Và với Cánh đồng bất tận chị đã nới rộng chiều kích của tác phẩm qua những vấn đề mới về vô thức, bản năng, phức cảm của con người, lật giở từng trang tâm trạng trong cuộc sống các nhâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ DUNG
PHỨC CẢM MẸ TRONG CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ DUNG
PHỨC CẢM MẸ TRONG CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Vũ Minh Đức
Sơn La, năm 2018
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Tiến sĩ Vũ Minh Đức, đã hướng dẫn
và chỉ bảo tận tình, chi tiết trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Thầy đã gợi
mở cho chúng tôi những vấn đề nghiên cứu rất lí thú, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu, những gì thầy chỉ dạy là cơ sở vững chắc quan trọng giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Đào tạo trường Đại học Tây Bắc, quý thầy cô trong Khoa Ngữ Văn, Trung tâm thông tin Thư viện trường Đại học Tây Bắc, tập thể lớp K55 ĐHSP Ngữ Văn đã tạo điều kiện thuận lợi, ủng hộ và giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề liên quan tới khóa luận
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ – gia đình thân yêu – luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho sự lựa chọn của tôi
Sơn La, tháng 05 năm 2018
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của khóa luận 10
7 Cấu trúc của khóa luận 11
Chương 1: PHỨC CẢM VÀ PHỨC CẢM MẸ 12
1.1 Phức cảm 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Đặc điểm 15
1.2 Phức cảm mẹ 21
1.2.1 Phức cảm mẹ ở người con trai 23
1.2.1.1 Đồng tính luyến ái 23
1.2.1.2 Trăng hoa 29
1.2.2 Phức cảm mẹ ở người con gái 31
1.2.2.1 Sự bành trướng của những yếu tố mẫu tính 31
1.2.2.2 Sự phát triển tính dục thái quá 33
1.2.2.3 Đồng nhất với mẹ 34
1.2.2.4 Kháng cự mẹ 36
CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA PHỨC CẢM MẸ TRONG CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN 39
2.1 Phức cảm mẹ ở Điền 39
2.1.1 Tìm mẹ trong “chị đĩ” trên cánh đồng vô tận 39
2.1.2 Chối bỏ tính dục như một sự ghê tởm 44
2.2 Phức cảm mẹ ở Nương 50
2.2.1 Bản sao của má 51
Trang 52.2.2 Rồi cha sẽ “trở về” 56
2.2.3 “Tôi trả lời day day chậm rãi…” 59
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Là một nhà văn trẻ, được bạn đọc biết đến từ năm 2000 với Ngọn đèn
không tắt, đến nay Nguyễn Ngọc Tư đã chinh phục bạn đọc bằng lối viết rất
riêng, trên nhiều thể loại truyện ngắn, tạp văn, kí và gần đây là thơ… Văn chị nhẹ nhàng, gần gũi mà thấm đẫm những bài học về cuộc đời Đó cũng chính là điều mà bản thân chúng tôi rất yêu thích ở chị Theo chân những trang viết của nhà văn ta nhận thấy đây là một cây viết có tay nghề, có sự độc đáo, mới lạ:
“Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ, cái lạ ở cô là tài khui mở những sinh hoạt thân thuộc trước mắt Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn” cho người đọc thấy cái hay từng có, cô không dẫn dắt ta khám phá những ngõ ngách của nội tâm mà ta chưa từng biết Cô đưa ra một tấm gương rất trong, thật sáng
Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cái phong phú
của chính đời ta” [22] Đặc biệt, khi truyện ngắn Cánh đồng bất tận được ra đời
thì vị thế của nhà văn càng được khẳng định, từng trang viết đã in sâu vào lòng người đọc với giọng văn đậm chất Nam Bộ trơn tru, ngọt xớt lại rất có duyên Cảm nhận từng trang viết của Nguyễn Ngọc Tư, cái mùi vị của cuộc đời như ngấm vào da thịt, chúng ta trưởng thành hơn sau những bài học về cuộc sống, cái buồn man mác trong từng thiên truyện của tác giả khiến chúng ta phải suy ngẫm và bất chợt ngộ ra nhiều điều thú vị về chân lí cuộc đời
1.2 Phân tâm học là bộ môn khoa học đi sâu vào nghiên cứu hiện tượng
vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo trong đời sống tâm lí người;
nó chỉ ra mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tùy theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những quy luật khác hẳn ý thức Từ đó giúp con người hiểu mình hơn, lột mặt
nạ nhân cách con người với những đòi hỏi, ham muốn khát khao rất thành thực của đời sống bản năng, giúp con người được sống thành thực nhất, trọn vẹn nhất, người nhất
Vận dụng kiến thức Phân tâm học vào văn học, từ quá trình sáng tác của
Trang 8người nghệ sĩ cho đến nội dung tác phẩm, chúng ta có thể khám phá chiều sâu giá trị tác phẩm Hoạt động sáng tác của nhà văn không chỉ bị chi phối bởi ý thức mà còn bị chi phối bởi vô thức (vô thức cá nhân và vô thức tập thể) Trong
vô thức thì nhân tố quan trọng nhất được xem là hạt nhân tạo ra mọi tác phẩm chính là dục tính, Freud tin sự thăng hoa của dục năng chưa được thỏa mãn đã tạo ra mọi tác phẩm nghệ thuật và văn học Nói cách khác, theo ông nghệ sĩ giải tỏa tính dục ấu thơ của họ bằng cách biến nó thành hình thức phi bản năng Chỉ
có tác phẩm nghệ thuật mới thực sự thỏa mãn những ham muốn, giải tỏa ẩn ức cũng như nhờ ảo ảnh nghệ thuật mà hiện thực được nhìn qua lớp màn hư ảo hơn Chính vì vậy khi vận dụng lí thuyết Phân tâm học vào làm đề tài này sẽ giúp tôi
có được cách nhìn thấu đáo hơn về một số vấn đề liên quan đến vô thức, bản năng và phức cảm Qua điểm tựa của các yếu tố Phân tâm học, các tác giả thỏa sức thể hiện thế giới nội tâm phức tạp của con người trong từng thời khắc, từng hoàn cảnh Chính vì thế, việc vận dụng lí thuyết Phân tâm học để lí giải, khai phá một hiện tượng văn học đương đại là vấn đề cấp thiết và hữu ích Nó giúp chúng ta có một cách nhìn mới, một cách lí giải khác về một tác phẩm dưới lăng kính phê bình Phân tâm học
Trong Cánh đồng bất tận, tính dục là một trong những vấn đề nổi bật góp
phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm: “Những gì được thể hiện trong
Cánh đồng bất tận đã ghi nhận dấu ấn tính dục bề sâu này Toàn bộ văn bản đều
bị chi phối bởi cái nhìn tính dục” [1;238] Nhìn trên bề mặt của truyện sẽ thấy, quyền lực người cha (phức cảm Oedipe) chi phối đến toàn bộ cuộc đời của các nhân vật với sự hiện diện của người cha chìm đắm, ngập ngụa trong những hận thù Tuy nhiên, bên cạnh đó, ta vẫn thấy có một phức cảm ngầm ẩn tồn tại song song với phức cảm Oepide, đó là phức cảm mẹ Vì vậy, chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu vấn đề: Phức cảm mẹ trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc
Tƣ với mong muốn khui mở những vấn đề còn khuất lấp dưới bề mặt câu từ của
tác phẩm dựa trên góc nhìn Phân tâm học, góp thêm một cách đọc, cách cảm khác cho độc giả khi đi vào khám phá tác phẩm
1.3 Xuất phát từ thực tiễn là sinh viên ngành sư phạm, chúng tôi nhận
Trang 9thấy việc vận dụng lí thuyết về “phức cảm/phức cảm mẹ” vào khai phá các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn ở Trung học Phổ thông tích hợp với giáo dục kĩ năng sống cho các đối tượng học sinh là điều rất cần thiết và hữu ích Nó không chỉ giúp các em có một cái nhìn khái quát hơn về một tác phẩm văn học mà còn giúp các em lí giải được những “hiện tượng đời sống” và hiểu
về chính bản thân mình
2 Lịch sử vấn đề
Từ sau hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp ở cuối thế kỉ XX, người đọc đã luôn chờ đợi, mong mỏi sự xuất hiện của một hiện tượng mới, một phong cách mới khác ở giới nhà văn Như đáp lại sự mong mỏi ấy của độc giả, từ trong cuộc sống bộn bề, hối hả của con người, Nguyễn Ngọc Tư đã bước ra trình làng với một dáng vẻ kì lạ mà gần gũi, giản dị mà tài năng Sự xuất hiện của cô đã mang đến cho văn xuôi đương đại Việt Nam một luồng gió mát, tạo nên một sức sống mới cho nền văn học Nam Bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung Đặc biệt, với những tác phẩm đặc sắc của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã rút ngắn khoảng cách giữa văn học Nam Bộ với văn học của hai miền Bắc – Trung, xóa nhòa đi những ánh nhìn không mấy thiết tha của phần đa độc giả đối với văn học Nam
Bộ Hơn thế, với tiếng vang của Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa
văn học nước nhà đến gần hơn, hòa nhập hơn vào dòng chảy văn học thế giới Nhờ làm mới mình trong nghệ thuật xây dựng nhân vật mà Nguyễn Ngọc Tư đã đưa truyện ngắn Nam Bộ tiến một bước dài về tương lai, khẳng định tính hiện đại trong kĩ thuật viết truyện ngắn Văn học Nam Bộ rút ngắn được khoảng cách
để hội nhập vào dòng chảy văn học trong nước và thế giới nhưng không hòa tan đặc trưng Nam Bộ trong các sáng tác của mình
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung và tác phẩm Cánh đồng bất tận
nói riêng đã tạo ra một làn sóng mới trong nền văn học Việt Nam đương đại Đã khá lâu nền văn học mới nổi lên một không khí văn chương sôi động như thế xung quanh một tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư được bạn đọc biết đến với lối văn gần gũi, giản dị gắn liền với cuộc sống, con người Nam Bộ hiền lành, lam lũ, chịu thương, chịu khó Nhưng chị không muốn ở mãi trong cái vỏ bọc mà khi
Trang 10mới đọc một vài dòng người ta đã biết ngay là Nguyễn Ngọc Tư Chị muốn làm mới chính mình, muốn bạn đọc không chỉ biết đến mình với một màu mà từ đầu đến cuối không có chút gì thay đổi: “Tôi muốn thay đổi, muốn làm mới chính mình Tôi muốn thử sức ở những đề tài khó, gai góc Tôi cảm nhận được sự nhàm chán của bạn đọc, bạn viết với văn của Nguyễn Ngọc Tư… Mười năm tôi viết những cái người ta thích, giờ đây tôi viết những cái gì chính mình thích… Tôi muốn tùy nghi sống và viết theo đúng như bản chất thường vô chừng của mình Tôi biết không ít người đang băn khoăn bởi ý nghĩ họ đã mất tôi rồi Nhưng tôi đi đến đâu đó không có nghĩa là không quay lại Con cá quẫy để khỏa
bèo vì nó cần thở ở một không gian rộng hơn Tôi cũng vậy” [20] Và với Cánh
đồng bất tận chị đã nới rộng chiều kích của tác phẩm qua những vấn đề mới về
vô thức, bản năng, phức cảm của con người, lật giở từng trang tâm trạng trong cuộc sống các nhân vật để thật sự gây ấn tượng với bạn đọc và khẳng định bước chuyển của mình trên chặng đường sáng tác Sau khi xuất hiện trên mặt báo rồi
in thành sách, có rất nhiều cuộc bàn cãi liên quan đến tác phẩm này, cho đến nay vẫn chưa dứt, chỉ im lặng, tế nhị trên các diễn đàn Các ý kiến khen chê tuy xới xáo được một số vấn đề về tư duy văn học đương đại nhưng chưa thật làm người đọc cũng như bản thân tác giả Nguyễn Ngọc Tư thỏa mãn Chị tâm sự: “Vụ đó, tôi thấy mọi người thương hại mà không có lí gì để nói ra lẽ Tôi cũng không có
lí phản lại vì không phải là nhà phê bình Tôi nghĩ sao viết vậy, chẳng biết nói gì” [29] Nhìn lại các ý kiến bình luận đánh giá của độc giả cũng như của giới
phê bình nghiên cứu có thể thấy Cánh đồng bất tận đã được đón nhận, quan tâm
và là một “hiện tượng văn học” rất thú vị cho đến tận ngày nay
Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát và dành sự quan
tâm hơn cả đối với những công trình, bài viết tiếp cận và giải mã Cánh đồng bất
tận ít nhiều có liên quan đến Phân tâm học như bài viết của các tác giả: Đào
Duy Hiệp, Phú Thùy Hương, Hoàng Đăng Khoa, Lê Huy Bắc, Lê Lưu Oanh Các ý kiến này trở thành tiền đề, và gợi ý để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và đặt
ra vấn đề Phức cảm mẹ trong Cánh đồng bất tận
Đào Duy Hiệp trong Chất thơ trong Cánh đồng bất tận trên báo Văn nghệ
Trang 11đã nhắc tới “nỗi nhớ” – hạt nhân của tình cảm – sợi dây gắn kết tình thân: “Bắt đầu từ nỗi nhớ mẹ “niềm nhớ lúc đi xa,…”; suốt nhiều năm sau đó không dám nhớ má, bởi ngay vừa khi nghĩ đến má, ngay lập tức hình ảnh ấy hiện ra”; bị cha đánh đòn: “Và tôi tự nhớ lại coi hồi sáng nay, hồi trưa nay mình đã làm gì giống má”; đến “nhiều lúc tôi hơi nhớ con – người”; “Hai nhớ trường học quá à, cưng”; “Đôi khi tôi nhớ người đàn bà ở Bàu Sen, nhớ bóng người xấp xãi, ngơ ngác chạy theo chiếc ghe sáng ấy”; “tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi” và “tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng – loại (và tôi là đồng – loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết rồi), và nhớ một con người che chở (công việc này, đáng lẽ là của cha, má tôi)”; Nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh” Còn với những người đàn ông: “…Kí ức trống trơn, họ phơi phới ra đi, còn mình thì nhớ hoài, đau hoài…”; “Dường như chúng tôi nhớ, nhớ cồn cào Nỗi nhớ bao gồm được chạy chơi trên cái vuông sân mọc đầy vú sữa đất…” Biết bao nỗi nhớ: Nhớ má, nhớ lớp, nhớ em, nhớ chị, nhớ con – người, nhớ bóng người, nhớ một đồng – loại, nhớ một người che chở, nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa… như những lớp sóng cồn cào, trùng điệp, lặp lại, vang xa, khắc khoải và day dứt” [8;10] Khởi đầu từ nỗi nhớ mẹ khiến những đứa trẻ gặp phải những chấn thương tinh thần ghê gớm, chúng bị cuốn vào vòng xoáy của sự cô đơn, của khát khao cháy bỏng muốn được yêu thương Chúng quẫy đạp, ngụp lặn trong xoáy nước sâu ấy, nhưng càng cố vùng thoát lại càng chìm sâu xuống trong vô vọng Đã có lúc chúng quên đi hình ảnh người mẹ năm xưa với những yêu thương như một sự kháng cự, chống đối mẹ, nhưng càng muốn quên đi thì khát khao muốn được có mẹ, được săn sóc, chở che trong vòng tay yêu thương của mẹ như càng cuộn trào hơn, mãnh liệt hơn Chúng tự trấn an những dồn nén ấy bằng cách tránh xa thế giới người, hòa mình vào thế giới loài vật như một sự giải thoát
Trong Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Phú
Thùy Hương cũng chỉ ra sự lệch lạc trong quá trình trưởng thành của Nương và Điền: “Hai chị em bị bỏ bê, như thuyền không lái, rịt lấy nhau trong một thứ
Trang 12trực giác hoang dại: Tự mày mò chống lại những yếu kém tinh thần, tự dạy dỗ nhau, tự bảo vệ nhau, tự trấn những dồn nén, đòi hỏi của cơ thể Hai chị em như những đứa trẻ bị bỏ hoang trên bãi chiến trường nguyên thủy, chúng chơi với những hố bom già, em hỏi chị: “Người ta thương mẹ ra làm sao?”, chúng phải tưởng tượng ra tình yêu, chúng phải sáng tác ra da thịt, chúng thiếp đi trong những cơn mộng mị “nằm co quắp, hai tay kẹp giữa đùi” Những cuộc trả thù của người cha đã từ từ thấm độc vào cơ thể thằng con trai mình từ lúc nào không hay Tới tuổi mười sáu dậy thì, Điền có những triệu chứng bất thường” [9;72] Không được dạy dỗ, không lời chỉ bảo Điền và Nương như cây hoang tự gồng mình lên hướng về phía có ánh sáng mặt trời, chúng phải tự học cách để sống, tồn tại, đùm bọc và che chở nhau Chúng trở nên cô đơn, lạc lõng ngay trong chính cuộc sống của mình, chúng làm bạn với bầy vịt, nói chuyện và dành tình cảm cho những con vật tưởng như vô cảm ấy Về điều này, Nguyễn Ngọc Tư cũng tự nhận: “Trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kì cô đơn Nên tôi rất dễ dàng để nhân vật của mình sống trong cô đơn tận cùng Trong hoang hoải, chán
trường Tôi, cũng như những con người trong Cánh đồng bất tận, sống giữa
nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như
bị bỏ rơi…” [23] Bàn về Tính dục (Sexuality) trong “Cánh đồng bất tận”, Lê
Huy Bắc nhận định: “Lướt qua chuỗi sự kiện chính hình thành nên cái sườn của văn bản, người đọc nhận thấy mối liên hệ giữa “chị”, “mẹ”, “cha” và Nương, Điền Mạch nối kết các nhân vật này không phải là chuyện mưu sinh, không phải là những xung đột tình cảm, mà chính là những yếu tố thuộc về tính dục
Có thể nói tính dục là “nhân vật” quan trọng nhất của Cánh đồng bất tận, là nền
tảng tư duy nghệ thuật của Ngọc Tư” [1;236] Đồng thời, Lê Huy Bắc cũng chỉ
ra Điền: “Là đứa bé hoàn toàn bình thường nếu môi trường sống của nó không
bị xáo trộn Từ việc khinh bỉ, căm ghét hành động trả thù của người cha và đồng cảm với những nỗi khổ của bao người phụ nữ, Điền quyết định hủy hoại mình, quyết định mãi mãi sẽ không trở thành đàn ông” [1;241] Đây là một nhận định quan trọng sẽ được chúng tôi trở lại bàn luận và làm sáng tỏ hơn trong chương
2, đứa con trai bị mẹ bỏ rơi, bị cha thờ ơ, lạnh nhạt luôn khát khao tình thương
Trang 13yêu gia đình, từ chỗ phải gánh chịu những thương tổn đã phản kháng bằng cách
tự hủy hoại mình, chối bỏ những đòi hỏi ham muốn bản năng đang trỗi dậy mãnh liệt trong cái thân thể rừng rực của tuổi mười sáu, mười bảy Dục tình là một phần tất yếu của cuộc sống, phần chìm vô thức này như một khối nham thạch luôn chờ cơ hội để trào vọt với những xung năng đóng vai trò là nhựa sống của con người Nhưng thay vì sở hữu và duy trì thứ bản năng có sức tái sinh ấy, Điền lại nỗ lực tự hủy hoại, tự chối bỏ để nhận về mình bản năng chết
Lê Lưu Oanh, trong Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học –
những chủ đề và những cách tiếp cận mới, cũng chỉ ra: “Trong suy nghĩ, tình
cảm “bình thường nhất của những đứa con” bao giờ cũng thường trực khát khao được gần mẹ về thể xác cũng như tâm hồn Trái ngược với sự tàn nhẫn của người cha, mô hình về một gia – đình – bình – thường trở đi trở lại trong mong muốn của những đứa trẻ lang thang như Nương và Điền” [15;82] Chúng thể hiện khao khát ấy một cách vô thức trong những giấc mơ; trong những hành động mang sự thương tổn về mặt tâm hồn: Căm ghét người cha tàn nhẫn đã quyến rũ và bỏ rơi những người đàn bà trên những khúc sông, cùng với đó là sự đồng cảm, muốn bảo vệ những người đàn bà đó như bảo vệ chính người mẹ của mình: Đồng nhất với mẹ Trong vô thức của những đứa trẻ như Nương và Điền
có sự chuyển di những tình cảm đối với cha – mẹ, mà theo Freud đó là mặc cảm Oedipe phát triển thành mặc cảm gia đình được diễn ra theo hai hướng: Thù ghét
anh chị em hoặc yêu mến họ thay đối tượng cha mẹ Trong Cánh đồng bất tận,
sự chuyển hướng tình cảm này được thể hiện rất rõ: Nương yêu thương, săn sóc,
lo lắng cho em như tình yêu thương, che chở của một người mẹ, còn Điền cũng yêu thương, lo lắng và muốn bảo vệ chị một cách tuyệt đối Nếu coi đây là bề nổi của vấn đề nghiên cứu thì phần chìm – vấn đề mà ta cần đi sâu vào khai thác
ở đây là phức cảm mẹ lại biểu hiện ngầm ẩn Ở Điền có sự thanh cao hóa của các năng lượng tính dục vì ám ảnh thấy mẹ dưới tấm lưng chi chít nốt ruồi của tên buôn vải trên chiếc giường tre quen thuộc và những hành dộng như sự trả thù của người cha đối với những người phụ nữ khác dẫn tới cảm giác ghê tởm tình dục Đồng thời, Điền cũng đi tìm hình bóng mẹ ở những người đàn bà khác,
Trang 14dành tình cảm quyến luyến đối với họ Ở Nương là sự đồng nhất với mẹ, là sự bành trướng những yếu tố về mẹ qua những hành động, tình cảm Nương dành cho cha và em… Tất cả những tình cảm ấy trong hai nhân vật đều nằm trong tầng sâu vô thức, là những vấn đề mà chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu, khai phá
để làm rõ những biểu hiện của phức cảm mẹ trong tác phẩm
Hoàng Đăng Khoa viết về ám ảnh tuổi thơ trong Truyện ngắn Cánh đồng
bất tận từ ba góc nhìn đã khẳng định: “Hai chị em Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận, sau cuối đã phát triển không bình thường về tâm sinh lí là dư
chấn tất yếu của những va chấn tâm sinh lí dữ dội buổi thiếu thời – những va chấn bởi những cảnh tượng, những âm thanh, những niềm mà chúng bất đắc dĩ phải nhìn thấy, nghe thấy và nghĩ ” [11;26-27] Chúng như những vệt hằn chấn thương trong tâm hồn những đứa trẻ như Nương và Điền, mà hạt nhân sâu sắc nhất chính là niềm đau bị mẹ bỏ rơi, nó như trung tâm hút xoáy những đau khổ trong cuộc đời, làm rệu rã tâm hồn hai đứa trẻ tội nghiệp và khiến chúng trở nên
cô đơn, lạc loài trong thế giới người Hơn thế, nó còn gây nên sự lệch lạc trong thiên hướng tính dục: “Bao nhiêu tình yêu của một đứa con dành cho mẹ vẫn được Điền dốc hết cho chị Mười bảy tuổi, Điền yêu “chị đĩ” bằng tình yêu vô điều kiện Điền có những ngày bối rối Nó hay hỏi tôi, “người ta thương mẹ ra làm sao?” Mặt nó dãn ra, khi biết cây kẹp tóc, trái dừa tươi hay con cá thác lác… mà nó dành cho chị cũng giống hệt như người ta vẫn thường cho mẹ Và niềm nhớ lúc đi xa, nỗi khao khát được nằm gần, được dụi mũi mình vào da thịt người đó… cũng tự nhiên như ý nghĩ bình thường nhất của những đứa con” [11;28-29] Trong sự ghẻ lạnh của người cha và trước sự hi sinh gần như tuyệt đối của chị “đĩ” với gia đình, trong Điền nảy sinh tình cảm Nhưng đó là kiểu tình yêu tuyệt vọng, tình yêu khiếm khuyết, là sự kiếm tìm hình ảnh người mẹ trong những người đàn bà khác của một đứa con luôn khao khát được yêu thương Nhận định này sẽ được chúng tôi tiếp tục triển khai và bàn luận trong chương 2 của khóa luận
Nhìn chung, truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư đã và
đang được bạn đọc, giới phê bình nghiên cứu quan tâm trên cả phương diện nội
Trang 15dung lẫn nghệ thuật Trong số đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới một số ý kiến bước đầu nhận định về những vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề phức cảm mẹ Ở đề tài này, chúng tôi sẽ kế thừa những ý kiến, nhận định
nêu trên và tập trung hơn vào vấn đề: Phức cảm trong Cánh đồng bất tận từ
góc nhìn phê bình Phân tâm học
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phức cảm mẹ trong truyện ngắn Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài gắn với những
lí luận của C.G Jung về phức cảm và phức cảm mẹ, trong khuôn khổ của khóa luận vấn đề phức cảm mẹ sẽ được tìm hiểu sự ảnh hưởng ở hai đối tượng khác giới là: phức cảm mẹ ở người con trai (Điền), và phức cảm mẹ ở người con gái (Nương)
Phạm vi nghiên cứu: Phức cảm mẹ trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận,
in trong tập Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, năm 2016, nhà xuất bản
Trẻ, TP Hồ Chí Minh
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài vận dụng và triển khai những vấn đề lí thuyết của Phân tâm học
vào phân tích, lí giải truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư để
thấy được quan niệm nghệ thuật của nhà văn về hiện thực và con người của nhà văn về hiện thực cuộc sống và con người, cùng với đó là những đổi mới trong nghệ thuật viết truyện ngắn của tác giả được thể hiện trong tác phẩm đã gây được một làn sóng mới trong nền văn học Việt Nam hiện đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết, chúng tôi làm sáng tỏ một số vấn đề của Phân tâm học, đặc biệt là xác định nội hàm khái niệm và đặc điểm của phức cảm mẹ
Trên cơ sở của những dấu hiệu phức cảm mẹ nói chung, chúng tôi tiến hành khảo sát để chỉ ra những biểu hiện cụ thể của phức cảm mẹ trong truyện
ngắn Cánh đồng bất tận và chỉ ra ý nghĩa của chúng trong bức tranh đời sống
cũng như thế giới tâm hồn con người
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp phê bình Phân
tâm học là chủ đạo Phương pháp này trước hết được thực hiện thông qua tiến
trình khảo sát văn bản để khám phá và xác định các yếu tố phức cảm ở trong tác phẩm thông qua nhân vật, ngôn ngữ, chi tiết, hình ảnh, biểu tượng nổi lên như những ám ảnh Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tâm nhân vật bằng cách xem mỗi nhân vật như một “ca bệnh” tâm lí thực sự và soi chiếu những yếu tố phức cảm trên phông nền của khoa học tâm lí, văn hóa truyền thống, vô thức cá nhân
(personal unconscious) và vô thức tập thể (collective unconscious)
Cùng với một số thao tác cơ bản của nghiên cứu văn học như thống kê, phân tích, tổng hợp, bình giảng, so sánh, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thi pháp học: Nội dung ý nghĩa tác phẩm được thể hiện
thông qua các hình thức nghệ thuật mang nghĩa Chúng tôi tiếp cận truyện ngắn
Cánh đồng bất tận dựa trên các dấu hiệu hình thức độc đáo, từ đó khám phá ý
nghĩa bên trong, tư tưởng tác phẩm ẩn bên trong mỗi hình thức
Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Thế giới hình tượng trong tác phẩm
cũng như hệ thống nhân vật trong tác phẩm là một chỉnh thể được cấu nên từ nhiều yếu tố khác nhau Bởi vậy, lựa chọn phương pháp hệ thống cấu trúc, người viết mong muốn chỉ ra các phương diện đặc điểm nội dung cũng như thủ pháp nghệ thuật miêu tả mỗi nhân vật cũng như hệ thống nhân vật
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp thêm một cách nhìn mới trong nghiên cứu khoa học, góc nhìn về phức cảm mẹ của con người Đây là vấn đề còn khá mới mẻ và sơ khai trong lí luận và phê bình nghiên cứu Qua việc khảo sát những biểu hiện cụ thể của phức cảm mẹ trong tác phẩm và lí giải chúng, kết hợp với kiến thức lí luận về tác phẩm văn học, đề tài góp phần bổ sung vào hệ thống nghiên cứu về phức cảm cũng như những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư trong nền văn học Việt Nam hiện đại Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói riêng và phê bình Phân tâm học nói
Trang 17chung
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận được triển khai trong hai chương:
Chương 1: Phức cảm và phức cảm mẹ
Chương 2: Biểu hiện phức cảm mẹ trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc Tư
Trang 18Chương 1:
PHỨC CẢM VÀ PHỨC CẢM MẸ
Sigmund Freud với vai trò là người đặt nền móng cho lí thuyết Phân tâm học đã chỉ ra cấu trúc bộ máy tâm lí con người gồm ba phần: vô thức – tiềm thức – ý thức, trong đó vô thức được xem là cốt lõi trong đời sống tinh thần con người sẽ lấn át cả cái tôi để chi phối toàn bộ ngôi nhà của tôi Vô thức sẽ tác động tới toàn bộ hoạt động tâm lí cũng như hành động của con người, ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách Trong tâm lí học Freud “cõi vô thức là tối thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một yếu tố phụ thuộc Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa trong cõi vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người Freud tuyên bố rằng chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức Tâm linh vô thức là nguồn gốc chính, là nguồn gốc gây bệnh tâm thần” [6;9] Nội dung của vô thức chính là sự xung động bản năng giữa những dục vọng tình cảm, vì không thể đi vào ý thức, bị dồn nén buộc phải thoát mình bằng những giấc mơ, sự lầm lạc, sai lạc… Vô thức nằm ở tầng sâu nhất trong tâm lí người, nơi ẩn chứa những bản năng, ham muốn, dục vọng Con người ta luôn tỏ
ra mình bằng ý thức nhưng suy cho cùng vô thức mới là phần quan trọng trong tâm lí người Vô thức sẽ cho ta thấy chính mình
Sau Freud, một người học trò, một người bạn của ông là C.G Jung đã tiếp thu và phát triển những lí luận của Freud về vô thức và khám phá ra nhiều điều thú vị Jung đã phân chia vô thức thành hai nhóm: Vô thức cá nhân và vô thức tập thể (phi cá nhân) Khái niệm “vô thức cá nhân” của Jung có sự gặp gỡ với khái niệm “vô thức” của Freud trước đó Còn “vô thức tập thể vốn không thuộc
về ý thức, cũng không phải là phạm vi cá nhân, không phải là những cái đạt được bởi cá nhân Tuy thế tâm thần của mỗi người dường như có nhiều đặc điểm không thể phân biệt được với tâm thần của người khác bởi vì mọi tâm thần đều có một cơ sở hoặc nền tảng chung” [2;74] Đây được xem là khám phá nổi
Trang 19bật nhất của Jung về vô thức mà trong đó lí thuyết về phức cảm/mặc cảm lại được coi là đóng góp ban đầu quan trọng nhất của Jung đối với việc hiểu biết về
vô thức và cấu trúc của nó
1.1 Phức cảm
1.1.1 Khái niệm
J.P.Charrier cho rằng: “Trong thực tế, sự dồn ép và sự kháng cự mà người
ta có thể gọi là những lực lượng kiểm duyệt là nguồn gốc của những mặc cảm” [3;61] Theo nhận xét này thì mặc cảm được hình thành từ những tư tưởng khuynh hướng vô thức của chúng ta, những khuynh hướng này không bao giờ thỏa mãn được vì bị dồn ép thường xuyên trong một bầu không khí tội lỗi Sau cùng, chúng tạo nên sự xung khắc – một cuộc nội loạn giữa bản ngã và vô thức Với cách lí giải này, Charrier đã chỉ ra được căn nguyên sự xuất hiện các phức cảm, tuy nhiên ông chưa lí giải được sự tác động của các phức cảm cũng như hoạt động của nó trong cấu trúc bộ máy tâm lí con người – đây mới là vấn đề quan trọng, cốt lõi mà ta cần phải quan tâm, kiến giải đối với một phức cảm cụ thể
Phức cảm (Complex) (mặc cảm theo cách lí giải của Sigmund Freud) là:
“Chùm ý nghĩ có âm vang xúc cảm mạnh mẽ; quá trình nhờ đó mà một mặc cảm được vùi vào phần vô thức của tinh thần gọi là sự dồn nén Toàn bộ chùm ý nghĩ trong tinh thần một cá nhân con người liên kết với những tình cảm mạnh mẽ, có thể được gọi một cách thích đáng là một mặc cảm; thật ra, đó rất thường khi là những kí ức về một kinh nghiệm hiện thực hoặc tưởng tượng, có kèm theo những kết luận của chủ thể về những kí ức và những tình cảm mạnh mẽ do những kí ức ấy gây ra Chúng có thể có lợi hay có hại do sự thích nghi về xúc cảm của chủ thể đó, và nếu gặp dịp có thể lại trồi lên một phần hay toàn bộ trong những khu vực tiền ý thức của tinh thần; tuy rằng mục đích của sự dồn nén là ngăn cản sự tái trồi lên ấy” [4;147-148] Vốn coi tính dục là cái lõi đầy bản năng của vô thức, Freud quy mọi hoạt động của con người đều xuất phát từ bản năng tính dục, con người luôn có những ham muốn và đồng thời có những phức cảm đặc biệt Bản năng tính dục với những ham muốn cần được thỏa mãn vốn bị dồn
Trang 20nén kéo dài dẫn đến những phức cảm (complex – còn được dịch là mặc cảm)
Đó là sự dồn nén của những cảm xúc lẫn lộn giữa những ham muốn, tranh giành, đố kị Và khi có một sự tác động nào đó kích thích thì những chùm ý nghĩ, liên tưởng vốn bộ phong kín này lại trồi lên với vẹn nguyên những đặc tính ban đầu
Trong Thăm dò tiềm thức, Jung khẳng định Freud đã khám phá ra cái mà
các nhà tâm lí học gọi là “mặc cảm” nghĩa là những chuyện tâm tình đã bị dồn nén, chúng có thể gây ra những xao động thường xuyên trong đời sống tâm thần,
có thể gây ra những triệu chứng suy nhược thần kinh Đồng thời ông cũng chỉ ra
“những mặc cảm thường có là những nhược điểm của linh hồn (psyché) phản ứng rất nhạy vì một kích thích, một sự rối loạn” [10;14] Con người thường có cảm giác sợ hãi, lo lắng về bản thân tạo ra mặc cảm… Đó có thể là sự không trọn vẹn về thể xác cũng có thể sự tổn thương về tinh thần xuất phát từ hoàn cảnh sống nhất định Bản thân con người luôn hướng tới sự cầu toàn và trọn vẹn đến hoàn hảo, ít ai có thể chấp nhận sự thiếu hụt, mất mát… Xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đặc điểm chung của trạng thái tinh thần này là khiến cho con người rơi vào tình trạng bất ổn không yên Cảm giác này do hiện thực, do đạo đức hay do ám ảnh về thần kinh… gây ra các phức cảm khác nhau Chính hoàn cảnh đẩy con người vào ám ảnh, sợ hãi, thậm chí dồn nén đến mức
có thể phản kháng Trên thực tế con người thường có tâm lí tự ti vì mấy ai bằng lòng với chính mình, nỗi ám ảnh ấy trở thành sự dằn vặt và có khi đày đọa cả người xung quanh, họ thường nhìn thấy hạnh phúc của người khác và cảm nhận bất hạnh của chính mình Đó chính là căn nguyên của nỗi khổ và phức cảm
Từ những lí luận nêu trên, chúng tôi đi đến cách hiểu một cách khái lược
như sau: Phức cảm là cảm giác có nội dung tự trị mang sắc thái cảm xúc của vô
thức cá nhân, thường hình thành qua tổn thương hay sang chấn tâm thần, là toàn thể những ham muốn phát xuất từ những thúc đẩy bị dồn ép, những xúc cảm đau đớn gắn liền với những ham muốn không được thỏa mãn này, những hình ảnh gắn liền với những xúc cảm Nó là toàn thể những thái độ mâu thuẫn
và vô thức, nhưng làm nên một hệ thống tư tưởng, hay nói đúng hơn một cơ cấu
Trang 21tình cảm Sở dĩ nói có sự mâu thuẫn là do một mặt những thái độ này diễn tả những ham muốn sâu xa, mặt khác những ham muốn này lại gợi sự cấm đoán thực hiện, gợi lại sự trừng phạt đạo đức nếu chúng được thực hiện Người ta luôn luôn tìm thấy cơ cấu lưỡng năng ở nền tảng những thái độ mặc cảm: Khoái lạc – khổ đau, thương yêu – thù hận, thu hút – xô đẩy… Như vậy, những phức cảm là kết quả của sự xung khắc thường trực giữa bản tính tự nhiên của chúng ta
và những quy tắc đạo đức, ứng xử, và nền văn hóa xã hội… Những quy tắc này đưa ra những mệnh lệnh xã hội và văn hóa để chống lại những thúc đẩy tình dục
và sự gây hấn của chúng ta
bị thúc đẩy bởi lí trí và sự thích nghi với môi trường
Hình ảnh 1: Sơ đồ cấu trúc tâm thức [31]
Chúng ta mơ cũng nhiều như chúng ta suy ngẫm và có lẽ chúng ta cảm nhận nhiều hơn chúng ta suy nghĩ Nhiều suy nghĩ của chúng ta chí ít cũng được
tô điểm và định hình bởi các cảm xúc và hầu hết các tính toán lí trí của chúng ta
là phục vụ cho những cảm xúc mạnh và sợ hãi Và những đối tượng mà chúng ta gặp trước tiên khi chúng ta thám hiểm không gian này là các phức cảm Vô thức
Trang 22là nơi cư ngụ các phức cảm Đây là địa hạt mà Jung đã khảo sát lúc khởi đầu sự
nghiệp của mình với tư cách một nhà tâm thần học Sau đó ông gọi nó là vô thức
cá nhân Lí thuyết về phức cảm là đóng góp ban đầu quan trọng nhất của Jung
đối với việc hiểu biết vô thức và cấu trúc của nó Một phần nào đó nó chính là cách mà Jung khái niệm hóa những gì mà Freud đã viết cho đến lúc đó về những kết quả tâm lí của dồn nén, về tầm quan trọng của tuổi thơ đối với cấu trúc của tính cách và về khó khăn của sự kháng cự trong phân tâm Nó tiếp tục là một khái niệm hữu ích trong việc thực hành phân tâm cho đến tận bây giờ
Jung cho rằng những rối loạn của ý thức, được lưu trữ và đo lường như là những đáp ứng cho những kích thích bằng lời nói này, là do những liên tưởng vô thức tới những từ được đọc Ở đây, quan điểm của ông trùng với quan điểm của
Freud được thể hiện trong tác phẩm Giải thích các giấc mơ, trong đó Freud cho
rằng những hình ảnh trong giấc mơ có thể liên kết với những suy nghĩ và cảm xúc từ ngày trước (hoặc thậm chí từ những năm trước, bao gồm thời gian ngược lại tới đầu thời niên thiếu) Tuy thế, những liên tưởng như vậy là hoàn toàn khó hiểu và bị che giấu Jung cho rằng, những liên tưởng tồn tại không phải giữa những từ kích thích và từ trả lời, mà là giữa những từ kích thích đó và những nội dung vô thức ẩn giấu… Những nội dung vô thức là căn nguyên của những rối loạn ý thức được Jung gọi là “phức cảm”
Hình ảnh 2: Sơ đồ cấu trúc tâm thức của C.G Jung [32]
Trang 23Phức cảm là một đối tượng nội tâm và tại hạt nhân của nó là một hình ảnh Hình ảnh xác định bản chất của tâm thần Thỉnh thoảng, trong lí luận của mình Jung sử dụng từ “imago” thay vì từ “image” (hình ảnh) để nói tới một phức cảm “Imago người mẹ” là phức cảm người mẹ khác với người mẹ thực Phức cảm là một hình ảnh và như vậy xét về bản chất, nó thuộc về thế giới chủ quan, nó được tạo thành từ tâm thần thuần túy, mặc dù nó cũng phản ánh cho một con người thực sự, một kinh nghiệm hay một tình huống Không thể nhầm lẫn nó với thực tế khách quan – những con người thực khác hay những cơ thể vật chất khác
Sau khi thừa nhận rằng các phức cảm tồn tại trong vô thức, Jung tiến hành
các Thực nghiệm liên tưởng từ và chỉ ra rằng: Có những thực thể tâm thần nằm
ngoài ý thức, tồn tại những vật thể giống như vệ tinh liên quan với bản ngã – ý thức nhưng lại có khả năng gây ra những rối loạn của bản ngã một cách đáng ngạc nhiên và đôi khi áp đảo Chúng là những “sinh vật” giả tưởng và ma quỷ bên trong có thể chi phối một người một cách bất ngờ “Những rối loạn gây ra bởi các phức cảm cần phải được phân biệt với những rối loạn do những nhân tố gây stress bắt nguồn từ môi trường bên ngoài, dù chúng có thể và thường có mối liên hệ mật thiết với nhau” [17;68] Điểm chung dễ thấy giữa phức cảm và stress
là chúng đều mang sắc thái cảm xúc cá nhân và tại một thời điểm nhất định có chi phối tới đời sống tâm lí, ý thức con người Những điểm chung này dễ đánh lừa nhận thức và khiến người ta nhầm lẫn giữa chúng Nhưng không giống như stress là một loại triệu chứng bệnh tâm lí sinh ra chứng căng thẳng, âu lo khi con người ta chịu sự tác động mạnh nào đó từ yếu tố bên ngoài, nó như một sự phản ứng, kháng cự lại những tổn thương đến từ khách quan – sự điều khiển của ý thức và hiển nhiên, những hệ quả mà nó để lại chỉ nằm ở mặt tiêu cực và chỉ tồn
tại trong một khoảng thời gian nhất định rồi biến mất Còn các phức cảm được
sinh ra do sự mâu thuẫn, xung đột, do những tổn thương, sang chấn là những thèm muốn được phát xuất từ những thúc đẩy bị dồn ép trong vô thức và có khi được tái trồi lên khi gặp một từ kích thích nào đó
Không chỉ vậy, trong mỗi phức cảm còn có năng lượng liên kết biểu hiện
Trang 24sức mạnh ma quỷ nội tâm của chúng ta Đó là những lực cưỡng ép phi lí chi phối chúng ta và không nhiều thì ít khiến chúng ta thực hiện những gì nó muốn:
“Mỗi phức cảm có một năng lượng đặc thù của riêng nó… Năng lượng của phức cảm được nói đến là một số lượng sức mạnh tiềm ẩn của cảm xúc và hành động tích tụ trong hạt nhân giống nam châm của phức cảm Các phức cảm có năng lượng và biểu hiện một loại “spin” (hệ vòng) điện tử của chúng, giống như các điện tử xoay quanh hạt nhân một nguyên tử Khi bị kích thích bởi một tình huống hay một sự kiện, chúng làm bùng phát năng lượng và vượt qua các mức năng lượng cho đến khi xuất hiện trong ý thức Năng lượng của chúng xuyên qua vỏ bọc của bản ngã – ý thức và tràn ngập nó, do đó làm cho bản ngã hoạt động theo cùng hướng với nó và giải phóng một lượng năng lượng cảm xúc đã được giải phóng trước đó do xung đột này” [17; 73-74] Nhìn chung một phức cảm có thể tạo ra nhiều ảnh hưởng trong lĩnh vực ý thức, nhưng điều này không phải luôn luôn là vậy Thỉnh thoảng những rối loạn xảy ra bên ngoài tâm thần Jung quan sát thấy rằng một phức cảm có thể ảnh hưởng tới những đối tượng và người khác ở thế giới xung quanh Nó có thể hoạt động như một Poltergeist hay một sự tác động tinh tế lên những người khác Một điều đáng chú ý là Jung phát hiện một người thỉnh thoảng có thể ngăn chặn những ảnh hưởng của sự kích thích và loại bỏ sự tụ hội một phức cảm: “Những chủ thể với ý chí mạnh mẽ có thể thông qua khả năng vận động – ngôn ngữ, ngăn chặn ý nghĩa của một từ kích thích bởi thời gian phản ứng ngắn khiến nó không thể xâm nhập chút nào vào
họ Nhưng điều này chỉ có thể diễn ra khi những bí mật cá nhân thực sự quan trọng cần phải được bảo vệ” [17;75] Điều này có nghĩa rằng con người có thể kiểm soát được những phản ứng vô thức của mình bằng cách loại bỏ các kích thích một cách cố ý
Thông thường, có thể coi các phức cảm là có tính “cá nhân” vì phức cảm được sinh ra trong tiểu sử đặc biệt riêng của một người và hoàn toàn thuộc về cá nhân đó Tuy nhiên, ngoài phức cảm cá nhân còn có phức cảm gia đình và xã hội Những phức cảm này không thuộc về cá nhân như một căn bệnh thuộc về một cá nhân Nó thuộc về tập thể và cá nhân chỉ “nắm bắt” lấy nó Phức cảm gia
Trang 25đình được hình thành từ thời thơ ấu dựa trên mối quan hệ giữa mẹ và con gái, cha và con trai, mẹ và con trai, cha và con gái… Sau này, trong quá trình phát triển của trẻ với sự tiếp xúc liên tục của tâm thần trước những kích thích văn hóa
xã hội đã làm ảnh hưởng tới tâm lí của các văn hóa gia đình và chủng tộc… Tuy nhiên, những phức cảm gia đình tạo ra buổi đầu không biến mất khỏi tâm thần, những phức cảm người cha và người mẹ tiếp tục chi phối những gì diễn ra trong
vô thức cá nhân và là những tác nhân vô cùng to lớn “Mọi người nam mang theo mình hình ảnh vĩnh hằng về người nữ, nhưng không phải hình ảnh của người nữ này hay người nữ kia, mà là một hình ảnh nữ tính rõ ràng Hình ảnh này về cơ bản là vô thức, giống như một nhân tố di truyền có nguồn gốc cổ sơ… Người nữ được bù đắp bởi một yếu tố nam tính nên có thể nói vô thức của người
nữ có một dấu vết nam tính…” [16;119-120] Animus tương ứng với Logos – nguyên lí người cha, cũng giống như anima tương ứng với Eros – nguyên lí người mẹ
Các phức cảm được tạo dựng từ những hình ảnh liên tưởng và những kí
ức bị đóng băng của những thời điểm sang chấn được chôn sâu trong vô thức và khó được phục hồi bởi bản ngã Chúng là những kí ức bị dồn nén, những gì làm cho nhiều yếu tố liên tưởng của phức cảm gắn bó và kết hợp với nhau chính là cảm xúc, các phức cảm bao gồm một yếu tố hạt nhân và một số lớn những liên tưởng hội tụ thứ phát xung quanh Yếu tố cơ bản này là hình ảnh cốt lõi và kinh nghiệm mà từ đó phức cảm được tạo dựng – kí ức đóng băng Cái cốt lõi này bao gồm hai phần: Một hình ảnh hay dấu vết tâm thần của chấn động sản sinh và một phần bẩm sinh (cổ mẫu) gắn bó chặt chẽ với nó Cái hạt nhân kép này của phức cảm phát triển bởi việc tập hợp những liên tưởng xung quanh nó – điều này có thể diễn ra trong suốt cả một đời người Các phức cảm hoạt động như những bản năng bằng cách tạo ra những phản ứng tự phát đối với những tình huống hoặc con người cụ thể, nhưng chúng không chỉ có tính bẩm sinh thuần túy giống như các bản năng Phần lớn chúng là những sản phẩm của kinh nghiệm – sang chấn, những tương tác và các kiểu gia đình, sự quy định của văn hóa Chúng được kết hợp với một số yếu tố bẩm sinh mà Jung gọi là những hình
Trang 26ảnh cổ mẫu để tạo nên một phức cảm toàn diện Những phức cảm là những gì còn lại trong tâm thần sau khi nó đã hấp thu kinh nghiệm và tái cấu trúc thành những đối tượng bên trong Nhìn chung, những tác động tâm lí của sự kích hoạt các phức cảm tồn tại trong một thời gian dài sau khi kích thích đã không còn ảnh hưởng tới tâm thần Kích thích làm cho phức cảm hoạt động có thể nhẹ hay lớn, trong một thời gian dài hay ngắn nhưng tác động của nó lên tâm thần có thể tiếp diễn trong một giai đoạn dài và có thể xuất hiện trong ý thức dưới dạng những đợt sóng hay lo âu (cường độ hay hoạt động của phức cảm có đặc điểm dạng sóng với một bước sóng là nhiều giờ, nhiều ngày hay nhiều tuần) Chẳng hạn, một người đàn ông làm cho một người phụ nữ hồi tưởng lại sự lạm dụng, khắc nghiệt của cha mình bởi tiếng nói, bởi cách mà anh ta phản ứng trước cuộc sống, bởi cường độ đáp ứng lại xúc cảm của anh ta… chắc chắn anh ta sẽ làm kích hoạt phức cảm người cha ở cô gái Nếu cô gái tương tác với chàng trai trong một giai đoạn, các nội dung mới sẽ được thêm vào phức cảm đó Nếu anh ta lạm dụng cô gái, phức cảm người cha tiêu cực sẽ mạnh thêm và nhiều năng lượng hơn, cô gái sẽ trở nên phản ứng nhiều hơn trong những tình huống mà phức cảm người cha được kích hoạt Dần dần, cô có thể tránh những người đàn ông như vậy hoàn toàn hoặc ngược lại, cô sẽ thấy mình bị thu hút một cách phi lí trước
họ Trong cả hai trường hợp, cuộc sống của cô gái trở nên ngày càng bị hạn chế bởi phức cảm này Các phức cảm càng mạnh hơn, chúng càng hạn chế phạm vi
tự do lựa chọn của bản ngã
Trong khi bản ngã chịu trách nhiệm cho hầu hết những điều mà chúng ta gọi là động cơ và mục đích, các phức cảm khác dường như cũng có một mục đích và ý chí riêng Thông thường nó xung đột với những gì mà tổ hợp bản ngã muốn tại một thời điểm cụ thể Jung mô tả: “Các phức cảm như là những diễn viên trong các giấc mơ, những người mà chúng ta bất lực khi chúng ta đương đầu; chúng là những yêu tinh đặc trưng trong truyện dân gian Đan Mạch theo câu chuyện về một giáo sĩ người tìm cách thuyết giảng những lời cầu nguyện của Chúa cho hai con yêu tinh Cả hai cảm thấy đau đớn vô cùng khi lặp lại lời chính xác theo vị giáo sĩ và ở câu cuối cùng, chúng không thể tránh khỏi việc
Trang 27thốt lên: “Chúa của chúng ta không ở trên thiên đường” Và từ cơ sở lí thuyết chúng ta có thể thấy được rằng những phức cảm tinh tế này không thể truyền dạy được” [17;85] Tính đạo lí của câu chuyện này chính là các phức cảm không thể bị bắt làm những gì mà bản ngã muốn chúng làm Chúng giống như những hình ảnh kí ức bị đóng băng của những kinh nghiệm sang chấn Và chúng không chỉ được trải nghiệm trong các giấc mơ mà còn trong cuộc sống hằng ngày, và ở
Các phức cảm là những đối tượng của thế giới bên trong “chính chúng là nơi mà niềm vui hay nỗi buồn của đời sống cá nhân của một người dựa vào Chúng là những lares và penates (những vị thần trong gia đình) đợi chúng ta bên những chiếc lò sưởi và sẽ là nguy hiểm nếu ca tụng sự bình yên này của họ Những vị thần đó không thể bị coi nhẹ” [17;92]
Trang 28nhất để được thực tại hóa trong tinh thần cá nhân của một đứa trẻ là cổ mẫu người mẹ Thực tại hóa của một cổ mẫu có vẻ diễn tiến theo những quy luật về liên kết mà các nhà tâm lí học đã tìm ra vào cuối thế kỉ XIX Hai quy luật trong
số này đặc biệt phù hợp, đó là quy luật về sự tương tự và quy luật về sự cận kề Như vậy, “cổ mẫu người mẹ được thực tại hóa trong tinh thần đứa trẻ thông qua
sự cận kề của một người nữ chăm sóc, với hành vi và đặc điểm cá nhân đủ tương
tự với cấu trúc có sẵn của cổ mẫu người mẹ, khiến đứa trẻ nhận thức và trải nghiệm người nữ ấy như “mẹ” Sau đó, trong quá trình mối quan hệ gắn bó này phát triển, cổ mẫu trở nên hoạt động trong tinh thần cá nhân của đứa trẻ dưới dạng phức hợp mẹ Đồng thời, thông qua sự tương tự và cận kề, đứa trẻ tập hợp
cổ mẫu “người con” ở mẹ Mỗi phía trong cặp đôi này tạo ra trường nhận thức chịu trách nhiệm cho việc khơi gợi cổ mẫu ở người kia” [16;85] (Thuật ngữ phức hợp mẹ ở đây chính là phức cảm mẹ – vấn đề mà chúng tôi đang đi vào tìm hiểu, khai thác)
Nếu Freud coi ham muốn loạn luân là một ham muốn vô thức có quan hệ tình dục với một người mẹ thực sự Trái lại, Jung diễn giải ham muốn loạn luân một cách biểu tượng: “Như là một khát vọng chung muốn tiếp tục ở trong thiên đường của thời thơ ấu” [17;105] Khát vọng này trở nên nổi bật hơn khi một người phải đối mặt với thách thức to lớn trong cuộc sống, để trưởng thành, để thích nghi với một môi trường đầy căng thẳng Họ muốn leo lên giường và trùm kín chăn – khát vọng về một sự thoái lùi về sự phụ thuộc ấu thơ, trở về thời trẻ con, về sự vô thức và không có trách nhiệm “Trong bất kì sự kiện nào, những bản năng của đứa trẻ cũng bị làm xáo trộn/quấy rối/âu lo, và những tập hợp cổ mẫu này, trong sự trở lại của chúng, sinh ra những điều li kì đến giữa đứa trẻ và
người mẹ như một người xa lạ (alien) và thường là yếu tố khủng khiếp Vì vậy,
nếu những đứa con của người mẹ quá lo lắng thường xuyên mơ thấy mình là con vật kinh hoảng hay là phù thủy, những trải nghiệm này chỉ ra một vực thẳm trong tâm lí đứa trẻ đó khiến nó chịu chứng loạn thần kinh chức năng” [19;19] Những đặc điểm của phức cảm mẹ sẽ được chúng tôi tổng thuật và minh giải
dựa trên quan điểm của Jung trong chuyên luận Four Archetypes: Mother/
Trang 29Rebirth/ Spirit/ Trickster (Bốn cổ mẫu: Mẹ/ Phục sinh/ Linh hồn/ Bợm nghịch)
được R.F.C Hull chuyển ngữ từ tiếng Đức qua tiếng Anh, in năm 1973 Chúng tôi tham khảo bản dịch tiếng Việt của Vũ Minh Đức (người hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp)
Hình ảnh 3: Bìa sách Four Archetypes: Mother/ Rebirth/ Spirit/ Trickster
Những đứa trẻ ngay từ khi sinh ra đã gắn bó một cách gợi dục với người
mẹ, mẹ là người phụ nữ đầu tiên mà chúng cảm nhận được tình yêu thương và muốn kề cận, gắn bó, chính sợi dây tình cảm này đã làm nảy sinh phức cảm mẹ – những ẩn ức, dấu ấn, hình ảnh mẹ trong vô thức của những đứa con Trong lí
luận về phức cảm mẹ (Jung C.G (1973), Four Archetypes: Mother/ Rebirth/
Spirit/ Trickster, R.F.C Hull translate, Bollingen Series, Princeton University
Press, USA) của mình, Jung đã chỉ ra những hệ quả mà loại phức cảm này gây nên trong đời sống tâm lí con người, chúng có sự khác biệt rõ ràng đối với từng đối tượng người con là nam hay nữ
1.2.1 Phức cảm mẹ ở người con trai
Ở người con trai, những hệ quả tiêu biểu là: “Đồng tính luyến ái
(homosexuality), trăng hoa (Don Juanism), đôi khi lại là bất lực/liệt dương (impotence) Hệ quả của phức cảm mẹ ở bé trai có thể được nhìn thấy trong tư tưởng kiểu Cybele và Attis: Tự thiến (self-castration), điên loạn (madness), chết yểu (early death)” [19;20]
1.2.1.1 Đồng tính luyến ái
Trang 30Đồng tính luyến ái – vấn đề bắt đầu được quan tâm nghiên cứu vào cuối thế kỉ XIX với nhiều luồng ý kiến được đưa ra và tranh luận, có ý kiến cho đây
là một hiện tượng bệnh lí trong nhịp sống hiện đại, có ý kiến lại cho đây là yếu
tố vốn có tồn tại trong bản thể mỗi người Tại thời điểm đó, đây vẫn là một hiện tượng chưa hoàn toàn được chấp nhận và đâu đó vẫn có những sự đánh giá mang tính đả kích, châm biếm Dù là vấn đề mới được đề cập đến và đưa ra tranh luận nhưng nó vốn đã tồn tại từ rất lâu: “Từ thời Hi Lạp cổ đại, Platon đã
cho rằng con người cổ xưa tồn tại ở ba dạng cơ bản là: nam – nam, nam – nữ, nữ
– nữ Để loại trừ sự chống đối của họ, Zeus tách họ làm hai nửa Vì vậy, các nửa
này suốt đời tìm kiếm nửa còn lại của mình Ba dạng tồn tại trên được phân chia
làm hai dạng Tình dục đồng tính và Tình dục dị tính Hợp thể nam – nam và nữ
– nữ sẽ tìm kiếm và chỉ say mê với nửa (đồng tính) trước kia của mình – tình
dục đồng tính (homosexuality) Hợp thể nam – nữ sẽ tìm kiếm nửa dị tính – tình dục dị tính (heterosexuality)” [5;91-92] C.G Jung gọi đó là năng lượng/hình ảnh
nam tính trong người nữ (Animus) và năng lượng/hình ảnh nữ tính trong người nam (Anima) và chúng có vai trò như một cặp đối lập trong vô thức của cả hai giới, ảnh hưởng sâu rộng đến những mối quan hệ của cả nam giới và nữ giới Qua cách giải thích này thì hiện tượng đồng tính luyến ái thực chất là hành trình người nam/nữ đi tìm nửa đồng dạng với mình trong cơ chế Anima/Animus trồi
lên một cách mạnh mẽ và lấn át phần còn lại Trong Lịch sử tính dục (History of
Sexuality), Michel Foucault viết: “Tính dục đồng tính xuất hiện như một dạng
của bản năng tính dục khi nó chuyển từ việc thủ dâm vào dạng đồng tính luyến
ái bên trong, một sự lưỡng tính của tâm hồn” [5;92] Có nghĩa rằng: Giới tính không được quyết định bởi thân xác là người nam hay người nữ mà “giới tính
(sex) của mỗi người nằm trong tâm trí nhiều hơn là thân xác” [5;92] Vấn đề này
đã được nhắc đến trong các câu chuyện thần thoại Hy Lạp như một phần vốn có của cuộc sống gồm có đồng tính, song tính và hoán tính như một biểu tượng của những trải nghiệm thiêng liêng và thần thánh Đó là câu chuyện xoay quanh về
nữ thần săn bắn Artemis Nhiều người cho rằng, Atermis là hình mẫu người vô tính, tuy vậy, nhà thơ Thomas Moore trong một bài viết về nữ thần này đã cho
Trang 31rằng: “Dù nàng trinh khiết nhất trong số các nữ thần, Atermis không phải loài vô tính Nàng hiện thân cho một loại tính dục đặc biệt, đặt nơi cá nhân, nguyên vẹn
và độc thân” [26] Nói cách khác, Atermis có tình yêu với bản thân mình, nàng hiểu rõ giá trị của chính mình và nàng chọn theo cách sống mà nàng mong muốn: Độc lập, tự chủ, tích cực Hay câu chuyện về mối tình đồng giới giữa Achilles và Patroclus (theo nhận định của Thảo Nguyên trên báo Việt Nam Mới) hai người là bạn thân thiết từ thuở ấu thơ và đến khi trưởng thành họ vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp đó “Achilles luôn có thái độ kiêu căng, khó gần với tất cả mọi người nhưng lại đối xử đặc biệt dịu dàng với Patroclus Cả hai đã cùng sát cánh bên nhau trong trận chiến thành Troy khốc liệt, một lần do quá say sưa truy đuổi kẻ thù và không có Achilles bên cạnh Patroclus đã chết dưới mũi tên của Hecto – vị hoàng tử thành Troy Hay tin về cái chết của Patroclus, Achilles đau đớn vật vã nhiều ngày liền, chàng ôm xác Patroclus khóc lóc, không cho bất cứ ai đem thi thể người tình đi mai táng (có tài liệu ghi chép chàng định tự tử theo người tình) Nhưng với lời khuyên bảo của nữ thần biền –
mẹ chàng cùng lòng căm hận sâu sắc với quân lính thành Troy, chàng quyết tâm
ra trận với khí thế hừng hực lập nhiều chiến công và đã tự tay giết chết Hecto trả thù cho Patroclus” [26] Như vậy, qua những câu chuyện thần thoại ta nhận thấy đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái là các dạng biến thể tính dục con người, Devdutt Pattanaik đã nhận định rằng: “Thần thoại
đã ghi nhận sự biểu hiện tập thể của một dân tộc mà họ không ý thức được và rằng nó thể hiện niềm tin sâu xa về những biến thể tình dục có thể khác lạ với những đạo đức xã hội bị kìm nén” [30]
Đồng tính luyến ái được coi là một trong những hành vi quan trọng nhất của sự lệch hướng đối với đối tượng dục tính Các nhà Phân tâm học đã chỉ ra rằng: Đồng tính luyến ái lắm khi hình thành trong thời thơ ấu, đứa trẻ gắn bó một cách gợi dục với người mẹ, “toàn bộ tình dục dị tính của đứa bé trai bị ràng buộc với người mẹ dưới dạng vô thức” [19;19] Ở thời kì này, đứa con trai không ý thức được đực/nam tính cũng như những yếu tố tính nữ (Anima) của mình đang hướng vào nội tâm của tâm thần với những đòi hỏi, yêu cầu của
Trang 32những suy nghĩ, cảm xúc, hình ảnh và tình cảm có tính trực giác; cùng với đó là
sự gắn kết mật thiết với người mẹ cùng những tình cảm quyến luyến dẫn đến xu hướng lệ thuộc, muốn đồng nhất với hình ảnh người mẹ – yếu tố nữ tính (Anima) được trồi lên một cách mạnh mẽ trong vô thức Jung cho rằng: “Do sự
khác biệt về giới tính (sex) nên phức cảm mẹ ở bé trai không hiện diện ở dạng
thuần nhất Mẹ là người đầu tiên mà người nam muốn trở thành trong quá trình tiếp xúc, và người mẹ không thể, công khai hay giấu giếm, ý thức hay vô thức,
trên nam tính (masculinity) của người con trai, chỉ khi người con trưởng thành mới ý thức được nữ tính (femininity) ở người mẹ của mình, hoặc phản ứng lại nó
một cách vô thức bởi bản năng” [19;19] Như vậy, trong suốt những năm tháng của thời kì ấu thơ, ở đứa con trai luôn diễn ra sự lệch hướng tính dục, nó không
hề hay biết những sự khác nhau về giới tính, những rào cản về đạo đức những điều này sẽ được giáo dục khắc sâu vào trí não nó trong những giai đoạn về sau của quá trình trưởng thành Tuy nhiên, những kinh nghiệm, những dấu ấn đầu tiên mà nó ghi nhận vẫn sẽ ảnh hưởng và chi phối đến cách ứng xử của nó về sau dẫn đến những cách cư xử bình thường hay không bình thường tùy thuộc vào sự ảnh hưởng của người mẹ đối với đứa trẻ nhiều hay ít Khi đứa trẻ bước vào thời kì nhận thức, phức cảm mẹ đã bị kìm nén, chịu sự chi phối bởi hoạt động của ý thức: Tình yêu đối với người mẹ bị kìm nén và nó tự chọn mình để yêu, nó muốn yêu người giống như nó – một đứa bé trai mà mẹ nó yêu Nó tự đồng (nhất) hóa với mẹ, nó tránh những người đàn bà khác có thể làm cho nó phản bội mẹ nó: “Ở người con, phức cảm mẹ hoặc khơi dậy không trọn vẹn, hoặc ngăn cấm bản năng giống cái, và ở người con trai phức cảm mẹ làm tổn
thương bản năng giống đực (masculine instinct) thông qua tình dục trái tự nhiên (unnatural sexualization)” [19;20] Những biểu hiện này khá phổ biến trong
cuộc sống và đã được lột tả khá rõ trong các tác phẩm văn học, điện ảnh, các tác gia đã đi sâu vào những ngóc ngách của đời sống tâm hồn con người, phản ánh những phần khuất lấp ít ai nhìn thấy – phần đời sống của vô thức, của những
phức cảm, bản năng – cái lõi của sự sống con người như trong Thành phố và lũ
chó (Llosa) và Một thế giới không đàn bà (Bùi Anh Tấn) Trong tác phẩm của
Trang 33mình, Bùi Anh Tấn kể về một loạt những người trẻ trai đồng tính luyến ái, ở mỗi nhân vật đều có những nguyên do riêng, trong đó đặc biệt phải kể đến nhân vật Nguyễn Hồng Bàng, anh có một tuổi thơ luôn khao khát có được tình yêu thương của ba mẹ, anh sống cùng ông bà nội và luôn mong chờ được ba mẹ về thăm, nhiều lúc tủi thân ngồi khóc một mình khi thấy những đứa trẻ khác có ba
mẹ bên cạnh Chỉ thỉnh thoảng mới được ba mẹ về thăm, với anh những ngày đó vui như hội, anh sung sướng quẩn quanh bên họ nhưng bao giờ ba cũng lạnh nhạt, thờ ơ với đứa con trai tội nghiệp; còn với mẹ, anh tha thiết được một lần
mẹ trao yêu thương nhưng bà chỉ ném lại nơi anh ánh mắt lạnh lùng sắc lẹm Chính những điều ấy đã khiến tâm hồn đứa trẻ bị tổn thương, niềm khao khát cháy bỏng mãnh liệt kia càng cuộn trào trong nó bao nhiêu thì tình thương yêu,
sự ân cần chăm sóc nó nhận lại nơi bố mẹ càng nguội lạnh, băng giá bấy nhiêu:
“Tôi luôn mang trong người cảm giác của kẻ côi cút từ bé” [27] Và khi nó biết được lí do là vì nó là con riêng của bố nó với một người phụ nữ khác, còn người
mẹ kia chỉ là mẹ kế thì sự tổn thương trong nó lại càng như sâu sắc hơn Anh muốn được yêu thương, muốn nhận được sự yêu chiều săn sóc từ bố mẹ như bao đứa trẻ khác nhưng đó mãi mãi chỉ là mơ ước bị chôn chặt trong vô thức: “Tôi thực lòng mong muốn có một tiếng gọi mẹ khát khao đến cháy lòng” [27] Nhưng cái mà anh cảm nhận thấy là một sự căm ghét, khinh miệt từ mẹ kế và đã chọn cách tránh xa bà để không làm tổn thương chính mình cũng như khiến bà phải bực bội Tình yêu Bàng dành cho mẹ kế không rõ ràng, nó ẩn sâu trong tiềm thức với khao khát có được tình mẹ: Muốn được chạm vào bàn tay trắng trẻo, nõn nà, thơm ngát của bà Chính những tổn thương thuở nhỏ này cùng với nỗi khát khao được nhận tình thương từ ba mẹ khiến Nguyễn Hồng Bàng trở thành một kẻ đồng tính luyến ái – một hiện tượng chưa được xã hội chấp nhận, anh phải che giấu đi con người thật, che giấu những ẩn ức của bản thân để sống cuộc sống của một con người bình thường như bao người khác – cuộc sống mang tính vỏ bọc cho một tâm hồn đang rỉ máu, để rồi khi đêm về anh nhốt mình trong thế giới cô đơn của bóng tối bao trùm, của những khao khát với bạn tình cùng giới cứ cuộn trào, vò xé tâm can Hay như Lê Viễn – một nhân vật nữa
Trang 34cũng mang trong mình thiên hướng tình dục trái tự nhiên do sự tác động, chấn thương tâm lí bởi đối tượng cha – mẹ gây nên, nhân vật hiện lên với tuổi thơ đầy bất hạnh luôn phải chịu đòn roi từ người cha say sỉn trong men rượu không khi nào tỉnh, ông đánh đứa con trai bất cứ khi nào và không kể một lí do gì Người
mẹ vì quá yêu con và không chịu nổi cảnh chồng đánh đập hành hạ vợ con mỗi ngày, trong cơn phẫn uất đã ngộ sát chồng ngay trước mặt con: “Tiếng thét rùng rợn, khào khạo, ngàn ngạt của má cho đến ngày hôm nay mỗi khi nhắm mắt Lê Viễn vẫn còn nhớ đến ” [27] Hình ảnh bàn tay mẹ đẫm máu choàng tới ôm đứa con trai đang run rẩy vào lòng đã hằn sâu vào tâm trí đứa con, đó như một sang chấn, một tổn thương sâu sắc, là căn nguyên của việc sau này đứa con tìm đến những người đàn ông để yêu thương Nó yêu mẹ và căm ghét bố, nó tránh việc trở thành một người đàn ông hung bạo và tàn ác như hình ảnh người bố đã
in sâu vào tiềm thức, nó tự đồng hóa với mẹ và tìm kiếm những người đàn ông
để yêu thương như chính tình yêu mà mẹ nó đã dành cho nó
Jung rất ý thức trong việc phân biệt Eros và homosexuality Ông cho rằng:
“Một người với phức cảm mẹ có thể phân biệt dễ dàng giữa tính dục (Eros) với đồng tính luyến ái (homosexuality) Điều này cho anh ta khả năng vô cùng đối
với tình bạn thường tạo ra những ràng buộc của tính nhạy cảm đáng ngạc nhiên giữa những người đàn ông và thậm chí có thể giải phóng tình bạn giữa các giới với nhau khỏi nhà tù của những điều không thể Anh ta có thể có sự nếm trải ngọt ngào và cảm giác đẹp đẽ được thôi thúc bởi sự hiện diện của tính nữ
(feminine streak) Do đó anh ta có thể được phú cho thiên khiếu như một người thầy bởi sự thấu đáo và sự khéo léo (tact) mang đặc trưng tính nữ đến hoàn hảo của anh ta” [19;20] Đó là nhân vật xưng tôi trong tự truyện Bóng (Hoàng
Nguyên, Đoan Trang), anh luôn biết cách dỗ dành, nịnh nọt, yêu chiều những người tình đồng giới của mình; không chỉ vậy, ở anh còn có một sự đồng điệu, thấu hiểu tâm lí phụ nữ đến bất ngờ: “Tôi dành tâm lí con gái lắm” [13;33] Bởi trong anh có đến năm mươi phần trăm là phụ nữ nên anh thấu cảm những trạng thái tâm lí ấy vì có khi chính anh đã từng sống với những trạng thái đó – sự từng trải được hiện hữu
Trang 351.2.1.2 Trăng hoa
Don Juan là nhân vật đã đi vào huyền thoại của phương Tây: Don Juan
vốn là một thanh niên Tây Ban Nha chuyên quyến rũ một cô gái trong tu viện
sau đó ruồng bỏ họ Từ huyền thoại này, các tác gia đã xây dựng hình tượng
nhân vật này trong các tác phẩm rất thành công Vào thế kỉ XVI, XVII, Tirso de
Molina một nhà soạn kịch Tây Ban Nha viết vở El burlador de Sevila y el
cambido de pierra Trải qua nhều thay đổi, xuất hiện dưới dạng hài kịch ứng tác, Don Juan được Molière viết lại vào năm 1665; tiếp đến, Don Juan được Mozart
viết trong vở opera Don Giovanni và Baudelaire viết trong thơ của mình Rồi
Mérimée, Byron, Dumas cùng nhiều tác gia, nhà soạn nhạc, nhà làm phim cũng
lấy cảm hứng từ nhân vật gian dối này – kẻ dám thách thức những quy tắc đạo
đức xã hội
Xuất phát từ huyền thoại Don Juan, Jung đã gọi tên tính trăng hoa trong
phức cảm mẹ ở người con trai là Don Juanism, thuật ngữ này biểu hiện ý nghĩa:
Một người đàn ông hào hoa, có sức thu hút, quyến rũ với những người phụ nữ xung quanh bởi “lòng dũng cảm và quả quyết rất nam tính; những tham vọng hướng đến những đích cao nhất; sự chống đối với tất cả những điều xuẩn ngốc,
óc thiển cận, bất công, và lười biếng; sẵn lòng hi sinh vì những điều được coi là
đúng đắn, có khi tiến tới chủ nghĩa anh hùng (heroism); tính kiên trì, cứng rắn,
ngoan cố có lí trí; thậm chí tính hiếu kì không rút khỏi những bí ẩn của vũ trụ,
và cuối cùng, tinh thần cách mạng đấu tranh để đem lại diện mạo mới cho thế giới” [19;21] Chính từ những đặc tính này khiến những người có tính Don Juan càng dễ dàng hơn trong việc quyến rũ phụ nữ, hoặc họ chủ động tìm đến những người phụ nữ đó, hoặc những người phụ nữ tự tìm đến họ như chịu sự tác động của một lực từ cuốn hút
Người mang phức cảm này thường thay đổi đối tác nữ rất thường xuyên
và xem họ như một nguồn vui Anh ta thường không nhạy cảm với nhu cầu tình cảm của phụ nữ mặc dù anh ta thường là một kẻ quyến rũ rất tốt Những người đàn ông như vậy không có khả năng có mối quan hệ lâu dài và thậm chí một số người còn sống ngoài phụ nữ Anh ta cố gắng tìm hình bóng mẹ trong những
Trang 36người phụ nữ khác như một sự kích thích thúc đẩy sự dị tính tình dục của mình:
“Người con trai tìm kiếm mẹ mình một cách vô thức ở tất cả những người phụ
nữ mà anh ta gặp” [19;19] (đây được coi là mặt tiêu cực của phức cảm mẹ) Tuy nhiên, bạn tình không bao giờ thỏa mãn được nhu cầu này Đó là nhân vật Kiên
trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) hay Kim Đồng trong Báu vật của đời (Mạc Ngôn)… Lớn lên bằng sự cô đơn và sợ hãi, gia đình Kiên (Nỗi buồn chiến
tranh) là một sa mạc tình người mà mỗi người là một ốc đảo, mỗi người tìm một
con đường, một thế giới riêng Kiên sống với những bóng người câm lặng và cũng đành câm lặng Với cha, Kiên luôn thấy hổ thẹn và sợ hãi; với mẹ, sự quan tâm đến Kiên là những lời huấn thị Tình mẫu tử nhạt nhẽo đến mức anh không
có cảm xúc gì khi mẹ ra đi… anh lớn lên trong mặc cảm và cô đơn, tự thấy mình què quặt, khuyết tật và nhân cách méo mó Chính bầu không khí căng thẳng, lạnh lẽo, lương tri không lành và thói nhân tâm độc ác là hình thức trá ngụy của những khát khao không được thỏa mãn – khát khao tình thương gia đình Và những tác động mạnh mẽ nhất được biểu hiện ở tuổi dậy thì với những vết thương tinh thần in hằn rõ rệt Kiên yêu Hạnh – người mà Kiên gọi là chị – thứ tình cảm được gọi tên “mãi mãi ấy là niềm nuối tiếc và là một nỗi đau mất mát lớn” [14;82] Sở dĩ Kiên đến với Hạnh vì chị là người đầu tiên khơi dậy bản năng giới tính của Kiên ở lứa tuổi mười bảy: “Toàn thân đột ngột sững sờ như thể điện giật, cứng lại trong một nỗi tê dại mà trong đời cậu cho đến khi đó chưa cảm thấy bao giờ” [14;81] Ở đây, Hạnh đóng vai trò là hình ảnh thay thế người
mẹ, là người chị luôn quan tâm đến Kiên nên tất cả niềm yêu thương đáng lẽ dành cho mẹ đã chuyển di sang Hạnh Tình cảm ấy trở thành một vết thương
tinh thần hằn sâu trong cuộc đời Kiên Trong Báu vật của đời Kim Đồng cũng là một điển hình cho tính Don Juan, ở anh ta có niềm quyến luyến đặc biệt với bầu
vú qua căn bệnh “luyến nhũ yếm thực”, cuộc đời Kim Đồng thịnh suy, khỏe yếu đều gắn liền với bầu vú và nguồn sữa mẹ: “Trong giá lạnh, những con người đói khát tưởng tượng ra bao cảnh hấp dẫn: Lửa rừng rực trong lò, gà vịt trong nồi bốc hơi nghi ngút, từng mâm bánh bao, lại còn hoa tươi, lại còn cỏ xanh mượt Trước mắt tôi lại toàn những bầu vú đầy nhựa sống như trái hồ lô, tròn trịa như
Trang 37chim bồ câu bé nhỏ, nhẵn nhụi bóng bẩy như bình sứ Mùi thơm của chúng, vẻ đẹp của chúng, nước cam lồ mà chúng tự động tiết ra rót đầy bụng tôi, thấm đẫm toàn thân tôi, tôi ôm lấy bầu vú, tôi bơi trong dòng sữa ” [25]; cũng vì say mê bầu sữa gắn với niềm yêu mến mẹ quá mức nên anh luôn đi tìm hình bóng mẹ trong những người phụ nữ khác, nói đúng hơn là anh ta nhìn những người phụ
nữ và cảm nhận họ qua hình ảnh bầu vú: “Trên đời này, không ai hiểu bầu vú, yêu bầu vú, biết bảo vệ bầu vú như tôi ” [25] nhưng anh lại chẳng thiết tha tới quan hệ nam nữ, dường như Kim Đồng sống ngoài phụ nữ như một sự bất lực tình dục (không kể lần làm tình có tính ban phát với cái xác trại trưởng Long Thanh Bình tại trại gà thì cho đến năm 42 tuổi, Kim Đồng chưa từng quan hệ với ai) Cả cuộc đời anh sống mờ nhạt, yếu đuối, phải dựa dẫm hoàn toàn vào những người phụ nữ: Mẹ, Kim Một Vú và trở nên thảm hại sau khi mẹ mất – mất hết phương hướng – mất đi chỗ dựa – mất đi nguồn sống
1.2.2 Phức cảm mẹ ở người con gái
Ở người con gái, phức cảm mẹ cũng gây ra những hệ quả như: Sự bành
trướng của những yếu tố mẫu tính (Hypertrophy of the Maternal Element), sự phát triển tính dục thái quá (Overdevelopment of Eros), đồng nhất với mẹ
(Identity with the Mother), kháng cự mẹ (Resistance to the Mother)
1.2.2.1 Sự bành trướng của những yếu tố mẫu tính
Chúng ta nhận thấy ở người con gái, phức cảm mẹ có thể diễn ra theo hai
hướng dẫn tới sự bành trướng của phương diện nữ tính (hypertrophy of the
maternal element) hoặc giảm trừ Jung cho rằng: “Sự phóng đại của phương
diện nữ tính đồng nghĩa với sự tăng lên của tất cả những bản năng giống cái,
trên hết là những bản năng mẹ (materal instincts)” [19;23] Người con gái có
những biểu hiện thái quá trong hành vi chăm sóc cho người thân trong gia đình, đặc biệt là đối với những đứa con của mình Trong trường hợp người đó chưa lập gia đình thì những hành động mang tính bản năng ấy sẽ chuyển di hướng đến đối tượng là anh chị em trong nhà Ngoài những biểu hiện tích cực là tình yêu thương, sự chăm sóc, chở che cho các đối tượng thì “mặt tiêu cực nhận thấy của người phụ nữ ở đây là mục đích duy nhất của họ là sinh con Đối với họ, hiển