APhần mở đầuBNội dung………………………………………………………………1I, Khái niệm đại diện và đặc điểm của quan hệ đại diện……………11, Khái niệm……………………………………………………12, Đặc điểm của quan hệ đại diện………………………………2II, Căn cứ xác lập và phân loại đại diện…………………………….31, Căn cứ xác lập đại diện……………………………………...32, Phân loại đại diện……………………………………………4III, Phạm vi đại diện………...………………………………………6IV, Thời hạn đại diện………………………………………………111, Thời hạn đại diện……...……………………………………112, Chấm dứt đại diện…………………...……………………..11V, Liên hệ và so sánh với chế định đại diện trong BLDS 2005…..13
Trang 1Mục lục
A-Phần mở đầu
B-Nội dung………1
I, Khái niệm đại diện và đặc điểm của quan hệ đại diện………1
1, Khái niệm………1
2, Đặc điểm của quan hệ đại diện………2
II, Căn cứ xác lập và phân loại đại diện……….3
1, Căn cứ xác lập đại diện……… 3
2, Phân loại đại diện………4
III, Phạm vi đại diện……… ………6
IV, Thời hạn đại diện………11
1, Thời hạn đại diện…… ………11
2, Chấm dứt đại diện……… ……… 11
V, Liên hệ và so sánh với chế định đại diện trong BLDS 2005… 13
Trang 2A – PHẦN MỞ ĐẦU
Mỗi người trong số chúng ta tồn tại trong xã hội luôn phải tham gia rất nhiều mối quan hệ bởi bản chất con người là “sự tổng hòa các mối quan hệ” như nhà triết học K.marx đã nói Trong đó thì không một ai là không tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, chúng phát sinh và chấm dứt liên tục hàng ngày hàng giờ Trong đời sống dân sự diễn ra hàng ngày hầu hết các trường hợp chủ thể quan hệ pháp luật dân sự đều tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự từ khi cam kết đến thỏa thuận và thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự đó Tuy nhiên
do nhiều những lí do gồm cả khách quan và chủ quan mà chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà phải thông qua hành vi của một người hay một tổ chức khác Bởi vậy để đảm bảo cho mọi chủ thể có thể tham gia vào giao dịch dân sự, chế định về đại diện đã ra đời và ngày càng được hoàn thiện nội dung quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 Nhận thấy được tầm quan trọng của chế định này em quyết định lựa chọn vấn đề về đại diện trong Bộ luật Dân sự 2015 cho bài tập lớn của mình Vì kiến thức chưa đủ sâu,
và kinh nghiệm còn ít cho nên bài tập của em chắc chắn không tránh khỏi những sai sót mong thầy cô thông cảm và giúp đỡ để em hoàn thiện hơn kiến thức của mình
Trang 3B – NỘI DUNG
I Khái niệm đại diện và đặc điểm của quan hệ đại diện.
1 Khái niệm
Tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định đại diện là việc cá nhân,
pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Như vậy, đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự mà hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện Theo đó, mối quan hệ này có thể xác lập theo ý chí của hai bên và được pháp luật công nhận hoặc do tòa án chỉ định người đại diện Khi mối quan hệ này đã được xác lập, người đại diện sẽ là người thay mặt hợp pháp cho người được đại diện đứng ra xác lập và thực hiện các giao dịch dân
sự với người thứ ba nhằm mang lại hoặc bảo vệ quyền cũng như lợi ích của người được đại diện Người được đại diện đồng thời sẽ phải tiếp nhận và gánh chịu những hậu quả pháp lý từ quan hệ mà người đại diện đã thay mặt mình thực hiện
Pháp luật nước ta đảm bảo cho mọi cá nhân và pháp nhân hoặc các chủ thể khác đều có quyền được tham gia, thực hiện các giao dịch dân sự, có thể là tự mình xác lập hoặc có người đại diện Tuy nhiên có những trường hợp mà cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó (Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015), thông thường thì các giao dịch này thường là những giao dịch liên quan đến quyền nhân thân Ví dụ: Một người không thể ủy quyền cho một người khác thay mình làm vợ (chồng) của chồng (vợ) của mình được Trong trường hợp pháp luật có quy định thì người
Trang 4đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao
dịch dân sự mà họ thay mặt cho người được đại diện xác lập và thực hiện (Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015)
2 Đặc điểm của quan hệ đại diện
Quan hệ đại diện cũng có các đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, có sự đa dạng về chủ thể tham gia, các chủ thể tham gia luôn quan tâm đến những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định và trách nhiệm pháp luật mà các chủ thể phải gánh chịu liên quan đến tài sản Ngoài những đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ đại diện còn có các đặc điểm riêng sau:
Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song: quan hệ bên trong giữa người đại diện và người được đại diện, quan hệ bên ngoài giữa người đại diện và người thứ ba.Trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa người được đại diện với người thứ ba (còn gọi là mối quan hệ gián tiếp)
Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan
hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện Người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên theo quy định của pháp luật, phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mình Các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó
Mục đích của người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích của người được đại diện Còn lợi ích của người đại diện, trong quan hệ đại diện
Trang 5theo ủy quyền, họ có thể được hưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận, còn trong quan
hệ đại diện theo pháp luật thì đó là nghĩa vụ của người đại diện và không được hưởng các lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ này
Quan hệ đại diện có thể được xác định theo quy định của pháp luật, có thể được xác định theo ý chí của các chủ thể tham gia thông qua giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền Trong phạm vi thẩm quyền đại diện, người đại diện xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, đem lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại diện
Ý nghĩa của việc quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự
Quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt trong cách thức của chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự Là một công cụ hữu ích hỗ trợ cho các giao dịch dân sự phát triển một cách có hiệu quả và đồng thời bảo vệ quyền lợi các bên Chủ thể không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được bảo vệ về quyền lợi, bên cạnh đó cũng đáp ứng nhu cầu của chủ thể có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Còn đối với các chủ thể pháp lý nhân tạo (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) mà quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua hành vi của con người Do đó chế định đại diện sẽ tạo điều kiện và đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể khác ngoài cá nhân
Như vậy, chế định đại diện không chỉ thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự mà còn là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát quan hệ đại diện theo một trật tự chung
II Căn cứ xác lập và phân loại đại diện.
1 Căn cứ xác lập quyền đại diện
Điều 135 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về căn cứ xác lập quyền đại diện như sau:
Trang 6- Theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền);
- Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Theo điều lệ của pháp nhân;
- Theo quy định của pháp luật Phân loại đại diện
2 Phân loại đại diện
Có hai loại đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền
Đại diện theo ủy quyền xác lập dựa trên ý chí của hai bên chủ thể, người
đại diện và người được đại diện tự thỏa thuận với nhau về nội dung ủy quyền, phạm vi thẩm quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền Đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm
Cá nhân hoặc pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự ( Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015) Bên cạnh đó, để đảm bảo cho quyền bình đẳng, tất cả mọi công dân có thể thực hiện quyền ủy quyền đại diện của mình, Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật trước đã có
bổ sung Khoản 2 Điều 138 về đại diện theo ủy quyền ngoài các chủ thể là cá nhân
và pháp nhân thì các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
Hầu hết người đại diện theo ủy quyền sẽ là người từ đủ 18 tuổi trở lên đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhưng có thể do những điều kiện chủ quan hay khách quan có thể có trường hợp mà người được ủy quyền đại diện có độ tuổi từ đủ
Trang 715 đến dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện (Khoản 3 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015)
Đại diện theo pháp luật xác lập do ý chí của nhà nước Pháp luật quy định
mối quan hệ đại diện được xác lập dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể Đại diện theo pháp luật gồm đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân quy định tại Điều 136 và Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015
Đại diện theo pháp luật của cá nhân (Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015) bao gồm các trường hợp:
1 Cha mẹ đối với con chưa thành niên
2 Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đai diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định
3 Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại Khoản 1 và 2 Điều này
4 Người do Tòa án chỉ định đối với ngời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người được đại diện là cá nhân thì phải là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mắc bệnh tâm thần hoăc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ hành vi của mình, người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự Đây là những đối tượng mà bản thân họ không thể trực tiếp tham gia vào bất kỳ giao dịch nào nên pháp luật quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo về quyền lợi của họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự
Đại diện theo pháp luật của pháp nhân quy định tại Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 gồm:
a Người được pháp nhân chỉ địnhh theo điều lệ;
b Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
Trang 8c Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
Người đại diện của pháp nhân thay mặt pháp nhân tiến hành các hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, điều lệ pháp nhân quy định, khi phải tham gia quan hệ với người thứ ba, họ chỉ cần xuất trình giấy tờ chứng nhận chức vụ, nhân thân mà không cần phải có giấy ủy quyền Người đại diện theo pháp luật là người đại diện đương nhiên thường xuyên của pháp nhân trong các quan hệ của pháp nhân với người thứ ba
Một điểm mới đáng chú ý trong chế định đại diện của Bộ luật Dân sự 2015 về đại diện theo pháp luật của pháp nhân là tại Khoản 2 Điều 137 quy định một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể chỉ định nhiều người đại diện trong Điều lệ của mình để thực hiện các giao dịch khác nhau, bởi có thể có rất nhiều giao dịch phát sinh và đòi hỏi những kiến thức trình độ chuyên môn khác nhau, cũng như có nhiều những giao dịch đòi hỏi trách nhiệm của người đại diện ở nhiều địa phương khác nhau Quy định mới này sẽ giúp tiết kiệm thời gian cũng như chi phí cho doanh nghiệp tạo ra cơ hội kinh doanh nhanh chóng, thuận lợi
III Phạm vi đại diện.
Người đại diện nhân danh người được đại diện bởi vậy cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó Giớ hạn này chính là phạm vi đại diện
“Phạm vi đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong việc nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với một người thứ ba” [Phạm vi đại diện theo quy định của pháp luật dân sự-Luatduonggia.vn] Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ tại Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
Trang 9c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật
Việc quy định căn cứ phạm vi đại diện có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi trong đời sống dân sự không phải lúc nào cũng xác định được phạm vi đại diện dựa vào các căn cứ trong Khoản 1 nêu trên do vậy pháp luật đã quy định tại Khoản 2 Điều này khi không xác định được phạm vi đại diện theo căn cứ trên thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Như vậy, pháp luật cho phép người đại diện theo pháp luật có quyền chủ động trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích của người đại diện
Xác định đại diện còn là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của một số giao dịch
do người đại diện xác lập, thực hiện Khoản 3 Điều 141 Bộ luật Dân sự quy định: “ Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.” Ví dụ cho tình huống là
A ủy quyền cho C đại diện cho mình bán một mảnh đất, B ủy quyền cho C đại diện cho mình mua đất thì lúc này C không được đại diện cho B mua nhà của A Mặc dù điều này phù hợp với Khoản này ở chỗ : “một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau…” Tuy nhiên giao dịch dân sự mua bán mà bên mua và bán cùng do một người đại diện là B thực hiện thì sẽ không đảm bảo được tính hiệu lực của nó, hơn nữa còn có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người được đại diện là A và C
Bên cạnh đó, người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình quy định tại Khoản 4 Điều này Ví dụ: Bà H được Bà B ủy quyền
Trang 10đại diện cho mình bán một cái tủ lạnh cho ông T, theo quy định tại Khoản này thì ông T được quyền biết về thẩm quyền phạm vi đại diện của bà H đại diện cho bà H bán tủ lạnh cho mình
Ngoài ra xác định phạm vi đại diện còn có ý nghĩa rất quan trọng xung quanh thẩm quyền đại diện Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện đương nhiên sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện ( quy định tại Khoản 1 Điều 139 Hậu quả pháp lí của hành vi đại diện Bộ luật Dân sự 2015) Đồng thời giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập hay giao dịch dân sự vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện sẽ để lại những hậu quả nhất định
Thứ nhất, hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác
lập, thực hiện quy định rõ tại Điều 142 Bộ luật Dân sự
Đối với giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ các trường hợp như người được đại diện đã công nhận giao dịch, người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý và người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện Quy định này là căn
cứ để ràng buộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, tổ chức trong trường hợp cá nhân, pháp nhân lợi dụng danh nghĩa của mình dể trục lợi gây tổn hại cho người thứ ba ngay tình Quy định này xuất phát từ thực tế có nhiều cá nhân lợi dụng uy tín của doanh nghiệp để trục lợi cho mình, lừa dối khách hàng (đặc biệt là các giao dịch về bất động sản) gây ảnh hưởng đến danh tiếng của doanh nghiệp
Khoản 2 Điều này quy định trong các trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền hay nghĩa
vụ đối với người được đại diện thì người không có quyền đại diện vẫn phải thực