1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

dieu tra mau trong nuoi trong thuy san thai nguyen

16 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 434,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại việc thu thập số liệu thống kê thuỷ sản do Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Thái Nguyên thực hiện, không có mạng lưới thu thập thông tin đến huyện và xã, vì vậy gặp nhiều

Trang 1

ĐIỀU TRA MẪU TRONG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

(Cập nhật: 21/12/2005)

2.1 Tổng quan về tỉnh Thái Nguyên

2.2 Mục đích nghiên cứu

2.3 Điều tra cơ bản

2.4 Lựa chọn mẫu điều tra

2.5 Số lượng mẫu điều tra

2.6 Phân bổ số lượng mẫu điều tra

2.7 Phương pháp thu thập số liệu

2.8 Xây dựng mẫu phiếu điều tra

2.8.1 Mẫu phiếu

2.8.2 Giải thích cách ghi phiếu điều tra

2.9 Phương pháp ước tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

2.9.1 Tính năng suất bình quân

2.9.2 Tính tỷ lệ diện tích thực tế nuôi trồng thuỷ sản và cho thu hoạch

2.9.3 Tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

2.9.4 Tính sản lượng và giá trị theo loài

2.10 Phân tích và lập các báo cáo thông tin thống kê

2.1 Tổng quan về tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh không lớn nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số trung bình hiện nay là: 1.046.000 người, chiếm tương ứng 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nước; bao gồm 9 đơn vị hành chính gồm 7 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố; 180 xã, phường thị trấn, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi

Phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang; phía đông giáp với Lạng Sơn và Bắc Giang; phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội Do vị trí địa lý thuận lợi, Thái Nguyên trở thành một trong những trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực đông bắc Việt Nam

Toàn tỉnh có diện tích mặt nước là 6.925ha, bao gồm 2.285ha ao gia đình, 1.140ha hồ nhỏ, 2.500ha hồ chứa lớn (hồ Núi Cốc) và 1.000ha ruộng cấy lúa có khả năng nuôi cá kết hợp Ngoài ra, diện tích sông, suối có khoảng 12.000ha là nơi có thể khai thác thuỷ sản tự nhiên, hoặc sử dụng để nuôi cá lồng và nuôi cá eo, ngách

Sản xuất thuỷ sản chủ yếu ở Thái Nguyên là nghề nuôi trồng thuỷ sản ở quy mô hộ gia đình, phân bố rộng khắp mọi địa bàn với quy mô nhỏ lẻ Một số hình thức tổ chức sản xuất theo tổ hợp tác và hợp tác xã nghề

cá nuôi lồng có năng suất và sản lượng cao thì việc thu thập số liệu thống kê qua kênh báo cáo khá dễ dàng

Hiện tại việc thu thập số liệu thống kê thuỷ sản do Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Thái Nguyên thực hiện, không có mạng lưới thu thập thông tin đến huyện và xã, vì vậy gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thu số liệu; số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh không chi tiết theo yêu cầu quản lý về thuỷ sản; Ao , hồ phân tán thuộc mô hình quản lý của hộ gia đình; nhận thức của người dân về nuôi trồng thuỷ sản còn hạn chế nên không ghi chép số liệu để rút kinh nghiệm trong nuôi trồng thuỷ sản; các số liệu thống kê về chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích mặt nước trong nuôi trồng thuỷ sản diễn ra thường xuyên nhưng chưa được cập nhật; không có bộ phận chuyên theo dõi công tác thống kê do đó số liệu không cập nhật, thiếu chính xác; số liệu thống kê để lập báo cáo tổng kết dựa vào nguồn thông tin từ cơ sở, thông qua các trại xuất bán giống và kinh nghiệm của cán bộ theo dõi lĩnh vực thuỷ sản

2.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 2

Dự án “Đào tạo về quản lý thông tin thống kê” TCP/VIE/2907(T) đã lựa chọn Thái Nguyên làm địa bàn thử nghiệm ứng dụng phương pháp điều tra chọn mẫu của FAO trong thống kê nuôi trồng thuỷ sản Dự án đã phối hợp với Sở NN & PTNT và Trung tâm Thuỷ sản Thái Nguyên để thực hiện nghiên cứu này Việc thu thập dữ liệu do 5 cán bộ tại Thái Nguyên thực hiện trong 3 tháng 7-8-9/2005, sau khi được dự một khoá tập huấn 3 ngày do Dự án tổ chức Việc phân tích dữ liệu do cán bộ của Dự án và đối tác địa phương cùng thực hiện Kết quả của nghiên cứu, một mặt nhằm đánh giá khả năng ứng dụng và rút ra những yêu cầu hướng dẫn cụ thể khi áp dụng phương pháp điều tra chọn mẫu trong thống kê nuôi trồng thuỷ sản, mặt khác góp phần nâng cao năng lực của cán bộ thực hiện nhiệm vụ thống kê nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Nguyên Ứng dụng phương pháp điều tra mẫu trong nuôi trồng thuỷ sản vào nghiên cứu này nhằm thu thập các số liệu về sản lượng thu hoạch, thành phần loài, trọng lượng bình quân, diện tích thực tế thả nuôi, tỷ lệ diện tích thực nuôi so với diện tích tiềm năng, qui mô nuôi và giá bán sản phẩm tại nơi thu hoạch (giá bán đầu bờ)

Kết quả thu thập số liệu thống kê từ điều tra mẫu trong nuôi trồng thuỷ sản là căn cứ để ước tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản, tính toán cơ cấu sản lượng, tính năng suất bình quân, quy mô diện tích nuôi cho mỗi loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

2.3 Điều tra cơ bản

Căn cứ số liệu thống kê từ kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản năm 2001 của tỉnh Thái Nguyên, ta có được các thông tin cơ bản sau:

- Tổng số hộ có tham gia nuôi trồng thuỷ sản : 54.037 hộ, chia theo quy mô mặt nước nuôi:

+ < 0,1 ha : 49.058 hộ

+ 0,1-0,2 ha : 3.392 hộ

+ 0,2-0,5 ha : 1.249 hộ

+ 0,5-1 ha : 227 hộ

+ 1-2 ha : 35 hộ

- Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản chia theo loại hình mặt nước:

STT Đơn vị

Diện tích mặt nước, ha

Cộng

Trong đó

Ao

Hồ

Ruộng 1-5ha 5-10ha > 10ha

Trang 3

2Thị xã Sông Công 125 120 5

2.4 Lựa chọn mẫu điều tra

Cần phải lựa chọn đơn vị mẫu có tính đại diện cao Để thực hiện chọn đơn vị mẫu, cần phân chia tổng thể điều tra thành các nhóm có độ tương đồng cao, rồi chọn các đơn vị đại diện cho từng nhóm

Trong nghiên cứu này chúng tôi phân chia tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản ra làm các nhóm loại hình mặt nước là Ao, Ruộng và Hồ nhỏ

Việc chọn mẫu điều tra có thể dựa theo các tiêu chí sau :

+ Địa lý hành chính (huyện, xã): đó là những huyện, xã có nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển

+ Hình thức nuôi (thâm canh, quảng canh, lồng, bè…)

+ Đối tượng nuôi (cá, tôm, )

2.5 Số lượng mẫu điều tra

Vấn đề lựa chọn số lượng mẫu là rất cần thiết để lập kế hoạch và ước tính chi phí cho điều tra Số lượng mẫu phụ thuộc vào nguồn nhân lực sử dụng cho điều tra, chi phí thu thập số liệu và độ sai số có thể chấp nhận được Thường rất khó xác định chính xác số lượng mẫu cần thiết Số lượng mẫu quá ít thì sai số sẽ cao, nhưng số lượng mẫu quá nhiều thì cũng không giảm bớt được sai số và lại làm tăng chi phí và nguồn nhân lực

Theo tính toán của FAO được nêu trong bảng 3 ở trang 30, với yêu cầu độ chính xác 90% và quy mô tổng thể trong khoảng 50.000 hộ có tham gia nuôi thuỷ sản thì quy mô an toàn cho mỗi loại hình mặt nước chỉ cần sử dụng 32 mẫu và tiến hành lặp lại hằng tháng

Trang 4

Thời gian nghiên cứu thử nghiệm tại tỉnh Thái Nguyên là 3 tháng cho ba loại hình mặt nước, vậy tổng số phiếu điều tra trong nghiên cứu này là 288 phiếu

2.6 Phân bổ số lượng mẫu điều tra

Tuỳ thuộc vào đặc điểm phân bố của các loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, số lượng mẫu được lựa chọn và phân bổ mẫu đảm bảo tính đại diện về loại hình mặt nước, đối tượng nuôi, tập quán nuôi trồng thuỷ sản và trình độ nuôi

Phân bố số mẫu phải điều tra theo loại hình mặt nước

STT Đơn vị hành chính

Số lượng ao/hồ nhỏ/ruộng được lấy mẫu

Ao Hồ nhỏ Ruộng

2.7 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra viên sẽ thu thập mỗi tháng 1 lần theo mẫu phiếu điều tra về nuôi trồng thuỷ sản trong các loại hình mặt nước (ao, hồ nhỏ và ruộng) Nếu không bố trí được lực lượng, việc thu mẫu cũng có thể tiến hành 2-3 tháng 1 lần

Thu thập số liệu tại hộ: điều tra viên trực tiếp phỏng vấn chủ hộ kết hợp quan sát tình hình thực tế để ghi vào phiếu điều tra Chủ hộ là người giữ vai trò quản lý, điều hành, quyết định mọi hoạt động trong hộ, nhưng không nhất thiết là chủ hộ theo sổ hộ khẩu Nếu chủ hộ không nắm đầy đủ các thông tin cần điều tra thì điều tra viên phải hỏi thêm những người khác liên quan trong hộ để bổ sung

Sau khi ghi chép đầy đủ các thông tin, điều tra viên cùng chủ hộ kiểm tra lại những thông tin trong phiếu điều tra, sau đó ký và ghi rõ họ tên vào phiếu điều tra

2.8 Xây dựng mẫu phiếu điều tra

Căn cứ các yêu cầu thông tin cơ bản cần điều tra, phiếu điều tra cho từng loại hình nuôi ao, ruộng và trong

hồ nhỏ được thiết kế về cơ bản với hình thức và nội dung như dưới đây

2.8.1 Mẫu phiếu

Trang 5

PHIẾU ĐIỀU TRA NUÔI THUỶ SẢN TRONG AO

Nghiên cứu thí điểm – Dự án FAO: TCP/VIE/2907

Thời gian nuôi: / /200 - / /200 Số phiếu:

Tỉnh: Thái Nguyên Huyện: _ Xã: _

Ngày phỏng vấn: / _/2005

Hộ được điều tra: Người điều tra: _

Diện tích thả nuôi: m2 Diện tích có khả năng nuôi: m2

Số ao nuôi: _ Số ao nuôi: _

Trình độ nuôi: 0 (1=Thâm canh và Bán thâm canh; 2=Quảng canh và Quảng canh cải

tiến)

Tỷ lệ diện tích thực tế sử dụng nuôi: 0 % 25 % 50 % 75 % 100 %

( ) ( ) ( ) ( ) ( )

SẢN LƯỢNG THU HOẠCH CỦA THÁNG ……

Loài Sản lượng (kg) Giá bán tại Ao (1000 Đ/kg)

Trọng lượng trung bình (kg/con)

Nhận xét:

2.8.2 Giải thích cách ghi phiếu điều tra

Thời gian nuôi: cho biết chu kỳ từ khi thả giống đến khi thu hoạch toàn bộ đối với một loại hình mặt nước

nuôi thuỷ sản

Trang 6

Tỉnh, huyện, xã, ngày phỏng vấn, hộ được điều tra: là những thông tin cơ bản liên quan đến hộ có nuôi

thuỷ sản cần điều tra

Diện tích thả nuôi: là diện tích thực tế đang sử dụng để nuôi thuỷ sản và có thu hoạch vào tháng điều tra.

Số Ao/hồ nhỏ/ruộng: kết hợp với thông tin về diện tích nuôi cho biết quy mô nuôi trồng thuỷ sản.

Diện tích có khả năng nuôi: là tổng số diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản được giao cho

hộ gia đình trực tiếp quản lý (bao gồm cả diện tích đang sử dụng để nuôi và diện tích không sử dụng hoặc chưa sử dụng để nuôi)

Trình độ nuôi: cho biết mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản, căn cứ theo hình thức

và phương pháp nuôi, chia thành hai nhóm chính : nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến; nuôi bán thâm canh và thâm canh

+ Nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến: là nuôi ở trình độ kỹ thuật đơn giản, ít có tác động của con

người đến quá trình phát triển, sinh trưởng của đối tượng nuôi, cũng có thể thả giống (chủ yếu là giống tự nhiên), cho ăn nhưng chưa theo một quy trình nhất định Nước được đưa vào ao thông qua các cửa cống

+ Nuôi bán thâm canh và thâm canh: là nuôi ở trình độ kỹ thuật cao, tuân thủ theo quy tắc kỹ thuật chặt

chẽ, có tác động mạnh của con người vào quá trình phát triển và sinh trưởng của đối tượng nuôi : Chọn giống theo tiêu chuẩn kỹ thuật (kích cỡ, sạch bệnh, chất lượng, ); Môi trường nuôi được chuẩn bị chu đáo trước khi thả giống; Mật độ thả nuôi theo quy định; Có sự quản lý và chăm sóc thường xuyên; Sử dụng thức ăn công nghiệp; Hệ thống cung cấp nước và mương dẫn bảo đảm điều kiện môi trường phù hợp với sự phát triển của đối tượng nuôi

Tỷ lệ diện tích thực tế sử dụng nuôi: cho biết trong tổng số diện tích mặt nước có khả năng và sẵn sàng

nuôi trồng thuỷ sản mà hộ gia đình quản lý đã đưa vào nuôi thuỷ sản bao nhiêu, còn bao nhiêu chưa đưa vào nuôi

Sản lượng thu hoạch của tháng thu thập số liệu: là sản lượng thực tế thu hoạch chia chi tiết ra theo loài Giá bán tại Ao/hồ/ruộng: là giá bán ngay tại nơi thu hoạch (giá bán đầu bờ)

Trọng lượng trung bình: là trọng lượng bình quân của các cá thể theo loài lúc thu hoạch.

Nhận xét: các quan sát và nhận xét khác nếu có về môi trường, dịch bệnh, thị trường tiêu thụ,

2.9 Phương pháp ước tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

2.9.1 Tính năng suất bình quân

Trong đó:

- NSBQ : Năng suất nuôi trồng thuỷ sản bình quân

- SLth: Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản thực tế thu hoạch trong kỳ

- DTtn: Diện tích thả nuôi

2.9.2 Tính tỷ lệ diện tích thực tế nuôi trồng thuỷ sản và cho thu hoạch

Trong đó:

Trang 7

- HS : Tỷ lệ diện tích thực tế nuôi trồng thuỷ sản và cho thu hoạch vào tháng điều tra.

- DT : Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản

2.9.3 Tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

SL = DT x NSBQ x HS

Trong đó SL là sản lượng nuôi trồng thuỷ sản

2.9.4 Tính sản lượng và giá trị theo loài

Sau khi có được kết quả ước tính tổng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản trong tháng, ta sẽ tính được sản lượng

và giá trị của từng loài theo công thức sau:

SLloài = SL x TLloài

Trong đó:

- TLloài : Tỷ lệ của loài đó chiếm trong tổng sản lượng Tỷ lệ này thu được từ sản lượng mẫu

Giá trị loài = Ploài x SLloài

Trong đó:

- Ploài: giá bán đầu bờ

2.10 Phân tích và lập các báo cáo thông tin thống kê

Tổng hợp số liệu, thu được các thông số và tính toán sản lượng nuôi trồng thuỷ sản theo ba loại hình mặt nước được điều tra như sau:

Bảng 9: Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên

trong 3 tháng nghiên cứu

Mặt nước

nuôi

Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản

Kết quả điều tra mẫu Sản

lượng nuôi trồng thuỷ sản

Tỷ trọng sản lượng, %

Năng suất nuôi trồng thuỷ sản bình quân

Tỷ lệ diện tích thực tế nuôi trồng thuỷ sản và cho thu hoạch

DT, ha NSBQ, tấn/ha HS SL, tấn

Tháng

Trang 8

Hồ nhỏ 1.140 0,0334 0,5214 19,85 3,00

Tháng

7

Tháng

6

Nhận xét:

Mùa mưa ở tỉnh Thái Nguyên bắt đầu vào tháng 6 nên các hoạt động thu hoạch sản lượng thuỷ sản nuôi chủ yếu đã diễn ra trước đó Trong tháng 6 chỉ còn thu hoạch nốt ở những diện tích nuôi trong giai đoạn cuối của quá trình sản xuất nhằm tránh lũ Vì vậy, năng suất thu hoạch bình quân đạt rất cao Đặc biệt, đối với

mô hình nuôi cá kết hợp trồng lúa, sản lượng thu hoạch không được tiêu dùng ngay mà được sử dụng làm nguồn cung con giống loại lớn cho thả nuôi trong ao, hồ nhỏ và hồ chứa, vì vậy hiệu quả kinh tế của mô hình này rất cao

Sang tháng 7, 8 là những tháng cho thu tỉa và thả bổ sung nên tỷ lệ diện tích thực tế nuôi trồng thuỷ sản và cho thu hoạch (HS) đạt khá cao, diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản được nhân rộng, song năng suất thu hoạch bình quân thấp

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng sản lượng thu hoạch, sản lượng thuỷ sản thu hoạch từ ao nuôi hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất (tháng 8: 82,45%; tháng 7: 69,96%; tháng 6: 73,87%), tiếp đến sản lượng thuỷ sản thu hoạch từ ruộng nuôi kết hợp trồng lúa chiếm tỷ lệ (tháng 8: 14,54%; tháng 7: 20,11%; tháng 6: 19,22%), cuối cùng sản lượng thuỷ sản thu hoạch từ hồ nhỏ chiếm tỷ lệ (tháng 8: 3%; tháng 7: 9,93%; tháng 6: 6,91%)

Năng suất thu hoạch bình quân và sản lượng thu được từ ao nuôi hộ gia đình là cao nhất, cho thấy loại hình mặt nước nuôi này là phổ biến nhất, được chăm sóc tốt và thường xuyên có thu hoạch tỉa kết hợp thả bù trong quá trình nuôi trồng thuỷ sản Nuôi cá trong ruộng kết hợp trồng lúa cho năng suất thấp hơn và trọng lượng bình quân cũng nhỏ nhất Loại hình nuôi này chủ yếu là ương cá giống ở ruộng sau đó được chuyển sang nuôi thương phẩm trong ao và hồ nhỏ Năng suất thu hoạch ở hồ nhỏ là thấp nhất Loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ sản này ít được thu tỉa và thả bù trong quá trình nuôi mà thường được thu hoạch toàn bộ vào cuối chu kỳ nuôi 2-3 năm, trọng lượng bình quân của mỗi loài là lớn nhất

Trang 9

Một lần nữa, số liệu tổng hợp từ kết quả điều tra mẫu về tỷ lệ diện tích thực tế nuôi và thu hoạch khẳng định tính phổ biến, thường xuyên của loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong ao hộ gia đình là cao nhất, tiếp theo nuôi cá kết hợp trồng lúa, cuối cùng là nuôi trồng thuỷ sản trong hồ nhỏ

Bảng 10:Tổng hợp số liệu về giá bán đầu bờ bình quân

Đơn vị tính: Đồng/Kg

Loài

Ao Ruộng Hồ nhỏ Ao Ruộng Hồ nhỏ Ao Ruộng Hồ nhỏ

Mè 9.400 17.750 7.786 8.947 20.333 7.679 8.944 16.400 7.692

Trắm 17.304 23.000 13.913 17.160 25.000 14.739 17.111 23.750 14.762

Rô phi 9.364 22.000 8.365 8.458 28.000 8.100 7.650 25.000 8.893

Chép 18.375 23.500 12.667 15.929 24.339 14.833 16.813 23.464 17.333

Trôi 10.789 20.000 12.000 10.750 10.625 18.000 13.000

Mrigan 13.000 18.667 10.227 12.000 21.385 10.040 19.000 10.182

Các loài khác 8.500 5.571 7.000 5.250 7.000 5.692

Giá trị sản phẩm từ loại hình ao nuôi hộ gia đình là cao nhất do sản lượng thu hoạch rải đều, lượng cung bán ra trên thị trường không ồ ạt và tương đối chủ động Sản phẩm thu hoạch từ loại hình mặt nước này cũng có giá bán đầu bờ tương đối ổn định ở mức cao

Do đặc điểm nghề nuôi cá ruộng chủ yếu là ương cá giống, chỉ có một phần rất nhỏ là nuôi cá thương phẩm trong ruộng nên giá bán đầu bờ bình quân trên một kilôgam sản phẩm thu hoạch từ loại hình nuôi cá trong ruộng kết hợp trồng lúa là cao nhất

Với đặc thù hồ nhỏ được phân bố ở vùng xa, vùng cao nên điều kiện tiêu thụ sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn, luôn xảy ra tình trạng tư thương mua ép giá, vì vậy giá trị sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản loại hình này

là thấp nhất Ngoài ra, do thu hoạch toàn bộ hồ nuôi cá dẫn đến lượng cung bán ra thị trường ồ ạt nên giá bán không ổn định và ở mức thấp

Bảng 11:Tổng hợp số liệu về trọng lượng bình quân theo loài

Đơn vị tính: Kg

Trang 10

Ao Ruộng nhỏ Hồ Ao Ruộng nhỏ Hồ Ao Ruộng nhỏ Hồ

Mè 0,785 0,028 0,738 0,620 0,055 0,850 0,689 0,056 0,827

Trắm 1,074 0,500 1,078 1,116 0,037 1,122 1,037 0,188 1,162

Rô phi 0,227 0,136 0,085 0,161 0,025 0,159 0,225 0,010 0,118

Chép 0,611 0,038 0,478 0,553 0,055 0,683 0,675 0,047 0,900

Trôi 0,221 0,030 0,400 0,263 0,200 0,030 0,400

Mrigan 0,200 0,029 0,249 0,250 0,038 0,254 0,020 0,232

Tỷ lệ thành phần loài trong ba loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ sản có sự khác biệt rất lớn do đặc điểm chu kỳ sản xuất thả nuôi rất khác biệt (hồ nhỏ thường thời gian nuôi kéo dài 2-3 năm, nuôi trong ruộng 2-3 tháng và ao nuôi kéo dài khoảng 1 năm) bên cạnh đó, tập quán nuôi cá của người dân cũng ảnh hưởng lớn đến thành phần loài

Hầu hết, trình độ nuôi trồng thuỷ sản trong nghiên cứu mà chúng tôi thu được là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, vì vậy nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn là nghề sản xuất tự cấp tự túc, phục vụ mục tiêu xoá đói giảm nghèo, chưa thực sự trở thành sản xuất hàng hoá lớn

Tại tỉnh Thái Nguyên loại hình mặt nước hồ nhỏ có thời gian nuôi trồng thuỷ sản kéo dài từ 1 đến 3 năm mới thu hoạch toàn bộ và trong suốt quá trình nuôi có thu tỉa rất ít, vì vậy thực hiện thu mẫu sản lượng nuôi trồng thuỷ sản trong nghiên cứu này không phản ánh được đúng kết quả sản xuất của thời gian cần nghiên cứu mà số liệu về sản lượng thu hoạch trong nuôi trồng thuỷ sản là thành quả của cả quá trình nuôi trước

đó Khắc phục nhược điểm này đòi hỏi công tác thu mẫu về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản phải được tiến hành ngẫu nhiên và liên tục hằng tháng Khi tính toán sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cần chú ý đến loại hình mặt nước này

KẾT LUẬN

(Cập nhật: 20/12/2005)

Phụ lục I: Kết quả tổng hợp số liệu sản lượng khai thác thuỷ sản tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh

Phụ lục II: Kết quả ước tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Thái Nguyên

Phương pháp điều tra mẫu thuỷ sản của FAO là phương pháp đơn giản, chi phí thấp và phù hợp với việc nghiên cứu hoạt động của nghề khai thác thuỷ sản quy mô nhỏ ven bờ và nghề nuôi trồng thuỷ sản phân tán quy mô hộ gia đình Phương pháp này chỉ cần một số lượng cán bộ điều tra tối thiểu và việc hướng dẫn, tập huấn cũng dễ dàng, ít tốn kém Do tần suất thu thập số liệu không cao, số lượng mẫu điều tra ít, nên ngoài công tác thống kê thuỷ sản, các cán bộ theo dõi thuỷ sản có thời gian để phân tích kết quả, hình thành các thông tin cần cung cấp cho các nhà quản lý và tham gia được các hoạt động chuyên môn khác mà vẫn đảm bảo chất lượng của số liệu thống kê thường xuyên Với mỗi nghề nghiên cứu, cho dù quy mô tổng thể lớn thì cũng chỉ cần lấy 32 mẫu để điều tra sản lượng là đủ đảm bảo có được một ước tính với độ chính xác 90% Đây là mức độ chính xác đủ cho các yêu cầu quản lý và xây dựng chính sách

Ngày đăng: 06/07/2018, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w