Nghiên cứu thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: Xác định các yếu tố tác động trực tiếp đến ý định quay trở lại Thành phố Hồ Chí Minh của khách du lịch quốc tế. Xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với ý định quay trở lại của khách du lịch quốc tế. Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài, để đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm giúp sở du lịch của Thành Phố thay đổi và tăng số lượng du khách quốc tế quay trở lại.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH
Khoa Sau Đại học - -
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG KINH
Trang 2TP Hồ Chí Minh - 2018
1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 6
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 7
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 7
7 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DU LỊCH TẠI TP HỒ CHÍ MINH - THÔNG TIN THỨ CẤP 8
8 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
8.1 KHÁI NIỆM VỀ Ý ĐỊNH QUAY TRỞ LẠI 10
8.1.1 Định nghĩa tổng quan 11
8.1.2 Hành vi dự định và hành vi thật sự 11
8.1.3 Ý định quay trở lại trong du lịch 12
8.2 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 15
8.2.1 Định nghĩa tổng quan về du lịch 16
8.2.2 Định nghĩa về khách du lịch 17
8.2.3 Điểm đến du lịch: 18
8.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 19
8.3.1 Các nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam 19
8.3.1.1 Công trình nghiên cứu của Huỳnh Nhựt Phương và Nguyễn Thúy An (7 – 2017) 19
8.3.1.2 Mô hình giải thích sự hài lòng và ý định quay lại của du khách -Hồ Huy Tựu, Trần Thị Ái Cẩm (8-2012) 20
8.3.1.3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại Vũng Tàu của du khách quốc tế của Mai Ngoc Khuong & Nguyen Thao Trinh, 2015 21
8.3.2 Các công trình nghiên cứu quốc tế 21
8.3.2.1 Nghiên cứu do Xiaoli Zhang (2012) thực hiện nghiên cứu ý định quay trở lại du lịch Thái Lan của du khách Trung Quốc 22
8.3.2.2 Đề tài nghiên cứu của Mohammad Bader Badarneh and Ahmad Puad Mat Som (2007) 22
8.4 ĐỀ XUẤT CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY TRỞ LẠI CỦA DU KHÁCH 23
8.4.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây 23
8.4.2 Lựa chọn nhân tố 26
8.4.3 Định nghĩa các nhân tố tác động đến ý định quay trở lại của du khách được sử dụng trong bài 27
8.4.3.1 Văn hóa- xã hội 27
Trang 38.4.3.2 Sự mới lạ của điểm đến 28
8.4.3.3 Ẩm thực địa phương 28
8.4.3.4 Giá cả 29
8.4.3.5 An toàn An ninh 29
8.4.3.6 Cơ sở hạ tầng 30
8.4.3.7 Môi trường 30
8.4.3.8 Các hoạt động vui chơi giải trí 30
8.4.3.9 Yếu tố rào cản 31
8.4.3.10 Hình ảnh điểm đến 31
8.4.3.11 Khoảng cách địa lý 32
8.4.4 Lựa chọn thang đo 33
8.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT: 36
8.6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 37
9 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
9.1 QUY TRÌNH THỰC HIỆN 38
9.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 39
9.2.1 Phương pháp thực hiện 39
9.2.2 Kết quả thực hiện 39
9.3 ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 40
9.4 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 43
9.4.1 Đối tượng khảo sát: 43
9.4.2 Bản câu hỏi: 43
9.4.3 Phương pháp chọn mẫu: 48
9.4.4 Xử lý và phân tích số liệu: 48
9.5 KẾT CẤU DỰ KIẾN CỦA ĐỀ TÀI 49
10 THỜI GIAN BIỂU VÀ DỰ TOÁN CHI PHÍ 49
10.1 THỜI GIAN BIỂU 49
10.2 DỰ TOÁN CHI PHÍ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 4NỘI DUNG
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu tiềm năng du lịch đa dạng vàphong phú với đường bờ biển dài, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nền vănhóa đa dạng mang đậm bản sắc dân tộc truyền thống Theo bảng xếp hạng
và đề nghị của giới xuất bản các ấn phẩm hướng dẫn du lịch và các trangweb về du lịch, được trang CTV News và báo điện tử The Malay Mail tríchđăng ngày 31/12, Việt Nam đứng đầu trong năm địa điểm du lịch "thu hútnhất" trong năm 2015 Tuy Nhiên, dù lượng khách quốc tế đến tham quan,
du lịch tại Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng nhưng điều đángbuồn là có đến 90% lần đầu tiên tới mảnh đất hình chữ S, số du khách quaylại các điểm du lịch lần thứ hai rất thấp, chỉ chiếm khoảng 6% Đây là thôngtin từ Ban quản lý Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệmvới môi trường và xã hội (Dự án EU), công bố kết quả khảo sát khách dulịch nói tiếng Anh tại năm điểm chính: Sapa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội
An Vậy câu hỏi đặt ra cho chúng ta rằng tại sao lại xảy ra thực trạng dukhách “một đi không trở lại” ở một quốc gia nổi tiếng với những thắng cảnhđẹp như Vịnh Hạ Long, Động Thiên Đường và nhiều điểm đến khác Rấtnhiều du khách quốc tế từng đặt chân đến Việt Nam trong số đó có nhữngngười khi quay về nước đã viết về những ấn tượng không tốt khi ở ViệtNam và đa số đồng tình là không bao giờ quay trở lại Việt Nam Tiêu biểunhư Alex, là chủ nhân blog Alex in Wonderland được cộng đồng đánh giá
là một trong 100 blog du lịch uy tín trên thế giới Nữ blogger du lịch mộtmình đã có những chia sẻ về những kỷ niệm buồn trong chuyến đi, đa phần
là cách thức mà cô được đối xử khi đến Việt Nam mà theo cô có thể là lý dokhiến nhiều du khách không muốn quay lại Đây là điểm khác biệt rất lớnbởi khi đến Thái Lan, cô thực sự choáng ngợp trước sự thân thiện của ngườidân nơi đây, "vùng đất của những nụ cười"
Trang 5Đa số đều có ấn tượng không tốt về cách mà họ được đối xử khi sang ViệtNam như nạn chèo kéo, lừa gạt, cướp bóc, người dân thiếu thân thiện vànhiều trường hợp khác.
Thành phố Hồ Chí Minh được xem như là một trong những trung tâm du lịchlớn của cả nước Theo Sở văn hóa - Thể thao – Du lịch TP.HCM cho biết,trong 10 tháng đầu năm 2017, TP.Hồ Chí Minh đã đón 10,4 triệu lượtkhách quốc tế tới Thành phố, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước Bêncạnh đó, Tổng doanh thu ngành du lịch Thành phố (nhà hàng, lưu trú, lữhành) trong tháng 6/2017 ước đạt 8.630 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳnăm 2016
Bên cạnh những tiềm năng nổi bật thì TP.HCM vẫn còn tồn tại hạn chế nhất địnhtrong quá trình phát triển thương mại và dịch vụ du lịch theo hướng bền vững
Để góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển du lịch quốc gia đến năm 2020
và tầm nhìn 2030 định hướng du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnước, đặc biệt để thực hiện tốt chiến lược phát triển bền vững thành phố trongthời đại toàn cầu hóa, thành phố cần có những hoạt động tích cực để thu hútlượng khách đến với thành phố ngày một tăng, vừa tạo cơ sở động lực cho sựphát triển kinh tế của thành phố, đòi hỏi phải có sự đóng góp chung tay của nhiềuban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, cá nhân, cộng đồng trong và ngoài nước.Việc phát triển du lịch không chỉ dừng lại ở việc tập trung, thu hút du khách, màcần chú trọng vào việc làm cho Khách có ý định quay trở lại đối với Việt Namnói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng
Tuy nhiên, tỷ lệ quay trở lại của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam nói chung
và TP.Hồ Chí Minh nói riêng trong 6 tháng đầu năm 2017 đi xuống và có
sự sụt giảm nghiêm trọng Năm ngoái, số liệu thống kê cho thấy có 70% dukhách quốc tế không quay trở lại sau chuyến du lịch đầu tiên tại Việt Nam.Khi ấy, giới chuyên gia đã bày tỏ sự lo ngại do con số ấy nói lên một thực
tế, là chất lượng cũng như nội dung du lịch của Việt Nam còn quá nhiều
Trang 6“vấn đề”, nhất là rất thiếu sức hấp dẫn, khiến khách quốc tế mang tâm lý “đithử một lần cho biết, rồi… thôi!” Năm nay, con số thống kê về lượt kháchquay trở lại còn ít hơn hẳn Nếu căn cứ vào báo cáo của Tổng cục Du lịchthì chỉ có 20% khách du lịch quốc tế quay trở lại Việt Nam Còn nếu căn cứtheo số liệu từ các chuyên gia độc lập, thì tỷ lệ ấy chỉ khoảng 5-6% Rấtnhiều câu hỏi được đặc ra, tại sao du khách quốc tế đến Việt Nam khôngbằng một số nước trong khu vực, trong khi đất nước có nhiều danh lam,thắng cảnh nổi tiếng, ổn định về an ninh chính trị, trật tự xã hội tốt, 9,000 lễhội/năm, người Việt Nam thân thiện hiếu khách? Số ngày khách nước ngoàilưu lại ít, chi tiêu ít hơn và không có ý định quay trở lại Việt Nam và chínhngười Việt cũng lựa chọn đi du lịch nước ngoài nhiều hơn so với ở lại trongnước Theo kết quả nghiên cứu của Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái BìnhDương (PATA) đưa ra con số lượng khách du lịch quay lại VN chỉ chiếmkhoảng 6% Ngay cả với khách nội địa, chỉ 24% đến thăm các điểm du lịchlần thứ 2 và chỉ 13% đến lần thứ 3 So sánh với các quốc gia khác trong khuvực, thì đó là con số cho thấy sự thua kém rất xa: Thái Lan có lượng dukhách quốc tế quay trở lại từ 2 lần trở lên chiếm 82%, còn với Singapore làtới 89% (Tổng cục du lịch Singapore, 2014) Điều này khiến nhiều ngườiđặt câu hỏi: Tại sao Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nóiriêng được đánh giá là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất thế giới, thuhút hàng triệu lượt du khách quốc tế mỗi năm nhưng du khách” một đikhông trở lại”?
Với những vấn đề được đặt ra như trên, việc xác định và đo lường các yếu tốảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm đến Thành Phố Hồ Chí Minh củakhách du lịch quốc tế để làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm tăng sốlượng du khách quốc tế quay trở lại nhiều hơn tại Việt Nam nói chung vàThành Phố Hồ Chí Minh nói riêng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quantrọng trong giai đoạn hiện nay, làm tiền đề cho nhóm nghiên cứu quyết định
Trang 7thực hiện đề tài “Những Yếu Tố Tác Động Đến Ý Định Quay Trở Lại
Của Khác Du Lịch Quốc Tế Tại Thành Phố Hồ Chí Minh”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định các yếu tố tác động trực tiếp đến ý định quay trở lại Thành phố HồChí Minh của khách du lịch quốc tế
- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với ý định quay trở lại củakhách du lịch quốc tế
- Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm của đề tài, để đưa ra những kiếnnghị, đề xuất nhằm giúp sở du lịch của Thành Phố thay đổi và tăng số lượng
du khách quốc tế quay trở lại
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những yếu tố nào tác động đến ý định quay trở lại Thành Phố Hồ Chí Minhcủa khách du lịch quốc tế?
- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định quay trở lại TP.HCM củakhách du lịch quốc tế như thế nào?
- Những đề xuất chính sách và kiến nghị nào có thể thực hiện để tăng số lượng
du khách quốc tế quay trở lại?
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này tập trung vào giải thích các yếu tố tác độngtới ý định quay trở lại TP.HCM của khách du lịch quốc tế
- Đối tượng khảo sát: Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trởlại điểm đến TP.HCM của khách du lịch quốc tế, đề tài tập trung khảo sátđối tượng là du khách quốc tế nói tiếng anh (không bao gồm việt kiều) tạiđiểm đến TP.HCM Những du khách quốc tế này ít nhất đã có hai ngày trải
Trang 8nghiệm tại Thành Phố Hồ Chí Minh Đối tượng điều tra là du khách quốc tế(nói tiếng Anh) bao gồm hai nhóm khách đi theo đoàn và tự túc.
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Thông qua đề tài nghiên cứu , những người làm công tác du lịch,những công ty
du lịch quốc tế và nội địa, các nhà quản lý ngành du lịch khách sạn ,nhàhàng xác định rõ những yếu tố tác động đến ý định quay trở lại thành phố
Hồ Chí Minh của khách du lịch quốc tế và mức độ của từng yếu tố đó từgóc nhìn đó định hướng những chiến lược, chính sách cải thiện các sảnphẩm, dịch vụ du lịch phù hợp nhằm tác động đúng vào các yếu tố du kháchquan tâm đối với du lịch ở TP.HCM Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu hỗtrợ khuyến nghị cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch địnhchính sách về du lịch thiết kế chiến lược marketing phù hợp cho ngành dulịch nhằm thu hút thêm số lượng du khách quay trở lại TP.HCM du lịchnhiều lần, hạn chế tình trạng du khách “một đi không trở lại” cũng nhưquảng bá hình ảnh điểm đến TP.HCM nhiều hơn với cộng đồng quốc tế.Trong ngắn hạn, các kết quả của nghiên cứu này cũng là một tài liệu thamkhảo cho các nhà nghiên cứu và trong các lĩnh vực hoặc ngành có liên quan
Trang 97 Tổng quan về ngành du lịch tại TP Hồ Chí Minh - thông tin thứ cấp
SỐ LIỆU THỐNG KÊ QUÝ I/2017 – Nguồn: tổng cục du lịch
- Tổng doanh thu du lịch thành phố trong quý I năm 2017 ước đạt 27.770 tỷđồng, đạt 23,94% so với kế hoạch năm 2017, tăng 15,6% so với cùng kỳnăm 2016
- Tổng lượng khách quốc tế đến thành phố trong quý I năm 2017 ước đạt1.583.282 lượt khách, đạt 26,39% so với kế hoạch năm 2017, tăng 15% sovới cùng kỳ năm 2016
- Trong quý I năm 2017 (từ ngày 01/12/2016 đến ngày 10/3/2017), Thanh tra
Sở Du lịch đã tổ chức thanh tra và làm việc với 45 doanh nghiệp; ban hành
25 quyết định xử phạt hành chính Tổng số tiền phạt 383.500.000đ, đã nộp144.000.000đ
- Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ khách quốc tế đến ViệtNam lần đầu và khách đến từ hai lần trở lên lần lượt là 72% và 28% (năm2003); 65,3% và 24,7% (năm 2005), 56,3% và 43,7% (năm 2006); 60,4%
và 39,6% (năm 2009); 61,1% và 38,9% (năm 2011) Có thể thấy tỷ lệ nàykhông biến động lớn qua các năm và duy trì ở mức độ khá hài hòa Tuynhiên, những năm gần đây tỷ lệ du khách quay trở lại có sự sụt giảmnghiêm trọng
- Theo số liệu thống kê về tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam được công bốchính thức trong tài liệu mà Tổng cục Thống kê phát hành về “ Kết quả điềutra chi tiêu của khách du lịch Việt Nam năm 2013” cho thấy, trong năm
2013, có 66,1% khách quốc tế đến Việt Nam lần đầu; 20,1% khách quốc tế
Trang 10đến lần 2 và 13,8% khách quốc tế đến lần 3 Theo số liệu này, tỷ lệ kháchquốc tế quay lại Việt Nam khoảng 34%.
- Trong các tháng 3,4 và 7,8 năm 2014, Dự án EU đã huy động một lực lượngchuyên gia trong nước và quốc tế thực hiện điều tra khách du lịch tại 5 điểm
du lịch của Việt Nam gồm: Sa Pa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng và Hội An Đốitượng điều tra là du khách quốc tế nói tiếng Anh và khách du lịch nội địa tạicác điểm đến trên Trên căn cứ kết quả điều tra, các chuyên gia của Dự án
EU đánh giá các điểm du lịch của Việt Nam hầu như thu hút khách du lịchquốc tế mới với khoảng 90% là khách đến thăm lần đầu; lượng khách quốc
tế quay lại các điểm du lịch này lần thứ 2 chiếm khoảng 6% Các chuyêngia cũng cho biết thêm tỷ lệ khách quốc tế quay lại lần 3 là 2%; từ 4 lần trởlên là 3,2% Như vậy tổng số khách quốc tế quay lại 1 điểm đến là 11,2%
- Căn cứ vào báo cáo của Tổng cục Du lịch tại hội thảo "Chuyên nghiệp hóa vànâng cao chất lượng sản phẩm du lịch" diễn ra tại Đà Nẵng thì chỉ có 20%khách du lịch quốc tế quay trở lại Việt Nam Còn nếu căn cứ theo số liệu từcác chuyên gia độc lập, thì tỷ lệ ấy chỉ khoảng 5-6%
- Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA) đưa ra con số lượngkhách du lịch quay lại VN chỉ chiếm khoảng 6% Ngay cả với khách nộiđịa, chỉ 24% đến thăm các điểm du lịch lần thứ 2 và chỉ 13% đến lần thứ 3
So sánh với các quốc gia khác trong khu vực, thì đó là con số cho thấy sự thuakém rất xa: Thái Lan có lượng du khách quốc tế quay trở lại từ 2 lần trở lênchiếm 82%, còn với Singapore là tới 89%!
Số liệu thống kê 9 tháng đầu năm 2017 cho thấy, trong khi lượng du kháchtăng gần 17%, thì mức tăng chi tiêu chỉ ở mức 10% Cần Giờ, địa điểmđược kỳ vọng là “điểm nhấn” du lịch TP.HCM, trung bình mỗi du kháchchỉ xài 400.000 đồng kể từ khi đặt chân đến cho tới lúc rời đi Ở ngay khu
“phố Tây” giữa Sài Gòn, trung bình mỗi ngày một du khách cũng không xài
Trang 11quá 600.000 đồng Đó là chưa nói đến thời gian lưu trú phổ biến chỉ 2-3ngày, nhiều người coi Việt Nam như điểm trung chuyển để đến Campuchia,Thái Lan, Malaysia, Singapore…
8 Cơ sở lý thuyết
Chương này sẽ trình bày các khái niệm, cơ sở lý luận sẽ sử dụng trong bài, làmnền tảng cho cuộc nghiên cứu, đồng thời tóm tắt, phân loại và tổng hợp cácnghiên cứu trước nhằm tìm ra các giả thuyết, xây dựng thang đo cho mô hìnhnghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định quay trở lại của khách du lịch quốc
tế tại thành phố Hồ Chí Minh
8.1 Khái niệm về ý định quay trở lại
Để tài nghiên các yếu tố tác động đến ý định quay trở lại của khách du lịchquốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ lấy yếu tố ý định quay trở lại làmtrọng tâm, thông qua phần khái niệm này, ta sẽ rút ra được các định nghĩa
cơ bản về ý định quay trở lại cũng như cấu trúc, các yếu tố tác động và cáchthức đo lường sẽ được sử dụng trong bài nghiên cứu
8.1.1 Định nghĩa tổng quan
Khái niệm ý định quay trở lại (Return Intention) có nguồn gốc từ lý thuyết
hành vi dự định (Theory of Planned Behavior) và được định nghĩa là
“một hành vi dự định/kiến trong tương lai” (Fishbein và Ajzen, 1975;Swan, 1981) Nó trở thành thước đo và công cụ quan trọng để hiểu và dựđoán các hành vi xã hội (Ajzen, 1991; Fishbein và Manfredo, 1992) Hành
vi dự định luôn kèm theo hành vi quan sát được (Baloglu, 2000) và một khi
Trang 12dự định được hình thành thì hành vi sẽ được thể hiện sau đó (Kuhl vàBechmann, 1985).
8.1.2 Hành vi dự định và hành vi thật sự
Dự định thực hiện hành vi và thực sự thực hiện hành vi là hai khái niệm khônggiống nhau Hành vi là các biểu hiện, phản ứng có thể thấy được của mộtngười trong một tình huống nhất định, đối với một mục tiêu nhất định(Ajzen, 2006) Dự định thực hiện hành vi thường có trước khi hành vi thực
sự xảy ra, dự định là một dấu hiệu sẵn sàng của một người để thực hiện mộthành vi nhất định và nó được xem như là tiền đề trực tiếp của hành vi Theo lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) cũngnhư trong thực tế, dự định thường được tìm thấy có tác động chính tới hành
vi Chính vì vậy, nghiên cứu về dự định hành vi sẽ có ý nghĩa rất lớn về
mặt thực tế đến hành vi thật sự Các nhân tố tác động đến dự định quay
trở lại cũng được kỳ vọng sẽ tác động đến hành vi quay trở lại thật sự của
du khách Thêm vào đó, do tỷ lệ du khách quốc tế quay trở lại Việt Nam làkhá nhỏ nên việc tiếp cận đối tượng này sẽ khó hơn với đối tượng du kháchmới đến Việt Nam lần đầu Hơn thế nữa, nếu nghiên cứu hành vi quay trởlại thật sự thì nhóm tác giả sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận những du
khách đã đến Việt Nam và không quay lại nữa Do vậy, trong nghiên cứu
này, dự định quay lại của du khách sẽ được chọn để nghiên cứu thay vì hành vi quay lại thật sự của du khách mà không làm mất đi ý nghĩa thực tiễn của nó
8.1.3 Ý định quay trở lại trong du lịch
Các điểm đến du lịch luôn khuyến khích các học giả đo lường ý định quaytrở lại của du khách với nhiều lý do khác nhau (Aasaker, Esposito Vinzi, và
O’Connor 2011), trong đó có niềm tin rằng ý định quay trở lại có thể dự đoán được khuynh hướng quay trở lại một điểm đến thực tế của du khách
(Hong et al 2009) Niềm tin này được khẳng định trong lý thuyến hành vi
Trang 13dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) và/hoặc trong lý thuyết hànhđộng hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA), những lý thuyết này cho
rằng có mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, và các dự định hành vi tương lai (Brencic and Dmitrovic 2010; Chi and Qu 2008; March
và Woodside 2005; Yoon and Uysal 2005) Prayag (2009) cho rằng cácnghiên cứu hành vi dự định trong du lịch đã đạt được sự đồng thuận cao
rằng khi du khách hài lòng, họ sẽ quay lại và sẽ giới thiệu với những người khác về trải nghiệm thú vị của họ Sutton (1998) đã tán thành quan điểm kết luận mang tính qui luật này và cho rằng nếu không có ý định người ta sẽ không hành động gì cả Trong lĩnh vực giải trí và du lịch, ý định quay trở
lại là sự xem xét của du khách về khả năng quay lại tham quan một nơi vuichơi giải trí hay một điểm đến du lịch Tuy nhiên, điểm đến du lịch đượcxem là một sản phẩm đặc biệt bao gồm các tài nguyên tự nhiên và tài
nguyên nhân văn theo Kim (2008) nên ý định quay trở lại của du khách tới một vùng đất xa lạ một lần nữa thường thấp hơn việc sử dụng lại sản phẩm thông thường, ngay cả khi điểm du lịch đó thỏa mãn mọi nhu cầu và sự mong đợi của du khách Khách du lịch có thể chọn những nơi mà họ chưa từng đến để tìm kiếm những trải nghiệm mới (McDougall và Munro, 1994).
Việc du khách quay trở lại không chỉ tạo ra nguồn thu, lợi nhuận cho cácđiểm đến, gia tăng thị phần, và tạo ra sự truyền miệng tích cực mà còn giảmthiểu các chi phí cho quảng bá và vận hành điểm đến (Bowen và Chen,2001; Vuuren và Lombard, và Tonder, 2012) Vì vậy, các nhà quản lý điểmđến du lịch cần quan tâm đến ý định quay trở lại của du khách là một trongnhững vấn đề cơ bản cần nghiên cứu làm rõ (Pratminingsih, Rudatin, vàRimenta, 2014), làm nền tảng cho việc phát triển các chiến lược quản lý vàquảng bá một cách hiệu quả, đồng thời tạo sự hấp dẫn đối với du khách(Hui et al., 2007; Lau and McKercher, 2004; Oppermann, 1997; Petrick,2004) Theo Oppermann (2000), việc quay lại tham quan của khách đượcxem là mục tiêu quan trọng nhất đối với những người làm công tác quảng
Trang 14bá và kinh doanh du lịch Các lý do bao gồm: 1) chi phí quảng bá tiếp thịđối với các du khách quay lại luôn thấp hơn so với khách mới đến lần đầu,2) khách quay lại đồng nghĩa với sự hài lòng của khách là tích cực, 3) khảnăng quay lại tỷ lệ thuận với thái độ tích cực của du khách Đối khách dulịch, sự thư giãn thoải mái và sự quen thuộc được xem là động lực mạnhnhất để họ quay lại một điểm đến (Gitelson và Crompton, 1984; Hughes vàMorrison-Saunders, 2002) Khách quay lại cũng ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiềuhơn nhưng lại tham quan số lượng các điểm du lịch ít hơn (Lau và
McKercher, 2004; Oppermann, 1997) Cho tới nay, nhiều điểm đến du
lịch dựa chủ yếu vào lượng khách quay lại thế nhưng vẫn còn ít những nghiên cứu về ý định quay trở lại và các yếu tố dẫn đến ý định quay trở lại (e.g Anwar và Sohail, 2004; Fallon và Schofield, 2004; Hughes và
Morrison-Saunders, 2002; Kemperman et al., 2003; Shanka và Taylor,2004) với một số lý do Thứ nhất, nghiên cứu mới chỉ tập trung nhiều về ýđịnh tiếp tục mua và tiêu dùng các sản phẩm tại điểm đến hơn là với ý địnhquay trở lại điểm đến (Kozak, 2001) Ý định mua lại sản phẩm hay nhãnhiệu được nghiên cứu kỹ trong lĩnh vực hành vi người tiêu dùng (Gitelson
và Crompton, 1984) Việc du khách có ý định quay lại một điểm đến với sựtiêu dùng không thường xuyên và có tính mùa vụ cũng là một trở ngại vàkhách du lịch luôn thích tìm những điểm đến mới lạ hơn (Bigne et al.,2001) Thứ hai, hướng nghiên cứu chính trong lĩnh vực du lịch lại tập trungvào sự hài lòng và các yếu tố dẫn đến sự hài lòng và ý định quay trở lại chỉđược xem là kết quả của sự hài lòng (Bigne et al., 2001) Thứ ba, cácnghiên cứu về các yếu tố dẫn đến việc quay trở lại bị trở ngại trong việc đolường khái niệm này Ví dụ, Um và cộng sự (2006) đã sử dụng thang đomột biến đơn để đo lường khái niệm thay vì nên sử dụng thang đo đa biến.Trong nghiên cứu này, khái niệm ý định quay trở lại được xem là khái niệm đabiến và đo lường thông qua ba yếu tố; 1) “ý định quay trở lại điểm đến du
Trang 15lịch” (Chen and Tsai, 2007; Khương và Trinh, 2015), 2) “sẽ sử dụng sảnphẩm và dịch vụ nhiều hơn tại điểm đến trong tương lai” (Oppermann,2000; Anwar và Sohail, 2004; Fallon và Schofield, 2004; Lau vàMcKercher, 2004; Khương và 24 Trinh, 2015), và 3) “giữ các mối quan hệcho lần quay lại sắp tới” (Oppermann, 2000; Khương và Trinh, 2015).
Bảng 8.1: Tóm tắt định nghĩa ý định quay trở lại của du khách
STT Nghiên cứu Định nghĩa ý định quay trở lại
1 Fishbein và
Ajzen,(1975);
Swan,(1981)
Khái niệm ý định quay trở lại (Return Intention) cónguồn gốc từ lý thuyết hành vi dự định (Theory ofPlanned Behavior) và được định nghĩa là “mộthành vi dự định/kiến trong tương lai”
2 Hong et al
(2009)
Ý định quay trở lại có thể dự đoán được khuynhhướng quay trở lại một điểm đến thực tế của dukhách
3 Prayag
(2009)
các nghiên cứu hành vi dự định trong du lịch đã đạtđược sự đồng thuận cao rằng khi du khách hàilòng, họ sẽ quay lại và sẽ giới thiệu với nhữngngười khác về trải nghiệm thú vị của họ
4 McDougall
vàMunro,(1994)
Ý định quay trở lại của du khách tới một vùng đất xa
lạ một lần nữa thường thấp hơn việc sử dụng lạisản phẩm thông thường, ngay cả khi điểm du lịch
đó thỏa mãn mọi nhu cầu và sự mong đợi của dukhách Khách du lịch có thể chọn những nơi mà
họ chưa từng đến để tìm kiếm những trải nghiệmmới
5 Kim (2008) Điểm đến du lịch được xem là một sản phẩm đặc biệt
Trang 16bao gồm các tài nguyên tự nhiên và tài nguyênnhân văn.
6 Bowen và
Chen,( 2001);
VuurenvàLombard,và
Tonder,(2012)
Việc du khách quay trở lại không chỉ tạo ra nguồnthu, lợi nhuận cho các điểm đến, gia tăng thịphần, và tạo ra sự truyền miệng tích cực mà còngiảm thiểu các chi phí cho quảng bá và vận hànhđiểm đến
Từ các khái niệm trên, ta có thể đúc kết được, Ý định quay trở lại của du kháchquốc tế là một hành vi dự định/kiến trong tương lai được giải thích trong lýthuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior), có thể dùng để giảithích khuynh hướng quay trở lại một điểm đến thực tế của du khách Có thểđược hiều đơn giản khi du khách hài lòng với trải nghiệm có được tai mộtđiểm đến du lịch, họ đa phần sẽ quay trở lại và giới thiệu với những ngườikhác về trải nghiệm thú vị này
8.2 Các khái niệm có liên quan
Trang 17Ngoài các khái niệm chính có liên quan đến yếu tố thái độ cần nắm trong bài,
ta cũng cần phải xét đến các định nghĩa khác nằm trong lĩnh vực nghiên cứu
để có cái nhìn toàn diện hơn
8.2.1 Định nghĩa tổng quan về du lịch
Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở cácnước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịchvẫn chưa thống nhất, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người cómột cách hiểu về du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu
về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Theo Guer Freuler (1963) thì: “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là mộthiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôiphục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phátsinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Chúng ta cũng thấy ýtưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff: “du lịch là tổng hợpcác mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trútạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việcthường xuyên của họ” (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyêngia khoa học về du lịch thừa nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà
nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Picara- Edmod đưa
ra định nghĩa: “ du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nókhông chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị
do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy,tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhucầu hiểu biết và giải trí.”
Trang 18Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam
đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo cácchuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sứctham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi,giải trí, xem danh lam thắng cảnh…” Theo định nghĩa thứ hai, du lịch đượccoi là “một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nângcao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đógóp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tìnhhữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanhmang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá vàdịch vụ tại chỗ”
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thànhhai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là:
Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhânhay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tạichỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêuthụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyêncung ứng
Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trongquá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của
cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nângcao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
8.2.2 Định nghĩa về khách du lịch
Theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO), khách du lịch bao gồm:
Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): là những người từ nước ngoài đến
du lịch một quốc gia
Trang 19Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): là những người đangsống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.
Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân củamột quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia
đó đi du lịch trong nước
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế đến Đây là thị trường cho các cơ sở lưu trú và cácnguồn thu hút khách trong một quốc gia
Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế ra nước ngoài
Theo Luật du lịch của Việt Nam:
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đihọc, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến
Khách du lịch quốc tế (International tourist): là người nước ngoài, người ViệtNam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam,người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): là công dân Việt nam và người nướcngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong vi phạm lãnh thổ Việt Nam
Trong phạm vi của bài nghiên cứu, chúng ta chỉ đặc biệt chú ý đến khách dulịch quốc tế đến
Khái niệm người tiêu dùng du lịch: Là người mua sản phẩm du lịch nhằm thỏamãn nhu cầu và mong muốn cá nhân Họ là người cuối cùng tiêu dùng sảnphẩm du lịch do quá trình sản xuất tạo ra Người tiêu dùng du lịch có thể là
mộ cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm người (tập thể)
8.2.3 Điểm đến du lịch:
Trang 20Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) năm 2007 đã đưa ra định nghĩa “Điểmđến du lịch là vùng không gian mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, baogồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thuhút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hìnhảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”.
8.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện xoayquanh ý định quay trở lại điểm đến của du khách
8.3.1 Các nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam
8.3.1.1 Công trình nghiên cứu của Huỳnh Nhựt Phương và Nguyễn Thúy
An (7 – 2017).
kết quả nghiên cứu của đề tài “Phân tích các yếu tố của điểm đến du lịch tácđộng đến ý định quay trở lại của du khách – trường hợp du khách đến thànhphố Cần Thơ ” đã chỉ ra được mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa thái độ và yếu tố
cơ sở vật chất tại điểm đến với ý định quay lại của du khách Trong khi đó,
nghiên cứu đã chứng minh được thái độ của du khách bị tác động bởi tệ nạn giá cả và tệ nạn an toàn an ninh tại điểm đến du lịch Cụ thể, du khách
sẽ có thái độ tiêu cực khi tình trạng tăng giá cả của dịch vụ và các tệ nạntrộm cắp, chèo kéo du khách ngày càng nhiều
Trang 21Hình 1 Mô hình giải thích các yếu tố của điểm đến du lịch tác động đến ý định quay trở lại của du khách.
8.3.1.2 Mô hình giải thích sự hài lòng và ý định quay lại của du khách - Hồ Huy Tựu, Trần Thị Ái Cẩm (8-2012)
Kết quả nghiên cứu cho rằng sự hài lòng của du khách chính là sự khác biệt,cảm nhận về giá trị và giá trị con người Sự hài lòng ảnh hưởng có ý nghĩanhất đến ý định quay lại và truyền miệng tích cực của du khách thông qua
sự hài lòng Bằng sự kết hợp mô hình 5 khoảng cách Parasuraman(1988,1991) và mô hình nghiên cứu chỉ số sực hài lòng của khách CSI(Customer Satisfaction Index), hai tác giả đã xác định một số nhân tố chínhtác động đến sự hài lòng và ý định quay trở lại và truyền miệng tích cực của
du khách quốc tế tại Nha Trang: Môi trường, Cơ sở vật chất, Văn hóa và xã hội, Vui chơi giải trí, Ẩm thực và Sự khác biệt Nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng, việc cải thiện các yếu tố trên là nền tảng dẫn đến việc nâng cao sự hàilòng của du khách, từ đó nâng cao lòng trung thành của họ thông qua ý địnhquay lại và truyền miệng tích cực Trong nghiên cứu này nhân tố ẩm thực lànhân tố thú vị nhất đã lôi kéo dukhách quốc tế đến với Nha Trang Kết quả này cũng giống như nhữngnghiên cứu tương tự trước đây của Quan và Wang (2004) Còn nhân tố
Trang 22quan trọng nhất để làm cho du khách cảm thấy hài lòng đó là phong cảnhhữu tình, nhiều đảo đẹp và tính hiếu khách của người dân địa phương… kếtquả của nghiên cứu chỉ ra 4 nhân tố môi trường, văn hóa và xã hội, ẩm thực
và sự khác biệt có ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách Đây là thôngtin hữu ích cho các nhà quản trị có thể nâng cao, duy trì hay cải tiến cácnhân tố mà nó làm hài lòng cho du khách
Hình 2 Mô hình giải thích sự hài lòng và ý định quay lại của du khách
8.3.1.3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại Vũng Tàu của du khách quốc tế của Mai Ngoc Khuong & Nguyen Thao Trinh, 2015
nghiên cứu của Mai Ngoc Khuong va Nguyen Thao Trinh (2015) nhận định ý định quay lại của du khách là sự phối hợp giữa hai nhóm yếu tố: (1) Sự hài lòng đối với điểm đến; (2) Thành phần chất lượng tại điểm đến như: Sự an toàn
và an ninh; Cơ sở hạ tầng; Môi trường văn hóa và tự nhiên; Giá cả; Những yếu
tố trở ngại và Thương hiệu điểm đến Văn hóa là những yếu tố tồn tại thuộc về bản chất không được thực hiện và gây ra bởi con người như chất lượng cuộc sống, rào cản ngôn ngữ, cư dân địa phương, tôn giáo… Ngoài các yếu tố trên
du khách luôn mong muốn tính mới lạ, không giống nhau giữa nhận thức hiện tại và kinh nghiệm trong quá khứ, một chuyến đi có các trải nghiệm không quen thuộc (Khuong & Trinh, 2015)
Trang 23Hình 3 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại Vũng Tàu của
du khách quốc tế (Mai Ngoc Khuong & Nguyen Thao Trinh, 2015)
Kết quả nghiên cứu của Khuong và Trinh (2015) cho thấy nhân tố hình ảnh điểm đến là nhân tố quan trọng nhất, tác động mạnh đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế, tiếp theo là nhân tố sự hài lòng đối với điểm đến, cơ sở
hạ tầng, giá cả và môi trường tự nhiên và văn hóa.
8.3.2 Các công trình nghiên cứu quốc tế
8.3.2.1 Nghiên cứu do Xiaoli Zhang (2012) thực hiện nghiên cứu ý định quay trở lại du lịch Thái Lan của du khách Trung Quốc.
Nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của Hình ảnh điểm đến và Giá trị cảm
nhận trong việc tác động lớn đến ý định quay lại điểm đến của du khách Việc xây dựng hình ảnh điểm đến không hề đơn giản, bởi nó không chỉ là những kinh nghiệm, hồi ức, ấn tượng của du khách về điểm đến đó Hàm chứa trong
đó bao gồm cả những yếu tố tâm lý phức tạp như tình cảm, như niềm tin của dukhách.Do đó, xây dựng hình ảnh điểm đến đòi hỏi phải có sự kết hợp của 6 yếu
tố về Tự nhiên, An toàn, Tiếp cận, Khí hậu và Văn hóa, Chất lượng và Giá cả,
Trang 24Môi trường và Mua sắm (Zhang, 2012).
Hình 4 Mô hình nghiên cứu ý định quay trở lại du lịch Thái lan của du khách
Trung Quốc (Xiaoli Zhang, 2012)
8.3.2.2 Đề tài nghiên cứu của Mohammad Bader Badarneh and Ahmad Puad Mat Som (2007).
Kết quả của công trình nghiên cứu “Factors Influencing Tourists’ RevisitBehavioral Intentions and Loyalty – Những yếu tố ảnh hưởng đến ý địnhhành vi quay trở lại và lòng trung thành của khách du lịch” đã chứng minh
được mối quan hệ nhân quả giữa hình ảnh điểm đến và ý định quay trở lại của du khách Và đề xuất yếu tố mới lạ, sự thay đổi của hình ảnh điểm đến
có tác động tích cực đến sự quay lại của khách du lịch, giống như các
nghiên cứu trước đây của Bigne et al., 2009; Chi và Qu, 2008; Chen & Tsai,
20007 Đồng thời khoảng cách địa lý của điểm đến vì có liên hệ đến thờigian và chi phí (Adamowicz et al., 1994; Perdue, 1986) nên có ảnh hưởngđến toàn bộ nhận thức về giá trị của chuyến du lịch qua đó tác động đến ýđịnh quay trở lại
Trang 25Hình 5 Mô hình nghiên Những yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi quay trởlại và lòng trung thành của khách du lịch.
8.4 Đề xuất các yếu tố tác động đến ý định quay trở lại của du khách 8.4.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây
Tác giả Chủ đề nghiên cứu Biến độc
Tệ nạn giácả
phương pháp chọnmẫu thuận tiện,nên mẫu nghiêncứu không đại
Tệ nạn antoàn –
Trang 26an ninh diện cho tất cả
các du kháchtrong và ngoàinước khi đến dulịch Cần Thơ
Môi trường
Cơ sở vậtchấtVui chơigiải tríHình ảnhđiểmđếnKinhnghiệm
Sự khác biệt Được thực hiện tại
Nha Trang, dữliệu thu thậpđược từ khách
du lịch đến NhaTrang, thời gianthu thập dữ liệunghiên cứu làlúc Nhật Bản bịđộng đất, núilửa Nên đã ảnhhưởng tâm lýchung của dukhách là ngại đi
du lịch, vì vậy
số lượng nghiên
Sự hài lòngMôi trường
Cơ sở vậtchấtVăn hóa và
xã hộiVui chơi –Giải trí
Ầm thực
Trang 27cứu ít, do đó sẽ
có nhiều hạnchế trong việckhái quát kếtquả nghiên cứuMai Ngoc
du khách quốc tế
An toàn &
an ninh
Giới hạn củanghiên cứu này
là về kích cỡmẫu nghiêncứu Do hạn chế
về thời gian, tàichính, địa điểm
và nguồn nhânlực, nhà nghiêncứu có thể thuthập và khảo sát
có 301 khách dulịch đến thămthành phố VũngTàu Vì vậy, kếtquả không thểđại diện cho ýkiến của tất cảcác du kháchquốc tế về tất cảcác điểm đến dulịch
Cơ sở vậtchấtMôi trường
tự nhiên
& xã hộiGiá cảHình ảnhđiểmđến
Sự hài lòng
Xiaoli Nghiên cứu ý định Nhân khẩu Nghiên cứu này chỉ
Trang 28(2012)
quay trở lại du lịchThái Lan của dukhách Trung Quốc
học tập trung vào
hình ảnh điểmđến, cảm nhậncủa điểm đến,nguồn thông tin,
sự hài lòngđiểm đến ảnhhưởng tới sựquay trở lạiThái lan củakhách du lịchTrung Quốc,không cónghiên cứu vềđộng lực đi dulịch của khách
du lịch
Sự hài lòngCảm nhậnHình ảnhđiểmđến
và lòng trung thànhcủa khách du lịch
Sự hài lòng
Sự mới lạHình ảnhđiểmđếnGiá trị nhậnđượcKhoảngcách địalý
Trang 298.4.2 Lựa chọn nhân tố
Các nhân tố được lựa chọn trong bài dựa trên cơ sở kế thừa và chắt lọc các yếu
tố trong các mô hình và cơ sở lý thuyết của các công trình nghiên cứu đitrước:
- Các biến Văn hóa - xã hội, sự mới lạ, ẩm thực địa phương, cơ sở hạ tầng, môi
trường và các hoạt động vui chơi giải trí được lựa chọn trên cơ sở kế thừa
thành quả nghiên cứu của mô hình giải thích sự hài lòng và ý định quay lại của
du khách - Hồ Huy Tựu, Trần Thị Ái Cẩm (8-2012)
Trang 30- Biến giá cả và an toàn được chọn lựa dựa trên kết quả của đề tài “Phân tích
các yếu tố của điểm đến du lịch tác động đến ý định quay trở lại của du khách –trường hợp du khách đến thành phố Cần Thơ ” của Huỳnh Nhựt Phương và Nguyễn Thúy An (7 – 2017)
- Biến hình ảnh điểm đến được lấy từ mô hình nghiên cứu ý định quay trở lại
du lịch Thái lan của du khách Trung Quốc (Xiaoli Zhang, 2012)
- Biến khoảng cách địa lý được đúc kết từ công trình nghiên cứu “Factors
Influencing Tourists’ Revisit Behavioral Intentions and Loyalty – Những yếu
tố ảnh hưởng đến ý định hành vi quay trở lại và lòng trung thành của khách du lịch” của Mohammad Bader Badarneh and Ahmad Puad Mat Som (2007)
- Biến các yếu tố rào cản được đề xuất như là một nhân tố ảnh hưởng tiêu cực
đến quyết định quay trở lại của du khách quốc tế đến tp Hồ Chí Minh
8.4.3 Định nghĩa các nhân tố tác động đến ý định quay trở lại của du khách được sử dụng trong bài
8.4.3.1 Văn hóa- xã hội
Theo Beerli và Martin (2004) trong lĩnh vực du lịch, môi trường văn hóa là một
sự kết hợp của chất lượng cuộc sống; rào cản ngôn ngữ; hiếu khách và thânthiện của người dân địa phương; lễ hội hay buổi biểu diễn; tôn giáo; di tíchlịch sử; phong tục và lối sống Là một trong những yếu tố rõ ràng nhất, các
sự kiện đặc biệt mà tạo ra động lực của du khách giúp thúc đẩy sự quan tâm
du lịch (Uysal et al (1991); Uysal, Gahan & Martin (1993); Mohr et al(1993); Formica & Uysal, 1996; Crompton & McKay, 1997; Formica &Murrmann, 1998)
Trong nghiên cứu của Light (1996), nghiên cứu về lịch sử và di tích lịch sử ởmiền nam sứ Wales, đã chỉ ra các đặc điểm của du khách khi đến một sựkiện đặc biệt, hầu hết du khách đều hài lòng với các điểm đến văn hóa/disản và kết quả là khách du lịch có thời gian ở lại nhiều hơn và ý định trở lạiđiểm đến Trong nghiên cứu Khuong và Trinh đã tìm ra yếu tố văn hóa- lịchsử- nghệ thuật có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách tới đểm