Ở người, xuyên tâm liên với nhóm hoạt chất diterpen lacton có vai trò chính trong việc tăng cường miễn dịch, sức đề kháng; ngăn ngừa tiêu chảy; chống viêm nhiễm đường hô hấp; trị cảm cúm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
-ooo0ooo -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỘT LÁ CÂY XUYÊN TÂM LIÊN
(Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees) THAY THẾ
KHÁNG SINH TRONG KHẨU PHẦN
GÀ LƯƠNG PHƯỢNG NUÔI THỊT THƯƠNG PHẨM
Ngành học: CÔNG NGHỆ SINH HỌC Niên khóa: 2004 - 2008
Sinh viên thực hiện: PHẠM VĂN ĐẠI
Tháng 10/2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
-ooo0ooo -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỘT LÁ CÂY XUYÊN TÂM LIÊN
(Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees) THAY THẾ
KHÁNG SINH TRONG KHẨU PHẦN
GÀ LƯƠNG PHƯỢNG NUÔI THỊT THƯƠNG PHẨM
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
PGS TS NGUYỄN NGỌC HẢI PHẠM VĂN ĐẠI
ThS ĐỒNG SỸ HÙNG
ThS VƯƠNG NAM TRUNG
Tháng 10/2008
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành gửi lời cảm tạ đến :
* Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ
nhiệm Bộ môn Công nghệ sinh học, cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức
cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
* Ban Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng đã
tạo mọi điều kiện cho em thực hiện đề tài này
* Thầy Nguyễn Ngọc Hải đã hết lòng hướng dẫn, động viên em thực hiện tốt đề
tài tốt nghiệp
* ThS Đồng Sỹ Hùng, ThS Vương Nam Trung, ThS Phạm Tất Thắng đã nhiệt tình
hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận này
* Thầy Nguyễn Anh Tuấn đã giúp đỡ, góp ý cho em hoàn thành khóa luận
* KS Nguyễn Thị Lệ Hằng và các cô chú, anh chị cộng tác tại Trung tâm Nghiên
cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng đã hỗ trợ cũng như cung cấp cho em nhiều
kiến thức xung quanh đề tài
* Các bạn lớp CNSH K30 đã động viên, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn cũng như
chia sẻ những vui buồn trong suốt thời gian học tập
* Cuối cùng con xin cảm ơn ba mẹ đã, đang và mãi mãi là chỗ dựa vững chắc cả
về tinh thần lẫn vật chất cho con niềm tin và động lực bước vào đời
Nông Lâm, ngày 30 tháng 09 năm 2008
Phạm Văn Đại
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu sử dụng bột lá cây xuyên tâm liên (Andrographis
paniculata (Burm.f.) Nees) thay thế kháng sinh trong khẩu phần gà Lương
Phượng nuôi thịt thương phẩm” khảo sát ảnh hưởng các mức bổ sung bột xuyên tâm
liên đến sức sinh trưởng của gà Lương Phượng nuôi thịt thương phẩm được thực hiện
từ ngày 20/3/2008 đến ngày 30/5/2008 tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi Bình Thắng Mục đích đề tài tìm ra mức bổ sung phù hợp nhất và hiệu quả nhất trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi Tổng số 276 gà Lương Phương nuôi thịt được bố trí thành 5 lô, mỗi lô lặp lại 4 lần (13
- 14 con/lô) Lô 1 đối chứng (khẩu phần cơ sở), lô 2 bổ sung 1,5 g/kgTA, lô 3 bổ sung 3,0 g/kgTA, lô 4 bổ sung 4,5 g/kgTA bột xuyên tâm liên, lô 5 bổ sung kháng sinh (0,3 g/kgTA oxytetracyclin và 1 g/kgTA tiamulin 10%)
Trong quá trình thí nghiệm chúng tôi tiến hành theo dõi một số chỉ tiêu về trọng lượng bình quân, tăng trọng tuyệt đối, thức ăn tiêu thụ, hệ số chuyển hóa thức ăn, tỷ lệ
chết và loại thải, một số vi sinh vật có hại trong đường ruột, tồn dư kháng sinh và hiệu
quả kinh tế Kết quả thí nghiệm ghi nhận được như sau:
Trọng lượng bình quân, tăng trọng tuyệt đối của lô 5 cao hơn so với lô 1, 2 (P < 0,05); trọng lượng bình quân và tăng trọng tuyệt đối giữa lô 3, 4, 5 không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Thức ăn tiêu thụ cao nhất ở lô 4 và thấp nhất ở lô 3; thức ăn tiêu thụ giữa các lô không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Hệ số chuyển hóa thức ăn lô 5 thấp hơn so với lô 1, 2 (P < 0,05); hệ số chuyển hóa thức ăn giữa các lô 3,
4, 5 không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) Tỷ lệ chết và loại thải cao nhất ở lô
3 và thấp nhất ở lô 5; tỷ lệ chết và loại thải giữa các lô không có ý nghĩa về mặt thống
kê (P > 0,05) Hàm lượng E coli trong phân gà của lô 3 thấp hơn so với lô 5 (P < 0,05)
Hàm lượng Coliform giữa các lô thí nghiệm không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)
Trang 5Studying the effect of Andrographis paniculata ((Burm f.) Nees) leaf powder
as the alternative antibiotic on Luong Phuong chicken’s feed supplement was carried out from 20/03/2008 to 30/05/2008 at Binh Thang Researching and Training Center
The goal of this study determines the best amount of leaf powder supplement to replace antibiotic in chicken’s feed
Total 250 Luong Phuong chickens were divided into 5 groups, each treatment had four replications (13 - 14 chickens/group) The chikens were fed basal diet (control) (group 1), basal diet with AP 1.5 g/kg (group 2), basal diet with AP 3.0 g/kg (group 3), basal diet with AP 4.5 g/kg (group 4), basal diet with antibiotic (oytetracyclin 0.3 g/kg; tiamulin 10% 1 g/kg) (group 5)
In this study, we followed and collected some data on body weight (BW), body weight gain (BWG), feed consumption (FC), feed conversion ratio (FCR), mortality and removal rate (MARR), harmful microoarganism quantity in intestinal tract, oxytetracyclin antibiotic residues in inner organs and effect economy
Results show that:
In the group 5, BW and BWG was higher than group 1 and 2 (P < 0,05) There were no significant difference among groups 3, 4 and 5 (P > 0,05) Feed consumption
of group 4 was highest, the lowest FC in group 3, but there were no significant difference between treatment groups (P > 0,05) FCR of group 5 was lower than groups 1 and 2 (P < 0,05), there were no significant difference between groups 3, 4 and 5 (P > 0,05) Group 3 had the highest mortarity and removal rate, the lowest MARR in group 5 However there were no significant difference between treatment
groups (P > 0,05) Total of CFU of E coli in group 3 were lower than groups 4, 5
(P < 0,05) There were no significant difference between treatment groups in total
CFU of Coliform (P > 0,05)
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Summary iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình, biểu đồ ix
Chương 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích - Yêu cầu 2
1.2.1.Mục đích 2
1.2.2.Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về giống gà Lương Phượng 3
2.1.1.Nguồn gốc 3
2.1.2.Đặc điểm ngoại hình 3
2.1.3.Năng suất 3
2.1.4 Mô hình chăn nuôi 3
2.2 Vai trò của kháng sinh trong chăn nuôi 3
2.2.1 Định nghĩa kháng sinh 3
2.2.2 Kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi 4
2.2.2.1 Phòng bệnh 4
2.2.2.2 Trị bệnh 5
2.2.3 Hạn chế của việc sử dụng kháng sinh 6
2.2.4 Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn 8
2.2.5 Một số quy định về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 9
2.2.6 Các chất bổ sung thức ăn thay thế kháng sinh trong chăn nuôi 11
2.3 Một số chế phẩm tự nhiên (gừng, tỏi, nghệ) 12
2.3.1 Gừng 12
Trang 72.3.2 Nghệ 13
2.3.3 Tỏi 13
2.4 Giới thiệu về chế phẩm thảo dược xuyên tâm liên 14
2.4.1 Đặc điểm sinh lý và địa điểm phân bố 15
2.4.2.Thành phần hóa học của xuyên tâm liên 16
2.4.3 Công dụng trong y học cổ truyền 19
2.4.3.1 Tác dụng trên kháng viêm và sốt 19
2.4.3.2 Tác dụng trên bệnh cảm phổ biến 20
2.4.3.3 Tác dụng trên bệnh tiêu chảy và đường ruột 20
2.4.3.5 Tác dụng lên hệ tuần hoàn 21
2.4.3.6 Tác dụng lên hệ thần kinh 22
2.4.3.7 Tác dụng lên sự bảo vệ gan và túi mật 22
2.4.3.9 Tác động phụ có thể có của xuyên tâm liên 23
2.4.4 Các phương pháp chiết xuất, phân lập diterpen lacton 23
2.4.5 Một số bài thuốc với xuyên tâm liên 24
2.4.6 Chế phẩm thảo dược xuyên tâm liên 24
2.4.7 Một số nghiên cứu của xuyên tâm liên trong chăn nuôi 24
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Thời gian và địa điểm 26
3.1.1.Thời gian 26
3.1.2.Địa điểm 26
3.2 Vật liệu nghiên cứu 26
3.2.1.Đối tượng nghiên cứu 26
3.2.2.Điều kiện chuồng trại 26
3.2.2.1 Chuồng trại 26
3.2.2.2 Nước uống 26
3.2.2.3 Thức ăn và cách cho ăn 26
3.2.3.Quy trình vệ sinh và phòng bệnh 29
3.2.3.1 Vệ sinh 29
3.2.3.2 Phòng bệnh 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Nội dung bố trí thí nghiệm 31
Trang 83.5 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá 32
3.5.1.Trọng lượng của gà tại thời điểm 1, 35, 70 ngày tuổi 32
3.5.2.Tăng trọng của gà giai đoạn 0-5, 5-10 và 0-10 tuần tuổi 32
3.5.3.Lượng thức ăn tiêu thụ của gà giai đoạn 0-5, 5-10 và 0-10 tuần tuổi 32
3.5.4.Hệ số chuyển hóa thức ăn của gà giai đoạn 0-5, 5-10 và 0-10 tuần tuổi 32
3.5.5.Tỷ lệ chết và loại thải ở các giai đoạn 0-5; 5-10; 0-10 tuần tuổi 32
3.5.6.Hàm lượng Coliform và E coli trong phân gà ở thời điểm 10 tuần tuổi .33
3.6 Phương pháp thu thập và tính kết quả chỉ tiêu 33
3.6.1.Trọng lượng và tăng trọng 33
3.6.2.Thức ăn tiêu thụ 33
3.6.3.Hệ số chuyển hóa thức ăn 33
3.6.4.Tỷ lệ chết và loại thải 34
3.6.5.Phân tích vi sinh vật 34
3.7 Xử lý số liệu 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Trọng lượng bình quân gà tại các thời điểm 35
4.2 Tăng trọng tuyệt đối gà các giai đoạn (g/con/ngày) 38
4.3 Thức ăn tiêu thụ gà các giai đoạn 39
4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn gà các giai đoạn 41
4.5 Tỷ lệ chết và loại thải các giai đoạn 43
4.6 Phân tích vi sinh vật 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC
Trang 9QĐ- BNN: Quy định của Bộ Nông nghiệp
MPRI: Medicinal Plant Research Institute
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG TRANG Bảng 2.1 Giới hạn tối đa cho phép bổ sung vào thức ăn và tồn dư trong sản phẩm của
một số loại kháng sinh 10
Bảng 2.2 Các loại thuốc và kháng sinh bị cấm sử dụng ở Việt Nam 11
Bảng 2.3 Tổng lượng diterpene lactone trong xuyên tâm liên sau khi thu hoạch ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (%) 18
Bảng 2.4 Tổng lượng diterpene lactone những phần phía trên mặt đất của xuyên tâm liên sau những giai đoạn khác nhau của quá trình lưu trữ (%) 19
Bảng 3.1 Thành phần các thực liệu trong khẩu phần thức ăn gà thịt 27
Bảng 3.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn gà thịt 28
Bảng 3.3 Giá thành một số nguyên liệu và thuốc sử dụng trong thí nghiệm 29
Bảng 3.4 Quy trình tiêm phòng vaccin của trại 30
Bảng 3.5 Một số thuốc sử dụng trong thí nghiệm 30
Bảng 3.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 4.1 Trọng lượng bình quân gà tại các thời điểm (g/con) 35
Bảng 4.2 Tăng trọng tuyệt đối gà các giai đoạn 38
Bảng 4.3 Thức ăn tiêu thụ của gà ở các giai đoạn (kg/con) 39
Bảng 4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn gà các giai đoạn (kgTA/kgTT) 41
Bảng 4.5 Tỷ lệ chết và loại thải các giai đoạn (%) 43
Bảng 4.6 Hàm lượng vi sinh vật có hại trong phân gà giai đoạn 0 - 10 tuần tuổi 44
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
HÌNH TRANG
Hình 2.1 Cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees) 14
Hình 2.2 Cấu trúc của các diterpen lacton: (a) andrographolid, (b) Deoxy, (c) neo 16
Hình 2.3 Cấu trúc của Andrographiside , deoxy-11,12-didehydrographolide và 14-deoxy-11,12- didehydrographiside 17
Hình 3.1 Thiết kế chuồng trại, máng ăn và máng uống .31
Hình 3.2 Thí nghiệm bổ sung bột xuyên tâm liên 32
Hình 3.3 Thí nghiệm bổ sung kháng sinh (oxytetracyclin và tiamulin) 32
Hình 4.1 Gà thí nghiệm 5 tuần tuổi 37
Hình 4.2 Gà thí nghiệm 10 tuần tuổi 37
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 Trọng lượng bình quân gà thời điểm 70 ngày tuổi 36
Biểu đồ 2 Tăng trọng gà giai đoạn 0 - 10 tuần tuổi 39
Biểu đồ 3 Tiêu thụ thức ăn gà giai đoạn 0 - 10 tuần tuổi 41
Biểu đồ 4 Hệ số chuyển hóa thức ăn gà qua giai đoạn 0 - 10 tuần tuổi 43
Trang 12sẽ là một mối nguy cho sản xuất và sức khỏe cộng đồng Bởi đây là nguyên nhân chính làm tăng khả năng kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây bệnh; tạo ra những chủng
vi khuẩn mới do đột biến và làm giảm chất lượng sản phẩm do tồn dư kháng sinh, hóa dược Ngoài ra chúng còn là nguy cơ tiềm ẩn gây nên tình trạng lờn thuốc, tăng khả năng nhiễm bệnh trên con người (ERS, 1996; IOM, 1998) Chính vì vậy ngày càng có nhiều nước cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi và hạn chế trong điều trị bệnh (khối EEC, Mỹ, Nhật, Úc) Ở Việt nam hiện cũng đã cấm sử dụng 18 loại kháng sinh, hóa dược và hormon sinh trưởng trong chăn nuôi (quyết định số 29/2002/QĐ-BNN) Vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu là phải tìm ra những chất bổ sung thay thế không gây độc hại cho sức khỏe con người nhưng vẫn duy trì ưu thế của kháng sinh là phòng chống bệnh tật và cải thiện năng suất vật nuôi Các chất chiết xuất từ thảo dược tự nhiên chính là đích ngắm của các nhà nghiên cứu do cùng thỏa mãn được hai yếu tố trên
Diterpen lacton là nhóm hoạt chất chính có trong cây xuyên tâm liên
(Andrographis paniculata Nees) Đây là thảo dược được nghiên cứu và sử dụng từ lâu
đời và đã được ghi trong một số dược điển của các nước trong khu vực (Ấn Độ, Indonexia, Pakistan, Trung Quốc) Ở người, xuyên tâm liên với nhóm hoạt chất diterpen lacton có vai trò chính trong việc tăng cường miễn dịch, sức đề kháng; ngăn ngừa tiêu chảy; chống viêm nhiễm đường hô hấp; trị cảm cúm và một số tác dụng khác
mà hầu như không gây các tác dụng phụ trong điều trị bệnh (Viện Dược liệu, 2003; Akbarsha và cộng sự, 2000; Chiou và cộng sự, 1998; Kumar và cộng sự, 2004; Mathivanan và cộng sự, 2006 ) Trên gia súc, gia cầm cũng đã có nhiều nghiên cứu
Trang 13sử dụng xuyên tâm liên Tâm Liên ở Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ cho những kết quả khả quan về khả năng kháng khuẩn, tăng số lượng tế bào kháng thể, hạn chế các bệnh
hô hấp, tiêu chảy, cải thiện sức sản xuất cũng như khả năng thay thế một số kháng sinh thông dụng trên heo, gà (Sujikara, 2000; Duke và Ayensu, 1985; Akbarsha và cộng sự., 1990; Sithisomwongse và cộng sự., 1989; Tipakorn, 2002) Tuy nhiên ở Việt Nam những nghiên cứu trên gia súc gia cầm hầu như chưa có và chưa từng được công bố
Do đó được sự đồng ý của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam kết hợp
với Sở Khoa học Công nghệ TP.HCM chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên
cứu sử dụng bột lá cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees) thay thế kháng sinh trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt thương phẩm”
Xác định sự tăng trưởng, khả năng chuyển hóa thức ăn, tỷ lệ nuôi sống, sự thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột của gà dưới tác dụng của chế phẩm bột xuyên tâm liên
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về giống gà Lương Phượng
Dòng mái có màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu
Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt - đốm đen Chân màu vàng, mào đơn
đỏ tươi Thân hình cân đối Gà có thân hình chắc, thịt ngon
2.1.3 Năng suất
Khối lượng cơ thể lúc mới sinh: 34,5 g, lúc 8 tuần tuổi đạt 1,2 - 1,3 kg Khối lượng gà lúc 20 tuần tuổi con trống 2,0 - 2,2 kg, gà mái 1,7 - 1,8 kg/con Tuổi đẻ đầu tiên 140 - 150 ngày, sản lượng trứng 150 - 170 quả/mái/năm, tiêu tốn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/ kg tăng trọng
2.1.4 Mô hình chăn nuôi
Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam Nuôi công nghiệp, bán chăn thả và chăn thả
Trang 15Hiện nay người ta đã biết thành phần, công thức hóa học của nhiều loại kháng sinh thông dụng Một số lớn kháng sinh được sản xuất từ dịch cấy vi nấm hoặc vi trùng, một số khác được tổng hợp hoặc bán tổng hợp nhân tạo (Võ Văn Ninh, 2001)
2.2.2 Kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi
2.2.2.1 Phòng bệnh
Vi sinh vật là một phần tự nhiên của hệ sinh thái Một số trong chúng là vi sinh vật có lợi, một số là có hại và sự hiện diện của chúng được giữ ở trạng thái cân bằng nhờ hệ thống miễn dịch của cơ thể, nhờ các peptide kháng khuẩn được sản xuất ở da, biểu mô và do quần thể vi sinh vật trong môi trường ổn định của cơ thể luôn cạnh tranh với các vi sinh vật xâm nhập từ bên ngoài Tuy nhiên sự cân bằng này rất mỏng manh Chỉ cần một vài loại stress từ môi trường, từ công tác chăm sóc, quản lý, dinh dưỡng cũng có khả năng ảnh hưởng lên toàn đàn gia súc, gia cầm khiến cho nồng độ hormon tuyến thượng thận, nồng độ cytokine biến đổi, biến dưỡng sinh acid, trì trệ trong tiêu hóa… Sự mất cân bằng trên là yếu tố khơi mào cho vi sinh vật tăng sinh gây bệnh, giải phóng nội, ngoại độc tố gây hại cho sức khỏe vật nuôi Để khống chế sự nhiễm khuẩn, người ta cần dùng kháng sinh Hơn thế nữa, kháng sinh còn được dùng
để duy trì sự cân bằng của nội môi trường (nhất là môi trường ở đường tiêu hóa) có nghĩa là dùng để phòng bệnh Trong trường hợp này, kháng sinh được sử dụng trong thời gian dài hơn, nhưng với nồng độ thấp hơn liều điều trị
Hiện nay tồn tại 3 phương pháp sử dụng kháng sinh để phòng bệnh như sau:
Dùng một loại kháng sinh ở liều phòng trong một thời gian dài nhằm duy trì vi sinh vật có lợi ở dường ruột, ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh
Dùng luân phiên nhiều loại kháng sinh ở liều phòng ngăn chặn hệ vi sinh vật cơ hội có sẵn trong cơ thể hoặc những vi khuẩn có thể lây từ cá thể này sang cá thể khác Phương pháp này thường được dùng khi vận chuyển thú từ nơi này đến nơi khác có môi trường sống khác nhau đối với những con được lựa chọn cho sản xuất lâu dài
Để hạn chế sự kháng thuốc của vi sinh vật xảy ra khi sử dụng những phương pháp trên, người ta đã đưa ra hướng giải quyết khác: liều kháng sinh sử dụng tăng dần liên tục để hiệu quả kháng khuẩn luôn ở mức cao hơn liều mà vi sinh vật có thể đề
Trang 16(Trích Nguyễn Ngọc Hoài Thi, 2001)
2.2.2.2 Trị bệnh
Khi phát hiện vật nuôi mang bệnh có triệu chứng lâm sàng, việc trước tiên phải làm là điều trị Nếu con vật bệnh không được điều trị đúng mức và hiệu quả, vi sinh vật có thể lan tràn ra môi trường và lây nhiễm cá thể khác trong đàn và ngay cả con người Vì trong thực tế có nhiều bệnh nguy hiểm lan truyền giữa người và vật nuôi
như lao, bệnh do Leptospira, Toxoplasma, Brucella, Samonella (DT - 104), E coli
type O157:H7 gây dung huyết… Điều này gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và sức khỏe cộng đồng Tuy vậy, trong điều trị có một số rất nhỏ vi sinh vật có thể phát triển
sự đề kháng đối với loại kháng sinh sử dụng Nhưng trong một số trường hợp, loại vi sinh vật đề kháng thật ra lại không phải là vi sinh vật gây bệnh
Nhìn ở khía cạnh tích cực thì việc phòng trị bệnh ở gia súc, gia cầm tuy có gây
ra đề kháng thuốc nhưng đó là điều không tránh khỏi Đồng thời việc điều trị một thú bệnh cũng có ý nghĩa là trực tiếp bảo vệ sức khỏe của thú khác và cả sức khỏe con người Nguy hại của vấn đề chính là ở chỗ thực tế sử dụng kháng sinh đối với thú có đúng cách không Tuy vậy, vì không có số liệu chính thức cũng như chưa có nghiên cứu đối chứng đầy đủ nên cũng khó xác định chính xác lợi và hại của vấn đề sử dụng kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh ở thú (Trích Nguyễn Ngọc Hoài Thi, 2001)
2.2.2.3 Kích thích sinh trưởng
Năm 1929, thế giới tìm ra kháng sinh, đến năm 1940 thì kháng sinh được dùng rộng rãi vào việc chữa bệnh cho người và gia súc Đến năm 1949, người ta còn phát hiện ra rằng sử dụng kháng sinh với liều lượng rất thấp so với liều để chữa bệnh vào thức ăn cho gia súc thì không những hạn chế nhiều bệnh truyền nhiễm mà còn làm cho con vật lớn nhanh, cho nhiều thịt, nhiều trứng Sau phát hiện này kháng sinh được dùng phổ biến trong chăn nuôi Gần đây xuất hiện một số thuốc kháng sinh được sử dụng như là chất kích thích sinh trưởng có thể một phần là nguyên nhân của việc tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn, sức kháng có thể có ở các vi khuẩn gây bệnh cho người
và động vật và cũng có thể là nguồn gốc của một vài hiện tượng ngộ độc thức ăn Việc
Trang 17sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi ngày càng được tranh luận bởi vì đây là một trong những nguyên nhân làm mất đi hiệu quả của một số thuốc kháng sinh trong điều trị trong nhân y và thú y
Kháng sinh có tác dụng kích thích sinh trưởng Lợn ăn thức ăn có bổ sung kháng sinh tăng trọng hơn đối chứng 15 - 20%, gà 7 - 15%, bê 4 - 5%, kháng sinh còn làm gà mái đẻ nhiều trứng hơn (9 - 10%) và tăng tỷ lệ nở của trứng Kháng sinh giúp cho con vật khỏe mạnh, hạn chế còi cọc, hạn chế bệnh tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa
Kháng sinh làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Người ta tính rằng, nếu thức ăn
có thêm kháng sinh thì cứ tăng 100 kg thể trọng tiết kiệm được 15 - 20 kg thức ăn
Hiện nay, việc bổ sung khánh sinh vào thức ăn chỉ tăng mức tăng trọng 3- 5%, giảm chi phí thức ăn khoảng 5%, một số trường hợp còn thấp hơn Nguyên nhân là giảm hiệu lực của kháng sinh do điều kiện chăn nuôi được cải thiện, chế độ dinh dưỡng được đảm bảo, chăm sóc quản lý và chuồng trại tốt hơn trước, mặt khác do việc
sử dụng thường xuyên kháng sinh làm cho vi khuẩn lờn thuốc, mất hiệu lực của kháng sinh
Cơ chế tác động chủ yếu của kháng sinh là liều thấp trong thức ăn kháng sinh
ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại trong đường ruột, tăng sự tiêu hóa hấp thu dưỡng chất trong thức ăn Tính nhạy cảm của vi trùng gây bệnh với kháng sinh cao nên nó bị ức chế không phát triển và gây bệnh, thành ruột non mỏng và mọc đủ lông nhung, tạo điều kiện hấp thu thức ăn tốt hơn, do vậy tăng khả năng lợi dụng thức ăn hơn nên đa cải thiện tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn
(Theo Lê Đức Ngoan, 2005)
2.2.3 Hạn chế của việc sử dụng kháng sinh
Ngày nay rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước ở châu Âu đã cấm dùng hoặc hạn chế dùng kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi vì những lý do sau:
Khi có kháng sinh thường xuyên trong thức ăn cơ thể không sản sinh sức đề kháng để chống lại vi trùng, do đó sức đề kháng của động vật giảm
Vi khuẩn gây bệnh tiếp xúc với kháng sinh liều thấp sẽ thích ứng, có một số biến đổi, thay đổi cấu trúc ADN để chống lại kháng sinh
Trang 18 Tồn dư kháng sinh trong sản phẩm động vật có hại cho sức khỏe của người Do kháng sinh tạo ra sự đề kháng kháng sinh với những vi khuẩn gây bệnh cho người, vì vậy việc điều trị bệnh ở người gặp khó khăn Một số loại kháng sinh tồn dư trong sản phẩm động vật đã gây ung bướu cho người, ví dụ: carbadox, olaquindox thuộc nhóm chất hóa học quinolon (Commission Regulation EC số 2788/98) Theo báo cáo của Gounellec (1972) ở viện Hàn lâm Y học Paris thì tồn dư của kháng sinh thấy có ở 58% thịt lợn, 36% thịt bê và 7% ở thịt bò Tồn dư kháng sinh làm xuất hiện vi khuẩn kháng kháng sinh, gây độc (như tetracilin đối với xương và răng của thai và trẻ nhỏ), gây dị ứng
Những công trình nghiên cứu của Anderson (Anh) đã chỉ ra rằng Salmonella
typhi - anaurium gây nguy hiểm cho người (thậm chí gây tử vong) và kháng sinh
không có tác dụng trị nó Dùng kháng sinh với liều thấp và liên tục đã làm xuất hiện vi khuẩn kháng lại kháng sinh Người ta cũng phát hiện ra tính chất kháng kháng sinh được di truyền từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác bằng một thành phần trung gian có tên là “plasmide”
Sự tăng số lượng các dòng vi khuẩn kháng kháng sinh càng đáng sợ hơn khi mà ngày nay người ta đưa vào sản xuất những chế phẩm chứa hỗn hợp nhiều loại kháng sinh với liều rất thấp Những chế phẩm này làm tăng nhanh các dòng vi khuẩn kháng kháng sinh, thậm chí kháng được nhiều loại kháng sinh (Theo Lê Đức Ngoan)
Dùng kháng sinh còn không tốt ở chỗ kháng sinh không những loại bỏ các vi khuẩn có hại mà còn loại bỏ cả vi khuẩn có ích trong đường tiêu hóa Các giống vi
khuẩn có ích trong đường ruột như Lactobacillus, Lactoccoccus, Bifidobacterium,
Pediococcus, Leuconostoc thường sử dụng nguồn dinh dưỡng là carbonhydrat lên
men sinh ra axit lactic là chủ yếu, có tác dụng giảm độ pH đường ruột, ức chế vi khuẩn lên men thối gây phân huỷ protein Khi sử dụng kháng sinh để ức chế vi khuẩn gây bệnh trong đường tiêu hoá có thể tổn thương đến một số loài vi sinh vật hữu ích làm ảnh hưởng đến sự lên men sinh axit hữu cơ (Theo Lê Đức Ngoan, 2005)
Hậu quả của việc sử dụng kháng sinh thường xuyên trong thức ăn để phòng bệnh tiêu chảy làm phá vỡ cân bằng tự nhiên của hệ vi sinh vật đường ruột, làm giảm hiệu quả điều trị của kháng sinh khi gia súc mắc bệnh Ngoài ra sẽ hình thành nhiều
Trang 19loại vi khuẩn kháng thuốc gây khó khăn cho công tác điều trị bệnh, tăng mức độ thải
Salmonella, Clostridium trong phân, tăng nguy cơ dịch bệnh
Kháng sinh tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi gây hại cho sức khoẻ của người tiêu dùng có thể xảy ra như sau :
Một số người mẫn cảm, có thể dị ứng với kháng sinh khi tiêu thụ thịt có sự tồn
dư của kháng sinh
Một số loại kháng sinh tổng hợp có nguồn gốc từ quinolon như: olaquidox, carbadox, norfloxacin… tồn dư trong thực phẩm có thể gây ung thư trên người
Ăn sản phẩm tồn dư kháng sinh thường xuyên sẽ gây ra rối loạn khu hệ vi sinh vật đường ruột trên người, sẽ tạo những loài vi khuẩn gây bệnh trên người kháng lại kháng sinh
2.2.4 Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn
Cho đến nay, người ta biết được vi khuẩn có 3 kiểu đề kháng kháng sinh:
Kiểu thứ nhất là đề kháng nhiễm sắc thể, là sự đề kháng do biến đổi cấu trúc gen DNA của vi khuẩn Do dùng kháng sinh lâu ngày, có một số vi khuẩn thay đổi cấu trúc gen để thích ứng với kháng sinh Từ một vi khuẩn kháng được thuốc sẽ sinh sôi nảy nở ra vô số vi khuẩn kháng thuốc, cơ chế này thực hiện tương đối chậm, vì thế để tạo ra dòng vi khuẩn kháng lại kháng sinh phải mất thời gian khá lâu
Kiểu thứ hai là đề kháng yếu tố R, đây là kiểu đề kháng tạo ra nhanh nhất và thường xuyên nhất, từ một con vi khuẩn đề kháng kháng sinh nó có thể truyền thông tin di truyền bằng yếu tố R gọi là plasmid cho “cả bầy” vi khuẩn chưa có tiếp xúc với kháng sinh lần nào qua cái lông hình ống gọi là pilus Trước hết các plasmid kháng kháng sinh sẽ được nhân đôi, một plasmid lưu giữ lại và một plasmid truyền dẫn sang cho vi khuẩn mới chưa có sức đề kháng bằng pilus, từ đó mà “nó dạy dỗ lẫn nhau cách
thức đập tan hiệu lực của kháng sinh” Người ta nhận thấy vi khuẩn E coli có hoạt
động này rất mạnh mẽ, nó không những truyền yếu tố kháng thuốc cho nòi giống của chúng mà còn cho nhiều giống vi khuẩn gây bệnh khác
Kiểu thứ ba là sự đề kháng chéo (cross-resistence): theo Hội đồng dinh dưỡng động vật SCAN (Scientific Committee on Animal Nutrition) thì những con vi trùng
Trang 20Enterococci đề kháng với tylosin được phân lập trên heo bị bệnh do Mycoplasma đã
xử lý thuốc tylosin thì nó cũng đề kháng luôn với erythromycin và tiếp tục nó cũng sẽ
đề kháng với kháng sinh khác như lincosamid và streptogramin B thuộc nhóm macrolid Do sự đề kháng chéo này mà những kháng sinh mới tìm ra như lincomycin
và clincomycin dùng để chữa bệnh cho người cũng trở nên vô dụng
(Theo Dương Thanh Liêm và ctv, 2006)
2.2.5 Một số quy định về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
Hiện nay do tình trạng sử dụng kháng sinh vào chăn nuôi với mục đích cải thiện năng suất vật nuôi gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là gây ra các bệnh khó chữa do hiện tượng kháng thuốc xảy ra nên các cơ quan có thẩm quyền đã khắt khe hơn trong việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi Bộ Y tế đã ra quyết định 46/2007/QĐ-BYT nhằm giảm thiểu những hậu quả khó lường của kháng sinh gây ra, trong đó nội dung chủ yếu về kháng sinh là giới hạn tối đa cho phép bổ sung vào thức ăn chăn nuôi và giới hạn tối đa cho phép tồn dư trong các sản phẩm của vật nuôi (Bảng 2.1)
Trang 21Bảng 2.1 Giới hạn tối đa cho phép bổ sung vào thức ăn và tồn dư trong sản phẩm của một số loại kháng sinh
STT Loại kháng sinh
Giới hạn tối đa cho phép bổ sung (µg/kg thể trọng/ngày)
Loài động vật Loại thực phẩm
Giới hạn tối
đa cho phép tồn dư (µg/kg)
Chlortetracycline
Oxytetracycline
Tetracycline
Trâu, bò, lợn, gia cầm
Thịt Gan Thận Sữa (µg/l) Trứng
2006001200100400
Mỡ Sữa (µg/l)
10020005000100200
Thịt Gan Thận
Mỡ
100300300300
Thịt Gan Thận
Mỡ
10808020
quy định loài
Thịt Gan Thận
Mỡ
100100100100
Trâu, bò,
gà
Thịt Gan Thận
Mỡ Sữa Trứng
50050010005001500500
Dê, cừu, lợn, gà tây
và vịt
Thịt Gan Thận
Mỡ
50050010000500
Nguồn: Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT 19/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tháng 7/2003, EU đã thông qua quyết định về kiểm tra và sử dụng các chất bổ sung trong thức ăn gia súc, đến tháng 1 năm 2006 cấm tất cả các loại kháng sinh cho
Trang 22vào thức ăn Ở nước ta ngày 24 tháng 4 năm 2002 trong quyết định số 29/2002/QĐ - BNN của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn về việc “cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thôngvà sử dụng một số loại kháng sinh, hoá chất trong sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi” gồm 18 loại trong đó có 2 loại kháng sinh: chloramphenicol và furazolidon (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Các loại thuốc và kháng sinh bị cấm sử dụng ở Việt Nam
STT Tên hóa chất và kháng sinh cấm sử dụng ở Việt Nam
1 Chloramphenicol (Tên khác: cholormomycetin, chlonitromycin, lavomycin, chlorocid, leukomycin)
2
Furazolidon và một số dẩn xuất nhóm nitrofuran (nitrofuran, furacilin, nitrofurazon, furacin, nitrofurantoin, furoxon, orafuran, furadonin, furadantin, furaltadon, payzone, furazolin, nitrofumethon.nitrofuridin,
nitrovin)
3 Dimetridazole (Tên khác: emtryl)
4 Metronidazole (Tên khác: trichomonoacid, flagy, klion, avimetronid)
5 Dipterex (Tên khác: metriphonat, trichlorphon, neguvon Chorophos, DTHP); DDVP (Tên khác: dichlorvos, dichlorovos)
Nguồn Số 29/2002/ QĐ- BNN, ngày 24/4/2002
2.2.6 Các chất bổ sung thức ăn thay thế kháng sinh trong chăn nuôi
Công nghệ thức ăn bổ sung ngày nay rất phát triển và ngày càng hiện đại Quan điểm sử dụng thức ăn bổ sung cũng đã thay đổi sâu sắc Việc sử dụng hormon để kích thích động vật nuôi thịt đã bị cấm từ lâu vì dư lượng của hocmon trong thịt gây ung thư cho người sử dụng; kháng sinh cũng bị nhiều nước cấm vì kháng sinh dùng với liều thấp trong thức ăn đã tạo ra những dòng vi khuẩn kháng kháng sinh Những xu hướng mới thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi như sau:
Axit hoá đường ruột (acidifier) để ức chế vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, tăng cường tiêu hoá thức ăn
Sử dụng vi khuẩn có lợi cho đường ruột (probiotic) cho vào thức ăn chăn nuôi
Đưa vào trong thức ăn những hợp chất (prebiotic) để giúp cho vi khuẩn có lợi trong đường ruột phát triển ức chế vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy
Bổ sung vitamin để tăng cường sức đề kháng, tăng cường những vitamin thiết yếu cho vật nuôi
Trang 23 Hỗ trợ hệ thống miễn dịch bằng cách sử dụng những thức ăn cung cấp globin miễn dịch hay kháng thể cung cấp cho con vật trong những thời kỳ khủng hoảng như thời kỳ cai sữa ở lợn
Thảo dược (chế phẩm tự nhiên), sử dụng các chất kháng khuẩn thảo mộc như tỏi, gừng, hồi, quế, hạt tiêu, ớt, bạc hà Tinh dầu của các thảo mộc này có tác dụng diệt khuẩn rất hiệu quả và có thể thay thế kháng sinh trong chăn nuôi
Xu hướng dùng thức ăn bổ sung trên đây nhằm đảm bảo ngày càng triệt để vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi, nhất là các sản phẩm xuất khẩu
2.3 Một số chế phẩm tự nhiên (gừng, tỏi, nghệ)
Từ thảo mộc có sẵn trong thiên nhiên là gừng, tỏi, nghệ Tỏi, gừng, nghệ được rửa sạch, thái từng lát mỏng, sau đó xay nhuyễn, tạo thành một hỗn hợp Hỗn hợp này được vắt nhẹ để tách dung dịch và hỗn hợp bột ẩm Dung dịch là chế phẩm dạng lỏng, hỗn hợp bột ẩm được đem đi sấy khô ở 50 - 60oC tạo thành một chế phẩm dạng bột thô
Tác dụng của chế phẩm
Ổn định hệ vi sinh vật đường ruột, khống chế vi sinh vật có hại
Hỗ trợ tiêu hóa thức ăn
Hỗ trợ chức năng gan
Chống sự oxy hóa, chống stress
(Theo Nguyễn Dương Trọng, 2005)
Sử dụng chế phẩm gừng - tỏi - nghệ để ức chế các vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa, ổn định hệ vi sinh vật đường ruột Chế phẩm kích thích tiết nước bọt, dịch mật từ đó giúp tiêu hóa tốt hơn Chế phẩm có tác dụng làm tăng lưu lượng máu qua gan, giải độc, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể gia súc, gia cầm (Theo Phạm Thị Lan Hương, 2003)
2.3.1 Gừng
Gừng có tác động gây co mạch, hưng phấn thần kinh trung ương, thần kinh giao cảm, tăng tuần hoàn máu, tăng huyết áp nhẹ, ức chế trung tâm nôn, xung huyết ở dạ dày
Trang 24Gừng có tác dụng ức chế một số vi khuẩn Bacillus mycoides, Staphylococcus
aureus, diệt được Tricomonas Tinh dầu gừng có tác dụng ức chế Staphylococcus aureus, E coli, Streptococcus, Salmonella typhy,… Có thể kết hợp gừng với một số vị
thuốc khác điều trị bệnh không muốn ăn, miệng nhạt vô vị, bụng đầy, không tiêu (Theo Phạm Xuân Sinh, 2002)
2.3.2 Nghệ
Kích thích hoạt động điều hòa của tế bào gan (chủ yếu do chất faratolyl metylcacbinol), chống viêm, giảm đau, kéo dài thời gian chảy máu nên được dùng trong các trường hợp: viêm gan vàng da, mật bài tiết khó khăn sinh ra đầy hơi khó tiêu, các bệnh gây xuất huyết nội tạng, đặc biệt có tác dụng rất tốt đối với bệnh đau dạ dày
Tinh dầu nghệ và dịch ép có tác dụng ức chế một số chủng vi khuẩn như
Bacillus aureus, Staphylococcus aureus và nấm ngoài da Candida albican (Theo Phạm
Xuân Sinh, 2002)
2.3.3 Tỏi
Giảm cholesterol và lipid
Hoạt tính kháng sinh của tỏi là allicin tương tự như penicillin và sulfamid do đó
có thể được dùng để chống một số bệnh cảm cúm
Tỏi và chiết xuất từ tỏi có tác dụng kháng khuẩn phổ rộng có thể chống lại các vi khuẩn G+, G-, tác dụng ức chế trên 70 loại vi khuẩn điển hình như Staphylococcus
aureus, Streptococcus pneumoniae, Mycobaterium tuberculosis…tỏi có tính kháng nấm,
kháng ký sinh trùng và kháng siêu vi (Theo Hồ Diễm Châu và Phan Huỳnh Lê, 2002)
Trang 252.4 Giới thiệu về chế phẩm thảo dược xuyên tâm liên
Phân loại khoa học:
Giới (regnum): Plantae
Ngành (divisio): Magnoliophyta
Hình 2.1 Cây xuyên tâm liên (Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees)
Tên khác: cây công cộng, lãm hạch liên, hùng bút, khổ đảm thảo
Trang 26Tên nước ngoài: Akar cerita bidara, alui, Andrographidis Kraut, bidara, bhoonimba, bhuinimo, bhulimb, bhuninba, charayeta, charayetha, charita, cheranta, cherota, chiraita, chiretta, chuan-hsin-lien, faathalaaichon, fathalaai, fathalaichon, fathalaijone, halviva, herba sambiloto, hinbinkohomba, I-chienhsi, kalafath, kalmegh, kan-jang, kariyat, khee-pang-hee, king of bitters, kiriathu, kirta, kiryata, kiryato, lanhelian, mahatikta, mahatita, naelavemu, naynahudandi, nelavemu, quasab-uz-zarirah, rice bitters, sambilata, sambiloto, senshinren, sinta, yaa kannguu yijianxi
2.4.1 Đặc điểm sinh lý và địa điểm phân bố
Cây nhỏ, sống hằng năm, cao 0.4 - 1 m Thân vuông, mọc thẳng đứng, phân nhiều cành nhẵn Lá mọc đối, có cuống ngắn, hình mác, dài 3 - 10 cm, rộng 1 - 2 cm, gốc thuôn, đầu nhọn dài, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm đen
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu cành thành chùm thưa; hoa màu trắng, điểm những đốm hồng tím, đài có 5 răng nhỏ, đều, có lông; tràng hợp ở phần dưới thành ống hẹp, hình trụ có lông, phần trên loe ra chia 2 môi, môi trên hẹp dài, môi dưới xẻ 3 thùy rộng, đầu nhọn; nhị 2, đính ở họng tràng; bầu 2 ô
Quả nang, hẹp, thuôn dài khoảng 1,5 cm, hơi có lông mịn; hạt hình tròn
Mùa hoa: tháng 9 - 12; mùa quả: tháng 1 - 2
Xuyên tâm liên mọc từ hạt vào khoảng tháng 4 hoặc đầu tháng 5 Cây sinh trưởng nhanh trong mùa xuân - hè Khi cây sắp ra hoa, lá nhỏ dần và rụng sớm Quả xuyên tâm liên lúc già tự mở cho hạt thoát ra ngoài
Xuyên tâm liên là cây ưa sáng, hoặc có thể bị che bóng một phần trong ngày Cây ưa mọc trên đất ẩm, khi mưa không bị đọng nước Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển lá 22 - 26oC; lượng mưa 1500 - 2500 mm/năm Hoa xuyên tâm liên
nở từ các cành phía dưới trước, sau dần lên các cành ở ngọn Ngược lại, khi cây vàng
úa và tàn lụi lại bắt đầu từ các cành ở ngọn trước Hạt xuyên tâm liên có tỷ lệ nảy mầm khá cao (khoảng 70 - 80%) Thời gian nảy mầm thường sau 7 ngày kể từ ngày gieo Chú ý khi thu quả để lấy hạt giống cần tiến hành khi cây bắt đầu vàng úa (lá chuyển sang màu đỏ - vàng); nếu thu hái chậm, quả khô dễ tách ra rơi mất hạt
Chi Andrographis Wall, có khoảng 40 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới châu Á Ở Việt Nam có 2 loài, trong đó có cây xuyên tâm liên
Trang 27Xuyên tâm liên có nguồn gốc từ Ấn Độ, sau lan sang các nước nhiệt đới khác như Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Philippin, Indonesia, Australia và Trung Quốc Cây cũng được nhập sang tận vùng Trung Mỹ Ở các nước châu Á, Ấn
Độ và Việt Nam là những nơi trồng nhiều xuyên tâm liên nhất trong toàn khu vực Vào những năm 80, cây được trồng ở nhiều vùng địa phương ở miền Bắc Việt Nam; sau đó giảm xuống., gần đây lại tiếp tục được khôi phục, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc
2.4.2 Thành phần hóa học của xuyên tâm liên
Xuyên tâm liên chứa 2 nhóm hợp chất chính là diterpen lacton và flavonoid Các diterpen lacton là andrographolid (andrographis A), deoxyandrographolid (andrographis B), neoandrographolid (andrographis C), hemoandrographolid (andrographis D), 14-deoxy-11-oxoandrographolid, 14-deoxy-11-12-didehydro-andrographolid, andrographosid, 14-deoxyandrographosid, deoxyandrographosid-19- -D-glucosid, 14-deoxy-12-methoxyandrographolid, andrograpanin, andropanosid, ent-14-hydroxy-8 (17), 12-labadien -15, 16-olid -3 , 19-oxyd
Hình 2.2 Cấu trúc của các diterpen lacton: (a) andrographolid, (b) Deoxy, (c) neo
Trang 28Hình 2.3 Cấu trúc của Andrographiside , 14-deoxy-11,12-didehydrographolide và
Hai polysaccharid acid PA và PB được phân lập từ pectin của xuyên tâm liên
PA chứa galactose, arabinose, và rhamnose Thủy phân từng phần PA thì được - (1 - 3) - - D-galactan
PB chứa galactose, arabinose và rhamnose theo tỉ lệ: 3,4: 1,7: 1 Thủy phân từng phần
PB thì được - (1-4)-D-galacturonan
Trang 29Hàm lượng các chất trong xuyên tâm liên:
Theo quy định của Dược điển Trung Quốc 1997 (bản tiếng Anh) xuyên tâm liên chứa không dưới 0,4 % dehydroandrographolid
Nồng độ của những diterpen lactone này phụ thuộc vào cả vị trí (vùng) và mùa trồng và thu hoạch Xuyên tâm liên mọc nhiều nhất ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Trung Quốc và Đông Nam Á Lá chứa tổng lượng cao nhất của thành phần hoạt tính và rễ chứa tổng lượng thấp nhất (MPRI, 1999) nhưng Sharma và cộng sự (1992) tìm thấy hạt chứa tổng lượng thấp nhất Thành phần nhiều nhất của hợp chất được tìm thấy trước khi cây ra hoa, làm rụng lá sớm trong thời gian thu hoạch tốt (Bảng 2.3) Ngoài ra thời gian bảo quản cũng là một yếu tố quyết định hàm lượng diterpen lactone (Bảng 2.4)
Những phần trên của cây (lá và rễ) được sử dụng để ly trích hoạt tính hóa học thực vật Lá chứa tổng lượng andrographolide cao nhất (2,39%), hoạt tính hóa học hầu hết trong y học trong cây, đôi khi hạt chứa tổng lượng thấp nhất (Research Review, 1997)
Hàm lượng andrographolid ở lá là 2,6 %, ở thân là 0,1 - 0,4 % Lá chứa hơn 2 % andrographolid trước khi cây ra hoa, sau đó chỉ còn dưới 0,5 % (Viện Dược liệu, 2003)
Bảng 2.3 Tổng lượng diterpene lactone trong xuyên tâm liên sau khi thu hoạch ở
các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (%)
Tổng lượng diterpene lactone (%) Mẫu Giai đoạn thu
Trang 30Bảng 2.4 Tổng lượng diterpene lactone những phần phía trên mặt đất của xuyên tâm liên sau những giai đoạn khác nhau của quá trình lưu trữ (%)
Mẫu Giai đoạn bảo quản (Tháng) Lượng Diterpen Lacton (%) Lượng Diterpen Lacton giảm đi (%)
2.4.3 Công dụng trong y học cổ truyền
Xuyên tâm liên có vị rất đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau
Xuyên tâm liên được dùng trị lỵ cấp tính, viêm dạ dày, viêm ruột, cảm mạo, phát sốt, viêm họng, viêm amidan, viêm phổi, rắn độc cắn
Một số nghiên cứu của xuyên tâm liên về tác dụng y học:
2.4.3.1 Tác dụng trên kháng viêm và sốt
Xuyên tâm liên được dùng trong y học dân gian làm giảm triệu chứng viêm Dutta và Sukul tìm thấy năm 1982 cho rằng 3 thành phần có hiệu quả trong bột lá
Trang 31xuyên tâm liên có tác dụng làm giảm viêm: deoxyandrographolide, andrographolide and neoandrographolide (Dutta and Sukul, 1982) Ở các nghiên cứu khác nhận thấy rằng xuyên tâm liên y trích với rượu (Chantasutra and Limpapanichkul, 1989), xuyên tâm liên ly trích với nước và xuyên tâm liên ly trích với chloroform (Chantasutra and Limpapanichkul, 1989) làm giảm viêm Ở Trung Quốc nó vừa được báo cáo rằng andrographolide có vài tác dụng lợi ích như tác nhân kháng viêm (Chiou et al., 2000), Deng et al (1982) nghiên cứu trên chuột đồng và chuột nhắt kết luận rằng tất cả 4 lactone có tác dụng kháng viêm và kháng sốt
Khả năng của xuyên tâm liên giúp hạ sốt đã được được chứng minh một cách độc lập ở nhiều phòng thí nghiệm Những nghiên cứu trên chuột đồng đã được thực hiện ở Trung Quốc cho thấy andrographolide, neoandrographolide và dehydroandrographolide có thể hạ sốt mà do tạo nên bởi nhiều tác nhân gây sốt, như
nội độc tố vi khuẩn của Pneumococcus spp, tiêu máu Streptococcus, P.multocida và
hóa chất 2, 4 - dinitrophenol (Huang, 1993)
2.4.3.2 Tác dụng trên bệnh cảm phổ biến
Hiệu quả của dịch chiết xuyên tâm liên được so với các loại thuốc vô hại dùng
để trấn an, để giảm các triệu chứng phụ đi kèm với bệnh sốt được đo trong một nhóm bệnh nhân gồm 158 nam và nữ trưởng thành (Caceres và cộng sự, 1999) Tác dụng của xuyên tâm liên được đo trong 0, 2, 4 ngày điều trị Ở ngày thứ 2, nhóm bệnh nhân dùng xuyên tâm liên có biểu hiện dịu bớt đi vài triệu chứng phụ, và ở ngày thứ 4, cũng cùng nhóm đó tất cả các triệu chứng bệnh giảm đi đáng kể so với nhóm dùng thuốc trấn an
2.4.3.3 Tác dụng trên bệnh tiêu chảy và đường ruột
Những nghiên cứu trên thú vật cho thấy rằng xuyên tâm liên có thể ngăn chặn
và làm ngưng tiêu chảy Dịch chiết xuyên tâm liên tỏ ra có tác dụng đáng kể chống lại
bệnh tiêu chảy kèm theo nhiễm trùng E coli (Duke và Ayensu, 1985) Gupta và cộng
sự (1990) đã tìm ra rằng thành phần hoạt tính chống lại bệnh tiêu chảy là andrographolide và deoxyandrographolide
Trang 32Trong nghiên cứu khác, lá xuyên tâm liên được dùng để trị 1.611 trường hợp bệnh lỵ do khuẩn và 955 trường hợp tiêu chảy với hiệu quả chung là 91,3 % (Chturvedi và cộng sự., 1983)
Người ta tin rằng xuyên tâm liên có tác dụng chống lại bệnh lỵ và tiêu chảy do
vi khuẩn bởi vì nó có hoạt tính kháng khuẩn và Pleumjai và Sithisomwonges (1990) cũng đã tìm thấy trong điều kiện thử nghiệm in-vitro xuyên tâm liên ly trích với
ethanol 70% và 80% có thể giết vi khuẩn, nguyên nhân gây nên tiêu chảy ví dụ E coli
và V cholera
2.4.3.4 Tác dụng lên hệ hô hấp
Xuyên tâm liên được dùng trong điều trị ho và loét thanh quản bởi Thamlikitkul
và cộng sự năm 1991 Họ so sánh bột lá xuyên tâm liên với Paracetamol và nhận thấy rằng dùng 6 g bột lá xuyên tâm liên /ngày sau 3 ngày làm giảm sốt và loét thanh quản hơn paracetamol hay 3 g bột lá xuyên tâm liên /ngày Tuy nhiên, sau 7 ngày quá trình chữa trị trong 3 phương pháp điều trị không có sự khác biệt (Thamlikitkul và cộng sự., 1991)
Năm 1972, viện nghiên cứu thảo dược Trung Quốc dùng andrographis A (deoxyandrographolide) và andrographis C (neoandrographolide) để điều trị 24 trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp cao, viêm amidan và viêm phế quản Thời gian bình phục trung bình khoảng 4 đến 7 ngày (Schri, 1973) xuyên tâm liên còn được dùng để điều trị viêm amidan, nhiễm trùng đường hô hấp và bệnh lao Trong một nghiên cứu, xuyên tâm liên được dùng để trị cho 129 trường hợp viêm amidan cấp Liệu pháp này
đã có tác dụng với 65 % bệnh nhân (Akbarsha và cộng sự., 1990) Nhóm các nhà nghiên cứu này cũng đã dùng andrographolide để điều trị cho 49 bệnh nhân viêm phổi
35 trường hợp đã có những thay đổi lạc quan và 9 bệnh nhân bình phục hoàn toàn
2.4.3.5 Tác dụng lên hệ tuần hoàn
Amroyan và cộng sự (1999) đã tìm ra hiệu quả ngăn chặn của andrographolide
từ xuyên tâm liên trong quá trình sinh tổng hợp các eicosanoid và yếu tố hoạt hóa tiểu cầu Chúng chỉ ra rằng andrographolide có một cơ chế tác động khác nhau từ tác động của những thuốc không chịu steroid kháng viêm Hầu hết cơ chế này kết hợp với tim mạch và hoạt tính chống đông máu của xuyên tâm liên