tại mục c điểm 25.3 thông tư 01/2007 hướng dẫn thi hành nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về Sở hữu công nghiệp, như sau:

“c) Đối tượng nêu trong đơn không được coi là giải pháp kỹ thuật trong

các trường hợp sau đây:

(i) Đối tượng nêu trong đơn chỉ là ý tưởng hoặc ý đồ, chỉ nêu (đặt) vấn

đề mà không phải là cách giải quyết vấn đề, không trả lời được câu hỏi "bằng cách nào" hoặc/và "bằng phương tiện gì";

(ii) Vấn đề (nhiệm vụ) được đặt ra để giải quyết không phải là vấn đề kỹ thuật và không thể giải quyết được bằng cách thức kỹ thuật;

Trang 5

(iii) Các sản phẩm tự nhiên, không phải là sản phẩm sáng tạo của con người.”

Khái niệm sáng chế có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế và xã hội Theo sự nghiên cứu của các nhà kinh tế học cổ điển và hiện đại thì công nghệ là một trong hai nguồn chính thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, bên cạnh nguồn lực vốn và lao động Sáng chế là yếu

tố quyết định tiềm lực khoa học và công nghệ, xác định tính cạnh tranh và thúc đẩy sự gia tăng mức sống của xã hội

2.2 Giải pháp hữu ích, phát minh, sáng kiến :

Giải pháp hữu ích, phát minh, sáng kiến là những đối tượng có thể hiểu nhầm với sáng chế, vì vậy trong phần khái niệm này cần làm sáng tỏ các khái niệm trên, phân biệt chúng với sáng chế để tránh sự nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu

Thứ nhất, giải pháp hữu ích, lần đầu tiên được quy định trong pháp luật

Việt Nam tại Điều 4 pháp lệnh bảo hộ sở hữu công nghiệp, theo đó “giải pháp

hữu ích là giải pháp kĩ thuật mới so với trình độ kĩ thuật ở Việt Nam, có khả năng thực hiện, áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội”.

Trên thế giới không có nhiều quốc gia bảo hộ giải pháp hữu ích, và nếu có bảo hộ thì hình thức là hoàn toàn giống nhau Việc bảo hộ giải pháp hữu ích có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích sáng tạo tạo quốc gia đang và kém phát triển và Việt Nam là một trong những đất nước đang cần điều đó Ở nước

ta, trong tổng số đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích được nộp cho cục sở hữu trí tuệ Việt Nam là một con số rất khiêm tốn Số lượng đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích của người Việt Nam là 133 đơn trong tổng số 253 đơn nộp vào cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (Năm 2011), và con số ấy ngày càng tăng lên, nhưng tốc độ còn khá chậm

Giữa bảo hộ giải pháp hữu ích và bảo hộ sáng chế có những khía cạnh khác nhau, mà thông qua đó ta có thể nhận biết được hai đối tượng ấy

Trang 6

Một là, tiêu chuẩn tính mới của giải pháp hữu ích có thể thấp hơn tính mới

của sáng chế, nhưng cả hai đều phải có tính mới so với trình độ kĩ thuật trên thế giới

Hai là, giải pháp hữu ích yêu cầu tính sáng tạo thấp hơn sáng chế Nếu

sáng chế bắt buộc phải có sáng tạo thì giải pháp hữu ích không đòi hỏi yếu tố này

Ba là, thời gian bảo hộ giải pháp hữu ích ngắn hơn thời gian bảo hộ sáng

chế

Bốn là, đối tượng được bảo hộ giải pháp hữu ích có thể hẹp hơn so với sáng

chế Vì theo tài liệu “sáng chế và giải pháp hữu ích” cho rằng “nhìn chung các

quy trình không được bảo hộ dưới dạng giải pháp hữu ích”.

Thứ hai, phát minh là việc phát hiện ra một sự vật, hiện tượng hoặc quy

luật đã tồn tại trong thế giới tự nhiên, chứ không phải do con người tạo ra Phát minh với sáng chế khác nhau không phải lúc nào cũng thực sự rõ ràng, vì thế sẽ gây nhầm lẫn với nhau

Thứ ba, sáng kiến, theo khoản 3 điều lệ sáng kiến ban hành kèm theo Nghị

định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012: “Sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải

pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (gọi chung là giải pháp), được cơ sở công nhận nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới trong phạm vi cơ sở đó;

b) Đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở đó và có khả năng mang lại lợi ích thiết thực;

c) Không thuộc đối tượng bị loại trừ quy định tại khoản 2 Điều này.”

Sáng kiến không nhất thiết phải là giải pháp kỹ thuật mà có thể là giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp… tính mới trong yêu cầu của sáng kiến thấp hơn nhiều so với sáng chế, nó chỉ cần là tính mới trong phạm vi cơ quan, tổ chức là

có thể được công nhận

2.3 Khái niệm bảo hộ sáng chế và ý nghãi của việc bảo hộ sáng chế

Trang 7

2.3.1 Khái niệm bảo hộ sáng chế :

“Bảo hộ sáng chế là việc nhà nước thừa nhận một sáng chế là đối tượng

của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) nhất định, được đánh dấu bằng việc cấp một bằng sáng chế cho chủ sở hữu sáng chế đó” (Phòng sáng chế Nhật Bản – Trung

tâm Sở hữu công nghiệp châu Á - Thái Bình Dương)

Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của việc bảo hộ sáng chế như sau:

Thứ nhất, bảo hộ sáng chế bằng việc được nhà nước cấp văn bằng bảo hộ,

tức là để được pháp luật bảo hộ thì một giải pháp kỹ thuật phải được cấp một văn bằng bảo hộ Để được cấp văn bằng bảo hộ thì giải pháp kỹ thuật phải đáp ứng được hai điều kiện cơ bản: một là điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ, hai là không thuộc các trường hợp không được bảo hộ Khi giải pháp kỹ thuật đã được cấp văn bằng bảo hộ thì Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ các sáng chế đó

Thứ hai, chủ sở hữu sáng chế chỉ được thực hiện các quyền của mình trong

phạm vi được xác định trong văn bằng bảo hộ Phạm vi ấy có thể là phạm vi lãnh thổ, phạm vi quyền được thể hiện trong yêu cầu bảo hộ, thời gian bảo hộ)

Thứ ba, trong những trường hợp được pháp luật quy định, nhà nước có

quyền cấm hoặc hạn chế người nắm độc quyền sáng chế thực hiện quyền của mình hoặc bắt buộc người nắm độc quyền sáng chế chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho chủ thể khác

2.3.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ sáng chế

Việc bảo hộ sáng chế mang lại nhiều ý nghĩa to lớn không chỉ cho nhà sáng chế mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội

Ý nghĩa đầu tiên chúng ta đều dễ dàng nhận thấy đó là việc bảo hộ sáng chế

là một sự khuyến khích không nhỏ cho việc nghiên cứu và triển khai, sử dụng các sản phẩm và quy trình mới, từ đó sẽ kích thích sự sáng tạo trong tất cả mọi người

Ý nghĩa thứ hai là việc bảo hộ sáng chế sẽ khuyến khích việc bộc lộ công

nghệ mới và chuyển giao, phổ biến công nghệ Đây là một ý nghĩa lớn trong việc tạo cơ sở để tiến bộ xã hội và đưa xã hội ngày một phát triển hơn

Trang 8

Ý nghĩa thứ ba là bảo hộ sáng chế sẽ khuyến khích việc đầu tư vào các

ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp máy tính, công nghiệp dược phẩm…

Bên cạnh những ý nghĩa thiết thực như vậy thì cũng cần nhìn nhận mặt tiêu cực của việc bảo hộ sáng chế, chủ yếu là đối với các nước đang và kém phát triển, một số hạn chế chúng ta có thể nhận thấy như khi có độc quyền cho các chủ sở hữu có thể sẽ làm tăng giá thành sản phẩm được sản xuất theo sáng chế, dẫn đến việc lạm dung sự độc quyền từ người nắm quyền sáng chế, điều này gây ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội Nhìn nhận xa hơn nữa, khi bảo hộ quá nhiều mà không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội thì sẽ góp phần làm tăng khoảng cách về trình độ công nghệ và kinh tế xã hội, tạo khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia…

Như vậy, từ những lý luận hết sức khái quát trên, phần nào chúng ta có thể hiểu cơ bản về sáng chế, bảo hộ sáng chế, phân biệt được sáng chế với các đối tượng khác… từ đó có thể tìm hiểu điều kiện bảo hộ là gì và nội dung của các điều kiện đó

II Nội dung điều kiện bảo hộ với sáng chế

Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế được quy định tại Điều 58 – luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

“1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế

nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

Trang 9

b) Có khả năng áp dụng công nghiệp”

1 Tính mới của sáng chế

“Tính mới là một yêu cầu cơ bản trong bất kỳ xét nghiệm nào về mặt nội

dung và là một điều kiện không phải bàn cãi để xem xét khả năng cấp bằng độc quyền sáng chế” (theo Cẩm nang sở hữu trí tuệ - WIPO).

Tính mới của sáng chế được quy định tại Điều 60 – Luật sở hữu trí tuệ: sáng chế ở Việt Nam được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hay bất kì một hình thức nào khác trong phạm vi cả nước và nước ngoài

Vậy, thế nào là chưa bị bộc lộ công khai? Theo khoản 2 Điều 60 sáng chế chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa

vụ giữ bí mật về sáng chế đó

Ngoài ra, sáng chế được coi là không bị mất tính mới với điều kiện là đơn đăng ký được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố trong các trường hợp sau: sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền; sáng chế được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học; sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức (quy định tại Khoản 3 Điều 60)

Đa số các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam yêu cầu phải xác định tính mới của sáng chế dựa vào tình trạng kỹ thuật trên toàn thế giới, nhưng mỗi một quốc gia khác nhau lại đưa ra tiêu chí đánh giá khác nhau

Để đánh giá tính mới của giải pháp kỹ thuật được yêu cầu cấp bảo hộ sáng chế/giải pháp hữu ích thì cần so sánh các đặc điểm của giải pháp kỹ thuật đó với giải pháp kỹ thuật khi tra cứu để đối chứng Đầu tiên, cần phải xem xét các dấu hiệu cơ bản của giải phái pháp kỹ thuật như chức năng, công dụng, cấu tạo, liên kết, thành phần… để từ đó xác định bản chất của đối tượng Sau đó xem xét phạm vi bảo hộ sáng chế, giải pháp kỹ thuật yêu cầu cấp bằng bảo hộ được coi

là có tính mới nếu so với trình độ trên thế giới không có một giải pháp kỹ thuật

Trang 10

nào tương ứng như vậy, hoặc có tìm thấy nhưng giải pháp kỹ thuật được yêu cầu

có thêm một dấu hiệu cơ bản mà trong giải pháp kỹ thuật đối chứng tìm thấy không có

Thời điểm xác định tính mới có hai thời điểm là ngày nộp đơn và ngày ưu tiên

Thứ nhất, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại Điều 90 Luật sở

hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tại khoản 1 nói rõ là nếu có nhiều đơn đăng ký sáng chế trùng nhau hoặc tương đương với nhau thì văn bằng bảo

hộ chỉ được cấp cho những đơn hợp lệ và có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng được các điều kiện cấp văn bằng bảo hộ

Có thể hiểu đơn giản là ai nộp đơn hợp lệ trước thì người đó sẽ được cấp bằng bảo hộ Đơn vị tính ở đây là tính theo ngày, do đó người đến nộp đơn sáng so với người đến nộp đơn chiều là hoàn toàn bình đẳng với nhau, trong trường hợp

đó các bên sẽ tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì cục bảo hộ sẽ từ chối đơn của tất cả mọi người

Thứ hai, nguyên tắc ưu tiên được quy định tại Điều 91 Luật sở hữu trí tuệ

2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), theo đó người nộp đơn đăng ký sáng chế có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng được các điều kiện: đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc các nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Việt Nam là thành viên hoặc Việt Nam có thỏa thuận áp dụng quy định đó; Người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân các nước thuộc trường hợp nêu trên cư trú hoặc có cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hoặc các nước nêu trên; trong đơn phải nêu rõ yêu cầu hưởng quyền ưu tiên và nộp bản sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã xác nhận đơn đầu tiên; đơn được nộp trong thời hạn ấn định mà Việt Nam là thành viên Ví dụ như anh A ở Đức nộp đơn đăng ký bảo hộ sản phẩm X ở Đức ngày 30/1/2010, anh B

ở Việt Nam cũng nộp đơn đăng ký bảo hộ sản phẩm X’ ở Việt Nam ngày 7/8/2010 (sản phẩm X và X’ là tương đương nhau) Anh A lại muốn sản phẩm X được bảo hộ ở Việt Nam để tiện cho việc sử dụng, khai thác nên anh đã đến

Ngày đăng: 06/07/2018, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w