A.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG2I.Hệ thống lý luận chung21.Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nhãn hiệu22.Khái niệm nhãn hiệu23.Phân loại nhãn hiệu44.Chức năng của nhãn hiệu6II.Điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu61.Điều kiện là dấu hiệu nhìn thấy được.72.Điều kiện có khả năng phân biệt8III.Đánh giá13C.KẾT LUẬN15DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO16
Trang 1A MỞ ĐẦU
Xã hội ngày một phát triển, nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày một tăng
lên, để đáp ứng nhu cầu ấy, nhiều “sản phẩm” ra đời Thế nhưng, khi có nhiều
sự lựa chọn con người ta thường có những hành vi không đúng với lí lẽ, với đạo đức như sao chép, ăn cắp bản quyền hay sử dụng của người khác nhằm mục đích xấu, gây nguy hại cho xã hội
Trước tình hình đó, để bảo vệ cho sự “độc quyền”, bảo vệ cho sự toàn vẹn
của sản phẩm cũng như của tác giả, pháp luật bổ sung thêm một ngành luật mới trong hệ thống pháp luật đó là Luật sở hữu trí tuệ
Ở Việt Nam những năm gần đây đã rất quan tâm trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, và Luật sở hữu trí tuệ cũng nằm trong vấn đề đó Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) là luật hiện hành, điều chỉnh những vấn đề về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và bảo hộ các quyền đó Đây là một phạm vi điều chỉnh hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, tạo sự ổn định, góp phần xây dựng xã hội ngày một văn minh hơn
Trong luật sở hữu trí tuệ có nhiều đối tượng, với mỗi đối tượng pháp luật lại đặt ra những vấn đề khác nhau, quy định khác nhau Trong đó có quyền sở hữu công nghiệp, đây là một phần quan trọng của luật sở hữu trí tuệ Tìm hiểu
về nội dung về quyền này chúng ta sẽ thấy sự chặt chẽ của pháp luật khi quy định tỉ mỉ những vấn đề tưởng chừng như nhỏ nhặt nhưng lại diễn ra thường xuyên trong xã hội Quyền công nghiệp là một nội dung hay và đặt ra nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhưng có lẽ đáng quan tâm hơn cả là vấn đề bảo hộ nhãn hiệu – một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Bằng sự hiểu biết, nghiên cứu, sưu tầm của mình, trong bài viết này tôi xin làm rõ những quy định của pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) Vì kiến thức còn hạn hẹp nên còn nhiều thiếu sót kính mong thầy cô giúp đỡ và bỏ qua!
Trang 2B NỘI DUNG
I Hệ thống lý luận chung
1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nhãn hiệu
Nhãn hiệu được bắt đầu sử dụng ở nước Anh vào những năm 1977 và sau
đó mở rộng ra nhiều nước châu Âu Ban đầu nó bắt nguồn từ chữ “brand” trong tiếng Anh có nghĩa là thương hiệu và nguyên thủy của nó là chữ “burning” có
nghĩa là đốt cháy Từ này được hiểu là đốt cháy lên da hoặc lông của thú nuôi,
đồ gỗ, kim loại đúc hoặc các hàng hóa khác để in được ký hiệu riêng lên đó, nhằm phân biệt được với các vật khác
Theo thời gian, vào thế kỷ XIX, từ “brand” mang ý nghĩa là dấu hiệu của
nhãn hiệu thương mại (theo từ điển Oxford) và đến thế kỷ XX từ ngữ ấy được
mở rộng ra không chỉ là dấu hiệu mà còn có cả hình ảnh để người tiêu dùng ghi nhớ
Theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học thì những người nguyên thủy sống cách đây khoảng 5000 năm trước công nguyên đã biết sử dụng những ký hiệu, ký tự, để khẳng định sự sở hữu của mình trên con vật, đồ vật Vậy đây có được coi là những dấu hiệu đầu tiên của nhãn hiệu hay không? Không chỉ vậy,
từ xa xưa các thợ thủ công đã sử dụng chữ ký hay biểu tượng của họ để đánh dấu sản phẩm, thợ La Mã đã sử dụng hơn 100 nhãn hiệu khác nhau để phân biệt tác phẩm của mình, nổi bật là nhãn hiệu Fortis đã có nhiều sản phẩm giả bắt chước
Tóm lại, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và các mối quan hệ quốc tế ngày một sâu rộng, cũng như sự xuất hiện của những nguy cơ xâm hại đến quyền sở hữu, các nước trên thế giới đã đặt ra vấn đề cần có quy định để bảo
vệ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo vệ nhãn hiệu nói riêng Vì vậy, năm 1883 Công ước về bảo hộ sở hữu công nghiệp trong đó có nhãn hiệu đã được thông qua, và Việt Nam là thành viên của công ước này
Bởi thế, Việt Nam cần thiết phải cho ra đời khái niệm nhãn hiệu cũng như
cơ chế bảo hộ nhãn hiệu của pháp luật Việt Nam
2 Khái niệm nhãn hiệu
Trang 3Pháp luật Việt Nam có quy định của riêng mình về khái niệm nhãn hiệu, tuy nhiên để hiểu một cách sâu sắc, toàn diện thì cần xem xét thêm các quy định trong các văn bản quốc tế cũng quy định về khái niệm nhãn hiệu, từ đó có thể thấy rằng, pháp luật Việt Nam luôn tôn trong pháp luật quốc tế, không đi ngược lại với những quy định chung và đều xuất phát từ những quy định ấy mà đưa ra các điều khoản phù hợp với tình hình Việt Nam
Trong Công ước Paris không đưa ra một khái niệm cụ thể về nhãn hiệu nhưng tại Điều 6 quinpuies điểm b của công ước quy định việc đăng ký nhãn hiệu có thể bị từ chối nếu: khi các nhãn hiệu đó xâm phạm đến quyền của bên thứ ba tại nước có yêu cầu bảo hộ; nhãn hiệu không có khả năng phân biệt; nhãn hiệu trái với đạo đức hay trật tự công cộng hoặc nhãn hiệu có khả năng lừa dối công chúng
Theo hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ thì quy định rằng “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào
có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố minh họa và tổ hợp sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu của hàng hóa…”
Hay như theo Hiệp định thương mại Việt – Mỹ thì “nhãn hiệu được cấu
thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một người với hàng hóa, dịch vụ của người khác…”.
Tại Việt Nam, trong luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy
định nhãn hiệu tại khoản 16 Điều 4: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt
hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Như vậy, từ khái niệm
trên, có thể nhận thấy nhãn hiệu phải có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng từ
ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa chữ với hình
Thứ hai, nhãn hiệu phải gắn lên sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoặc bao bì.
Trang 4Thứ ba, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ Phải cá
biệt hóa được sản phẩm, không để cho người tiêu dùng có thể nhầm lẫn được giữa sản phẩm này với sản phẩm khác
Như vậy, so với các công ước quốc tế thì khái niệm “Nhãn hiệu” của Việt
Nam cũng có những nét tương đồng như là dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ
3 Phân loại nhãn hiệu
3.1 Căn cứ vào dấu hiệu được bảo hộ
Phân chia thành ba loại:
Một là, nhãn hiệu từ ngữ, là tập hợp các chữ cái, con số, có khả năng phát
âm, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa Ví dụ như SONY, OPPO…
Hai là, nhãn hiệu hình ảnh là những dấu hiệu bằng hình ảnh, hình vẽ.
Ba là, nhãn hiệu kết hợp là nhãn hiệu bao gồm cả từ ngữ và hình ảnh Ví dụ
như nhãn hiệu Coca-Cola có sự kết hợp giữa chữ Coca-Cola và hình chai nước
3.2 Căn cứ vào chức năng của nhãn hiệu
Một là, nhãn hiệu tập thể “là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch
vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.” (khoản
17 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009) Ví dụ như xoài cát Hòa Lộc, thanh long Chợ Gạo…
Hai là, nhãn hiệu chứng nhận “là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân
đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu” (khoản 18
Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009) Ví dụ nhãn hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao
Ba là, nhãn hiệu liên kết “là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau” (khoản 19 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 5sửa đổi, bổ sung 2009) Ví dụ: coca-cola, coca-colaline, coca-colazero.Với nhãn hiệu liên kết chủ sở hữu sẽ ngăn chặn tình trạng sản xuất hàng hóa có dấu hiệu hàng nhái của các chủ thể không ngay thằng Việc chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu liên kết chỉ được thực hiện khi chuyển nhượng đồng thời tất cả các nhãn hiệu liên kết
Trong ba loại nhãn hiệu trên, cần phân biệt nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận Bởi hai loại nhãn hiệu trên khó nhận biết cũng như phân biệt
Thứ nhất, về chủ thể đăng ký, với nhãn hiệu tập thể chủ thể đăng ký là tổ
chức, tập thể đại diện cho các thành viên (hội liên hiệp, tổng công ty…) và không có chức năng kinh doanh Còn đối với nhãn hiệu chứng nhận, chủ thể đăng ký là tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ
Thứ hai, về chức năng của nhãn hiệu, với nhãn hiệu tập thể chức năng là để
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên tổ chức Với nhãn hiệu chứng nhận, chức năng là chứng nhận đặc tính hàng hóa, dịch vụ, xuất xứ, nguyên liệu, chất lượng, cách thức sản xuất…
Thứ ba, về chủ thể sử dụng, với nhãn hiệu tập thể chỉ có các thành viên tổ
chức tập thể mới được sử dụng (các chủ thể này có mối liên hệ về tổ chức, sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ) Với nhãn hiệu chứng nhận thì các chủ thể sản xuất kinh doanh có thể đăng ký để sử dụng nhãn hiệu chứng nhận nếu đáp ứng được điều kiện
3.3 Căn cứ vào danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu
Có hai loại là nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu thông thường
Thứ nhất, nhãn hiệu nổi tiếng “là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (khoản 20 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ
2005 sửa đổi, bổ sung 2009) Tiêu chí đánh giá một nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 75, bao gồm tiêu chí về số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết, phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa được lưu hành, doanh số từ việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu, uy tín rộng rãi của hàng hóa dịch vụ, số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu, số lượng quốc gia công
Trang 6nhận nhãn hiệu nổi tiếng và cuối cùng là giá chuyển nhượng và chuyển giao quyền quyền sử dụng, giá trị góp vồn đầu tư của nhãn hiệu
Thứ hai, nhãn hiệu thông thường là nhãn hiệu không đáp ứng được các tiêu
chí trên và chỉ có chức năng chính là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ
4 Chức năng của nhãn hiệu
Thứ nhất, một trong những chức năng quan trọng và cơ bản nhất của nhãn
hiệu là phân biệt hàng hóa dịch vụ Thông qua nhãn hiệu bằng từ ngữ, hình ảnh, hay các dấu hiệu riêng độc đáo và sáng tạo người dùng sẽ nhận biết được từng loại hàng hóa dịch vụ, thậm chí là phân biệt được cả các hàng hóa, dịch vụ cùng loại Từ đó có thể lựa chọn được loại hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích của bản thân
Ví dụ như với loại hàng hóa là nước lọc thông qua các nhãn hiệu như lavie hay aquafina người dùng sẽ lựa chọn cho mình sản phẩm đúng ý nhất
Thứ hai, nhãn hiệu có chức năng thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của sản
phẩm Căn cứ vào chức năng này, người dùng có thể lựa chọn sản phẩm mình mong muốn cũng như là phù hợp với khả năng kinh tế của gia đình
Thứ ba, ngoài hai chức năng trên, nhãn hiệu có chức năng quảng cáo Nhờ
có nhãn hiệu của riêng mình các sản phẩm được biết đến nhiều hơn, với những dấu hiệu độc đáo, dễ nhớ và độc quyền các sản phẩm được người tiêu dùng ghi nhớ và biết đến như một sản phẩm thông dụng
Thứ tư, chức năng kinh tế của nhãn hiệu, tại sao lại như vậy, vì khi có nhãn
hiệu người tiêu dùng có thể hình dung được chất lượng của sản phẩm, dịch vụ
và họ sẽ quyết định có mua hay không Nếu sản phẩm với nhãn hiệu được biết đến rộng rãi, sử dụng có hiệu quả tốt thì chắc chắn số lượng bán được sẽ không ngừng tăng lên, làm tăng khả năng kinh tế
II Điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu
Là một đối tượng của sở hữu công nghiệp nhãn hiệu không được bảo hộ tự động và khi muốn bảo hộ một nhãn hiệu cần phải đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật
Trang 7Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về điều kiện bảo
hộ của nhãn hiệu tại Điều 72:
“Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1.Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.
2.Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”
Theo quy định trên của pháp luật, có hai điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu đó
là dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt
1 Điều kiện là dấu hiệu nhìn thấy được.
Các dấu hiệu là nhãn hiệu phải nhìn thấy được, tức là có khả năng nhận biết
bằng thị giác Dạng tồn tại của dấu hiệu ấy: Một là, từ ngữ, bao gồm tên của
công ty, doanh nghiệp, họ tên cá nhân, tên một địa lý hay một từ, một cụm từ có
nghĩa hoặc không có nghĩa chỉ cần có khả năng phát âm Hai là, chữ cái và chữ
số, là sự sắp xếp của một hoặc nhiều chữ cái, chữ số hoặc là sự kết hợp giữa cả
chữ cái và chữ số Ba là, hình ảnh, hình vẽ là biểu tượng không gian hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì; có thể là hình ảnh thực hoặc hình vẽ biểu tượng Bốn
là, hình ảnh ba chiều là hình dạng của hàng hóa, bao bì Năm là, sự kết hợp của
tất cả các dấu hiệu trên Tất cả các dạng dấu hiệu có thể được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, tạo sự sinh động, sáng tạo và độc đáo cho sản phẩm, bao bì Đặc điểm của các dấu hiệu trên là phải nhìn thấy được, tức là tất cả mọi người có thể định hình được nhãn hiệu thông qua thị giác Vậy, câu chuyện đặt
ra là âm thanh, mùi vị hay các dấu hiệu khác có thể trở thành nhãn hiệu hay không? Câu trả lời cho câu hỏi đó là có Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chỉ bảo hộ dấu hiệu nhìn thấy được là nhãn hiệu, còn các dấu hiệu nhận biết bằng thính giác, khứu giác hay các dấu hiệu không nhận biết được bằng mắt thường thì không được bảo hộ là nhãn hiệu Lý do là để bảo hộ được các dấu hiệu đặc biệt ấy, đòi hỏi quốc gia đó phải có trình độ phát triển cao, có đủ điều
Trang 8kiện vật chất, kỹ thuật cũng như trình độ của các nhà quản lý, đây là quá trình khá phức tạp và có sự đòi hỏi cao
Một nhãn hiệu độc đáo là một nhãn hiệu tạo được dấu ấn cho người tiêu dùng hoặc đối tượng mà nó hướng tới Nhìn vào nhãn hiệu, chúng ta có thể nhận biết được ngay đó là sản phẩm, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ ở đâu, cơ sở sản xuất kinh doanh là gì…Thu hút được người tiêu dùng ngay từ cái nhìn đầu tiên
Ví dụ: như nhãn hiệu Coca-cola, Pepsi, Toyota…
2 Điều kiện có khả năng phân biệt
Khả năng phân biệt của nhãn hiệu là khả năng mà nhãn hiệu đó được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố: dễ nhận biết, dễ ghi nhớ; hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp dấu hiệu không có khả năng phân biệt (theo khoản 1 Điều 74 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sng 2009)
Vậy các trường hợp dấu hiệu theo quy định của pháp luật là không có khả năng phân biệt là gì? Pháp luật đã quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 74
Thứ nhất, hình và hình học đơn giản, chữ số, chữ cái thuộc các ngôn ngữ
không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và sử dụng rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu
Hình và hình học đơn giản, ví dụ như hình tròn, hình vuông, hình elip thể hiện dưới các dạng rời rạc đơn lẻ Các hình này không được coi là có khả năng nhận biết bởi nó được sử dụng một cách thông dụng, ai cũng biết đến và nếu nhãn hiệu nào cũng chỉ có một hình vuông, hình tam giác sẽ không thể nhận biết được nhãn hiệu nào với nhãn hiệu nào
Chữ cái, chữ số thuộc các ngôn ngữ không thông dụng được quy định tại
điểm 39.3.a Thông tư 01/2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006 và
hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp:
ký tự thuộc ngôn ngữ mà người tiêu dùng Việt Nam có hiểu biết thông thường không thể nhận biết và ghi nhớ được, như ký tự không có nguồn gốc Latinh: chữ
Ả Rập, chữ Slavơ, chữ Phạn, chữ Trung Quốc, chữ Nhật, chữ Triều Tiên, chữ Thái…Tuy nhiên, các chữ cái trên vẫn được coi là có khả năng phân biệt nếu
Trang 9chúng đi kèm với các thành phần khác tạo nên tổng thể có khả năng phân biệt hoặc được trình bày dưới dạng đồ họa hoặc dạng đặc biệt khác
Thứ hai, những dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông
thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến Ví dụ như đặt nhãn hiệu cho loại nước
của mình sản xuất là “nước lọc” là không thể, vì nước lọc đã được sử dụng rộng
rãi, nói đến nước lọc ai cũng biết
Thứ ba, dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,
số lượng, tính chất…mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ Ví dụ: Bánh kẹo Hải
Hà được sản xuất tại Hà Nội với thành phần là đường, bơ, sữa…
Thứ tư, dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể
kinh doanh Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân…
Thứ năm, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ Ví dụ: nước
mắm Phú Quốc, Cà phê Buôn Mê Thuột…dấu hiệu này không có khả năng phân biệt, mà chỉ đưa đến cho người dùng lên tưởng đến tên địa lý, nơi sản xuất hàng hóa… Trừ trường hợp những dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận
Thứ sáu, dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến
mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Để đánh giá dấu hiệu có trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác hay không, cần phải so sánh về cấu trúc, nội dung, cách phát âm,
ý nghĩa và hình thức thể hiện của dấu hiệu (theo điểm 39.8.a Thông tư 01/2007) Dấu hiệu bị coi là trùng nếu dấu hiệu đó giống hệt cả nhãn hiệu khác về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện Dấu hiệu bị coi là tương tự nếu: gần giống với nhãn hiệu khác về cấu trúc hoặc/và nội dung hoặc/và cách phát
âm hoặc/và ý nghĩa hoặc/và hình thức thể hiện đến mức làm cho người tiêu
Trang 10dùng tưởng lầm rằng hai đối tượng đó là một đối tượng, hoặc đối tượng này là biến thể của đối tượng kia hoặc hai đối tượng có cùng nguồn gốc; dấu hiệu chỉ là bản phiên âm hoặc dịch nghĩa từ nhãn hiệu khác nếu nhãn hiều khác là nhãn hiệu nổi tiếng
Thứ bảy, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch
vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên
Thứ tám, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc trương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm Trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày
có yêu cầu chấm dứt hiệu lực
Đây là trường hợp dấu hiệu đối với nhãn hiệu thông thường, phạm vi của trường hợp này là dấu hiệu trùng hoặc tương tự đối với nhãn hiệu của hàng hóa trùng hoặc tương tự, yêu cầu trùng hoặc tương tự là bắt buộc
Thứ chín, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn
hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng
Đây là trường hợp dấu hiệu với nhãn hiệu nổi tiếng, nếu như trong trường hợp trên hàng hóa phải là trùng hoặc tương tự, thì với nhãn hiệu nổi tiếng có thể
là hàng hóa, dịch vụ không tương tự nhưng phải đáp ứng hai điều kiện đó là làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng và lợi dụng uy tín của nhãn hiệu đó
Ví dụ: sử dụng nhãn hiệu Cocacola cho sản phẩm may mặc tuy không trùng với hàng hóa là nước giả khát nhưng sẽ không được bảo hộ hoặc sử dụng các dấu hiệu tương tự như cocacota… vì cocacola là nhãn hiểu nổi tiếng cho