1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách dân tộc của đảng và nhà nước việt nam đánh giá triển khai

30 365 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 51,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiên tai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc. Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước. Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề nên trong học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học tôi đã lựa chọn đề tài: “Phân tích những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đánh giá triển khai thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1986 đến nay”. Để nghiên cứu viết tiểu luận. Trong quá trình làm bài, dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm hiểu song do những hạn chế nên bài làm của em không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

Chương 1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 2

1.1 Khái niệm dân tộc 2

1.2 Quan điểm về mối quan hệ dân tộc - giai cấp, hai xu hướng phát triển của dân tộc và Cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác – Lênin 5

Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 10

2.1 Tình hình và đặc điểm của dân tộc Việt Nam 10

2.2 Chính sách dân tộc từ năm 1986 đến nay 12

2.2.1 Nội dung 12

2.2.2 Hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến nay 15

2.3 Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta 17

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 20

3.1 Tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách về vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước 20

3.2 Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số 22

3.3 Tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện các chương trình về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội 23

C KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 2

A.MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc, đa tín ngưỡng,tôn giáo Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đồng bàocác dân tộc, tôn giáo luôn luôn đoàn kết, chung tay đấu tranh với “thiêntai, địch họa”, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh Trong quá trình

lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo và công tác dân tộc, công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có

tầm quan trọng đặc biệt; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, pháthuy truyền thống và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc làmột đảm bảo quan trọng cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng củatoàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Quán triệt những quan điểm cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng

ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướngchiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng,tương trợ giữa các dân tộc Có thể khẳng định chính sách dân tộc củaĐảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọithời kỳ Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộccủa Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sựphát triển của đất nước Với quan điểm cách mạng là sáng tạo khôngngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảmbảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhậpnhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trongtương lai Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nghiêncứu vấn đề nên trong học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học tôi đã lựa

chọn đề tài: “Phân tích những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đánh giá triển khai thực hiện chính sách dân tộc từ năm 1986 đến nay” Để nghiên cứu viết tiểu luận Trong quá trình làm bài, dù đã có

nhiều cố gắng nghiên cứu tìm hiểu song do những hạn chế nên bài làmcủa em không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế, rất mong nhận được

Trang 3

những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận của emđược hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1.1 Khái niệm dân tộc

Khái niệm dân tộc được sử dụng trong nhiều ngành khoa học,trong phạm vi khác nnhau; dân tộc và những vấn đề dân tộc được cácnhà khoa học như sử học, triết học, tâm lý học, khoa học quản lý…nghiên cứu

Theo Tiếng Việt khái niệm “ Dân tộc” là khái niệm đa nghĩa, đacấp độ

- Theo nghĩa rộng: Dân tộc đồng nghĩa với Quốc gia dân tộc(National) đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi nhiều thành phầndân tộc ( nhiều dân tộc); đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc; đồngnghĩa với nhà nước thống nhất của các dân tộc, nhà nước thống nhấtcủa các dân tộc, nhà nước chung của tất cả các thành phần dân tộc đangsống ở Việt Nam, với bốn đặc trưng chủ yếu:

+ Có lãnh thổ chung

+ Ngôn ngữ giao tiếp chung

+ Phương thức kinh tế chung

+ Tâm lý chung biểu hiện trong văn hóa

- Theo nghĩa hẹp: Dân tộc đồng nghĩa với tộc người với ba đặctrưng chủ yếu:

Trang 4

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặctrưng quan trọng nhất của dân tộc Các mối quan hệ kinh tế là cơ sởliên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tẳngvững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng ( trên cơ sởngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực:kinh tế, văn hóa, tình cảm…

+ Có nét tâm lý ( nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nềnvăn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn

bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc)

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có

đủ khác đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn

bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có

đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bóchặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Sựtổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đềcập ở đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đónhững nhân tố tộc người đan kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội.Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc,chủng tộc - thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạnmàu da hay cấu tạo tự nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loạicộng đồng người

* Qúa trình hình thành dân tộc: nghiên cứu khái niệm và các đặctrưng của dân tộc cần thấy rằng: khái niệm dân tộc và khái niệm quốcgia gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi vì, dân tộc ra đời trong một quốc gianhất định, thông thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chínmuồi không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thànhquốc gia – chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau

Trang 5

Nếu như cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ) mang tính

thuần tuý tộc người, trong đó quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi

phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện

vào cuối xã hội nguyên thuỷ) đã xuất hiện dưới dạng đầu tiên nhữngthiết chế chính trị – xã hội, trong đó những quan hệ tộc người xen với

những quan hệ chính trị – xã hội Cộng đồng bộ tộc xuất hiện vào thời

kỳ xã hội có sự phân chia rõ rệt hơn về giai cấp và sau đó là sự xuất

hiện nhà nước – quốc gia Từ đây, sự cố kết bộ tộc là nhân tố quan

trọng trong sự hình thành và củng cố quốc gia; ngược lại, sự hìnhthành, củng cố quốc gia là điều kiện có ý nghĩa quyết định sự củng cố

và phát triển của cộng đồng bộ tộc, là sự chuẩn bị quan trọng nhất để

cộng đồng bộ tộc chuyển lên một hình thức cao hơn – tức là dân tộc.

Tính tộc người và tính chính trị - xã hội đó ghi đậm vào tâm trícủa đông đảo dân cư ý thức gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình vớidân tộc, với nhà nước, quốc gia Tình cảm đối với dân tộc hoà nhập vàotình cảm đối với Tổ quốc và trở thành một trong những giá trị thiêngliêng, bền vững của nhiều thế hệ con người ở nhiều dân tộc, quốc gia.Tình cảm ấy xuất hiện và được củng cố trong quá trình lịch sử dựngnước và giữ nước lâu dài, trở thành nét truyền thống đặc sắc của cácdân tộc, quốc gia đó

Nhận thức vấn đề này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có

ý nghĩa thực tiễn quan trọng Bởi vì, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xâydựng xã hội mới – từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng và cácquan hệ xã hội không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồngdân tộc và các mối quan hệ dân tộc Ngược lại, việc cải tạo, xây dựngcộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời côngcuộc cải tạo, xây dựng toàn diện xã hội mà trước hết là xây dựng chế

độ chính trị - xã hội, xây dựng nhà nước theo con đường tiến bộ

Trang 6

Dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện do kết quả của sự cải tạo,xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc theocác nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học Đồng thời, dân tộc xã hộichủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện do kết quả của công cuộc cải tạo, xâydựng toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước củng cốchế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, không nên xem nhẹ hoặc làm lu mờnhững nhân tố dân tộc tồn tại lâu dài trong một cộng đồng quốc giagồm nhiều dân tộc Nhân tố dân tộc đó được biểu hiện nổi bật nhấttrong văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tâm lý vàtình cảm; chúng hoà quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất trong

đa dạng về bản sắc dân tộc; là căn cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc nàyvới dân tộc khác Điều đó đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khihoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ýđến tính đặc thù của cộng đồng gồm nhiều dân tộc, hơn nữa, cần cónhững chính sách riêng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng mang tínhđặc thù của từng dân tộc

1.2 Quan điểm về mối quan hệ dân tộc - giai cấp, hai xu hướng phát triển của dân tộc và Cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác – Lênin

* Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong xãhội

Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển của xã hội loàingười Trước khi xuất hiện dân tộc, loài người đã trải qua các hình thứccộng đồng từ thấp đến cao: Thị tộc, bào tộc, bộ lạc, bộ tộc

Dân tộc xuất hiện làm nảy sinh mối quan hệ giữa vấn đề dân tộcvới vấn đề giai cấp, chú nghĩa Mác – Lê nin đã từng luận chứng về mốiquan hệ này Khi đặt vấn đề dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hội

Trang 7

chủ nghĩa V.I.Lênin đã chỉ rõ: “ Không được tuyệt đối hóa vấn đề dântộc, không được đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp, khôngđược biến nó thành một thứ báu vật” đồng thời Lênin còn nhắc nhởchúng ta không được xem nhẹ vấn đề dân tộc, không được sa vào thái

độ “ hư vô dân tộc” Thực chất đó là mối quan hệ biện chứng giữa vấn

đề giai cấp và vấn đề dân tộc; khi nhận thức mối quan hệ này cần phảitrên cả hai phương diện:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc là bộ phận của vấn đề giai cấp, phụthuộc vào cuộc đấu tranh giai cấp Bởi vì:

Một là, dân tộc chỉ ra đời khi điều kiện kinh tế - xã hội đạt mức

độ phát triển nhất định, dân tộc nảy sinh trước hết là do kết quả của sựbiến đổi trong cơ sở kinh tế - xã hội, chứ không phải trước hết do sựbiến đổi trong các nhân tố tộc người ( dĩ nhiên các nhân tố này có vaitrò quan trọng của chúng

Hai là, từ khi dân tộc xuất hiện, phong trào dân tộc thường gắnliền với vấn đề giai cấp mà nội dung là dân chủ, V.I.Lênin đã nêu yêusách về quyền dân tộc tự quyết, chính nội dung dân chủ đòi hỏi nêu rayêu sách về quyền dân tộc tự quyết và khẳng định nó như một yêu sáchmang tính tiến bộ và cách mạng Trong phong trào giải phóng dân tộcngày nay, nội dung dân chủ hướng tới mục tiêu giải phóng nhữngngười lao động khỏi ách áp bức về giái cấp để từ đó thoát khỏi tìnhtrạng bị nô dịch về dân tộc bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định

Ba là, trong công cuộc xây dựng xã hội mới, nếu không biết gắnliền quá trình xây dựng kinh tế - xã hội với thực hiện chính sách giaicấp đúng đắn thì việc củng cố quan hệ giữa các dân tộc không thể đạtkết quả vững chắc

Không có sự biến đổi trong lĩnh vực kinh tế - xã hội thông quaviệc giải quyết mâu thuẫn giai cấp nhằm xóa bỏ tình trạng người bóc

Trang 8

lột người thực hiện sự bình đẳng xã hội thì không thể tạo nên sự biếnđổi về chất trong mỗi dân tộc và trong mối quan hệ giữa các dân tộc.Nguyên nhân của sự căng thẳng trong vấn đề dân tộc, trước hết lànhững vấn đề kinh tế - xã hội Nói một cách khác, mâu thuẫn giữa cácdân tộc có tính đa nhân tố - những mâu thuẫn kinh tế xã hội đan xenvới những mâu thuẫn trong các vấn đề văn hóa tộc người, ngôn ngữ,tôn giáo, lãnh thổ…nhưng trong đó, mâu thuẫn kinh tế - xã hội bao giờcũng đóng vai trò quyết định nhất.

Thứ hai, tính độc lập tương đối và tầm quan trọng đặc biệt củavấn đề dân tộc Điều này biểu hiện ở chỗ:

Một là, tuy dân tộc chỉ xuất hiện trên cơ sở sự chín muồi củanhững điều kiện kinh tế - xã hội, nhưng nếu chưa có sự chín muồi củanhững nhân tố tộc người – ý thức dân tộc, tâm lý dân tộc, tình cảm dântộc, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, văn hóa dân tộc thì dân tộc cũngchưa thể xuất hiện

Hai là, sự xuất hiện và phát triển của dân tộc có những quy luậtnội tại Chính điều đó làm cho loài người đã trải qua nhiều hình thứccộng đồng người từ thấp đến cao: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc

Ba là, sau khi chịu sự quy định của nhân tố kinh tế - xã hội, nhân

tố dân tộc bao giờ cũng phát huy tác động trở lại đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội Điều này được minh chứng như ở Phương Tây trướcđây, chủ nghĩa tư bản ra đời đã dẫn tới sự hình thành dân tộc; ngượclại, sự hình thành dân tộc đã đáp ứng nhu cầu của chủ nghĩa tư bản về

tổ chức sản xuất, phân công lao động xã hội và trao đổi sản phẩm trênphạm vi rộng lớn của thị trường dân tộc, phù hợp với trình độ mà lựclượng sản xuất đã đạt được Hoặc ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa,quá trình đồng hóa, cưỡng bức thông qua các chính sách cai trị màchính quyền thực dân thi hành đã dẫn tới sự suy thoái của hàng loạt dântộc trong các quốc gia đó Những quốc gia này do phải tồn tại trong

Trang 9

môi trường nô lệ đã phải buộc chấp nhận ở mức độ khác nhau do sựxâm thực của văn hóa thực dân với nhiều độc tố, làm cho nhiều giá trịvăn hóa dân tộc bị băng hoại, ý thức dân tộc bị xuyên tạc, tình cảm dântộc bị làm cho lệch lạc đã làm cho nhiều dân tộc, trong một thời giandài, không thể định hướng con đường phát triển độc lập, tự chủ củamình.

Trong thời đại ngày nay, các dân tộc bị áp bức đều lấy điểm khởiđầu của con đường giải phóng dân tộc mình là việc khôi phục nền độclập dân tộc, khẳng định quyền tự chủ, hồi sinh những giá trị dân tộc Ởnhiều nước, ý thức xã hội chủ nghĩa được hình thành dần dần không chỉ

do tiến trình của đấu tranh giai cấp mà còn do quá trình đấu tranh giảiphóng dân tộc Điều đó, chứng tỏ rằng việc giải phóng các nhân tố dântộc phát triển tự do và đầy đủ là do nhu cầu khách quan của sự tiến bộ,

là một trong những điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ

* Xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc

Trong tác phẩm “ Ý kiến phê phấn về vấn đề dân tộc” Lênin đãphát hiện hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc vàmối quan hệ giữa các dân tộc

Thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trường thành của ý thức dân tộc

mà cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các cộng đồng dântộc độc lập, trong đó họ có quyền lựa chọn chế độ chính trị và conđường phát triển của dân tộc mình

Thứ hai, các dân tộc có xu hướng liên hiệp lại với nhau trên cơ

sở bình đẳng, tự nguyện, giúp đỡ lẫn nhau…phù hợp với xu hướngkhách quan, tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất, phù hợp vớinhu cầu mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc Cả hai xuhướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản

Sự vận động có tính mâu thuẫn nhưng thống nhất giữa hai xuhướng đó là quy luật khách quan của sự phát triển dân tộc và mối quan

Trang 10

hệ giữa các dân tộc Mỗi dân tộc tiến tới độc lập, tự chủ, phồn vinh vàcác dân tộc không ngừng xích lại gần nhau.

* Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin

Cương lĩnh nổi tiếng của Lênin về vấn đề dân tộc trong tácphẩm “ Về quyền dân tộc tự quyết” được tóm tắt như sau: “ Các dântộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết: Liên hợpcông nhân tất cả các dân tộc lại”

- Bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kì quan trọng trongCương lĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin Để thực hiện quyền bỉnh đẳnggiữa các dân tộc phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp để trên cơ sở

đó xóa bỏ tình trạng nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác; từngbước khắc phục sự phát triển chênh lệch giữa các dân tộc, tạo điều kiện

để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu, bằng sự nỗ lực của chính mìnhcùng với sự giúp đỡ của các dân tộc an hem phát triển nhanh trên conđường tiến bộ; sự bình đẳng hoàn toàn, một sự bình đẳng toàn diệngiữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa phải đượcthể hiện về mặt pháp lý và được thực hiện trong cuộc sống

- Quyền tự quyết là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong Cươnglĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin Quyền tự quyết là quyền làm chủ củamỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền lựa chọn chế độchính trị và con đường phát triển của dân tộc đó Quyền tự quyết baogồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng các dân tộc độc lập vàquyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.V.I.Lênin triệt để đấu tranh chống áp bức dân tộc, đồng thời cũngcương quyết đấu tranh gạt bỏ những trở ngại để các dân tộc ngày càngxích lại gần nhau

Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đãnêu ra và thực hiện quan điểm về quyền dân tộc tự quyết đúng đắn Nộidung cao nhất của quyền tự quyết là các dân tộc đoàn kết đấu tranh

Trang 11

giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, cùng nhau xây dựng xã hội mới

để các dân tộc đều được phát triển tự do và được sống ấm no, hạnhphúc

Tuy nhiên, quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc khôngphải tự nhiên mà có và đương nhiên được thực hiện, ngược lại, chúng

là kết quả của cuộc đấu tranh chống mọi thế lực xâm lược, áp bức dântộc và gây nên sự đồng hóa cưỡng bức giữa các dân tộc

- “Liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” là nguyên tắc thứ batrong Cương lĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin Đây là sự liên minhquốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và dân tộc, vì sựgiải phóng dân tộc và xã hội Lênin kiên trì nguyên tắc thống nhất giữacác nhiệm vụ dân tộc và quốc tế của giai cấp công nhân Lênin chorằng, việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa

và Cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vôsản, của tất cả nhân dân lao động các nước Chủ nghĩa quốc tế vô sảnthể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản và những ýnguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc, về nguồn gốc

và bản chất, nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây sự hằn thù vàchia rẽ giữa các dân tộc

Trang 12

Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1 Tình hình và đặc điểm của dân tộc Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc.Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số,phân bố rải rác trên địa bàn cả nước 10 dân tộc có số dân từ dưới 1triệu đến 100 ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông,Dao, Giarai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có

số dân dưới 1 ngàn người Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu)

Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự

cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trởthành truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong cáccuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nướcqua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay

Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kếtcấu công xã nông thôn bền chặt sớm xuất hiện Trải qua lịch sử liên tụcchống ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành rất sớm và trở thành mộtquốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến Đoàn kết là

xu hướng khách quan cố kết các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, cóchung vận mệnh lịch sử, chung một tương lai, tiền đồ

Tuy nhiên, bên cạnh mặt cố kết tạo nên tính cộng đồng chung, cónơi có lúc vẫn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong quan hệ dân tộc Chủnghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạnchia rẽ dân tộc và can thiệp vào nội bộ nước ta Do đó, phát huy truyềnthống đoàn kết, xoá bỏ thành kiến, nghi kỵ dân tộc và kiên quyết đậptan mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của

Trang 13

nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa hiện nay.

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuytrong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tậptrung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt Do đó, các dân tộc ở nước

ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhấthữu cơ giữa dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngàycàng được củng cố

Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bứcbóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa cácdân tộc còn khác biệt, chênh lệch nhau

Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâmnhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng,đoàn kết dân tộc ở nước ta Nhiều vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ởtrình độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên Đời sống vật chấtcủa bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài,thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở nhiều nơi.Đường giao thông và phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện,nước phục vụ cho sản xuất đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin,bưu điện nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùngcao, vùng xa xôi hẻo lánh

Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đìnhcác dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc riêng rấtphong phú Bởi vì, bất cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều

có nền văn hoá riêng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần,niềm tự hào của dân tộc bằng những bản sắc độc đáo Đặc trưng của sắcthái văn hoá dân tộc bao gồm: ngôn ngữ tiếng nói, văn học, nghệ thuật,tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình, dòng

Trang 14

họ Một số dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông,Giarai, Êđê ) Một số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyềnthống (Khơme – với đạo Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn ); một vàidân tộc gắn với đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa Vì vậy, Đảng và Nhànước ta luôn luôn tôn trọng bản sắc văn hoá riêng và tôn trọng tự do tínngưỡng của mỗi dân tộc Sự phát triển đa dạng mang bản sắc văn hoácủa từng dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hoá của cả cộngđồng.

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại

cư trú trên các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh

tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới,vùng rừng núi cao, hải đảo Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu sốtrước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Một số dân tộc có quan

hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực

Xuất phát từ tình hình, đặc trưng cơ bản của dân tộc Việt Nam,Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề chính sách dân tộcxem xét nó như là vấn đề xã hội - chính trị rộng lớn, toàn diện gắn liềnvới các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa

2.2 Chính sách dân tộc từ năm 1986 đến nay

2.2.1 Nội dung

Chính sách dân tộc của Đảng trong thời kì này vẫn là phát huysức mạnh đoàn kết dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, phát huy mọinguồn lực để xây dựng và phát triển đất nước

Trong thời kì này, phải chú ý về sự đổi mới tư duy, đổi mớichính sách dân tộc Dấu mốc của thời kì đổi mới là từ Đại hội VI(1986) Đại hội VI của Đảng có nhấn mạnh: “ Đẩy mạnh ba cuộc cáchmạng ở vùng đồng bào dân tộc Bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện tốthơn chính sách dân tộc”

Trang 15

Nội dung mới trong chính sách dân tộc thời kì này là tạo mọiđiều kiện để các dân tộc phát triển và củng cố sự thống nhất, tăngcường sức mạnh của cộng đồng quốc gia; mở rộng quan hệ quốc tế.

Sau Đại hội VI, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 22/NQ-TW ngày27/11/1989; Chính phủ ra quyết định 72/QĐ-HĐBT ngày 13-3-1990 vềmột số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi.Đây là giai đoạn đánh dấu sự đổi mới tích cực trong tư duy và chínhsách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Tiếp theo là Đại hội VII, VIII và IX xác định rõ thêm về quanđiểm chính sách dân tộc trong thời kì xây dựng và phát triển đất nước

Đại hội IX của Đảng xác định: “ Vấn đề dân tộc và đoàn kết cácdân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”

Hội nghị Trung ương 7 ( Khóa IX) cụ thể hóa thêm một bước: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài,đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Đảng taluôn coi vấn đề dân tộc… là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sựnghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nambình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, hiệnđại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1, năm 2011) củaĐảng tiếp tục khẳng định đường lối, quan điểm về vấn đề dân tộc, côngtác dân tộc: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệpcách mạng của nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bìnhđẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thựchiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng vàbảo vệ tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệttrong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số Tăngcường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương,

Ngày đăng: 05/07/2018, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w