1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình quản lý công mới vào cải cách hành chính ở việt nam

14 440 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 81,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Khoa học hành chính công ra đời tương đối muộn so với các ngành khoa học xã hội khác. Trong cuốn sách “Nghiên cứu về Hành chính công”, do Woodrow Wilon viết vào năm 1887 khẳng định: “Thực hiện Hiến pháp khó hơn là xây dựng nên nó”. Woodrow Wilon là người đầu tiên đề cập đến việc phát triển một lĩnh vực khoa học liên quan đến sự quản lý của Chính phủ và vận dụng nguồn lực tri thức để thực hiện có hiệu quả công việc quản lý của một quốc gia. Từ lúc khoa học Hành chính công ra đời cho đến nay đã có nhiều mô hình lý thuyết khác nhau với các bước phát triển thăng trầm khác nhau. Vào thập kỷ 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều quốc gia đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điều hành sự phát triển của đất nước, nhất là một số nước phát triển. Các nước này đã đưa ra mô hình “Quản lý công mới” (New Public Management NPM) thay thế cho mô hình “Hành chính công truyền thống” và hiện nay đang được áp dụng tương đối rộng rãi ở các nước phát triển. Những người đưa ra ý tưởng này và áp dụng vào thực tiễn hành chính đó là Magerete Thatcher – Thủ tướng Anh và Ronald Reagan – Tổng thống Mỹ. Mục tiêu chính của NPM là nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động quản lí nhà nước, hướng tới xây dựng một nền hành chính năng động, linh hoạt trong điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các quyền và lợi ích của khu vực công cộng. Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,...đã có rất nhiều sự thay đổi, từ nội dung, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, cho đến yêu cầu về phẩm chất, năng lực của con người vận hành trong bộ máy hành chính nhà nước. Để cải cách hành chính và hội nhập thành công, ngoài sự quyết tâm về mặt chính trị, chúng ta cần phải xây dựng mô hình quản lý có hiệu lực và hiệu quả. Chính vì vậy, việc tìm hiểu và “Phân tích khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình Quản lý công mới vào cải cách hành chính ở Việt Nam” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình cải cách hành chính và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Khoa học hành chính công ra đời tương đối muộn so với các ngành khoa học xã hội khác Trong cuốn sách “Nghiên cứu về Hành chính công”,

do Woodrow Wilon viết vào năm 1887 khẳng định: “Thực hiện Hiến pháp khó hơn là xây dựng nên nó” Woodrow Wilon là người đầu tiên đề cập đến việc phát triển một lĩnh vực khoa học liên quan đến sự quản lý của Chính phủ và vận dụng nguồn lực tri thức để thực hiện có hiệu quả công việc quản

lý của một quốc gia Từ lúc khoa học Hành chính công ra đời cho đến nay đã

có nhiều mô hình lý thuyết khác nhau với các bước phát triển thăng trầm khác nhau Vào thập kỷ 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều quốc gia đặt vấn đề xem xét lại khu vực công về quy mô và khả năng điều hành

sự phát triển của đất nước, nhất là một số nước phát triển Các nước này đã

đưa ra mô hình “Quản lý công mới” (New Public Management - NPM) thay thế cho mô hình “Hành chính công truyền thống” và hiện nay đang

được áp dụng tương đối rộng rãi ở các nước phát triển Những người đưa ra

ý tưởng này và áp dụng vào thực tiễn hành chính đó là Magerete Thatcher – Thủ tướng Anh và Ronald Reagan – Tổng thống Mỹ

Mục tiêu chính của NPM là nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động quản lí nhà nước, hướng tới xây dựng một nền hành chính năng động, linh hoạt trong điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các quyền và lợi ích của khu vực công cộng

Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh cải cách hành chính, trong điều kiện mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, đã có rất nhiều sự thay đổi, từ nội dung, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, cho đến yêu cầu về phẩm chất, năng lực của con người vận hành trong bộ máy hành chính nhà nước Để cải cách hành chính và hội nhập thành công, ngoài sự

Trang 2

quyết tâm về mặt chính trị, chúng ta cần phải xây dựng mô hình quản lý có hiệu lực và hiệu quả

Chính vì vậy, việc tìm hiểu và “Phân tích khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình Quản lý công mới vào cải cách hành chính ở Việt Nam” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình cải cách hành chính và

hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay

Trang 3

Chương 1 Khái quát về mô hình Quản lý công mới (NMP)

1.1 Quản lý công mới

“Quản lý công mới” là mô hình hành chính công theo các tiêu chí

hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau Trong khi đó, mô hình “Hành chính công truyền thống” là mô hình

hành chính công dựa trên cơ sở là những nguyên tắc, quy tắc nhất định với bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị” Phương thức hoạt động của mô hình này dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục

đó làm biện pháp tối ưu

1.2 Các yếu tố của mô hình NMP

Một là, đẩy mạnh phân quyền chính sách

Phân quyền được thể hiện dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau như trao quyền, uỷ quyền, tản quyền, phân công, phân cấp, phân nhiệm, Tuy nhiên, xu hướng chung của phân quyền là việc Chính phủ trung ương chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ nhiều hơn cho chính quyền địa phương hay các cơ quan chuyên môn cấp dưới trong việc chủ động quản lý

và sử dụng các nguồn lực được phân bổ Việc phân quyền giúp chính phủ tập trung vào vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô, thay vì ôm đồm cả những công việc sự vụ, các tác nghiệp vi mô như trước đây; đồng thời, đây cũng là

cơ sở để chính quyền địa phương chủ động, phát huy sáng tạo, đổi mới quản

Trang 4

lý, khai thác hết tiềm năng của cơ sở Phân quyền, ở một khía cạnh phát triển nữa, còn tạo điều kiện cho “khách hàng” của nhà nước tham gia vào các hoạt động quản lý công và đặc biệt là giám sát quá trình thực thi công vụ

Hai là, tư nhân hoá một số nhiệm vụ của nhà nước diễn ra mạnh mẽ

Tư nhân hoá chính là cách thức huy động mọi nguồn lực trong xã hội tham gia vào quản lý và phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội thông qua các hình thức đa dạng như đấu thầu, hợp đồng công vụ, hợp đồng lao động, cổ phần hoá, tập đoàn hoá Bản chất tối ưu của tư nhân hoá là nhằm nâng cao tính cạnh tranh trong thực thi công vụ, cung cấp dịch vụ công cho khu vực công cộng - yếu tố mà trước đây chưa từng được thừa nhận trong khu vực nhà nước Vấn đề cơ bản và cốt lõi của các nhà nước trong điều hành, quản lý là cần nghiên cứu để tìm được biện pháp tư nhân hoá tối ưu nhất, nhất là trong các dịch vụ công ít mang lại mục tiêu lợi nhuận; và bất kể khi nào, nhà nước cũng phải là người chịu trách nhiệm chính trong vấn đề bảo đảm chất lượng các dịch vụ được cung ứng

Ba là, tăng khả năng cạnh tranh

Việc đưa các yếu tố của thi trường như khuyến khích cạnh tranh vào hoạt động cung cấp dịch vụ của nhà nước khiến cho các hàng hóa và dịch vụ công được cung cấp tốt hơn, với giá rẻ hơn và đáp ứng yêu cầu xã hội Cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ công có thể diễn ra không chỉ giữa các tổ chức

tư nhân mà còn có thể được thực hiện giữa các cơ quan nhà nước và tư nhân hay giữa cơ quan nhà nước với nhau Bên cạnh đó, hoạt động cung cấp dịch

vụ theo hình thức hợp tác công – tư cũng được thực hiện

Trang 5

Thứ tư, xây dựng một hệ thống cơ chế quản lý mềm dẻo, linh hoạt, có khả năng thích nghi cao đối với những sự thay đổi

Một hệ thống các thể chế, quy định nghiêm ngặt, cứng nhắc, máy móc trong điều hành, quản lý của nền hành chính công truyền thống được xây dựng và phát triển Tính cứng nhắc, máy móc trong cơ chế quản lý một thời gian dài đã làm xuất hiện trong bộ máy hành chính nhà nước cơ chế “xin – cho” - một yếu tố cản trở sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và làm xấu đi mối quan hệ giữa nhà nước với công dân Sự thay đổi của NPM chính là ở chỗ, các nguyên tắc quản lý vẫn giữ được tính tôn nghiêm và uy quyền cần thiết, song cách thức để thực hiện các nguyên tắc đó lại linh hoạt, mềm dẻo

và thích nghi với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội mới, với những thay đổi trong tổ chức bộ máy nền hành chính Bản chất của vấn đề này là loại bỏ bớt các thể chế, các quy định, thủ tục của chính phủ để người dân dễ hiểu và thực hiện; cho phép các cơ quan hành chính nhà nước và công chức có nhiều quyền tự do hơn trong quá trình ra quyết định giải quyết các yêu cầu của công dân và xã hội

Thứ năm, vận dụng nhiều phương pháp quản lý của khu vực tư vào quản lý công

Trong một số lĩnh vực, phương pháp quản lý của tư nhân là một mẫu hình tốt cho nhà nước học tập, nhất là phương pháp quản lý doanh nghiệp Trong quản lý công mới, các co quan cung cấp dịch vụ của nhà nước áp dụng các phương pháp quản lý của doanh nghiệp để tăng hiệu quả, chất lượng và sự linh hoạt trong đáp ứng các dịch vụ cho yêu cầu ngày càng cao của xã hội Song, do quản lý nhà nước có những nét đặc thù riêng, khác với

Trang 6

quản lý của doanh nghiệp nên không phải bất cứ phương pháp nào có hiệu quả của khu vực tư cũng có thể áp dụng vào khu vực công được

Chương 2 Khả năng vận dụng các yếu tố của mô hình NMP vào cải cách hành chính ở Việt Nam

2.1 Cải cách hành chính ở Việt Nam

2.1.1 Cải cách hành chính

Cải cách hành chính là quá trình cải biến có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, cơ cấu tổ chức, chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức ) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại

Nói tóm lại, cải cách hành chính là sự thay đổi có kế hoạch nền hành chính nhà nước phù hợp với tình hình mới

2.1.2 Sự cần thiết phải cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam

Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,

mở cửa và hội nhập với khu vực và trên thế giới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (kinh tế thị trường định hướng XHCN) Đây là nhiệm vụ mới, khó khăn, phức tạp, nếu bản thân Nhà nước, nhất là bộ máy hành chính nhà nước không đổi mới tổ chức và hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý thì không thể hoàn thành nhiệm vụ trên Do đó, yêu cầu tất yếu phải đổi mới để phù hợp với đổi mới kinh tế

Thực tiễn tổ chức, hoạt động quản lý hành chính nhà nước, bên cạnh những thành tựu trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã

Trang 7

hội chủ nghĩa còn tồn tại những yếu kém, hạn chế như: bệnh quan liêu, xa dân, quản lý thiếu tập trung thống nhất, trật tự kỷ cương buông lỏng, bộ máy cồng kềnh, giảm sút hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước

Ví dụ: Trước tháng 11/1986 Trung ương có 76 bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ; đến trước 9/2002 Trung ương có 46 bộ ngành và cơ quan thuộc Chính phủ; đến nay giảm chỉ còn 22 Bộ và cơ quan ngang Bộ; hoặc

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gồm: Nông nghiệp, lương thực thực phẩm, lâm nghiệp, thuỷ lợi và tổng cục cao su Việt Nam Nhập Bộ điện than, cơ khí luyện kim, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và tổng cục hoá chất thành Bộ Công nghiệp, hiện nay các bộ này hoạt động bình thường,

có hiệu quả

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ trên thế giới hiện

nay phát triển rất nhanh chóng, to lớn đòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện tổ chức và hoạt động của nhà nước dẫn đến thích ứng kịp thời với diễn biến tình hình và nhịp điệu phát triển của thời đại

Do đó, cải cách hành chính là một đòi hỏi tất yếu mang tính khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính trong giai đoạn mới

2.3 Khả năng vận dung các yếu tố của mô hình NMP vào cải cách hành chính ở Việt Nam

Mô hình NMP đã được triển khai và ứng dụng ở hầu hết các nước phát triển và mang lại những kết quả tương đối khả quan Đối với các nước đang phát triển hoặc các nước chuyển đổi như Việt Nam, do sự khác biệt về đặc điểm phát triển của nền hành chính, về chính trị - xã hội, về văn hóa và truyền thống hành chính, thực trạng của hệ thống pháp luật, nên việc vận dụng mô hình NMP gặp một số khó khăn, thách thức nhất định Tuy nhiên,

để phát huy tốt ưu điểm của nó, chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng các yếu

Trang 8

tố nhất định của mô hình NMP vào thực tiễn cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2.3.1 Về đẩy mạnh phân quyền chính sách

Hiện nay, mặc dù bộ máy của Chính phủ nước ta đã được giảm quy

mô so với trước đây, tuy nhiên bộ máy của Chính phủ vẫn còn quá lớn, cồng kềnh, chi phí cho việc duy trì bộ máy đó ngày càng tăng, trong khi đó hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước Do đó, trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay cần phải xem xét lại quy mô và vai trò của Chính phủ Theo mô hình NMP, vai trò của Chính phủ chuyển từ “việc thực hiện” sang “việc chỉ đạo” Nhà nước nên phân quyền mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản

lý của mình, không nên ôm đồm làm hết mọi dịch vụ, công việc sự vụ, các tác nghiệp vi mô như trước đây; và đây cũng là cơ hội để các ngành, các cấp chủ động, phát huy sáng tạo, đổi mới quản lý, khai thác hết tiềm năng của mình

Thực hiện vấn đề phân quyền chính sách hiện nay, Chính phủ, ngành, địa phương đã, đang áp dụng và đạt được một số thành tựu bước đầu Một số

Bộ, ngành đã được tinh gọn, giảm bớt sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động của mình; các cấp, các ngành phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mình trong thực thi công vụ, làm cho hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động quản lý hành chính được nâng lên Trong thời gian tới, vấn đề này hoàn toàn có khả năng vận dụng vào việc cải cách hành chính ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn

2.3.2 Về tư nhân hoá một số nhiệm vụ của nhà nước

Tư nhân hoá chính là cách thức huy động mọi nguồn lực trong xã hội tham gia vào quản lý và phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội

Trang 9

trong khi nguồn lực của nhà nước còn khó khăn như hiện nay Thực chất của

tư nhân hoá là nhằm nâng cao tính cạnh tranh trong thực thi công vụ, cung cấp dịch vụ công cho khu vực công cộng có chất lượng hơn Đồng thời, với

sự tham gia của tư nhân vào hoạt động của nhà nước sẽ làm cho các quyết định và chính sách của nhà nước được ban hành sát với thực tế hơn nên hiệu quả và hiệu lực được cải thiện hơn, lòng tin của nhân dân đối với nhà nước được tăng lên Để làm được điều đó, nhà nước cần có những chính sách, biện pháp để thu hút tư nhân tham gia, như chính sách đất đai, giảm miễm thuế, cho vay lãi suất thấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính , nhất là trong các dịch vụ công ít mang lại mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, với đặc thù quản

lý nhà nước là không hướng tới tìm kiếm lợi nhuận nên tư nhân hóa chỉ là một trong các giải pháp mà không phải là giải pháp duy nhất để đảm bảo hoạt động của nhà nước có hiệu lực và hiệu quả

Do đó, trước mắt cần thu hút tư nhân hóa một số dịch vụ công nhằm chia sẽ những khó khăn về nguồn lực của nhà nước trong giai đoạn hiện nay, nhà nước tập trung vào những vấn đề mang tầm chiến lược để quản lý và điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả; về lâu dài, với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đáp ứng đầy

đủ các dịch vụ công để nhân dân hưởng thụ một cách tốt nhất, tránh tình trạng thương mại hóa các dịch vụ công làm mất đi hình ảnh, bản chất tốt đẹp của nhà nước ta đối với nhân dân

2.3.3 Về tăng khả năng cạnh tranh

Theo mô hình NMP, nhiều yếu tố của thị trường được áp dụng trong cung cấp dịch vụ công trong đó có yếu tố cạnh tranh, và do đó, công dân được đáp ứng một số dịch vụ công với chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, có nhiều lựa chọn hơn Đồng thời, trong nội bộ các cơ quan hành chính cũng phải nâng cao năng lực trong các dịch vụ công của mình để cạnh tranh với

Trang 10

nhau, không những cạnh tranh trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước mà còn cạnh tranh với tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công cho công dân Như vậy, để tạo lập năng lực và uy tín của mình đối với công dân trong việc cung cấp các dịch vụ công, đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước không ngừng hoàn thiện về tổ chức bộ máy, nhân sự và cơ sơ vật chất,

So với mô hình quản lý công truyền thống, xem vai trò của nhà nước

là “cai trị”, nền kinh tế thị trường đặt vấn đề tư duy lại vai trò của nhà nước với tư cách là người phục vụ Công dân không còn là người đi cầu xin nhà nước ban cho dịch vụ này nọ, mà họ là “khách hàng” của nhà nước, có quyền yêu cầu, đòi hỏi được phục vụ Trong bộ máy nhà nước, hệ thống hành chính nhà nước là bộ máy trực tiếp thực thi quyền hành pháp, là cầu nối giữa nhà nước với công dân, trực tiếp thực hiện chức năng quản lý việc công hàng ngày của nhà nước Cải cách hành chính cũng chính là cải cách phương thức phục vụ dân, nhằm tôn trọng và đề cao quyền công dân trong một xã hội dân chủ, chuyển nền hành chính từ cai trị sang phục vụ

Do đó, trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng yếu tố tăng khả năng cạnh tranh tranh theo mô hình NMP Nó tạo điều kiện để công dân được hưởng thụ một số dịch vụ công một cách tốt nhất, đồng thời cũng làm cho các cơ quan hành chính nhà nước linh động, sáng tạo, nâng cao năng lực phục vụ của mình; tạo cơ hội cho một

số cơ quan, cán bộ, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước phát huy hết tiềm năng của mình Tạo sự cạnh tranh trong đội ngũ công chức, trong nội bộ các tổ chức hành chính và ngoài xã hội là động lực thúc đẩy công chức hành chính nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước phải nỗ lực

tự hoàn thiện bản thân để có thể phục vụ xã hội tốt nhất

Ngày đăng: 04/07/2018, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w