Luận văn tốt nghiệp Khoa luật kinh tế - Pháp luật về hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Lạc Thủy Ngày nay, Ngân hàng thương mại đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 3
1 Khái niệm, vai trò của huy động vốn, các Tổ chức tín dụng 3
1.1 Tổ chức tín dụng và vai trò của các Tổ chức tín dụng 3
1.2 Huy động vốn và vai trò của huy động vốn đối 4
Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của các Tổ chức tín dụng 5
1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam 9
2 Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng 10
3 Kết cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng 16
3.1 Huy động vốn bằng nhận tiền gửi 16
3.2 Huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá 22
3.3 Huy động vốn bằng việc vay vốn giữa các Tổ chức tín dụng 24
3.4 Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nước 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH HUYỆN LẠC THỦY 26
2.1 Tổng quan chung về Agribank chi nhánh Lạc Thủy 26
2.2 Đặc điểm và các nguyên tắc cho vay của hợp đồng tín dụng 30
2.3 Các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam 32
2.4 Thực tiễn pháp luật huy động vốn tại Gribank chi nhánh huyện lạc Thủy 33
2.4.1.Các quy định pháp luật về huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng của Gribank huyện lạc Thủy 33
2.4.2 Các quy định của pháp luật về huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá của Agribank chi nhánh huyện Lạc Thủy 34
2.4.3 Các quy định của pháp luật về huy động vốn bằng việc vay vốn của các Tổ chức tín dụng khác của Agribank chi nhánh huyện Lạc Thủy 36
2.4.4 Các quy định của pháp luật về huy động vốn thông qua việc vay vốn của Ngân hàng Nhà nước 37
2.5 Đánh giá chung 38
Trang 22.5.1 Những thành tựu đạt được 38
2.5.2 Một số tồn tại, hạn chế 39
2.5.3 Nguyên nhân 40
CHƯƠNG 3 SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG 42
3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về huy động vốn của ngân hàng 42
3.2 Một số giải pháp nâng cao hoạt dộng huy động vốn của ngân hàng 44
3.2.1 Đối với hoạt động huy động vốn: 44
3.2.2 Đối với hoạt động tín dụng: 46
3.3 Kiến nghị 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, Ngân hàng thương mại đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vựckinh tế - xã hội như là người mở đường, người tham gia, người quyết địnhđối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh Ngân hàng thương ngày càngđóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành phầnkinh tế, là định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế
Với tư cách là các “trung gian tài chính”, các Tổ chức tín dụng(TCTD) Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng đối với việc huy động mọinguồn vốn trong dân cư để cung ứng cho nền kinh tế với nhứng điều kiệnnhất định Vốn để các TCTD tiến hành và phát triển các hoạt động kinhdoanh của mình không chỉ riêng nguồn vốn tự có mà chủ yếu là nguồn vốnhuy động được Do đó có thể nói hoạt động huy động vốn có tác động rấtlớn đến các tổ chức tín dụng cũng như toàn bộ nền kinh tế Với tầm quantrọng đó của hoạt động huy động vốn, Nhà nước cần phải xây dựng mộthành lang pháp lý an toàn và thông thoáng, tạo điều kiện cho các TCTD thựchiện hoạt động này một cách dễ dàng và hiệu quả Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Lạc Thủy với vai trò làngân hàng thương mại đã và đang từng bước mở rộng quy mô hoạt động,khẳng định vị thế của mình đối với kinh tế địa phương Làm thế nào để bổsung được vốn cho nền kinh tế, sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động làđiều mà các ngân hàng quan tâm, Agribank chi nhánh huyện LạcThủy, tỉnhHòa Bình cũng không ngoại lệ Ngày từng bước khẳng định là cầu nối giữanơi cần vốn và nơi thiếu vốn, đáp ưng kịp thời nhu cầu vốn cho các thànhphần kinh tế, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
Nhận thấy được tầm quan trọng của hoạt động tài chính đối với ngân
hàng, cho nên em quyết định chọn đề tài là “Pháp luật về hoạt động huy
động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình ”.
Trang 4CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Khái niệm, vai trò của huy động vốn, các Tổ chức tín dụng
1.1 Tổ chức tín dụng và vai trò của các Tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các
hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức Tíndụng phi ngân hàng, tổ chức Tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.Căn cứ pháp lý: Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010
Tổ chức tín dụng là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàngvới nội dung nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
Căn cứ vào phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tín dụng đượcphân chia làm hai loại: tổ chức Tín dụng là ngân hàng và tổ chức Tíndụng phi ngân hàng
Căn cứ vào hình thức sở hữu, tổ chức Tín dụng được chia thành các loại sau:
tổ chức Tín dụng Nhà nước, tổ chức Tín dụng cổ phần, tổ chức Tín dụng cổphần, tổ chức Tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài
Đặc điểm:
– Đối tượng kinh doanh: tiền tề
– Hoạt động kinh doanh đặc thù
+ Huy động vốn: nhận tiền gửi vay vốn ngân hàng Nhà nước
+ Sử dụng vốn: cấp tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán
– Tính rủi ro: nguy cơ mất vốn hoặc có thể gây ra rủi ro cho toàn hệ thốngtín dụng
– Quản lý tổ chức tín dụng: chủ thể quản lý là ngân hàng nhà nước ViệtNam
– Điều kiện thành lập và hoạt động vô cùng chặt chẽ yêu cầu vốn theo quyđịnh và nguồn nhân lực và chuyên môn nghiệp vụ
Trang 5– Tổ chức Tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức Tín dụng được thựchiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định, trừ các hoạt độngnhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoảncủa khách hàng Tổ chức Tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty Tàichính, công ty cho thuê Tài chính và các tổ chức Tín dụng phi ngân hàngkhác.
– Tổ chức Tài chính vi mô là loại hình tổ chức Tín dụng chủ yếu thực hiệnmột số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ giađình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ
– Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức Tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và
hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một
số hoạt động ngân hàng theo quy định nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợnhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống
Các hoạt động chủ yếu của một tổ chức tín dụng
Huy động vốn: gồm Nhận tiền gửi, Phát hành giấy tờ có giá, Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính
Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Mở tài khoản, Dịch vụ thanh toán, Dịch vụ ngân quỹ, tham gia các hệ thống thanh toán
Các hoạt động khác: Góp vốn, mua cổ phần, Tham gia thị trường tiền tệ, Kinh doanh ngoại hối và vàng, Nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, Kinh doanh bất động sản, Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, Dịch vụ tư vấn
1.2 Huy động vốn và vai trò của huy động vốn đối với các Tổ chức Tín dụng
Theo nghĩa chung nhất huy động vốn là việc các TCTD tập trungnhững giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thôngqua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụkinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh
Huy động vốn là hoạt động thường xuyên và luôn gắn liền với kếhoạch kinh doanh của TCTD, bởi lẽ vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu đểcác TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình Chính vì vậy, khitiến hành các hoạt động huy động vốn, TCTD phải tính toán sao cho việc sửdụng đồng vốn huy động được hiệu quả nhất Mặt khác, huy động vốn xét vềbản chất chính là việc TCTD đi vay tiền từ các chủ sở hữu số tiền đó và có
Trang 6trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi kháchhàng có nhu cầu rút vốn.
Theo quy định của pháp luật hiện nay, các TCTD được huy động vốnthông qua bốn hình thức:
- Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
- Huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá
- Huy động vốn bằng việc vay vốn của các TCTD khác
- Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
* Vai trò của hoạt động huy động vốn
- Đối với các TCTD:
Huy động vốn đem lại nguồn vốn lớn, chủ yếu cho các TCTD tiếnhành các hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này là cơ sở để các TCTD tổchức mọi hoạt động kinh doanh; quyết định quy mô hoạt động tín dụng vàcác hoạt động khác của TCTD; quyết định năng lực thanh toán và bảo đảm
uy tín của TCTD trên thương trường; quyết định năng lực cạnh tranh củaTCTD Không những thế, huy động vốn còn tạo tiền đề để TCTD tiến hànhcác hoạt động kinh doanh khác như: làm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ gópphần làm tăng thêm lợi nhuận cho các TCTD
- Đối với nền kinh tế:
Thông qua hoạt động huy động vốn của các TCTD, nền kinh tế cóthêm một kênh thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau trong dân cư nhằmđáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở
hạ tầng, sự cung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặpnhau được dễ dàng hơn Cũng thông qua hoạt động này, Nhà nước có thểkiểm soát, điều chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩyphát triển kinh tế Hơn nữa, với chính sách lãi suất huy động vốn hợp lý,hoạt động huy động vốn của các TCTD sẽ tăng khả năng kích thích tiết kiệmtrong nhân dân Thông qua hoạt động này chúng ta có thể đánh giá đượctrình độ phát huy nội lực của quốc gia, khai thác tiềm năng của mọi nguồnvốn đang còn tiềm ẩn, thu gom được một lượng tiền tương đối lớn trong nềnkinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu thông Từ đó, các TCTD có thểtập trung được các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp phần nângcao đời sống nhân dân
Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của các Tổ chức Tín dụng
Trang 7Hoạt động huy động vốn của các TCTD có diễn ra thuận lợi haykhông còn tuỳ thuộc vào sự tác động của nhiều nhân tố Song tựu chung lại,những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này được xem xét qua hai nhóm đólà: nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
Nhân tố khách quan
- Hành lang pháp lý
Hành lang pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn củaTCTD Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động này như: Luật cácTCTD, Luật Ngân hàng Nhà nước Những luật này quy định tỷ lệ huy độngvốn của TCTD so với vốn tự có, quy định các hình thức huy động vốn Bêncạnh những bộ luật này, chính sách tiền tệ của quốc gia cũng ảnh hưởng rấtlớn đến huy động vốn của các TCTD Điều đó được thể hiện ở một số khíacạnh:
+ Mục tiêu của chính sách tiền tệ: Mục tiêu của chính sách tiền tệ baogồm: kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền,tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm Tuỳ thuộc vào việc thực hiện mụctiêu của chính sách tiền tệ mà sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động huy độngvốn là khác nhau Chẳng hạn, khi lạm phát tăng, Nhà nước có chính sáchthắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hộithì các TCTD huy động vốn dễ dàng hơn Hoặc khi Nhà nước có chính sáchkhuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất thì TCTD khó huy động vốn hơn vìngười có tiền nhàn rỗi sẽ bỏ tiền vào sản xuất vì làm như vậy có lợi hơn gửingân hàng
+ Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ: Trong quá trình vậnhành các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước,mỗi một công cụ đều tác động đến hoạt động huy động vốn của các TCTD
Cụ thể là:
Lãi suất chiết khấu: Ngân hàng nhà nước thực hiện tái cấp vốn đểcung ứng tiền ra lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu Nếu chính sáchtiền tệ nhằm chống lạm phát thì lúc đó Ngân hàng Nhà nước cung ứng tiền
ra lưu thông với lãi suất tái chiết khấu cao Và như vậy sẽ hạn chế việc cácTCTD vay Ngân hàng Nhà nước
Dự trữ bắt buộc: Khi tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tức làNgân hàng Nhà nước cho hoặc không cho các TCTD sử dụng khối lượng
Trang 8tiền Trung ương bị coi là thiếu hay dư thừa, tức là thắt chặt hay nới lỏng khảnăng tạo tiền của TCTD.
- Chính sách đầu tư của Nhà nước
Chính sách đầu tư của Nhà nước có hợp lý hay không đều ảnh hưởngtrực tiếp đến môi trường kinh doanh không chỉ của khách hàng mà ngay cảđối với các TCTD Bởi vì, khi chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo điều kiện chosản xuất phát triển dẫn đến các TCTD có môi trường đầu tư thuận lợi và đòihỏi các TCTD phải tìm mọi cách để mở rộng hoạt động huy động vốn củamình
- Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước
Nền kinh tế ở vào thời kỳ tăng trưởng, sản xuất phát triển từ đó tạođiều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hútvốn của các TCTD Ngược lại, khi nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuấtkìm hãm, nền kinh tế bị suy thoái làm cho môi trường đầu tư của TCTD bịthu hẹp Bên cạnh đó, lạm phát làm cho đồng tiền bị mất giá, người dân sẽkhông gửi tiền vào ngân hàng mà dùng tiền để mua hàng cất trữ, vì vậy cũngảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của các TCTD
- Tâm lý thói quen tiêu dùng của người gửi tiền
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nghiệp vụ tạo vốn củaTCTD Nếu ở những vùng dân cư quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hìnhthức cất trữ là chính thì việc huy động vốn của TCTD gặp khó khăn hơn.Chẳng hạn, vào thời kỳ vàng có giá trị, người ta dùng tiền nhàn rỗi để muavàng cất trữ còn khi người gửi tiền có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tàisản thì họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và cơ hội huy động vốn của cácTCTD tăng lên Ngoài ra, mức thu nhập của người dân cũng là một yếu tốtrực tiếp quyết định trực tiếp đến lượng tiền gửi vào ngân hàng Nhìn chung,thu nhập càng cao, nhu cầu đầu tư và giao dịch của họ tăng lên tương đối sovới nhu cầu tiêu dùng và lúc này nhu cầu mở tài khoản cũng như tiền gửivào ngân hàng sẽ tăng lên
Trang 9Nếu như hình thức cho vay của TCTD được mở rộng chẳng hạn nhưkhông chỉ có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà còn mở rộng sang
cả các hình thức cho vay như cho vay hợp vốn, liên doanh, liên kết, mua báncác khoản nợ buộc các TCTD phải tìm kiếm nguồn vốn cho chính mình,huy động vốn thế nào cho phù hợp Ví dụ: nhu cầu sử dụng nguồn vốn dàihạn lớn thì phải tìm cách huy động vốn dài hạn chứ không được vốn ngắnhạn để cho vay trung, dài hạn
- Công nghệ thanh toán và tin học
Trước đây công nghệ thanh toán còn lạc hậu, khách hàng chủ yếuthanh toán bằng tiền mặt Nhưng ngày nay do công nghệ thanh toán hiện đại,thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng chiếm ưu thế, thay vì thanh toánbằng tiền mặt khách hàng chuyển sang thanh toán bằng séc, thẻ Để thựchiện thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại ngânhàng nên ngân hàng thực hiện được việc huy động vốn trên tài khoản củakhách hàng
- Năng lực và trình độ quản lý của cán bộ ngân hàng
Nếu quản lý tốt trong quá trình hoạt động, ngân hàng sẽ đảm bảo được
an toàn vốn, nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh từ đó thu hút được kháchhàng đến gửi tiền Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, côngtác huy động vốn được thực hiện càng nhanh chóng, chính xác và hiệu quả
- Mạng lưới phục vụ cho huy động vốn
Mạng lưới huy động vốn càng rộng rãi càng có thể khai thác tối đanguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư Do đó, không chỉ cần mở rộng mạng lưới
ở vùng đông dân cư mà còn cần được mở ra ở những nơi cách xa trung tâmthành phố như nông thôn, vùng xâu, vùng xa Ngược lại, mạng lưới hẹp sẽgây khó khăn cho khách hàng muốn gửi tiền do chi phí giao dịch lớn, mấtthời gian
- Lãi suất huy động
Đối với người gửi tiền là doanh nghiệp, gửi tiền vào các TCTD vớimục đích thanh toán thì lãi suất không phải là cái đích mà họ hướng tới.Điều họ quan tâm lớn nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ TCTD Tuy nhiênbên cạnh bộ phận gửi tiền với mục đích này thì vốn huy động của các TCTDcòn bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp và tiền gửi tiếtkiệm của dân cư với mục đích hưởng lãi là chính, vì vậy lãi suất là điều họrất quan tâm và bộ phận này rất nhạy cảm với lãi suất Mặt khác, khi huy
Trang 10động vốn dưới hình thức vay vốn từ các TCTD khác hoặc vay vốn của Ngânhàng Nhà nước để tạo được nhiều nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụngcủa mình, các TCTD cần phải có chính sách lãi suất hợp lý sao cho lãi suấthuy động vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền vừa phù hợp với lãi suấtcho vay, tránh tình trạng huy động vốn với giá cao mà đầu tư với giá thấp.
- Việc tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, rủi ro xảy ra là điềukhông thể tránh khỏi Vì vậy, sự an toàn của các TCTD không chỉ là mốiquan tâm của các cổ đông, các nhà điều hành mà còn là mối quan tâm đặcbiệt đối với khách hàng, vì phần lớn vốn kinh doanh của của TCTD là vốnhuy động từ bên ngoài Để lấy được niềm tin của người gửi tiền, đồng thờibảo vệ lợi ích của họ khi TCTD phá sản, các TCTD phải tham gia bảo hiểmtiền gửi và khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng
ra chi trả toàn bộ số tiền cho ngươì gửi tiền trong giới hạn được bảo hiểm
- Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khác như: uy tín; thái độ phụcvụ; cơ sở hạ tầng; các dịch vụ do TCTD cung ứng cũng có ảnh hưởng đếntâm lý của người gửi tiền và do đó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạtđộng huy động vốn
1.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huy động vốn của các Tổ chức Tín dụng ở Việt Nam
Điều chỉnh bằng pháp luật là việc Nhà nước sử dụng công cụ phápluật tác động lên các quan hệ xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh của Nhà nước Cũng như hàng loạt các quan hệ khác trong xã hội, quan
hệ huy động vốn của các TCTD cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật,bởi vì:
Thứ nhất, thông qua các quy định của pháp luật về hoạt động huy
động vốn của TCTD, Nhà nước có thể thực hiện chính sách tiền tệ quốc giacho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội Với việc đưa ranhững quy định về lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định về bảo hiểm tiềngửi, quy định điều kiện để được vay vốn Ngân hàng Nhà nước Nhà nước
sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của TCTD bằng cách tạo
ra các điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế việc huy động vốn của các TCTD
Thứ hai, hoạt động huy động vốn của các TCTD là hoạt động chứa
đựng nguy cơ rủi ro cao, sự tác dộng tích cực hoặc tiêu cực của nó thườngmang tính phản ứng “dây chuyền” do đó ảnh hưởng đến cả hệ thống TCTD
Trang 11và tác động đến toàn bộ nền kinh tế Chẳng hạn, hoạt động huy động vốnbằng nhận tiền gửi mà không được Nhà nước quản lý chặt chẽ thì có thể dẫnđến việc các TCTD lợi dụng đặc quyền được huy động vốn bằng nhận cácloại tiền gửi để lừa đảo dân chúng trên phạm vi rộng, với số lượng lớn Mặtkhác, các TCTD huy động vốn mà không sử dụng vốn đó một cách có hiệuquả, để thất thoát vốn sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng chi trả, thanh toáncho người gửi tiền, từ đó gây tâm lý hoang mang cho những người gửi tiềnkhác khiến họ đồng loạt tới các TCTD rút tiền, đẩy các TCTD khác vào tìnhtrạng thiếu khả năng chi trả Điều đó dẫn đến sự đổ vỡ toàn bộ hệ thốngTCTD, gây ra khủng hoảng về tài chính- tiền tệ, gây mất ổn định kinh tế.Dân chúng mất lòng tin vào các TCTD, nguồn vốn nhàn rỗi không được tậptrung cho đầu tư phát triển, nền kinh tế khó mà phát triển được Bởi vậy,hoạt động huy động vốn cần phải được Nhà nước quản lý chặt chẽ.
Thứ ba, để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể khác trong hoạt động huy
động vốn, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho các TCTDtrong quá trình huy động vốn cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật.Mặt khác, thông qua việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động huyđộng vốn của các TCTD, Nhà nước có thể kiểm soát được tình hình hoạtđộng kinh doanh của các TCTD, từ đó kịp thời có biện pháp xử lý, giúpTCTD thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính
2 Pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng
Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng
Về bản chất, hợp đồng ghi nhận thỏa thuận của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên Theo đó, hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa Tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay) Căn cứ vào hợp đồng, tổ chức tín dụng chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụngtrong một thời hạn nhất định, với điều kiện hoàn trả cả gốc và lãi
Hợp đồng tín dụng phải có nội dụng về điều kiện vay, mục đich sử dụng vốnvay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận
Hợp đồng tín dụng ngân hàng có đặc điểm sau:
– Hợp đồng tín dụng ngân hàng luôn luôn được lập thành văn bản Hợp đồngtín dụng ngân hàng đa phần là hợp đồng theo mẫu Tên gọi có thể là: Hợp
Trang 12đồng tín dụng; Hợp đồng vay; Khế ước vay vốn; hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể có thêm các cụm từ: “ngắn hạn”;
“trung hạn”; “dài hạn”; “đồng Việt Nam”; “ngoại tệ”; “tiêu dùng”; “đầu tư”…
-Hợp đồng tín dụng ngân hàng có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ
-Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng song vụ Hợp đồng tín dụng có thể được công chứng, chứng thực phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên
2 Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng:
Quan hệ pháp luật tín dụng ngân hàng là quan hệ tài sản – hàng hóa phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tạm thời giữa tổ chức tín dụng và các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc có
sự bảo đảm, được các qui phạm pháp luật điều chỉnh Tham gia quan hệ này
có it nhất gồm hai chủ thể: là bên cho vay và bên đi vay
–Bên cho vay:
•Luôn là tổ chức tín dụng Có thể là ngân hàng có thể là tổ chức Tín dụng phi ngân hàng
•Có thể là một hoặc nhiều tổ chức Tín dụng (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện:
+ Được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức Tín dụng và các pháp luật liên quan
+ Có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng
– Bên đi vay (Khách hàng) Bao gồm:
+Nhóm khách hàng thứ nhất: Các pháp nhân:
doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, (01 thành viên; từ 02-50 thành viên), công ty cổ phần, Công ty hợp danh, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác
+Nhóm khách hàng thứ hai: Cá nhân; Hộ gia đình; Tổ hợp tác; Doanh
nghiệp tư nhân;
+Nhóm khách hàng thứ ba: Các pháp nhân và cá nhân nước ngoài
Bên đi vay phải thỏa mãn các điều kiện liên quan đến năng lực chủ thể, mục đích sử dụng vốn vay, khả năng thanh toán khoản vay…
Điều kiện về năng lực chủ thể
a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
– Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;
Trang 13– Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và nănglực hành vi dân sự;
– Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vidân sự;
– Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dânsự;
– Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật vànăng lực hành vi dân sự;
b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài:
–Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định phápluật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân,nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy địnhhoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kếthoặc tham gia quy định
Điều kiện về mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
-Sử dụng vốn vay vào những lĩnh vực pháp luật không cấm
-Sử dụng vốn để kinh doanh, bên đi vay phải có đăng ký kinh doanh, sửdụng vốn kinh doanh đúng lĩnh vực, ngành nghề đăng ký
-Trong trường hợp sử dụng vốn đầu tư vào các họat động kinh doanh có điềukiện phải thỏa mãn các điều kiện luật định
Điều kiện về khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.-Cơ sở xác định khả năng tài chính: báo cáo tài chính có kiểm toán, vốn tựcó…
-Trách nhiệm cung cấp các thông tin về tình hình và năng lực tài chính.Các điều kiện khác:
-Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và cóhiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phùhợp với quy định của pháp luật
-Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ
và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Những trường hợp không được cho vay
– Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các trườnghợp sau đây:
Trang 14+Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),Phó Tổng giám đốc), (phó Giám đốc) của tổ chức Tín dụng;
+ Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩmđịnh, quyết định cho vay;
+ Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)
Tuy nhiên, các quy định trên không áp dụng đối với các tổ chức tín dụnghợp tác Điều này xuất phát từ bản chất của tổ chức tín dụng hợp tác
Những trường hợp hạn chế cho vay
Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với nhữngđiều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đôi tượng sauđây:
– Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chứctín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tíndụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;
-Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng;
– Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanhnghiệp đó
3 Thủ tục, trình tự ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng
* Hồ sơ vay vốn
– Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức Tín dụng giấy đềnghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn.-Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợppháp của các tài liệu gửi cho tổ chức Tín dụng
-Dưới góc độ pháp lý, Giấy đề nghị vay vốn là “đề nghị ký kết hợp đồng”
*Thẩm định hồ sơ vay vốn :
Đây là một giai đoạn mang tính nghiệp vụ và rất quan trọng trong việc hạnchế rủi ro tín dụng Thông thường mỗi Tổ chức Tín dụng tuỳ theo cơ cấu tổchức và phân định chức năng thẩm định dự án
Công việc thẩm định bao gồm :
– Khả năng tài chính
– Tính khả thi của dự án
-Uy tín của khách hàng
– Biện pháp bảo đảm tín dụng
Trang 15Trong trường hợp cần thiết Tổ chức tín dụng có thể thành lập hội đồng thẩmđịnh hoặc thuê, trưng cầu các cơ quan chuyên môn để thẩm định.
*Quyết định cho vay:
Trên cơ sở kết luận về khả năng tài chính; tính khả thi của dự án đầu tư, mụcđích tiêu dùng, sinh họat…cá nhân có thẩm quyền (Trường phòng Tín dụng;phó giám đốc; giám đốc chi nhánh…) quyết định cho vay
Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phảithông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từkhi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng.Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo chokhách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay
*Ký kết hợp đồng tín dụng
-Hợp đồng tín dụng đa số là được ký trực tiếp hoặc
•trực tiếp: các bên ký kết và ràng buộc các bên phải cử người thanm giađàm phán
•Gián tiếp dưới sự hỗ trợ của Internet; Fax; telex…và các phương tiện khác
4 Nội dung hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng phải đảm bảo các nội dụng về:
– Điều khoản về điều kiện vay vốn
– Điều khoản về đối tượng hợp đồng, số tiền vay;
– Điều khoản về phương thức cho vay,
– Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay
– Điều khoản về lãi suất
– Điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay
– Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay vốn và lãi
– Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng
Nếu hợp đồng tín dụng được ký kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản nhưcầm cố, thế chấp, bảo lãnh các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽnằm trong hợp đồng tín dụng hoặc có thể lập một hợp đồng riêng biệt
•Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của khách hàng
Trang 16- Khách hàng vay có nghĩa vụ:
+ Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vayvốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cungcấp;
+ Sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoảthuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác;
+ Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoảthuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã camkết trong hợp đồng tín dụng
-Tổ chức tín dụng có quyền:
+ Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đờisống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khiquyết định cho vay;
+ Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vayvốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phùhợp với quy định của Pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có đủ nguồnvốn để cho vay
+ Kiểm tra, giám sát quả trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của kháchhàng;
+ Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàngcung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;
+Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng Tín dụng hoặc người bảo lãnhtheo quy định của pháp luật
+ Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không cóthoả thuận khác, tổ chức Tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vaytheo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luậthoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợpkhách hàng được bảo lãnh vay vốn;
+ Miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ; mua bán nợtheo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ,khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam
-Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ:
Trang 17+ Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng;
+ Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật
3 Kết cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn của các tổ chức Tín dụng
Theo luật tổ chức Tín dụng năm 2010 thì các tổ chức Tín dụng hoạt độngtrên các lĩnh vực sau:
Huy động vốn
-Nhận tiền gửi, tiền gửi là tiền mà khách hàng gửi tại tổ chức Tín dụng dướihình thức tiền gửi có thời hạn, không thời hạn, tiết kiệm hay hình thức khác.-Phát hành giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu
-Vay vốn của tổ chức, cá nhân khác: doanh nghiệp nếu có khó khăn, có thểvay của nhau tạm thời
Cung ứng dịch vụ thanh toán
-Mở tài khoản, cung ứng phương tiện thanh toán(thẻ tín dụng, séc, ngânphiếu) thực hiện dịch vụ thanh toán(thu hộ, chi hộ, hoạt động ngân quỹ)-Chỉ có tổ chức này mới được thực hiện hoạt động thanh toán quỹ tín dụngtrung ương
Hoạt động khác
-Góp vốn, cổ phần bao gồm:
+Góp vốn điều lệ: doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, công ty con, công
ty liên kết, quỹ tín dụng và chỉ được góp tối đa 30%,
+Mua cổ phần
-Kinh doanh vàng
+Chỉ được sản xuất, gia công vàng
+Mùa bán vàng
+Xuất khẩu, nhập khẩu vàng
+Kinh doanh vàng trên tài khoản và hoạt động phái sinh về vàng
+Huy động vốn, cho vay vàng
3.1 Huy động vốn bằng nhận tiền gửi
Khái niệm tiền gửi
Trang 18Luật các TCTD đưa ra định nghĩa về tiền gửi: “Tiền gửi là số tiền của
tổ chức, cá nhân gửi tại TCTD hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngânhàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiếtkiệm và các hình thức khác Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không đượchưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”
Như vậy, trên phương diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ kinh tếphát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chứcđược phép nhận tiền gửi Xét về bản chất, quan hệ tiền gửi là một quan hệhợp đồng vay nợ, bởi vì :
- Quan hệ này được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự dothoả thuận giữa các chủ thể
- Có sự chuyển giao một lượng tiền nhất định từ người gửi tiền sang
tổ chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng Sau đó, tổ chức nhậntiền gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có)khi đến hạn hoặc khi người gửi tiền có yêu cầu
- Quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên.Tuy quan hệ gửi tiền là quan hệ vay nợ nhưng nó có những đặc điểmriêng giúp ta phân biệt với các quan hệ vay nợ thông thường khác Đó là:
Thứ nhất, về chủ thể: Quan hệ gửi tiền bao gồm hai loại chủ thể là
người gửi tiền và tổ chức tín dụng
Người gửi tiền là tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu gửi tiền và
có tiền để gửi Họ đóng vai trò là người cho vay trong quan hệ này
Tổ chức nhận tiền gửi là các TCTD và các tổ chức khác có hoạt độngngân hàng, được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ nhậntiền gửi của công chúng (sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước được thểhiện bằng việc ghi nhận nghiệp vụ này trong giấy phép hoạt động) Trongquan hệ gửi tiền, tổ chức nhận tiền gửi đóng vai trò là bên đi vay Tuy nhiên,đây là hoạt động đi vay mang tính kinh doanh chuyên nghiệp được chủ thểnày thực hiện thường xuyên
Thứ hai, về hình thức của quan hệ: Hình thức của quan hệ gửi tiền
được xác lập theo một cách thức riêng (giấy đề nghị gửi tiền) mang tínhnghiệp vụ chuyên biệt, được lập theo mẫu in có sẵn của TCTD nhận tiền gửinhằm bảo đảm tính tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản mà vẫn chứa đựng đầy
đủ những nội dung cần thiết của một hợp đồng vay nợ
Trang 19Thứ ba, về mục đích: Trong quan hệ gửi tiền mỗi bên đều hướng tới
những mục đích riêng, thậm chí trong mỗi loại tiền gửi khác nhau người gửitiền lại hướng đến các mục đích khác nhau
* Đối với tổ chức nhận tiền gửi: Mục đích của việc nhận tiền gửi lànhằm huy động vốn để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình thôngqua việc cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho kháchhàng Chính từ hoạt động này các tổ chức nhận tiền gửi được gọi là các
“trung gian tài chính”, đóng vai trò là cầu nối giữa cung - cầu vốn, hoạt độngkinh doanh theo phương thức “đi vay để cho vay”
* Đối với người gửi tiền: Việc tham gia quan hệ gửi tiền nhằm mụcđích vừa để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi vào sẽ được tổ chức nhậntiền gửi trông giữ, bảo quản hộ) vừa để đồng vốn sinh lời khi chưa có nhucầu sử dụng hoặc để hưởng những tiện ích do tổ chức nhận tiền gửi cungứng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền Người gửi tiền có thể hướng tớimột, hai hoặc cả ba mục đích trên Tuy nhiên, mục đích của họ được thểhiện rõ nhất thông qua hình thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lựa chọn
Ví dụ: Một người gửi tiền không kỳ hạn tại ngân hàng dưới hình thức thẻ tíndụng thì mục đích mà họ hướng tới là sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngânhàng; nếu họ gửi dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì mục đíchcủa họ là hưởng lãi suất
Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, hình thức huy độngvốn bằng nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn trong tổngnguồn vốn huy động của mỗi TCTD Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi
là một hình thức huy động vốn đặc trưng riêng có của các TCTD và các tổchức khác được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng, bởi vì:
Thứ nhất, đây là một nghiệp vụ ngân hàng đặc trưng, chỉ những
TCTD và tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàngmới được tiến hành Các loại hình doanh nghiệp khác không được phép huyđộng vốn bằng hình thức nhận tiền gửi trong khi họ vẫn có thể phát hànhgiấy tờ có giá hay vay vốn từ các TCTD
Thứ hai, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi có thể tiến hành một
cách thường xuyên, liên tục với mọi khách hàng, không bị giới hạn về sốlượng hay địa giới hành chính Trong khi đó các hình thức huy động vốnkhác của các TCTD chỉ được thực hiện khi đáp ứng đủ những điều kiện nhấtđịnh và được tiến hành một cách không thường xuyên như huy động vốn
Trang 20thông qua việc phát hành giấy tờ có giá hoặc vay vốn từ Ngân hàng Nhànước.
Thứ ba, thủ tục của việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa TCTD
và khách hàng được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, không nhất thiết phảithông qua quá trình thương lượng hay kiểm tra, thẩm định, đánh giá Bất kỳ
ai có nhu cầu đều có thể tới TCTD mà mình lựa chọn để gửi tiền, lựa chọnhình thức gửi tiền phù hợp với mục đích của mình
Thứ tư, huy động vốn bằng nhận tiền gửi là cơ sở để các TCTD cung
ứng các dịch vụ khác cho khách hàng như dịch vụ thanh toán qua ngân hàng,dịch vụ ngân quỹ Đây cũng là một yếu tố thu hút thêm nhiều khách hàng,làm tăng nguồn vốn huy động cho các TCTD
Thứ năm, việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi của các TCTD được
thực hiện dựa trên cơ sở là uy tín, khả năng tài chính của TCTD, có sự quản
lý, giám sát của Nhà nước mà không cần thực hiện các biện pháp bảo đảmnhư cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh bằng tài sản như trong các quan hệ vay
nợ khác Người gửi tiền sẽ lựa chọn TCTD mà mình tin tưởng nhất để gửitiền dưới bất kỳ hình thức nào
Các loại tiền gửi
Khi tham gia quan hệ gửi tiền, người gửi tiền luôn hướng tời một mụcđích nhất định Nhằm đáp ứng những nhu cầu đa dạng đó của khách hàng ,các TCTD đưa ra nhiều loại tiền gửi khác nhau để người gửi tiền lựa chọnhình thức gửi thích hợp nhất tuỳ thuộc vào mục đích, tính chất và khả năngnguồn vốn của họ Dựa theo từng tiêu chí cụ thể người ta có thể phân chiathành nhiều loại tiền gửi khác nhau Cụ thể là:
- Căn cứ theo nghiệp vụ quản lý kinh doanh ngân hàng, tiền gửi đượcchia thành:
+ Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vàocác TCTD để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán Tiền gửi không kỳ hạn
là khoản tiền đang chờ thanh toán, không phải là tiền mà khách hàng đểdành nên khách hàng có thể rút ra hoặc sử dụng để thanh toán bất kỳ lúc nàotheo yêu cầu Thông thường khách hàng gửi loại tiền gửi này sẽ không đượctrả lãi hoặc trả mức lãi suất thấp Tiền gửi không kỳ hạn được quản lý ở cácTCTD trên tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản vãng lai Đối vớitiền gửi không kỳ hạn, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán đểchi trả như séc, uỷ nhiệm chi và các lệnh chi khác
Trang 21+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào TCTDtrên cơ sở có sự thoả thuận với TCTD về thời gian rút tiền Về nguyên tắcngười gửi tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thoả thuận Tuy nhiên, trên thực
tế để thu hút khách hàng gửi loại tiền gửi này, các TCTD có thể cho phépkhách hàng đuợc rút tiền trước thời hạn (nếu số tiền rút ra lớn thì phải có sựthông báo trước cho TCTD một vài ngày) trong trường hợp này người gửitiền chỉ được hưởng mức lãi suất thấp Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tíndụng mang tính ổn định, nên các TCTD thường chú trọng áp dụng các biệnpháp kích thích để huy động loại tiền gửi này bằng việc đưa ra nhiều loại kỳhạn khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với mỗi loại kỳ hạn,TCTD áp dụng một mức lãi suất tương ứng trên nguyên tắc kỳ hạn càng dài,lãi suất càng cao
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là loại tiền gửi chỉ dành cho cá nhân, nó làkhoản tiền để dành của các cá nhân chứ không phải để thanh toán, nó được
ký gửi vào các TCTD nhằm quản lý cất giữ hộ hoặc để hưởng lãi theo địnhkỳ
Pháp luật hiện hành quy định “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cánhân được gửi vào tài khoản tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm,được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và đượcbảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”.(1)
Tiền gửi tiết kiệm có hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn vàtiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà ngườigửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần thông báo trước vào bất
kỳ một ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên,tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khác với tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửithanh toán) ở chỗ: Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để pháthành séc và thực hiện giao dịch thanh toán bằng các công cụ thanh toánkhông dùng tiền mặt để chi trả cho người khác, trừ trường hợp tài khoản tiềngửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người cư trú được sử dụng để chuyểnkhoản thanh toán tiền vay của chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chứcnhận tiền gửi tiết kiệm đó, hoặc chuyển sang tài khoản khác do chính chủ sở
(
Trang 22hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tàikhoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửitiền chỉ có thể rút tiền mặt sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuậnvới tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tương tựnhư tiền gửi có kỳ hạn chỉ khác ở chỗ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì ngườigửi tiền chỉ là cá nhân
- Căn cứ vào người gửi tiền, có các loại tiền gửi sau:
+ Tiền gửi của tổ chức
+ Tiền gửi của cá nhân
- Ngoài ra dựa vào dấu hiệu quốc tịch hoặc nơi cư trú, người ta phânchia tiền gửi thành:
+ Tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong nước
+Tiền gửi của các tổ chức và cá nhân nước ngoài
- Căn cứ vào đồng tiền mà khách hàng gửi, có thể phân chia thành: + Tiền gửi bằng đồng Việt Nam
+ Tiền gửi bằng ngoại tệ
Việc phân chia thành các loại tiền gửi khác nhau có ý nghĩa hết sức to lớn:
- Đối với tổ chức nhận tiền gửi
Việc phân chia thành nhiều loại tiền gửi khác nhau, mỗi loại có một
ưu thế riêng giúp cho các tổ chức nhận tiền gửi thu hút được nhiều kháchhàng tới gửi tiền Bởi lẽ, mục đích của người gửi tiền rất đa dạng, việc đưa
ra nhiều loại tiền gửi sẽ đáp ứng được các nhu cầu đó Đồng thời tạo điềukiện cho TCTD sử dụng nguồn vốn huy động bằng nhận tiền gửi có hiệuquả, vừa phù hợp với mục đích, kế hoạch kinh doanh vừa đảm bảo khả năngthanh toán, dù trả cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rúttiền Chẳng hạn, TCTD khi huy động vốn bằng nhận tiền gửi không kỳ hạnthì không thể sử dụng toàn bộ số vốn này để cho vay trung và dài hạn mà chỉ
sử dụng theo một tỷ lệ nhất định do Ngân hàng Nhà nước quy định, hoặc căn
cứ vào loại tiền gửi để xác định mức dự trữ bắt buộc, duy trì khả năng thanhtoán
- Đối với người gửi tiền
Việc đa dạng hoá các loại tiền gửi với những đặc trưng riêng của mỗiloại tiền gửi sẽ giúp cho người gửi tiền có thể lựa chọn hình thức gửi tiềnthích hợp tuỳ thuộc vào mục đích gửi tiền của mình Ví dụ: Tiền gửi không
Trang 23kỳ hạn có thể rút bất cứ lúc nào, tạo cho người gửi tiền sử dụng số tiền gửimột cách linh hoạt hơn nhưng lại không được hưởng lãi hoặc lãi suất rấtthấp Do đó khi tham gia quan hệ tiền gửi dưới hình thức này khách hàngthường tới sử dụng những dịch vụ mà tổ chức nhận tiền gửi cung cấp, đápứng nhu cầu sử dụng tiền linh hoạt của mình Tiền gửi có kỳ hạn thì phảituân thủ theo kỳ hạn gửi tiền nhưng lại có mức lãi suất cao hơn
- Đối với nhà nước
Do tính chất của từng loại tiền gửi khác nhau, mức độ rủi ro về bảođảm khả năng thanh toán là khác nhau, đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chếquản lý một cách thích hợp nhằm kiểm soát có hiệu quả hoạt động ngânhàng, hạn chế được các rủi ro trong hoạt động ngân hàng; bảo đảm quyền lợicủa các bên trong quan hệ tiền gửi cũng như sự an toàn cho toàn bộ hệ thốngngân hàng; bảo đảm sự ổn định tiền tệ quốc gia và ổn định phát triển kinh tế
Do đó, việc phân chia thành các loại tiền gửi khác nhau giúp cho Nhà nước
có chính sách quản lý thích hợp đối với hoạt động huy động vốn vủa cácTCTD
3.2 Huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá
“Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốntrong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhấtđịnh, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và ngườimua”.(1)
Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành là một công cụ vay nợ trên thịtrường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉtiền gửi, trong đó TCTD cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thờigian nhất định
* Các loại giấy tờ có giá do TCTD phát hành:
- Căn cứ vào thời hạn phát hành gồm có:
+ Giấy tờ có giá ngắn hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn dưới 12tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác
+ Giấy tờ có giá dài hạn: là giấy tờ có giá có thời hạn từ 12 tháng trởlên, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dàihạn khác
(
Trang 24- Căn cứ vào chủ sở hữu, giấy tờ có giá gồm có:
+ Giấy tờ có giá ghi danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thứcchứng chỉ hoặc ghi sổ có tên người sở hữu TCTD phát hành giấy tờ có giághi danh phải mở sổ đăng ký quyền sở hữu và tiến hành đăng ký lại khikhách hàng có yêu cầu chuyển nhượng quyền sở hữu
+ Giấy tờ có giá vô danh: Là giấy tờ có giá phát hành theo hình thứcchứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền
sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá
Về hình thức phát hành: Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành có thểhiện dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có thể là loại giấy tờ có giá ghidanh hoặc không ghi danh Hình thức chứng chỉ ghi danh áp dụng đối vớingười mua là cá nhân Hình thức chứng chỉ vô danh áp dụng đối với ngườimua là cả cá nhân và tổ chức Hình thức ghi sổ áp dụng đối với người mua là
tổ chức có tài khoản tiền gửi tại TCTD phát hành Trường hợp phát hànhgiấy tờ có giá theo hình thức ghi sổ, TCTD phát hành phải cấp giấy chứngnhận quyền sở hữu cho người mua Các giấy tờ có giá do TCTD phát hànhđược chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình thức mua, bán, tặng, cho,trao đổi, thừa kế hoặc người sở hữu giấy tờ có giá có thể dùng làm vật cầmcố
Về điều kiện phát hành: TCTD muốn được huy động vốn bằng pháthành giấy tờ có giá phải thoả mãn những điều kiện mà pháp luật quy định vàđược thống đốc Ngân hàng Nhà nước hoặc người được thống đốc Ngânhàng Nhà nước uỷ quyền chấp thuận bằng văn bản TCTD huy động vốnbăng phát hành giấy tờ có giá phải có trách nhiệm công bố công khai về việcphát hành giấy tờ có giá theo quy định, phải thanh toán tiền gốc và lãi đúnghạn và đầy đủ cho người sở hữu giấy tờ có giá và phải thực hiện chế độ báocáo kết quả phát hành cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định
Thông qua hình thức huy động vốn này, TCTD có khả năng tập trungmột khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và thường được các TCTD sửdụng khi đã tiếp nhận những dự án vay vốn lớn, với thời hạn giải ngân cụthể của khách hàng Tuy nhiên khi huy động vốn dưới hình thức phát hànhgiấy tờ có giá, các TCTD thường phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiềngửi huy động Do đó nghiệp vụ này được tiến hành khi TCTD thiếu vốn Khitiến hành, TCTD phải căn cứ vào khả năng đầu ra để quyết định khối lượngvốn huy động, lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động vốn
Trang 253.3 Huy động vốn bằng việc vay vốn giữa các Tổ chức tín dụng
Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế - xãhội, pháp luật còn cho phép TCTD được vay vốn của các TCTD khác ởtrong nước và các TCTD nước ngoài Việc vay và cho vay vốn giữa các tổchức tín dụng sẽ giúp cho các TCTD điều hoà, phân phối vốn để tăng cườngkhả năng thanh toán, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động của từngTCTD Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng
“Vay vốn giữa các TCTD là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vaycủa TCTD (bên cho vay) cho một TCTD khác (bên vay) theo quy định tạiđiều 49 Luật các tổ chức tín dụng”
Về nguyên tắc, khi thực hiện việc cho vay, đi vay giữa các bên phảiđảm bảo nguyên tắc: Bên vay phải hoàn trả nợ gốc, lãi tiền vay và các loạiphí (nếu có) đúng hạn cho bên vay Việc cho vay, đi vay giữa các bên phảiđảm bảo an toàn, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệquốc tế
Về thời hạn cho vay, các bên có thể thoả thuận vay ngắn hạn (tối đađến 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng) hoặc dài hạn (trên 60tháng) tuỳ thuộc nhu cầu sử dụng vốn vay của TCTD đi vay, tính chất vàkhả năng nguồn vốn của TCTD cho vay
Về biện pháp bảo đảm, các bên thoả thuận việc áp dụng hoặc không
áp dụng hình thức bảo đảm đối với khoản vay trong từng trường hợp cụ thể.Hình thức bảo đảm cho khoản vay bao gồm bảo đảm đảm bằng tài sản, bảolãnh của một TCTD khác Việc áp dụng hình thức bảo đảm và xử lý tài sảnbảo đảm tiền vay được thực hiện theo quy định của pháp luật
Về phương thức cho vay, các bên thoả thuận áp dụng phương thứccho vay từng lần, theo hạn mức hoặc các phương thức khác phù hợp với quyđịnh của pháp luật Các TCTD thực hiện cho vay, đi vay lẫn nhau bằng đồngViệt Nam hoặc bằng ngoại tệ trên cơ sở phạm vi hoạt động ngoại hối đượcNgân hàng Nhà nước cho phép
Khi TCTD thoả mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thểvay vốn của TCTD nước ngoài Hoạt động vay vốn của TCTD nước ngoài
do TCTD thực hiện thuộc diện quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam
3.4 Huy động vốn thông qua vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Trang 26Ngoài các hình thức huy động vốn đã nêu, các TCTD có thể vay vốn
từ Ngân hàng Nhà nước Hoạt động này vừa là một hình thức huy động vốncủa TCTD vừa là một công cụ để Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sáchtiền tệ quốc gia: Công cụ tái cấp vốn
“Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàngNhà nước nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho cácngân hàng”, “ Tổ chức tín dụng là ngân hàng được vay vốn ngắn hạn củaNgân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định ở điều 30Luật Ngân hàng Nhà nước”
Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tượng được vayvốn của Ngân hàng Nhà nước là các TCTD là ngân hàng được vay vốn ngắnhạn của Ngân hàng Nhà nước thông qua các hình thức: Cho vay lại theo hồ
sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác; cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước còn cho Ngân hàng Thương mại vay
bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ Trong trường hợp đặc biệt khiTCTD mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống cácTCTD có thể được Ngân hàng nhà nước cho vay khi Thủ tướng Chính Phủchấp thuận