1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của các biện pháp tự vệ thương mại đối với nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

24 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 36,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG2I.Một số vấn đề lý luận về các biện pháp tự vệ thương mại trong thương mại quốc tế21.Khái niệm biện pháp tự vệ thương mại22.Đặc điểm của biện pháp tự vệ43.Cơ sở pháp lý của các biện pháp tự vệ54.Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ65.Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ9II.Quy định của pháp luật về biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế111.Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế112.Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ14III.Tác động của biện pháp tự vệ đến nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng171.Tích cực172.Tiêu cực18C.KẾT LUẬN19Danh mục tài liệu tham khảo20

Trang 1

Chủ đề: Tác động của các biện pháp tự vệ thương mại đối với nền

kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.

A MỞ ĐẦU

Hiện nay, quá trình hội nhập hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế đang là xu hướngchung trên toàn thế giới Quá trình này đang diễn ra hết sức nhanh chóng và tạo ranhững biến đổi mạnh mẽ cho kinh tế các nước Khoảng cách giữa các quốc giađang ngày được thu hẹp hơn theo sự phát triển thương mại thế giới Tự do hóathương mại dần tiến tới việc các quốc gia phải dỡ bỏ những rào cản đối với hànghóa, dịch vụ từ nước ngoài nhập vào nội địa Theo xu thế chung của toàn cầu, từkhi tiến hành đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, Việt Nam luôn chủ động tích cực mở cửa hội nhập Minh chứng cho điều đólà sự gia nhập của Việt Nam vào hàng loạt các tổ chức của khu vực và thế giới nhưHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và rất nhiều các tổchức khác

Trong bối cảnh đó, việc kí kết các hiệp định thương mại tự do đã tạo ranhiều cơ hội về giao lưu phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều tháchthức không hề nhỏ đối với Việt Nam Tự do thương mại cũng có mặt trái của nó,việc hàng hóa của các quốc gia khác nhau thâm nhập thị trường nội địa một cách tự

do, bình đẳng và không bị hạn chế ắt sẽ nảy sinh những tiêu cực do cạnh tranh gây

ra vì nhiều doanh nghiệp, thương hiệu trong nước không cạnh tranh lại với sảnphẩm của nước ngoài dẫn đến phá sản Đó là khó khăn của các nước đang pháttriển nói chung cũng như Việt Nam nói riêng Vì vậy, để bảo hộ được nền sản xuất

Trang 2

trong nước mà vẫn không trái với quy định của thương mại quốc tế, các biện pháptự vệ thương mại được các quốc gia lựa chọn sử dụng rộng rãi nhằm hạn chế sự giatăng vượt mức gây ảnh hưởng đối với sản xuất trong nước.

B NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận về các biện pháp tự vệ thương mại trong thương mại quốc tế

1 Khái niệm biện pháp tự vệ thương mại

Hiệp định GATT 1994 tại Điều XIX có “điều khoản giải thoát nghĩa vụ” chophép các thành viên WTO được “chạy thoát” khỏi các nghĩa vụ về giảm thuế củamình trong các tình huống nhất định Đó là tiền đề cho sự hình thành các quy địnhcủa pháp luật về biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Khi gia nhập WTO, các quốc gia phải mở cửa thị trường và thực thi chínhsách tự do thương mại trong đó có nghĩa vụ về thuế Các quốc gia thành viên ngoàiđược hưởng những lợi ích như: thúc đẩy sự phát triển kinh tế, mở rộng thì trườngthì cũng phải đứng trước sức ép không nhỏ từ cạnh tranh, đặc biệt là các quốc giađang phát triển Vì vậy, trong các hiệp định đa biên của mình, Tổ chức thương mạithế giới WTO cũng đã mở ra nhiều điều khoản giải thoát cho các thành viên khỏinghĩa vụ về giảm thuế khi đứng trước tác động của tự do hóa thương mại

Theo đó, Điều XIX, GATT 1994 quy định:

Biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu các sản phẩm nhất định

1 a) Nếu do hậu quả của những diễn tiến không lường trước được và do kết quả của những nghĩa vụ, trong đó có những nhân nhượng thuế quan của một bên ký kết theo Hiệp định này, một sản phẩm được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết đó với số lượng gia tăng và với các điều kiện đến mức gây thiệt hại

Trang 3

hoặc đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay sản phẩm cạnh tranh trực tiếp trong nước, bên ký kết đó có quyền ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan, đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn chặn hoặc khắc phục tổn hại đó.

b) Nếu một bên ký kết đã chấp nhận một sự nhân nhượng liên quan tới một sự ưu đãi và sản phẩm là đối tượng ưu đãi được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết có tình huống như nêu tại điểm a) của khoản này tới mức mà nhập khẩu

đó đã gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại nghiêm trọng cho các nhà sản xuất những sản phẩm tương tự hay trực tiếp cạnh tranh là các nhà sản xuất trên lãnh thổ của bên ký kết đang được hưởng hay đã được hưởng sự ưu dãi đó, bên ký kết này có thể đề nghị bên ký kết đang nhập khẩu và bên ký kết đang nhập khẩu có quyền tạm ngừng hoàn toàn hay một phần các cam kết của mình, rút bỏ hay điều chỉnh nhân nhượng thuế quan đối với sản phẩm đó và trong thời gian cần thiết để ngăn ngừa và khắc phục tổn hại đó.

Như vậy, nếu do hậu quả của những tiến triển không lường trước được và doảnh hưởng của các cam kết đối với một bên ký kết theo Hiệp định này, kể cả cácnhượng bộ về thuế, bất kì sản phẩm nào được nhập khẩu vào lãnh thổ của bên kýkết đó với số lượng tang và trong các điều kiện gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hạinghiêm trọng cho các nhà sản xuất trong nước hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếptrong nước tại lãnh thổ đó thì bên ký kết này được quyền dừng việc thực hiện toànbộ hay một phần nghĩa vụ hoặc rút lại hoặc sửa đổi sự nhượng bộ liên quan tới sảnphẩm đó ở mức độ và trong khoảng thời gian có thể là cần thiết để ngăn chặn haykhắc phục thiệt hại này Trên cơ sở đó, WTO cũng có Hiệp định về thực thi ĐiềuXIX nói trên của GATT, thường được gọi là “Hiệp định về các biện pháp tự vệ(Hiệp định SG)

Trang 4

Từ đây chúng ta có thể hiểu biện pháp tự vệ thương mại là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.

Từ khái niệm trên có thể thấy, trước hết, biện pháp tự vệ mang đặc điểm củamột hành vi phòng vệ thông thường bảo vệ mình khỏi những tác động gây hại từbên ngoài Đối tượng nó hướng đến là việc “nhập khẩu đối với một hoặc một sốloại hàng hóa” khi việc nhập khẩu này có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệthại nghiêm trọng đối với nền sản xuất trong nước

2 Đặc điểm của biện pháp tự vệ

Thứ nhất, biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ.

Mỗi nước nhập khẩu là thành viên của WTO đều có quyền áp dụng biệnpháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì họ phải đảm bảo tuân theo các quy định củaWTO về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ Chính vì vậy, cácdoanh nghiệp cần chú ý đến biện pháp này để yêu cầu Chính phủ sử dụng nhằmbảo vệ lợi ích của mình trước hàng hoá nhập khẩu của nước ngoài khi cần thiết

Thứ hai, biện pháp tự vệ trong thương mại được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của hàng hóa nước khác

Hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm: chống bán phá giá,trợ cấp và tự vệ Trong khi chống bán phá giá và trợ cấp được áp dụng khi có hành

vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu thìbiện pháp tự vệ thương mại lại được áp dụng trong điều kiện hoàn toàn bìnhthường, không có sự vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh nên vềhình thức, việc áp dụng biện pháp tự vệ bị coi là đi ngược lại chính sách tự do hoáthương mại của WTO Tuy vậy, đây là biện pháp được thừa nhận trong khuôn khổWTO (với các điều kiện chặt chẽ để tránh lạm dụng) Lý do là trong hoàn cảnh

Trang 5

buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, cácbiện pháp tự vệ là một hình thức “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu làthành viên WTO đều mong muốn Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngănchặn tạm thời luồng nhập khẩu để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránhnhững đổ vỡ trong một số trường hợp đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, tự vệ thương mại không phải là một biện pháp miễn phí

Được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu

“tự do hoá thương mại”, biện pháp tự vệ là một công cụ “phải trả tiền” Điều nàycó nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất của nước mìnhnhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại mà biện pháp này gây ra cho các nhà sảnxuất nước ngoài (như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác).Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước cóhàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định Nếu nước nàykhông tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trảđũa

3 Cơ sở pháp lý của các biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ thương mại trong WTO được quy định tại: Điều XIX GATT1994; Hiệp định về biện pháp tự vệ (Hiệp định SG) Hiệp định tự vệ đưa ra khuônkhổ về các thủ tục trong nước mà theo đó có thể đem lại quyết định hạn chế nhậpkhẩu hàng hóa đã hoặc đang gây thiệt hại nghiêm tọng cho các nhà sản xuất hànghóa tương tự trong nước Các thủ tục này cơ bản tương tự các thủ tục trong Hiệpđịnh AD và SCM

Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về biện pháp tự vệ cónghĩa vụ tuân thủ các nguyên tắc này của WTO Các vụ kiện, việc điều tra và ápdụng biện pháp tự vệ trên thực tế được tiến hành theo pháp luật nội địa của từngnước nhập khẩu, phù hợp với quy định liên quan của WTO Đối với doanh nghiệp,để có hiểu biết khái quát về những vấn đề cơ bản nhất về biện pháp tự vệ, doanh

Trang 6

nghiệp cần tiếp cận các quy định của WTO về vấn đề này Tuy nhiên, để biết chitiết về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền… trong các vụ việc điều tra và ápdụng biện pháp tự vệ cụ thể ở mỗi thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cần tìm hiểucác quy định pháp luật về biện pháp tự vệ của nước đó

Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật liên quan đến điều tra và áp dụng cácbiện pháp tự vệ gồm:

• Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 Về tự vệ trong nhập khẩu hànghoá nước ngoài vào Việt Nam

• Nghị định 150/2003/NĐ – CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh vềtự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam

• Nghị định 04/2006/ NĐ – CP Về việc thành lập và quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của hội đồng xử lý vụ việcchống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

• Và ở một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác…

4 Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Các biện pháp tự vệ được WTO công nhận không thể được áp dụng mộtcách tùy tiện mà nó phải đáp ứng được những điều kiện đặt ra Về tổng thể, điềukiện chung đặt ra là:Việc tăng đột biến lượng nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phảilà hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra cam kếttrong khuôn khổ WTO Điều XIX, GATT đưa ra khái niệm “không lường trướcđược” nghĩa là có sự gia tăng một cách bất thường, là kết quả của những nghĩa vụ,của sự nhân nhượng thuế quan Song song với các điều kiện chung này, một sốnước khi gia nhập WTO phải đưa ra những cam kết riêng liên quan đến biện pháptự vệ Việt Nam không có ràng buộc hay bảo lưu nào lớn về các biện pháp tự vệnày, do đó, việc áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam đối với hàng hoá nước ngoàinếu có sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO về vấn đề này

Trang 7

Ngoài ra, một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã

tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

Câu hỏi đặt ra là khi nào hàng hoá nhập khẩu được coi là tăng đột biến đếnmức có thể áp dụng biện pháp tự vệ? Đây là một câu hỏi xuất hiện đầu tiên đối vớinước nhập khẩu trước khi quyết định có áp dụng biện pháp tự vệ hay không đối vớimột mặt hàng nhất định Để áp dụng biện pháp tự vệ, sự gia tăng đột biến về sốlượng của hàng hoá phải đáp ứng các điều kiện sau:

• Sự gia tăng này là gia tăng tuyệt đối (ví dụ, số lượng hàng hoá nhậpkhẩu tăng gấp 2 lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví dụ,lượng hàng nhập khẩu dường như không tăng, nhưng cùng thời điểmđó lượng hàng sản xuất trong nước lại giảm mạnh)

• Sự gia tăng về số lượng phải mang tính đột biến (diễn ra đột ngột,nhanh và tức thời)

Cũng cần lưu ý ở đây rằng, vẫn theo các điều kiện chung thì sự gia tăngnhập khẩu này phải thuộc diện không dự đoán được vào thời điểm nước nhập khẩuđàm phán tham gia Hiệp định về áp dụng biện pháp tự vệ Thêm nữa, chú ý ba yếutố sau đây khi xem xét điều kiện này: sự gia tăng về giá trị nhập khẩu không phảilà yếu tố bắt buộc để điều tra trong vụ việc tự vệ; sự gia tăng lượng nhập khẩu cầnđược xem xét theo diễn tiến trong suốt quá trình điều tra chứ không chỉ đơn thuầnlà so sánh lượng nhập khẩu thời điểm đầu và cuối của cuộc điều tra; sự thay đổi về

xu hướng thời trang và ảnh hưởng của nó đến cạnh tranh được xem là việc khôngthể dự đoán trước bởi các nhà đàm phán

Thứ hai, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nghiêm trọng.

Một trong các điều kiện để có thể áp dụng biện pháp tự vệ là phải điều trachứng minh được rằng ngành sản xuất nội địa phải chịu thiệt hại nghiêm trọng từ

Trang 8

việc hàng nhập khẩu tăng ồ ạt Vậy xác định yếu tố “thiệt hại nghiêm trọng” nhưthế nào? Theo Hiệp định SG quy định tại khoản 1, Điều 4: “Tổn hại nghiêm trọng”được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp sảnxuất nội địa “Đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng” là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽxảy ra Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứkhông phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa Cụ thể:

• Về hình thức, các thiệt hại này có thể tồn tại dưới hai dạng: thiệt hại

thực tế hoặc nguy cơ thiệt hại (nguy cơ này là rất gần);

• Về mức độ, các thiệt hại này phải ở mức nghiêm trọng (tức là ở mức

cao hơn so với thiệt hại đáng kể trong trường hợp các vụ kiện chốngbán phá giá, chống trợ cấp)

• Về phương pháp, các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân

tích tất cả các yếu tố liên quan đến thực trạng của ngành sản xuất nộiđịa (ví dụ tỉ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩmnhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công…)Trong cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, việc chứng minh thiệt hạinghiêm trọng chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngành sản xuất nội địa liên quan Vìvậy, để đạt được mục tiêu của mình, ngành sản xuất nội địa cần chuẩn bị kỹ về cácsố liệu, tập hợp trong một thời gian tương đối dài để có đủ dữ liệu chứng minh

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến

và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại gây ra nói trên.

Sự gia tăng số lượng hàng hóa nhập khẩu là hệ quả của chính sách tự do hóathương mại và có mối quan hệ nhân quả với những thiệt hại xảy ra Đề xác địnhđược mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hạihoặc đe doạ gây thiệt hại, nước nhập khẩu cần phải xác định được ngành sản xuấtliên quan – đối tượng bị thiệt hại Vậy ngành sản xuất nội địa liên quan là gì?

Trang 9

Ngành sản xuất nội địa liên quan trong vụ việc tự vệ là ngành sản xuất sản phẩmtương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu bị điều tra (rộng hơnkhái niệm ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa trong các vụ điều tra chốngbán phá giá hay chống trợ cấp) Qua đây cũng xin làm rõ khái niệm sản phẩmtương tự và khái niệm sản phẩm cạnh tranh trực tiếp:

• Sản phẩm tương tự được hiểu là sản phẩm giống hệt hoặc nếu khôngcó sản phẩm giống hệt thì là sản phẩm tương đồng về tính chất, thànhphần, chất lượng và mục đích sử dụng cuối cùng;

• Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp là những sản phẩm có thể thay thế sảnphẩm nhập khẩu bị điều tra ở một mức độ nhất định trên và trong cácđiều kiện của thị trường nước nhập khẩu

Ngoài ra, để xác định được sản phẩm nào là sản phẩm cạnh tranh trực tiếphoặc sản phẩm tương tự, chúng ta cần căn cứ vào một số yếu tố sau:

• Hai loại sản phẩm có tác động khác nhau đến sức khoẻ con người khócó thể coi là sản phẩm tương tự (vụ các quy định đối với chất Amiăngvà sản phẩm có chứa Amiăng – EC)

• Khi xem xét tính chất có thể thay thế nhau của các sản phẩm tương tựcần lưu ý đến cả cách thức các sản phẩm này được quảng cáo và tiêuthụ/sử dụng (vụ thuế đối với đồ uống có cồn - Nhật Bản)

• Những sản phẩm có dây chuyền sản xuất tương tự nhau hoặc được sảnxuất bởi các chủ thể có cùng lợi ích kinh tế không nhất thiết là sảnphẩm tương tự (vụ Đèn của Hoa Kỳ)

5 Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

• Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Theo đó, các quốc gia không được phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhậpkhẩu từ các nước khác nhau Các quốc gia khác nhau đều bình đẳng trước pháp

Trang 10

luật, không gây ra sự phân biệt từ các hàng hóa, công dân của nước này với nướckhác, nói cách khác họ phải đều được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân Tức là, biệnpháp tự vệ khi được áp dụng lên một loại hàng hóa nhập khẩu sẽ không phân biệtnguồn gốc xuất xứ của loại hàng hóa đó Như vậy khác với biện pháp chống bánphá giá và biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nhà xuất khẩu từ một hoặcmột số nước xuất khẩu nhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ áp dụng cho tất cảcác nhà sản xuất, xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu đang xuất mặt hàng đósang nước nhập khẩu.

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ nhất định Theo quy định tại

khoản 2a, Điều 5, Hiệp định SG: “Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành viên có lợi ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời gian đại diện trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có thể ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa này.”

Như vậy, trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuấtkhẩu, khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng phải thỏa thuận vớicác nước có hàng hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước này.Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ phânbổ cho các nước xuất khẩu thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩmđược nhập từ các nước đó trong một khoảng thời gian đại diện và có tính đến mộtsố yếu tố khác Tóm lại trong trường hợp này sẽ có sự chênh lệch nhất định về thịphần xuất khẩu hàng hóa giữa các quốc gia xuất khẩu cho nên trường hợp nàyđược coi là ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử

Trang 11

• Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức

độ cần thiết

Theo khoản 1, Điều 5, Hiệp định SG: “Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh” Điều này là hoàn toàn hợp lý vì

mục đích chính của biện pháp tự vệ là nhằm tạo điều kiện, thời gian cho ngành sảnxuất nội địa khắc phục thiệt hại, hợp lý hóa sản xuất để có thể cạnh tranh sòngphẳng với hàng hóa xuất khẩu sau khi dỡ bỏ biện pháp tự vệ Bởi toàn bộ thời gianáp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời, thời gianbắt đầu áp dụng và bất kỳ sự gia hạn nào không được vượt quá 8 năm Đối với cácnước đang phát triển thì thời hạn này có thể là tối đa 10 năm Trong thời kỳ ápdụng, nếu những căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ không còn thì nước áp dụngphải tiến hành dỡ bỏ hay đình chỉ áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa đó.Đồng thời, nước áp dụng phải tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ để đảm bảoquyền và lợi ích cho nước bị áp dụng

• Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển

Các thành viên của WTO phần nhiều vấn là các nước đang phát triển nênWTO đã có những chính sách ưu tiên nhằm khuyến khích các nước đó phát triểnkinh tế dần bắt kịp các nước phát triển Cụ thể, tại Điều 9, Hiệp định SG có quy

định riêng về chế độ đãi ngộ đối với các nước đang phát triển “Các biện pháp tự

vệ không được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một Thành viên đang phát triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên này không vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan” Hơn nữa, như đã nói ở

trên, một thành viên đang phát triển có thể kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự

Trang 12

vệ thêm 2 năm so với các thành viên phát triển tức là kéo dài thời hạn từ 8 năm lên

10 năm

• Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại

WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường tổnthất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường là việc nước nhập khẩutự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hàng hoá khác đến từ các nướcxuất khẩu đó) Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hành thươnglượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả đáng Trườnghợp không đạt được thoả thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháptrả đũa (thường là việc rút lại những nghĩa vụ nhất định trong WTO, bao gồm cảviệc rút lại các nhượng bộ về thuế quan - tức là từ chối giảm thuế theo cam kếtWTO - đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ) Tuy nhiên, việc trả đũa không thểđược thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ được áp dụng (nếu biệnpháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO và thiệt hại nghiêm trọng làthiệt hại thực tế

II Quy định của pháp luật về biện pháp tự vệ trong thương

mại quốc tế

1 Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

i Biện pháp thuế quan (tăng thuế so với mức thuế trần đã cam kết)

Thuế quan tức thuế xuất nhập khẩu bao gồm: thuế xuất khẩu và thuế nhậpkhẩu Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hànghóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác nhằm tăngnguồn thu ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hànghóa tương tự trong nước Những vấn đề quan trọng liên quan đến thuế quan mà các

Ngày đăng: 06/07/2018, 14:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w