1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đối với xã hội nước ta hiện nay

23 302 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 121 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, Pháp luật là vũ khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn minh, tốt đẹp hơn. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua, đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, nhất là vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số quan hệ xã hội quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, thiếu tính khả thi; văn bản quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành còn “nợ đọng”; Xuất phát từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Do vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật hành chính trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” với hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Song, trong phạm vi của một đề tài tiểu luận, em chỉ dừng lại xem xét, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước, từ đó đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện hoạt động này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộngđồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừamang tính chủ quan Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặcbiệt quan trọng Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, Pháp luật là vũkhí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thùđịch, giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp

lý để bộ máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ đểNhà nước quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; làphương tiện thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủnghĩa; là cơ sở bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạođiều kiện cho những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hộicông bằng, văn minh, tốt đẹp hơn

Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng phápluật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu Những năm qua, đặcbiệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt độngxây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước

đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ Góp phần to lớn vào sự thànhcông chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcủa các cơ quan Nhà nước ở trung ương Tuy nhiên, bên cạnh những thànhcông đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơquan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập, nhất làvào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Một số quan hệ xã hộiquan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn bản quy phạmpháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung nhiều văn bản quyphạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất, thiếu tính khảthi; văn bản quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành còn “nợ đọng”; Xuất phát

từ thực trạng đó, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động

Trang 2

xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ởtrung ương là điều hết sức quan trọng và cần thiết Do vậy, em đã mạnh dạn

chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật hành chính trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay” với

hy vọng sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng caohơn nữa hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm phápluật Song, trong phạm vi của một đề tài tiểu luận, em chỉ dừng lại xem xét,tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quyphạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước, từ đó đưa ra những giải pháp choviệc hoàn thiện hoạt động này

Trang 3

NỘI DUNG

I Tìm hiểu về văn bản quy phạm pháp luật

1 Văn bản quy phạm pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hànhhoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục đượcquy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc trong Luậtban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhândân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhànước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành khôngđúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật hoặc trong Luật ban hành văn bản quyphạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải làvăn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

1 Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội

2 Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

3 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

4 Nghị định của Chính phủ

5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

6 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông

tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao

7 Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

8 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

9 Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

10 Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữaChính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

11 Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

Trang 4

ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

12 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân (1)

2.2 Đặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính

Qua khái niệm trên cho thấy QPPL hành chính là một trong những dạngquy phạm pháp luật nên cũng có đầy đủ những đặc điểm chung của QPPLnhư: là quy tắc xử chung thể hiện ý chí Nhà nước được Nhà nước đảm bảothực hiện; là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của conngười về tính hợp pháp Bên cạnh đó, QPPL hành chính còn có những đặcđiểm sau:

a Các QPPL hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính Nhà nướcban hành Ở nhà nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành thì các cơquan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hànhchính có thể là chủ thể lập pháp hoặc chủ thể quản lí hành chính nhà nước vìnhững lí do sau đây:

Trang 5

- Hoạt động lập pháp của Quốc Hội, UBTVQH theo cơ chế thảo luận tậpthể, quyết định theo đa số không đủ đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệcác quản lí hành chính nhà nước một cách năng động, kịp thời

- Quốc Hội, UBTVQH không có chức năng quản lí hành chính nhà nước

do đó khó có thể ban hành các quy phạm pháp luật hành chính một cách cụthể và phù hợp với thực tiễn quản lí từng nghành, lĩnh vực và địa phận

- Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật cho một sốchủ thể quản lí hành chính nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quanhành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhànước còn phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản líhành chính nhà nước

b Các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lựcpháp lí khác nhau Do phạm vi điều chỉnh các quy phạm pháp luật hànhchính rất rộng và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạmpháp luật hành chính có số lượng lớn Trong đó có những quy phạm có hiệulực pháp lí trên phạm vi cả nước và chung cho các nghành, lĩnh vực quản línhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một nghành,một lĩnh vực quản lí hay trong một địa phương nhất định Theo thống kê từ cơ

sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, năm 2009 chỉ riêng chính phủ đã banhành đến 3740 văn bản quy phạm pháp luật Chưa kể đến các bộ, các cơ quanngang bộ rồi đến Hội đồng nhân dân, UBND các cấp trên toàn quốc ban hành

c Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ

sở các nguyên tắc pháp lí nhất định Do yêu cầu điều chỉnh thống nhất phápluật trong quản lí hành chính nhà nước, các quy phạm phạm pháp luật tuy

có số lượng lớn và hiệu lực pháp lí khác nhau khác nhau song cần hợpthành một hệ thống

- Các phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới banhành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơquan nhà nước cấp trên ban hành Ví dụ (VD): UBNH thành phố Hà Nội ban

Trang 6

hành quyết định số 23/QĐ-UB về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtphải căn cứ vào luật đất đai năm 2003, nghị định số 88/2009/NĐ-CP củachính phủ Nếu không có sự phù hợp sẽ dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo tronggiải quyết vụ việc

- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước,Chủ Tịch Nước, Tòa Án nhân dân, viện Kiểm Sát nhân dân ban hành phải phùhợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lựcnhà nước cùng cấp ban hành VD: chính phủ ban hành nghị định số 34/2010/NĐ-CP về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ phảicăn cứ vào pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính của UBTVQH và luật giaothông đường bộ của Quốc Hội

- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước

có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đíchcủa quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩmquyền chung cùng cấp ban hành VD: Thông tư số 12/2011/TT-BTP của Bộ

Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểumẫu nuôi con nuôi phải căn cứ vào Căn cứ nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày

21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Nuôi con nuôi và nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm

2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ Tư pháp

- Các quy phạm pháp luật hành chính do người có thẩm quyền trong các

cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quyphạm pháp luật do tập thể cơ quan đó ban hành VD: Thủ Tướng chính phủkhi ban hành quyết định số 181/2003/QĐ-TTG về ban hành quy chế thực hiện

cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương phải Căn cứvào Nghị quyết số 38/CP ngày 04 tháng 5 năm 1994 của Chính phủ về cảicách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của côngdân và tổ chức

Trang 7

- Bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hànhchính do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị ban hành VD: Bộtrưởng kinh tế đối ngoại không được ban hành những văn bản trái với các quyđịnh của Bộ Tài chính

- Các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo đúngtrình tự, thủ tục và dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định

II Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật hành chính

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sự tác động củavăn bản quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mụctiêu khi ban hành văn bản đó Nếu như hiệu lực của văn bản quy phạm phápluật thể hiện thuộc tính của các quy phạm pháp luật, thì hiệu quả của một vănbản quy phạm pháp luật lại là những gì mà văn bản đó có thể đem lại trongcuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xã hội, bởi chức năngchính của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật hướng cho cácchủ thể sống và làm việc một cách hợp tác với nhau, để cùng nhau đạt đượcnhững gì họ muốn, vì lợi ích của tất cả thành viên trong xã hội

1 Tính thực tiễn

Việc xem xét, đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật không còn dừnglại ở việc đánh giá nó theo các tiêu chí nội tại Ý nghĩa của sự tồn tại một vănbản quy phạm pháp luật còn được xem xét ở một góc độ khác, đó là tính thựctiễn và hiệu quả của nó, đó là kết quả của sự tác động của các quy phạm phápluật đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng được áp dụng

Ở trên thế giới, hiệu quả của một luật được đánh giá căn cứ vào mục tiêu màcác nhà làm luật đặt ra Cụ thể là: một luật có hiệu quả khi luật đó đạt đượccác mục tiêu đặt ra Ở Việt Nam, một khái niệm tương đồng có thể được tìmthấy trong Từ điển Luật học, đó là “hiệu quả của pháp luật” Theo Từ điểnLuật học, hiệu quả của pháp luật được hiểu là kết quả cụ thể của sự tác độngpháp luật đến các quan hệ xã hội so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra khi ban hànhpháp luật Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theo từng cấp độ khác

Trang 8

nhau: hiệu quả của quy phạm pháp luật, của chế định pháp luật, của ngànhluật, của toàn bộ hệ thống pháp luật hoặc nếu phân chia theo hình thức, chúng

ta xét đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật

Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến mối quan hệ giữapháp luật và xã hội Đây không đơn thuần là vấn đề pháp lý, mà bao trùm cảvấn đề xã hội có liên quan Pháp luật thuộc phạm trù lý thuyết và xã hội thuộcphạm trù thực tiễn Pháp luật được hình thành từ nhu cầu thực tiễn, nhưngkhông phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tiễn Giữa lý thuyết và thực tiễnluôn tồn tại khoảng cách Khoảng cách này sẽ ngày càng rộng nếu pháp luậtkhông xuất phát từ nhu cầu của xã hội, không phản ánh đúng các giá trị củacuộc sống Pháp luật cần phải được đánh giá trong mối quan hệ với hành vi,

xử sự của các chủ thể, cũng như trong sự chuyển động và phát triển của xãhội Sự hình thành, phát triển của pháp luật phải được đánh giá trong một xãhội nhất định, xã hội này quyết định sự tồn tại trong không gian cũng như vềthời gian của pháp luật Chính vì vậy, hiện nay ở các nước có các môn xã hộihọc pháp luật, kinh tế học pháp luật Những môn này có mục đích là đề caocác yếu tố kinh tế, xã hội trong việc thực hiện pháp luật, đánh giá sự hìnhthành và phát triển của pháp luật trong sự phát triển của các hiện tượng xãhội, đặc biệt là của các quan hệ kinh tế, dân sự, chính trị Do vậy, có thể nói,thực tế chính là thước đo kiểm nghiệm hiệu quả của pháp luật

Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự phản ánh của

dư luận xã hội về văn bản đó Thực tế, tác động của dư luận xã hội có ảnhhưởng rất lớn đến ý thức pháp luật, đến tâm lý pháp luật của người dân, từ đótác động đến hiệu quả của quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luậtkhông hiệu quả sẽ tạo ra khoảng cách giữa pháp luật và người dân Nếukhoảng cách này càng lớn, thì nguy cơ không tôn trọng pháp luật càng cao,bởi vì một phần họ mất lòng tin vào pháp luật, một phần khác là vì pháp luậtkhông phù hợp với tâm lý pháp lý trực cảm của đa phần dân chúng

Trang 9

2 Tính khả thi

Một văn bản quy phạm pháp luật không hiệu quả có thể biểu hiện ởnhững khía cạnh sau:

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật không thực hiện được mục tiêu

mà các nhà làm luật đặt ra khi soạn thảo và ban hành Ví dụ như mục tiêu củaLuật Bảo vệ môi trường là nhằm giảm bớt ô nhiễm môi trường, khắc phục ônhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường Tuy nhiên, Luật này cóthể được xem là chưa hiệu quả khi hiện nay ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễmmôi trường diễn ra ngày càng nhiều, với mức độ ngày càng nghiêm trọng Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật tạo ra những tác động không mongmuốn đối với xã hội Thực tế cho thấy, có những văn bản quy phạm pháp luậtđược ban hành không đạt được mục tiêu được các nhà làm luật đề ra, mà lạidẫn đến một kết quả không mong đợi khác Ví dụ về quy định cấm họp chợ

ở vỉa hè, lòng đường, cấm họp chợ cóc (Nghị định 34/NĐ-CP ngày2/4/2010 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực giao thông đường bộ) Quy định này có thể được coi là không hiệu quảkhi vẫn xuất hiện tình trạng bán hàng rong Đấy là những kết quả khôngmong muốn Hay trong thời gian gần đây, hiệu quả của pháp luật đượcquan tâm hơn lúc nào hết qua vụ việc một lái xe tải cố ý cán chết người Sựviệc xảy ra khi lái xe đâm bị thương một cô gái Sau đó, lái xe đó đã quyếtđịnh cán chết cô gái đó Bởi căn cứ vào quy định của pháp luật, cụ thể làcủa Bộ luật Dân sự, lái xe gây tai nạn sẽ phải chịu các chi phí bồi thườngrất lớn cho nạn nhận bị thương Do vậy, người lái xe đã cán chết người bịthương để có thể giảm thiểu chi phí đền bù cho gia đình nạn nhân (xemĐiều 609, 610 Bộ luật Dân sự)

Từ dẫn chứng trên, có thể thấy rằng, chính các quy định của pháp luật đãkhiến cho người lái xe thay đổi cách xử sự, từ một vụ vô ý gây thương tíchdẫn đến cố ý giết người, bởi trách nhiệm dân sự do gây tai nạn chết người lại

Trang 10

nhỏ hơn nhiều so với trách nhiệm dân sự do gây thương tích Trong trườnghợp này, hiệu quả của pháp luật dường như đã không được bảo đảm

Như vậy, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, hay tính khả thichính là tiêu chí cần thiết để đánh giá ý nghĩa của sự tồn tại hay giá trị củavăn bản đó Giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá quanhững tác động cụ thể của nó vào thực tiễn các quan hệ xã hội mà nó điềuchỉnh và những tác động này được xem xét trong mối tương quan với các mụctiêu đặt ra cho văn bản Đây là một xu hướng mới trong việc đánh giá và cảicách hệ thống pháp luật

3 Các yếu tố tạo nên hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật hành chính

Để có thể đánh giá được hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, trướctiên chúng ta cần phải xác định rõ các căn cứ để đánh giá

Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả khi đạt được những mụctiêu mà các nhà làm luật mong đợi, yêu cầu Nhưng để có thể đạt được nhữngmục tiêu này, văn bản quy phạm pháp luật đó phải có hiệu lực, có giá trị bắtbuộc đối với các chủ thể thuộc đối tượng áp dụng của nó

3.1 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Để một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, trước hết nó phải cóhiệu lực Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở nền tảng tạo nênhiệu quả của văn bản Ngược lại, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luậtphản ánh hiệu lực của văn bản đó Một văn bản quy phạm pháp luật chỉ cóhiệu quả khi nó được tuân thủ nghiêm túc

Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là tính bắt buộc thihành của văn bản quy phạm pháp luật ở một giai đoạn nhất định, trong mộtkhông gian nhất định và đối với những chủ thể pháp luật nhất định (cá nhân,

cơ quan, tổ chức) Như vậy, hiệu lực là thuộc tính của văn bản quy phạm phápluật Đã là văn bản quy phạm pháp luật thì phải có tính bắt buộc thi hành Nếukhông, văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ không còn giá trị tồn tại Tuy nhiên,

Trang 11

trên thực tế, xảy ra tình trạng có những văn bản quy phạm pháp luật, nhưnglại không được các chủ thể tuân thủ Tình trạng trên xảy ra do nhiều nguyênnhân, các nguyên nhân này có thể được chia thành hai nhóm sau:

- Nhóm thứ nhất xuất phát từ chính các yếu tố nội tại của văn bản quyphạm pháp luật Đó là các yếu tố liên quan đến chất lượng của các quy phạmpháp luật Để văn bản quy phạm pháp luật phát huy được hiệu lực, các quyphạm pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức cũng như nộidung Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng việc phân biệt giữa mặt nộidung và mặt hình thức chỉ là tương đối, mang giá trị học thuật Về mặt hìnhthức, một quy phạm pháp luật dù được soạn thảo đúng quy trình, thủ tục,nhưng không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, (ví dụ: không đảm bảo đúng cấutrúc của quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa), sẽ khó

có thể đem lại hiệu lực mong muốn Ngược lại, những quy phạm được soạnthảo tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền ban hànhthì cũng sẽ không có hiệu lực Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải đápứng được tính hợp pháp

Những yêu cầu về mặt nội dung cần phải được hiểu theo nghĩa rộng,không chỉ là những yêu cầu thuần túy về mặt câu từ, ngữ nghĩa, mà cần phảihiểu ở việc tiếp nhận văn bản này từ đối tượng mà nó hướng tới, cũng như tácđộng của nó đến xã hội Văn bản quy phạm pháp luật đó cần phải đáp ứng yêucầu quản lý nhà nước; phải hợp lòng dân, thể hiện ý chí, lợi ích chung củangười dân Đó là tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật (2) Tính hợp lýcủa một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở mức độ phù hợp với thực tiễnhoặc ở mức độ phát sinh các chi phí bất hợp lý cho các đối tượng áp dụng củavăn bản đó Nếu như tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật là điềukiện quyết định sự tồn tại của văn bản quy phạm pháp luật, thì tính hợp lýmang lại cho văn bản khả năng thực thi cao Một văn bản quy phạm pháp luật

có tính hợp lý sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ một cách nghiêm túc và tựnguyện, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể mà còn mang lại lợi ích

Ngày đăng: 04/07/2018, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w