1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY DÓ BẦU (Aquilaria crassna Pierre ex. Lecomte) BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT CÀNH, GHÉP CÀNH

105 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Biết được thời gian ghép thích hợp của mắt ghép khi đã cắt rời khỏi cây mẹ, so sánh được sức sống của các chồi ghép lấy từ các cá thể cây mẹ, so sánh được vị trí ghép ở bên hông và trê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY DÓ BẦU (Aquilaria crassna

Pierre ex Lecomte) BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY DÓ BẦU (Aquilaria crassna

Pierre ex Lecomte) BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Thành kính khắc ghi công ơn cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và giáo dục con nên người; cám ơn các em đã tin tưởng, yêu thương và tạo mọi điều kiện cho chị học tập Con xin cảm ơn ông bà đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ con vượt qua khó khăn trong cuộc sống cũng như trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn đến:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ nhiệm Bộ môn Công nghệ Sinh học, cùng quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tại trường

Thầy Đinh Trung Chánh đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khoá luận

Thầy Lê Đình Đôn cùng các anh ở vườn thực nghiệm bộ môn bảo vệ thực vật trường đại học Nông Lâm đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khoá luận Ban chủ nhiệm cùng toàn thể các thành viên bộ môn cảnh quan hoa viên trường đại học Nông Lâm đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khoá luận

Cô Nguyệt, anh Sơn, em Thái và em Tỵ đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khoá luận

Các thành viên lớp Công Nghệ Sinh Học 30 đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ những vui buồn trong suốt quá trình học cũng như thực hiện khoá luận

TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2008

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

Trang 4

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN, trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí

Minh, tháng 9/2008 “Nhân giống vô tính cây dó bầu (Aquilaria crassna Pierre ex

Lecomte) bằng các phương pháp chiết cành, ghép cành”

Giáo viên hướng dẫn: ThS ĐINH TRUNG CHÁNH

Đề tài được thực hiện tại khu thực nghiệm của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật và vườn Cảnh Quan Hoa Viên trường đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 đến tháng 9/2008

Bố trí thí nghiệm theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên RCBD (Randomized Complete Block Design), nội dung gồm:

- Thí nghiệm khảo sát thời gian ghép thích hợp của cây dó bầu; tiến hành lần thứ nhất với 2 cây mẹ và 5 nghiệm thức; lần thứ hai với 3 cây mẹ, 6 nghiệm thức Lần 1 chỉ ghép hông Lần 2 ghép hông và ghép ngọn đối với hai nghiệm thức 1 và 2, các nghiệm thức còn lại chỉ ghép hông

- Thí nghiệm so sánh khả năng sống của chồi ghép giữa cây non và cây già Vị trí ghép là ở bên hông và trên ngọn

- Thí nghiệm khảo sát khả năng ra rễ của cây dó bầu Bốn nghiệm thức được tiến hành với ba cá thể cây trồng

Kết quả thu được như sau:

- Khẳng định được dó bầu có khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép cành

- Biết được thời gian ghép thích hợp của mắt ghép khi đã cắt rời khỏi cây mẹ, so sánh được sức sống của các chồi ghép lấy từ các cá thể cây mẹ, so sánh được vị trí ghép ở bên hông và trên ngọn

- So sánh được sức sống của đoạn chồi ngọn và đoạn chồi 1, 2

- So sánh được hai kiểu ghép là ghép ngọn và ghép hông

- Khẳng định sức sống của chồi ghép từ cây non (60-70%) là hơn hẳn chồi từ cây già (13.3-26.7%)

- Đối với cây dó bầu, sau 60 ngày các cành chiết vẫn chưa ra rễ

Trang 5

SUMMARY

NGUYEN THI THANH NHAN, Nong Lam University, Ho Chi Minh City,

9/2008 “Propagation invitro Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte by provine

and engraftment trees methods”

Guide teacher: Master ĐINH TRUNG CHÁNH

The topic was done in experiment part of Plant Protection Department and Beautiful

Landscape Garden, Nong lam univesity, Ho Chi Minh city from 4/2008 to 9/2008

Set up experiment with Randomized Complete Block Design style with terms below:

- Investigate suitable times to graft Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte It was

carried out the first time with 2 origin trees and 5 treatments, and the second with 3

origin trees and 6 treaments The first time we just connected at the sides of the trees,

and the second with sides and tops of trees for the 1st and 2nd treatments The remain

of treatments only connected sides of trees

- Compare alive-ability of connection shoot between young trees and old trees

- Connection positions are sides and tops of the trees

Investigate root building ability of Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte Four

treatments is done with 3 individual trees

Results of this research:

- Assert that Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte has propagation invitro ability

by engraftment trees method

- Understand suitable connection time of connection buds after breaking off the

origin trees Compare the alive- ability of connection shoots from origin trees, and

compare the connection position between side and top of the trees

- Compare the alive- ability between top shoots and shoot 1, 2 of the trees

- Compare 2 styles connection are top conncetion and side connection

- Assert that the alive - ability of shoots connection from young trees (60-70%) are

better than shoots connection from old trees

- With Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte, after 60 days extract branches of the

trees still haven’t taken root

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt khoá luận iv

Summary v

Mục lục vi

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình x

Danh sách các biểu đồ xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tổng quan về chiết cành, ghép cành 4

2.1.1 Chiết cành 4

2.1.2 Ghép cành 4

2.2 Đặc điểm sinh thái và sinh học của cây dó bầu (Aquilaria crassna) 8

2.2.1 Phân loại và tên khoa học 8

2.2.2 Mô tả thực vật 10

2.2.3 Đặc điểm về sinh thái và sinh học 11

2.2.3.1 Đặc điểm sinh thái 11

2.2.3.2 Đặc điểm lâm sinh học 12

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên sự hình thành trầm trên cây dó bầu 12

2.3.1 Mô tả đặc điểm của trầm hương 12

2.3.2 Các yếu tố liên quan đến sự hình thành trầm hương 13

2.4 Tình hình nghiên cứu cây dó bầu 14

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

Trang 7

3.2 Vật liệu 17

3.2.1 Đối với chiết cành 17

3.2.2 Đối với ghép 17

3.3 Phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Đối với chiết cành 18

3.3.2 Đối với ghép cành 20

3.4 Xử lý số liệu 24

3.5 Dụng cụ và thiết bị 24

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 Thí nghiệm khảo sát khả năng ra rễ của cây dó bầu 25

4.2 Thí nghiệm khảo sát thời gian ghép thích hợp của cây dó bầu 25

4.3 Thí nghiệm so sánh khả năng sống của chồi ghép giữa cây già và cây non 36

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Đề nghị 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm chiết cành 20

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm ghép cành lần thứ nhất 21

Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm ghép cành lần thứ hai 23

Bảng 3.4 Bố trí thí nghiệm so sánh khả năng sống của chồi ghép giữa cây non và cây già 23

Bảng 4.1 Số cây sống của các nghiệm thức của cây A1 theo thời gian 25

Bảng 4.2 Số cây sống của các nghiệm thức của cây B1 theo thời gian 26

Bảng 4.3 Số cây sống của các nghiệm thức trong lần thí nghiệm hai, ghép hông 27

Bảng 4.4 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 5 ngày 29

Bảng 4.5 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 7 ngày 30

Bảng 4.6 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 9 ngày 31

Bảng 4.7 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 11 ngày 31

Bảng 4.8 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 13 ngày 32

Bảng 4.9 Số cây sống của các nghiệm thức trong lần thí nghiệm hai, ghép ngọn 32

Bảng 4.10 Số cây sống của cây non và cây già theo thời gian trong trường hợp ghép ngọn 36

Bảng 4.11 Số cây sống của cây già và cây non trong trường hợp ghép hông 39

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Cây dó bầu 9

Hình 3.1 Chuẩn bị giá thể chiết cành 17

Hình 3.2 Khử trùng giá thể ở 600C 17

Hình 3.3 Cây dó bầu dùng để chiết cành 18

Hình 3.4 Cách lột khoanh vỏ 18

Hình 3.5 Mô hình tạo mô sẹo 18

HÌnh 3.6 Cách bó bầu 19

Hình 3.7 Các cây dó bầu dùng làm gốc ghép 20

Hình 3.8 Mô hình ghép hông cây dó bầu 24

Hình 3.9 Mô hình ghép ngọn cây dó bầu 24

Hình 4.1 Cây ghép hông sau 1 tháng 29

Hình 4.2 Các cây ghép ngọn sống tốt sau 60 ngày 34

Hình 4.3 Chồi ghép bị hoại tử hoàn toàn sau 7 ngày 37

Hình 4.4 Chồi ghép bị hoại tử phần ngọn vẫn có khả năng đâm chồi 37

Hình 4.5 Các chồi non sống và đâm chồi mới sau 18 ngày ghép ngọn 38

Hình 4.6 Cây non trong trường hợp ghép hông đâm chồi sau 15 ngày 40

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1 Sức sống của các chồi ghép của cây A1 theo thời gian 25

Biểu đồ 4.2 Sức sống của các chồi ghép của cây B1 theo thời gian 26

Biểu đồ 4.3 Sức sống của chồi ghép khi ghép hông theo thời gian 28

Biểu đồ 4.4 Sức sống của chồi khi ghép ngọn theo thời gian 33

Biểu đồ 4.5 Sức sống của cây già và cây non theo thời gian, trong trường hợp ghép ngọn 36

Biểu đồ 4.6 Sức sống của cây già và cây non theo thời gian, trong trường hợp ghép hông 39

Trang 12

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trầm hương là một loại đặc sản rừng có nguồn gốc từ Đông Nam Á và Ấn

Độ, được biết đến qua nhiều thế kỷ trong các nền văn minh Châu Á và Trung Đông như là một sản phẩm quý, hiếm, gắn liền với nền văn hoá phương đông Các giá trị về hương liệu và dược liệu của trầm hương được nhiều tài liệu cỗ ghi nhận và cho đến nay, nó vẫn là một loại vật liệu quý hiếm Gần đây, tính chất quý hiếm và giá trị kinh

tế lớn của loại sản phẩm đặc sắc này đã thu hút sự chú ý gây trồng và nghiên cứu kích thích tạo trầm của nhiều người, không chỉ ở Việt Nam mà cả trong nhiều nước châu Á (Đinh Trung Chánh, 1998)

Một lít tinh dầu trầm có giá đến 50.000 đô la Mỹ (Hơn 750 triệu đồng), nhưng nếu có xuất xứ từ Việt Nam giá có thể lên đến 1 tỉ đồng bởi trầm hương Việt Nam có chất lượng cao hơn tiêu chuẩn quốc tế” – ông Hoàng Văn Được – Tổng thư ký hiệp hội Tinh dầu – Hương liệu – Mỹ phẩm Việt Nam, khẳng định như vậy trong hội nghị

về cây trầm hương với sự bảo trợ của tổ chức dự án mưa rừng nhiệt đới (TRP – một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hà Lan) Với cái giá như vậy, có thể nói trầm hương

là một thị trường rất có tiềm năng (Theo thời báo kinh tề Sài Gòn, số 45-2004, ra ngày 4/11/2004, trích dẫn từ http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi5.php) Ông Trần Quốc Cừ, một nông dân có kinh nghiệm gần 20 năm tạo trầm trên cây dó bầu ở tỉnh Phú Yên đã cho biết: “Trồng cây dó bầu có thể thu lãi hàng tỷ đồng/hécta” Trước đây, việc khai thác trầm hoàn toàn dựa vào cây dó bầu mọc trong rừng Nay cây dó bầu đã được các chủ vườn trồng và chăm sóc rất kỹ để khai thác trầm Trầm hương có trên cây dó bầu là do cây bị thương đã tiết ra mủ để bao bọc vết thương và tạo thành trầm hương Khi trầm hương tích tụ lâu ngày sẽ thành kỳ nam (có giá trị đắt hơn nhiều lần so với trầm hương) Trầm hương và kỳ nam được chưng cất lấy tinh dầu phục vụ cho ngành công nghiệp hương liệu mỹ phẩm như pha chế nước hoa cao cấp, sản xuất xà bông… Trầm hương còn được sử dụng trong y khoa (cả

Trang 13

Đông lẫn Tây y) và chế tác đồ thủ công mỹ nghệ cao cấp Chính do nó có nhiều công dụng và khá đặc biệt như vậy nên giá trầm hương trên thị trường trong ngoài nước rất cao Tại thị trường TP.Hồ Chí Minh hiện nay, 1 kg trầm hương loại nhất khoảng 45 triệu đồng, trầm hương loại 6 (loại thấp nhất) cũng trên 3 triệu đồng/kg Riêng giá của

kỳ nam không dưới 100 triệu đồng/kg (Theo báo Đồng Nai số 938, ra ngày 30/11/2004, trích dẫn từ http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi5.php)

Từ năm 1991 trở về trước, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 10-15 triệu đô

la Mỹ trầm hương Vì có giá trị cao nên nguồn trầm trong tự nhiên đã bị khai thác gần như cạn kiệt Hiện nay, bằng phương pháp nhân tạo, trầm hương Việt Nam đang có cơ hội trở lại thời thịnh vượng… (Theo thời báo kinh tế Sài Gòn , số 45-2004, ra ngày 4/11/2003, trích dẫn từ http://www.tramhuongvietnam.com/thongtinmoi5.php)

Từ những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu nhân giống vô tính cây dó bầu là rất cần thiết Nhân giống vô tính gồm có tách cây, giâm cành, chiết cành, ghép cành, nuôi cấy mô tế bào thực vật

Dó bầu rất khó giâm cành

Tách cây đơn giản, giữ được tính ưu việt của cây mẹ, bộ rễ phát triển, dễ sống

và mọc nhanh Song, chỉ thích hợp với các loài cây bụi và cây có rễ chùm (Theo Nguyễn Hữu Dũng, trích dẫn từ

http://www.caycanhvietnam.com/?trungdu=view&id=1114 )

Nuôi cấy mô có ưu điểm lớn: nhân nhanh giống; thực hiện đối với những cây khó nhân giống bên ngoài, cây quí hiếm; không phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, thời vụ Song, số lượng mẫu lớn, hoá chất, trang thiết bị phòng thí nghiệm tốn kém, điều kiện bảo quản nghiêm ngặt…

Chính vì vậy, chúng tôi chọn nhân giống vô tính bằng chiết cành và ghép cành;

là phương pháp trung gian giữa các phương pháp trên Mặt khác, người dân có thể sử dụng kỹ thuật tương đối đơn giản để thực hiện phương pháp nhân giống này

1.2 Mục đích và yêu cầu

 Mục đích:

Di thực các dòng dó bầu đặc sắc có khả năng tạo trầm và bảo tồn các đặc tính tốt do bảo tồn được nguồn gen của chúng

Trang 14

 Yêu cầu:

Xác định thời gian ghép thích hợp của chồi ghép sau khi đã cắt rời khỏi cây mẹ

Đánh giá khả năng sống của chồi ghép sau khi được ghép vào gốc ghép

So sánh khả năng sống của chồi từ cây non và chồi từ cây già

Đánh giá khả năng ra rễ của cành chiết

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan về chiết cành, ghép cành

2.1.1 Chiết cành

- Làm ra rễ một cành hoặc một đoạn cành vẫn nằm trên cây, sau đó tách ra khỏi cây và trồng thành cây mới Chiết cành tạo cây con mang đầy đủ đặc diểm di truyền của cây mẹ; cây ra hoa, kết qua sớm; thời gian tạo giống ngắn hơn gieo hạt hay giâm cành (cây chiết dễ ra rễ do lợi dụng được sức sống của cây mẹ) nhưng hệ số nhân giống thấp hơn so với giâm cành; cây chiết mau cỗi hơn cây giâm cành và cây ghép

- Thời vụ chiết: mùa mưa là thời gian thuận lợi để chiết cành Khí hậu ẩm và nóng là môi trường thuận lợi để tạo hệ thống rễ

- Chọn cành chiết: chọn một thân hay một nhánh vừa có thêm nhánh mới (các đoạn này dễ mọc rễ) Cành nhỏ khả năng ra rễ tốt hơn cành to, sinh trưởng mạnh hơn, nhưng chiết cành nhỏ quá thì cành dễ gãy, không mang nổi bầu đất

- Cách chiết: lột một vòng vỏ của cây mẹ chỗ muốn cắt rời ra sau này, chiều dài khoanh vỏ bằng 2-3 lần đường kính cành chiết Loại bỏ bề dày của lớp vỏ sát với phần gỗ của cành chiết bằng cách cạo sạch lớp vỏ trắng Để một ngày cho khô nhựa, lau sạch rồi bôi vôi Nước và nhựa cây bị cản trở lưu thông và rễ sẽ mọc ra ở phần thân cây trên vùng vỏ bị lột Nếu cây khó ra rễ, dùng thuốc kích thích sinh trưởng bôi vào vết cắt

- Cách bó bầu: Lấy đất bùn, than bùn hoặc rễ lục bình khô tẩm nước bao chung quanh chỗ lột vỏ thành một bầu tròn dày gấp 3 lần đường kính của nhánh chiết Bọc lại bằng một miếng nylon có đục lỗ cho thoáng, quấn dây chung quanh để giữ đất cho chặt, nên để hở phía trên để tưới nước Khi có nhiều rễ ló ra khỏi bọc đất thì cắt cành chiết khỏi thân cây mẹ, đem trồng ra giỏ, chậu để ở chỗ ít nắng khoảng 2 tuần lễ, sau

đó đem dần ra ngoài nắng

2.1.2 Ghép cành

 Giới thiệu về ghép cây:

Trang 16

+ Ghép cây là một kỹ thuật kết hợp hai hay nhiều cây lại với nhau, đã được áp dụng qua nhiều thế kỷ Dùng bộ phận sinh dưỡng của một cây (cành ghép, mắt ghép) gắn lên một cây khác (gốc ghép) Gốc ghép phải có sức sống mạnh, trồng dễ dàng, sinh sản mạnh, thường là cây mọc hoang của cùng một loài với cành ghép hay mắt ghép

+ Tài liệu xưa của Trung Hoa, Hy Lạp và La Mã đã đề cập đến ghép cây kể cả trong kinh thánh Theo Thouin, 1821, vào đầu thế kỷ 19 người ta đã biết đến hơn 100

kỹ thuật ghép cây khác nhau (Trích dẫn Đinh Trung Chánh, 2008)

+ Đầu tiên ghép cây đã được áp dụng đối với cây trồng quan trọng về văn hoá

và kinh tế Các thế kỷ sau đó người ta ghép cây trang trí như hoa hồng cũng như các loài thực vật khác đã được lan truyền vào kỹ thuật làm vườn ở châu Âu Ở vùng nhiệt đới, ghép cây được sử dụng cho một số ít tương đối các loài cây có giá trị thương mại như xoài, chanh, cam, cao su, bơ….Ghép cây là một biện pháp nhân giống vô tính tương đối tốn công sức và đòi hỏi người làm vườn có trình độ và kỹ năng để thành công (Đinh Trung Chánh, 2008)

 Nguyên tắc: phần ghép và gốc ghép phải cùng loài, cùng giống hay cùng họ

 Đặc điểm: ghép cây giúp tạo giống thích hợp với điều kiện đất đai, môi trường địa phương Cây ghép mau ra hoa kết quả Cây mạnh nhờ gốc ghép mạnh Ghép cây tạo ra nhánh mới ở vị trí mong muốn trên gốc ghép và cành ghép vẫn mang đầy đủ đặc điểm di truyền của cây mẹ

Tuy nhiên, phần ghép dễ bị gãy, đời sống ngắn hơn cây trồng từ hạt, không áp dụng cho cây có vỏ quá sần sùi

 Mùa ghép: ghép cây lúc khí hậu ấm, cây tăng trưởng mạnh, nhiều nhựa, chồi mọc nhiều nhưng chưa hoạt động tích cực (Trần Thị Dung, 2007)

Trang 17

- Để làm trẻ hoá các cây già nua qua việc ghép các vật liệu còn trẻ, cải thiện từ các cây khác

- Để chữa trị các khuyết tật gây ra do một bộ phận nào đó của cây

- Để khám phá ra các bệnh do vi trùng gây nên

 Sinh lý học của ghép cây:

- Một chồi ghép thành công không những là sự tái ổn định vật lý của một cây bị thương tổn mà nó còn có chức năng của một bộ phận nối liền hai mô phân sinh và mô

tế bào gỗ với nhau

- Tiến trình liền lặn vết thương của một chồi ghép như sau:

+ Sắp thành hàng các tế bào của tầng phát sinh Điều quan trọng là hai tầng phát sinh của hai bộ phận phải tiếp xúc trực tiếp với nhau

+ Tiến trình liền vết thương: Các mô chết (màu đen) sẽ xuất hiện ở các tế bào

bị tổn thương do vết cắt gây ra

+ Tiến trình hình thành mô sẹo: Phần kế tiếp vết thương là các tế bào phân sinh của tượng tầng cambium sẽ nhân lên một số lượng lớn tế bào nhu mô tạo nên mô sẹo tạo một cầu nối cơ giới giữa chồi và gốc ghép

+ Sự thành lập tượng tầng cambium: Một vài tế bào mô sẹo sẽ sắp xếp ngang hàng với lớp tượng tầng của chồi và gốc ghép, và tiếp tục phân sinh để tạo nên các tế bào phân sinh mới

+ Sự thành lập mô mạch.: Các tế bào thứ sinh của mô phân sinh và mô lõi được hình thành từ các tế bào phân sinh này, sau cùng các mô mạch được hình thành nối liền 2 cây với nhau

- Điều kiện để hàn vết ghép

+ Các lớp tượng tầng của cả chồi và gốc ghép phải tiếp xúc trực tiếp với nhau

để tạo điều kiện thành lập các tế bào mới

+ Các tế bào mới thành lập có vách tế bào tương đối mỏng và không thể bảo vệ chồi chống lại khô hạn, do vậy vết ghép cần phải được giữ ẩm Tuy vậy, vết cắt cũng cần thoáng khí vì đây là một hiện tượng sinh lý có cường độ hoạt động cao

+ Nhiệt độ xung quanh sẽ ảnh hưởng đến tiến trình hàn gắn vết ghép Nhiệt độ tối hảo nằm giữa 15 đến 300C

Trang 18

+ Vệ sinh vô trùng sẽ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của ghép cây

+ Hoạt động sinh lý của cây cho chồi ghép và cây cho gốc ghép cũng chi phối đến tiến trình hàn gắn vết thương Thời điểm này xảy ra trước hay sau khi đâm chồi đối với cây ôn đới, còn đối với cây nhiêt đới giai đoạn ngay trước khi có trận mưa đầu mùa là thời điểm thích hợp nhất để ghép cây

- Các mối liên quan giữa chồi ghép và gốc ghép

+ Một nguyên nhân quan trọng để ghép cây là sử dụng mối ảnh hưởng của gốc ghép đối với chồi ghép về khía cạnh chịu đựng với sâu bệnh hại, sinh trưởng hay phát triển Nhưng tất cả các giải thích đều không chặt chẽ và thay đổi tuỳ theo từng loài + Một giải thích thông thường nhất là sự liên kết các mô mạch đã chuyển các chất đồng hoá và sản phẩm dự trữ, cũng như các chất nội điều tiết sinh trưởng và các chất khác (ảnh hưởng tăng trưởng, tính chất ra hoa hay kết quả) ảnh hưởng lên hay xuống trên cây như chất kích thích phân chia tế bào (cytokinin) thường được tạo ra ở đầu rễ và chuyển từ dưới lên trong cây ảnh huởng của gốc ghép đến chồi ghép

+ Người ta cũng cho rằng sự hàn gắn vết ghép cây có thể là kết quả trong hiện tượng làm suy yếu các mạch dẫn khiến lượng nước và các chất điều tiết sinh trưởng chuyển đến ít, do đó đưa đến tình trạng bị ức chế nhẹ khiến cây có thể trổ hoa rất sai Thí dụ biện pháp tự ghép (ghép chồi vào gốc ghép của một cây) đã gia tăng năng suất quả rõ rệt

+ Chồi ghép cũng có một ảnh hưởng đến gốc ghép Những ảnh hưởng này lại không được mong muốn, thí dụ như bệnh cây do vi trùng từ chồi ghép sẽ làm cho gốc

rễ bị nhiễm bệnh theo

- Sự bất tương thích

Sự bất tương thích trong ghép cây thường được coi như là sự từ chối chấp nhận việc ghép của cây từ các bộ phận thực vật Một nguyên lý chính: chồi ghép có phân loại thực vật càng gần với gốc ghép, cơ hội thành công của ghép cây càng lớn

Các hiện tượng phổ biến của sự bất tương thích là:

+ Không hàn gắn được vết ghép thành công

+ Các cây rụng lá sớm, giảm tăng trưởng do ngọn bị chết dần và sức khoẻ kém của cây

+ Cây chết sớm sau vài năm hay khi còn nuôi dưỡng trong vườn ươm

Trang 19

+ Tỉ lệ sinh trưởng khác biệt rõ ràng hay sức sống khác nhau giữa chồi và gốc ghép, sinh trưởng quá nhanh ở trên hay dưới chỗ ghép

+ Khác biệt giữa chồi và gốc ghép khi sinh trưởng trở lại sau kỳ ngủ hay do hạn hán hoặc nhiệt độ thấp

+ Các phần ghép bị tách rời rõ ràng sau một thời gian

Sự bất tương thích càng lớn theo thứ tự: ghép trong một dòng vô tính, giữa các dòng vô tính với nhau, các loài trong một chi thực vật Tuy nhiên vẫn có sự biến động lớn giữa các loài (Đinh Trung Chánh, 2008)

 Cách ghép:

- Ghép ngọn: cắt ngang gốc ghép (cách mặt đất 6 cm), chẻ dọc gốc ghép làm hai, cắt vát ngọn ghép, nhét cành ghép vào gốc ghép, quấn dây nilon

- Ghép áp: vỏ của gốc ghép và cành ghép được gọt đi một phần, áp hai cây vào nhau rồi cột lại Gốc ghép và cành ghép được trồng ngay kề bên nhau trong một chậu hay hai chậu khác nhau

- Ghép hông: cành ghép được gắn lên gốc ghép Khi cành ghép phát triển được thì cắt bỏ phần thân của gốc ghép ngay trên cành ghép

- Ghép mắt: cắt chữ T trên gốc ghép, cắt rời một chồi làm mắt ghép, đặt mắt ghép vào chữ T, quấn dây nilon, chừa chồi ra

Sau khi ghép xong phải tránh gió mạnh, nắng gắt cho cây và tưới nước đầy đủ (Trần Thị Dung, 2007)

2.2 Đặc điểm về sinh thái và sinh học của cây dó bầu (Aquilaria crassna)

2.2.1 Phân loại và tên khoa học

- Họ: Trầm hương (Thymelaceae)

- Tên địa phương /Tên thường gọi: dó bầu, dó trầm, trầm, trầm hương, cây tóc

- Tên khoa học: Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte

Cây dó bầu được chính thức đặt tên khoa học và công bố dựa vào mẫu vật do nhà thực vật người Pháp là Pierre thu nhập tại đảo Phú Quốc (Việt Nam) và núi Aral tỉnh Samrongtong (Combodia) vào tháng 5 năm 1870 Pierre dựa vào tên theo tiếng Combodia là Krassna để đặt tên cho cây dó bầu là Aquilaria crassna, nhưng đó chỉ là tên trầm (nomen nudum ) chưa có bảng mô tả và việc công bố chưa được xem là hợp thức Sau đó, Henri Lecomte trong bộ sách thực vật chí Đông Dương (Flore general

Trang 20

Hình 2.1 Cây dó bầu

de L’ Indochine ) lần đầu tiên mô tả loài thuộc chi Aquilaria ở Đông Dương , công bố

chính thức trong tạp chí Thực vật học của Pháp năm 1914 và xếp chi này vào họ trầm hương (Thymelaceae) (Lecommte H., Gagnepain F., 1910-1921, Nguyễn Hiền, Võ Văn Chi,1991)

- Các loài liên quan: chi Aquilaria được ghi nhận có trên 25 loài phân bố ở Nam Á và

Đông Nam Á

Theo Phạm Hoàng Hộ (1992) ghi nhận thì ở Việt Nam, chi Aquilaria thuộc họ

Thymelacea có 3 loài (Trích Lê Công Kiệt, 2005) được định danh là:

+ Aquilaria crassna, Pierre ex Lecomte: dó bầu, trầm, trầm hương (có ở Việt

Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan) Riêng ở Việt Nam thì:

 1874-1877: Pierre ghi nhận có ở Phú Quốc

 1920: Poilance ghi nhận có ở Nha Trang (triền đông nam núi Vọng Phu, trong rừng ở độ cao 600m), Ninh Hoà (Bến Trạm), Quảng Trị (Láng Khoai)

 1987: Lê Công Kiệt ghi nhận có ở An Giang (Bảy Núi)

Trang 21

+ Aquilaria baillonii, Pierre ex Lamarck: là loài đặc hữu ở Việt Nam và

Cumpuchia; trong rừng ẩm, trên núi đá granit, từ độ cao 200 - 900m

 1870: Pierre ghi nhận có ở Kompong Speu (trên núi Krervanh)

 Poilane ghi nhận có ở Thừa Thiên (núi Bạch Mã - độ cao 1500m và Lăng Cô )

 Chevalier: ghi nhận ở Quảng Nam , Đà Nẵng

Nhưng đến nay, vẫn chưa tìm được loài này ở các nơi đã được thu mẫu Aquilaria baillonii cho trầm hương chất lượng cao (Ng et al.,1997)

+ Aquilaria banaensis Pham Hoang (Phạm Hoàng Hộ: là loài đặc hữu trung

nam bộ Việt Nam: ở rừng ẩm, trên đất sét có sỏi

 1927: Poilane ghi nhận có ở Đà Nẵng (núi Bà Nà-độ cao 900m) Hiện nay, chỉ còn mẫu vật duy nhất lưu trữ ở viện bảo tàng thiên nhiên Quốc Gia Paris Khác với hai loài trên do trái chỉ có một hạt và do hình thái của hạt

Năm 2005, Lê Công Kiệt, thuộc trường đại học Khoa Học Tự Nhiên, đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh đã phát hiện một loài Aquilaria mới ở Việt Nam, đó là:

+ Aquilaria rugosa L.C.Kiet ex Kessler (BLUMEA /50/, 2005, 135-141) ghi nhận có ở tỉnh Kontum, Việt Nam (Sa Thầy) Đây là loài Aquilaria có gân lá và dạng

trái khác biệt so với các loài trên

2.2.2 Mô tả thực vật

- Dó bầu (Aquilaria crassna) là loài cây gỗ lớn thường xanh, cao khoảng

20-40m, đường kính ngang ngực có thể đạt từ 50-80 cm (ở núi Cấm, An Giang - đường kính 60 cm) Vỏ cây màu xám, bề dày độ 2-4 mm, có nhiều sợi, dài, bền, có thể bóc từng lớp mỏng nên có thể sử dụng làm giấy theo phương pháp cổ truyền Cành non phủ lông mềm, màu vàng xám

- Gỗ màu vàng nhạt hoặc trắng, không phân biệt giác - lỏi, mềm, nhẹ (tỉ trọng d=0.395) Lá đơn, mọc cách, phiến mỏng, dạng thuôn-bầu dục, giống hình nêm, mũi hình ngọn giáo, dài 6-15 cm, rộng 2-5 cm, có phổng lên thành vòng; mặt trên màu lục, sáng bóng và nhẵn; mặt dưới màu nhạt hơn và có lông mềm Cuống lá dài 4-5

mm, có lông mịn

Trang 22

- Hoa tự hình tán, máu trắng, lưỡng tính, thường mọc thành chùm ở nách lá, đài hoa hình chuông có lông ở miệng Hoa thường xuất hiện vào khoảng tháng 2-3 dương lịch

- Quả nang hình trứng ngược dài 3-5 cm, rộng 2-3 cm, có lông xám dày, mịn Khi chín, quả khai hình hai mảnh, có 1-2 hạt màu đen

- Cây bắt đầu cho quả từ 4-5 tuổi Dó bầu thường ra hoa, kết quả hàng năm, nhưng chu kì sai quả là 2 năm một lần-có năm sai quả thì hầu như năm kế tiếp chỉ xuất hiện thưa thớt trên một số cành Tuỳ theo điều kiện thời tiết ở mỗi vùng mà thời điểm ra hoa, kết quả của cây dó bầu khác nhau như: ở các tỉnh phía nam Việt nam, cây bắt đầu ra hoa vào tháng 2, quả chín vào tháng 5-6 dương lịch; ở các tỉnh miền Trung, cây trổ hoa vào tháng 3 và cho quả chín vào tháng 6-7 dương lịch

2.2.3 Đặc điểm về sinh thái và sinh học

2.2.3.1 Đặc điểm sinh thái

Cây dó bầu (Aquilaria crassna) phân bố nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam,

Kampuchia, Lào và Thái Lan (Vũ Văn Cầu và Vũ Văn Dũng, 1987; Somkid, Siripatanadilok, 1991; Lê Văn Ký, 1996) Ở Việt Nam, cây dó bầu mọc rải rác ở nhiểu tỉnh từ Bắc chí Nam như Quảng Ninh, Bắc Giang, Hoà Bình, Thanh Hoá, Quảng Bình, Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Qui Nhơn, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình

Thuận, Lâm Đồng, An Giang, Kiên Giang (Kiên Lương, Phú Quốc)…

- Bình Trị Thiên (có ở Cam Lộ, A Sao, A Lưới ,Thanh Sơn, vùng đèo Hải Vân, Láng Khoai)

- Quảng Nam (vùng Tiên Phước, Trà My)

- Bình Định (từ vùng núi Qui Nhơn đi vào)

- Quảng Ngãi

- Khánh Hoà, Phú Yên (Vạn Giã, Tân Định, An Thành, Duyên Khánh)

- Bình Thuận có ở vùng núi giáp ranh giới Lâm Đồng

- Lâm Đồng có ở vùng giáp ranh giới Bình Thuận (Đơn dương, Di Linh)

- Gia Lai (Chư Prông, Plei Me)

- Kum Tum (Sa Thầy)

- An Giang (vùng Bảy núi)

- Kiên Giang (Hà Tiên, đảo Phú Quốc)

Trang 23

Nhìn chung, dó bầu là cây trung tính thiên về ưa sáng, mọc rải rác trong các khu rừng ẩm nhiệt đới nguyên sinh hoặc thứ sinh có độ tàn che 0,5 – 0,6 Dó bầu phân bố ở độ cao 50-1000m (có khi lên đến 1200m), nơi cao nhất có gặp cây dó bầu ở Việt Nam là trên núi Chu Yang Sinh (Daklak) Cây dó bầu tự nhiên thường mọc riêng

lẽ, có khi cũng mọc thành từng đám 5-6 cây

Cây dó bầu thích hợp với nhiệt độ từ 15 0 C–30 0C chịu đựng được điều kiện nhiệt độ có phổ biến động rộng 15-36 0C ban ngày và 5-250 C ban đêm, thích hợp nhất ở nhiệt độ 22-290C, lượng mưa cả năm từ 1200mm trở lên, mùa khô có

từ 3-5 tháng

Dó bầu là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu ngập úng Ẩm độ thích hợp vào khoảng 80% Khi còn nhỏ khả năng chịu hạn kém nếu thiếu độ ẩm cây sẽ ngừng sinh trưởng hoặc chết Việc duy trì độ ẩm cho cây vào mùa nắng là quan trọng nhất, là giai đoạn 2-3 năm tuổi Khi cây đã lớn việc tưới nước cho cây là không cần thiết vì bộ rễ

đã ăn sâu vào trong đất Cây dó bầu khi còn nhỏ rất thích hợp trong điều kiện râm mát

Cây dó bầu ít kén đất, thích hợp hầu hết các loại đất: đất đỏ xám, đỏ vàng, đất feralit và cả đất phù sa lên líp (để trồng cây ăn trái ở đồng bằng sông Cửu Long)

2.2.3.2 Đặc điểm lâm sinh học

Theo Lê Mộng Chân và CTV (1995), dó bầu là loài cây mọc nhanh lượng tăng trưởng được ghi nhận 1-1,2 m/năm về chiều cao và 1,2-2,5 cm/năm về đường kính Cây trồng 4-5 tuổi bắt đầu có thể ra hoa và quả Dưới tán rừng thứ sinh, cây dó bầu tái sinh kém, hầu như không gặp cây mạ, thường chỉ gặp cây dó bầu tái sinh trong các trảng trống trong rừng, bìa rừng hoặc ven đường Ngoài dó bầu có khả năng tái sinh chồi tốt trong mùa nằng Nếu lấy hạt gieo ươm đúng kỹ thuật thì tỉ lệ nảy mầm có thể lên trên 85 % (Trích dẫn Đinh Trung Chánh, 1998)

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên sự hình thành trầm trên cây dó bầu

2.3.1 Mô tả đặc điểm của trầm hương

Sự hình thành trầm được trình bày chi tiết trong một chuyên đề nghiên cứu riêng Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên một số dẫn liệu về các yếu tố có thể ảnh hưởng lên

sự hình thành trầm hương Tên gọi trầm hương thường dùng để chỉ phần gỗ có những tuyến nhựa ngưng kết màu đen, có mùi thơm khi đốt Như đã giới thiệu, trầm hương được dùng đóng đồ mộc quí, điêu khắc, đốt trầm lấy hương liệu và dươc liệu

Trang 24

Căn cứ vào sự tích nhựa (resine) nhưng kết nhiều hay ít mà có những sản phẩm khác nhau ở cây dó bầu như: tóc, trầm hương và kỳ nam

- Tóc: do sự biến đổi chất gỗ bên ngoài (thường dùng làm nhang đốt)

- Trầm hương: do sự phân hóa không trọn vẹn các phần tử gỗ, gỗ tẩm nhựa nhiều hơn, màu nâu sẫm, hay có sọc nâu đen, nhẹ, trầm loại thấp còn nổi trên nước thường dùng để chưng cất tinh dầu, điêu khắc

- Kỳ nam: do sự biến đổi hoàn toàn các phần tử gỗ, có màu nâu đậm hay đen chìm trong nước có vị đắng Thường hình thành từ bên ngoài đến sâu vào lõi của cây dó bầu

2.3.2 Các yếu tố liên quan đến sự hình thành trầm hương

- Phản ứng của mô gỗ: Gỗ gió bầu có cấu tạo đặt biệt là hiện tượng libe xen gỗ

(included phloem) Sự hình thành trầm hương được xem là phản ứng của mô gỗ do một tác động có thể xuất phát từ côn trùng (một loài kiến) hoặc cây bị vết thương trong phần gỗ và bị nấm xâm nhiễm Cây có kiến riện (loại kiến nhỏ cắn rất đau), kiến hôi (kiến nhỏ, có mùi hôi) thì thường có trầm gọi là trầm mắt kiến Nếu lỗ kiến bên ngoài bít miệng thì cho trầm hương tốt hơn những lỗ đang còn kiến ra vô thì cho trầm không tốt lắm Nếu có hiện dịên của kiến vàng thì thường là không có trầm Ở khu vực gần Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên, qua kết quả quan sát cho thấy côn trùng cánh cứng đục thân cũng gây tác động trầm Cây dó bầu mọc cạnh hoặc bị chèn ép bởi các

loại cây như các loài đa (Ficus spp) và cây sơn hoặc (Melanorrhoea laccifera Pierre)

cũng thường có trầm Điều này có thể liên quan đến tác dụng của các hoá chất kích thích việc hình thành trầm hương trên cây dó bầu Những nhận xét này rất đáng chú ý

để kiểm chứng (Đinh Trung Chánh, 1998)

- Kích thước của cây có trầm : Trầm có thể xuất hiện trên cây dó bầu đã to hay

còn nhỏ Trong thực tế, có nhiều cây dó bầu đã to, với đường kính 50-60 cm nhưng không có trầm, ngược lại nhiều cây đường kính chỉ mới 15cm đã có trầm Các thí nghiệm gần đây cho thấy có thể kích thích việc tạo trầm trên những cây dó bầu sau 4-5tuổi, nhưng chất lượng trầm tạo được không cao (chỉ có trầm loại 4 và loại 5) Theo Nguyễn Hồng Lam (2000) sản lượng trầm hương khai thác được tương quan tỉ lệ thuận với cỡ đường kính cây dó bầu Thường cỡ đướng kính cây càng lớn thì số lượng cây có trầm hương khai thác được càng cao và ngược lại (Trích dẫn Đinh Trung Chánh, 1998)

Trang 25

- Các dấu hiệu hình thái: Theo kinh nghiệm dân gian, có thể phân biệt

cây đã có trầm qua một số đặc điểm hình thái của cây và điều kiện hoàn cảnh nơi mọc như sau:

 Cây đã lớn , đường kính trên 20cm

 Thân cành có bướu, nhiều mắt, cây bị bệnh hoặc bị thương, dấu vết chỗ cây có trầm sần sùi, u sầu hay có lỗ kiến

 Lá cằn cỗi , màu xanh vàng

 Vỏ khó bóc hơn so với cây bình thường

 Gỗ màu vàng

 Cây mọc trên đất xấu, nhiều sỏi đá

- Các phần thường xuất hiện trầm: Theo kinh nghiệm dân gian, trong cây dó

bầu, trầm hương có thể xuất hiện ba nơi: rễ, gốc, đoạn thân, cành ở độ cao trên 60cm

so với mặt đất Rất hiếm khi trầm có ở cả cây Phần nhiều trầm hương nằm quanh gốc, nhất là ở rễ Chính vì thế khi tìm trầm, rễ mọc tới đâu phải moi tới đó Người tìm trầm không sợ gặp phải rắn rết vì tin rằng khi trầm xuất hiện, rắn rết bị xua đuổi đi hết (Đinh Trung Chánh, 1998)

- Điều kiện lập địa: Theo Nguyễn Hồng Lam (2000), sự hình thành trầm

hương trong tự nhiên có quan hệ với loại đất, đá mẹ nơi cây dó bầu sinh trưởng, phát triển Thường những cây phân bố ở điều kiện lập địa có độ dốc lớn, tỷ lệ đá lẫn trong đất nhiều thì sản lượng trấm hương khai thác được lớn, chất lượng cao và ngược lại Các loại đất feralit nâu vàng phát triển trên phiến thạch, sa thạch thì số cây có trầm đạt tiêu chuẩn thương mại cao hơn số cây phân bố trên loại đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ Granit Nhận định này phù hợp với ý kiến của những người dân ăn trầm (những người đi điệu) từ Phú Khánh đến đảo Phú Quốc: Sự xuất hiện của trầm tuỳ theo vùng đất, có vùng có trầm nhiều, có vùng không có hoặc có rất ít (mặc dù vẫn có cây dó bầu mọc tự nhiên) Vùng có nhiều là vùng đất nhiều sỏi đá, đất xấu cằn cỗi, đất có độ dốc lớn, ở hướng phơi là hướng Bắc, Đông Bắc, cây dó bầu ở triền núi, vách núi hoặc ở đỉnh thì đậu trầm nhiều và cây dó bầu mọc nơi đất bằng thì có ít trầm (Trích dẫn Đinh Trung Chánh, 1998)

2.4 Tình hình nghiên cứu cây dó bầu

- Kỹ sư Nguyễn Xuân Thưởng đã thực hiện thành công đề tài nghiên cứu khoa học “di thực cây dó bầu từ rừng về trồng trên đất Ân Hữu-Hoài Ân” năm 1994-1995

Trang 26

Đề tài này đã được nghiệm thu và đánh giá loại khá Chủ yếu là ươm từ hạt Thành công của đề tài này thể hiện ở chỗ: giữ lại được nguồn gen của một loài cây bản địa quí, tạo được nguồn giống ngày càng nhiều (Theo báo Bình Định, ngày 8/10/2008, http://www.baobinhdinh.com.vn/kinhte-phattrien/2005/4/9674/)

- Ts Trần văn Minh (Viện Sinh Học Nhiệt Đới - Trung Tâm Khoa Học Tự Nhiên và Công Nghệ Quốc Gia) đã nghiên cứu và khẳng định không có cây “dó bầu hương” Chỉ có cây dó bầu, còn gọi là cây trầm, cây trầm hương (có tên khoa học là

Aquilaria crassna) cho khả năng tạo trầm Cơ chế tạo trầm cho đến nay vẫn còn là

điều bí ẩn, người ta vẫn chưa làm rõ được Hiện nay, có tình trạng người dân râm ran chuyện “xử lý tạo trầm” Một số người tự cho rằng mình đã tìm được một “chất xúc tác” bí ẩn nào đó có khả năng thúc đẩy việc tạo trầm ở cây dó bầu

Trước tình hình như vậy, Viện Sinh học Nhiệt đới đã thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ tế bào thực vật trong công tác giống cây trầm hương” Đây là đề tài

do Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường cấp kinh phí để nghiên cứu Thời gian thực hiện đề tài trong gần 10 năm (1997-2005) Nội dung của đề tài nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề chủ yếu: tạo giống trầm và tìm hiểu cơ chế tạo trầm Phòng thí nghiệm của Viện Sinh học Nhiệt đới (đặt tại Thủ Đức) đã lập được ngân hàng giống cây trầm hương Những cây dó bầu đã có tạo trầm hương trong tự nhiên ở phía Nam như Quảng Bình, Quảng Nam, Kon Tum, Phú Yên, Hà Tiên, Phú Quốc đều đã được tập trung về đây Trên cơ sở đó, các cán bộ ở viện đã tìm cách nhân vô tính những dòng đã cho trầm với mong muốn tạo ra được cây giống có xác suất tạo trầm cao và nghiên cứu xác định dòng men tạo trầm, chất kích thích tạo trầm Viện cũng đã đầu tư trồng 100-200 ha cây dó bầu ở Đơn Dương (Lâm Đồng) và Bình Phước để nghiên cứu quá trình tạo trầm

Đối với việc người dân đổ xô trồng cây dó bầu để lấy trầm do nghe theo những lời đồn đãi, cần biết rằng, trong tự nhiên, trong số 1.000 cây dó bầu chỉ có 100 cây có khả năng tạo trầm (tỉ lệ 10%) và trong 100 cây dó bầu chỉ có 1 cây tạo kỳ nam (loại trầm tốt nhất) Nhưng việc trồng cây dó bầu và đợi cây trưởng thành (từ 8 - 10 năm tuổi) cũng có thể có lợi ích kinh tế thông qua việc bán gỗ để làm nhang Tuy nhiên, với giá cây giống bị đẩy lên đến 25.000 đồng/cây là quá cao Trong thời gian qua, Viện Sinh học Nhiệt đới cũng đã nhân vô tính được một số cây giống dó bầu và có bán hạn chế với giá chỉ có 5.000 đồng/cây (Theo báo người lao động, 8/10/2008,

Trang 27

http://www.nld.com.vn/tintuc/chinh-tri-xa-hoi/85866.asp)

- Tại Hà Tĩnh, một nhà khoa học nữ đã thành công trong việc kích thích tạo trầm theo phương pháp sinh học từ cây dó bầu Kết quả thử nghiệm cho thấy 100% cây đã có trầm ngưng tụ khi tiến hành bằng phương pháp khoa học này, trong đó các cây trên 10 năm tuổi có khả năng tích tụ trầm lớn (Theo nông nghiệp Việt Nam ngày 13/9/2006, trích dẫn từ http://www.vietlinh.vn/dbase/LVTLNDShowContent.asp?ID=234)

- Ths Đinh Trung Chánh - Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm đã thành công trong nghiên cứu nuôi cấy mô cây dó bầu, hiện nay các cây dó bầu nuôi cấy mô này đang sống tốt và được trồng ở trường đại học Nông Lâm trên 12 năm

Trang 28

Hình 3.2 Khử trùng giá thể ở

60 0 C

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 4/2008 đến tháng 9/2008

- Địa điểm: khu thực nghiệm Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật và vườn Cảnh Quan

Hoa Viên, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2 Vật liệu

Đối tượng nghiên cứu là cây dó bầu

3.2.1 Đối với chiết cành:

- Chọn cây để chiết cành là những cành ở dưới có tuổi sinh lý trẻ, đường kính khoảng 1 - 1.5cm, chiều dài 0.8 - 1m

- Hoá chất là sử dụng là IBA tổng hợp với nồng độ 5‰

- Giá thể dùng là rơm rạ mục trộn với đất sạch và cát theo tỉ lệ 2:2:1, được khử trùng ở nhiệt độ 600C trong thời gian 30 phút

3.2.2 Đối với ghép:

- Chọn gốc ghép là những cây khoẻ mạnh, xanh tốt, cây đang tăng trưởng

- Chọn cành ghép là những cành ở dưới có tuổi sinh lý trẻ

Hình 3.1 Chuẩn bị giá thể chiết

cành

Trang 29

Hình 3.3 Cây dó bầu dùng để chiết cành

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Đối với chiết cành

 Thí nghiệm khảo sát khả năng ra rễ của cây dó bầu

- Chọn kiểu thí nghiệm khối đầy đủ ngẫu nhiên RCBD (Randomized Complete Block Design):

- Có 4 nghiệm thức:

+ Không tạo mô sẹo, không sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng (nghiệm thức 1) + Không tạo mô sẹo, sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng (nghiệm thức 2) + Tạo mô sẹo, không dùng thuốc kích thích sinh trưởng (nghiệm thức 3)

+ Tạo mô sẹo, sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng (nghiệm thức 4)

Hình 3.4 Cách lột khoanh vỏ

Hình 3.5 Mô hình tạo mô sẹo

Trang 30

Hình 3.6 Cách bó bầu

Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần trên 3 cá thể cây trồng có nguồn gốc khác nhau: + Cây số 20 (Ký hiệu T72): là cây trồng bằng hạt lấy ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, trồng ở vườn vào năm 2003 (cây A)

+ Cây số 3 (Ký hiệu C29): cây nuôi cấy mô lấy từ cây có tượng trầm ở đảo Phú Quốc, trồng ở vườn năm 2003 (cây B)

+ Cây số 41 (Ký hiệu P40): cây trồng bằng hạt lấy ở đảo Phú Quốc, Kiên Giang, trồng vào vườn năm 2003 (cây C)

- Cách tạo mô sẹo: lột một khoanh vỏ tại chỗ muốn chiết cành, chiều dài khoanh vỏ khoảng 3 - 4 cm Cạo sạch lớp vỏ trắng rồi quấn dây nilon tại vị trí tiếp giáp giữa phần vỏ đã bị lột và phần trên khoanh vỏ (tính từ ngọn xuống gốc), chờ khoảng 10 - 15 ngày sau quan sát mô sẹo

- Cách chiết: đối với chiết không cần tạo mô sẹo, sau khi đã lột 1 khoanh vỏ tại

vị trí chiết, tiến hành bó bầu

- Cách bó bầu: dùng giá thể đắp lên chỗ đã lột vỏ, bó thành bầu tròn dày khoảng 4 cm, bọc quanh bằng bao nilon có đục lỗ cho thoáng và quấn lại cho chặt

Trang 31

Cây A Cây B Cây C

- Dùng bút lông đánh dấu nghiệm thức và cành chiết, treo thẻ cho cành chiết

 Chỉ tiêu theo dõi:

Dựa vào số cành chiết thành công (đã ra rễ) sau 30 ngày, 40 ngày, 50 ngày, 60 ngày để so sánh

3.3.2 Đối với ghép cành:

Trang 32

 Thí nghiệm khảo sát thời gian ghép thích hợp của cây dó bầu

- Chọn kiểu thí nghiệm khối đầy đủ ngẫu nhiên RCBD (Randomized Complete Block Design)

- Nghiệm thức là thời gian ghép tính từ lúc lấy mẫu cho đến khi ghép

- Cách tiến hành: cắt cành và chọn chồi ghép, cắt lá rồi ghép ngay sau đó đối với nghiệm thức 1 Các nghiệm thức còn lại cắt cành, cắt lá của cành ghép, bó các cành ghép lại thành nhóm khoảng 10-15 chồi, dùng bông quấn quanh đầu gốc của các

bó cành Thấm nước ướt bông và bỏ vào bao nilon, cột nhẹ miệng bao, để ở nơi thoáng mát Dùng dây nilon mỏng quấn quanh chỗ ghép sau khi áp chồi ghép vào gốc ghép nhằm giữ chặt chồi ghép, bọc bao nilon và cột kín hai đầu để giảm sự bốc hơi nước và ngăn không cho nước mưa thấm vào Sau 15 ngày ghép, tháo dây quấn ở đầu dưới bao nilon, 30 ngày sau ghép, lấy bao nilon ra khỏi cây và đến khi cây đã đâm chồi thì tháo dây quấn ở chồi ghép

- Bốc thăm ngẫu nhiên các gốc ghép để đưa vào các nghiệm thức thí nghiệm, cắm thẻ trên gốc ghép

Lần 1:

 Gồm 5 nghiệm thức: 0 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 36 giờ, 48 giờ

 Thực hiện với 2 cây mẹ có nguồn gốc khác nhau:

+ Cây số 11 (Ký hiệu N204): cây cấy mô lấy từ cây mẹ ở Nam đảo Phú Quốc (có tóc) năm 1997 và trồng vào vườn năm 2000 (cây A1)

+ Cây số 8: cây ghép cành năm 2001, gốc ở Đại Lãnh, Vạn Ninh, trồng vào vườn năm 2003 (cây B1)

 Chọn đoạn chồi ngọn để ghép (đoạn chồi ngọn là đoạn tính từ ngọn của cành ghép, dài khoảng 5cm)

 Kiểu ghép và vị trí ghép: ghép hông, cách gốc 10-20 cm

 Tổng cộng có 100 gốc ghép ở lần thí nghiệm này

Trang 33

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm ghép cành lần thứ nhất

Số chồi ghép Nghiệm thức Thời gian (giờ)

 Chỉ tiêu theo dõi

Dựa vào số chồi ghép sống được sau 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày, 9 ngày, 11 ngày,

13 ngày, 14 ngày để đánh giá

Lần 2

 Gồm 6 nghiệm thức: 0 giờ, 6 giờ, 12 giờ, 18 giờ, 24 giờ, 30 giờ

 Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần với 3 cây mẹ:

+ Cây số 5 (Ký hiệu N203): cây cấy mô từ cây dó bầu ở Nam đảo Phú Quốc (có

tượng trầm), trồng năm 2000 (cây A2)

+ Cây số 6 (Ký hiệu C21): cây cấy mô lấy từ cây dó bầu ở Nam đảo Phú Quốc (có

tượng trầm) năm 1996, trồng vào vườn năm 2000 (cây B2)

+ Cây số 12 (Ký hiệu C24): cây cấy mô lấy từ cây dó bầu ở nam đảo Phú Quốc

(có tượng trầm) năm 1996, trồng vào vườn năm 2000 (cây C2)

 Chọn các đoạn chồi 1 và 2 (đoạn chồi 1 là đoạn kế tiếp đoạn chồi ngọn, được

cắt khoảng 5cm, đoạn chồi 2 là đoạn kế tiếp đoạn chồi 1, dài khoảng 5cm)

 Kiểu ghép và vị trí ghép: ghép hông cách gốc 10-20 cm và ghép nêm ở ngọn

đối với nghiệm thức 1 và 2; các nghiệm thức còn lại chỉ ghép hông

 Tổng cộng có 180 chồi ghép ở hông và 60 chồi ghép ở ngọn

Trang 34

Bảng 3.3 Bố trí thí nghiệm ghép cành lần thứ hai

Số chồi ghép Nghiệm

thức

Thời gian (giờ) Kiểu ghép Cây A2 Cây B2 Cây C2

Ghép hông 10 10 10

1 0

Ghép ngọn 10 10 10 Ghép hông 10 10 10

 Chỉ tiêu theo dõi:

- Dựa vào số cây sống được sau 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày, 9 ngày, 11 ngày, 13

ngày, 15 ngày, 17 ngày, 19 ngày để đánh giá

- Dựa vào tổng số cây sống được của mỗi nghiệm thức (được tính sau khi tỉ lệ

sống, chết ở các nghiệm thức không còn biến đổi trong thời gian quan sát 2 tháng)

 Thí nghiệm so sánh khả năng sống của chồi ghép giữa cây non và cây già

 Kiểu ghép là ghép hông và ghép ngọn

 Gốc ghép là các cây dó bầu trồng bằng hạt có nguồn gốc từ Vĩnh Long

 Chọn chồi ghép từ hai nguồn:

+ Đối với cây già:cây mẹ số 5 (ký hiệu N203): cây cấy mô từ cây dó bầu ở Nam

đảo Phú Quốc (có tượng trầm), trồng năm 2000

+ Đối với cây non: cây trồng bằng hạt, có nguồn gốc từ Nam đảo Phú Quốc

Bảng 3.4 Bố trí thí nghiệm so sánh khả năng sống của chồi ghép giữa cây non

và cây già

Số chồi ghép Kiểu ghép

Cây non Cây già

Trang 35

 Chỉ tiêu theo dõi

Theo dõi tỉ lệ sống, chết của chồi ghép liên tục trong vòng 18 ngày và lấy giá trị bình quân để so sánh sự khác biệt giữa chồi già và chồi non

Dựa vào tỉ lệ phần trăm số chồi sống được (được tính sau khi tỉ lệ sống, chết không còn thay đổi trong thời gian quan sát 2 tháng quan sát)

Hình 3.8 Mô hình ghép hông cây dó bầu

Hình 3.9 Mô hình ghép ngọn cây dó bầu 3.4 Xử lý số liệu

- Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để mã hoá số liệu và làm trắc nghiệm T-Test

- Sử dụng phần mềm MSTATC để phân tích ANOVA và làm trắc nghiệm LSD (Least Significant Difference Test) để làm trắc nghiệm phân hạng các nghiệm thức

3 5 Dụng cụ và thiết bị

- Dao, kéo cắt cành, bông gòn, nước sạch, cồn 700, bịch nilon, dây nilon

Trang 36

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thí nghiệm khảo sát khả năng ra rễ của cây dó bầu

Sau 45 ngày chiết cành, các cành chiết vẫn chưa ra rễ

4.2 Thí nghiệm khảo sát thời gian ghép thích hợp của cây dó bầu

Lần 1

Bảng 4.1 Số cây sống của các nghiệm thức của cây A1 theo thời gian

Cây A1 3 ngày 5 ngày 7 ngày 9 ngày 11 ngày 13 ngày 14 ngày

Trang 37

Bảng 4.2 Số cây sống của các nghiệm thức của cây B1 theo thời gian

Cây

B1 2 ngày 4 ngày 6 ngày 8 ngày

10 ngày

11 ngày

12 ngày

- Nguyên nhân gây chết:

+ Do sự bất tương thích giữa chồi ghép và gốc ghép (dùng chồi của cây nuôi cấy mô và cây ghép cành hơn 7 năm tuổi, ghép vào cây trồng từ hạt 3 năm, đường

Trang 38

kính chồi ghép nhỏ hơn nhiều so với gốc ghép) Chính sự bất tương thích này dẫn đến hiện tượng loại bỏ chồi ghép ra khỏi gốc ghép, kết quả là chồi ghép bị hoại tử dần từ ngọn xuống gốc

+ Cây dùng làm mắt ghép đang bị nhiễm nấm nên có thể làm phát triển nấm sau 4-6 ngày ghép, hoặc do sự xâm nhiễm nấm từ bên ngoài, cộng thêm thời điểm ghép vào những ngày mưa đã tạo điều kiện cho nấm phát triển

+ Khi dùng bông quấn vào chồi ghép và tẩm nước ướt bông, để một thời gian rồi ghép vào gốc ghép, có thể phần chồi ghép bị ướt dẫn đến kết quả ghép không thành công

+ Chồi ướt dẫn đến hiện tượng thối và chết sau 6-10 ngày ghép

+ Các gốc ghép vẫn còn nằm trong bầu đất, rễ không thể ăn sâu vào đất nên hạn chế về mặt dinh dưỡng, dẫn đến sức sống, sức chống chịu với môi trường và nấm hại kém

5 ngày

7 ngày

9 ngày

11 ngày

13 ngày

15 ngày

17 ngày

19 ngày NT1 30 30 25 19 14 10 8 6 6 5

Trang 39

Biểu đồ 4.3 Sức sống của chồi khi ghép hông theo thời gian

- Trong 3 ngày đầu các nghiệm thức 1,2,3,4,5 có tỉ lệ sống 100%, nghiệm thức

6 có tỉ lệ sống 90% Các tỉ lệ này giảm nhanh chóng trong vòng 9 ngày sau ghép, sau

đó tiếp tục giảm dần đến 19 ngày thì số cây sống của mỗi nghiệm thức đã ổn định với thời gian theo dõi 2 tháng, tuy nhiên tỉ lệ sống của các nghiệm thức trong lần ghép này quá thấp.Cụ thể như sau:

NT1: 16.67 % NT2: 10%

Trang 40

Hình 4.1 Cây ghép hông sau 1 tháng

- Kết quả phân tích ANOVA cho thấy không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức sau 3 ngày, 15 ngày, 17 ngày, 19 ngày và tỉ lệ sống sau 2 tháng cũng không có sự khác biệt xét về phương diện thống kê học

- Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các nghiệm thức sau 5 ngày, 7 ngày, 9 ngày,

11 ngày, 13 ngày và được phân hạng như sau:

Bảng 4.4 Tỉ lệ (%) chồi sống của các nghiệm thức sau 5 ngày

Thời gian (giờ) Tỉ lệ sống (%)

Ngày đăng: 05/07/2018, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm