Trong những thập kỷ gần đây, rất nhiều các nghiên cứu đã được công bố về hoạt tính sinh học của Nghệ vàng cũng như các thành phần chiết xuất từ củ nghệ, trong các thành phần đó curcumino
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHẠM THỊ KIỀU DUNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN TINH DẦU MỘT SỐ MẪU NGHỆ VÀNG Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý
báu của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Quỳnh Chi và ThS Phạm Tuấn Anh, hai người thầy đã dìu dắt tôi từ những
ngày đầu tiên khi tôi bắt đầu nghiên cứu khoa học tại bộ môn Dược liệu, định hướng, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến ThS Nghiêm Đức Trọng, người thầy đã giúp đỡ và
hướng dẫn tôi trong những bước đầu khi tôi bắt đầu thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn toàn thể thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô bộ môn Dược liệu, các thầy cô bộ môn Thực vật, những người thầy đã truyền cho tôi kiến thức và kĩ năng trong suốt 5 năm qua Tôi cũng vô cùng biết ơn
DS.NCS Nguyễn Thanh Tùng, DS Phạm Thị Linh Giang, DS Lê Thiên Kim những
người thầy, người chị, người anh đã động viên tinh thần và cho tôi rất nhiều những góp ý quan trọng để tôi có thể hoàn thành khóa luận sau bao khó khăn
Xin gửi lời cám ơn đến chị Đỗ Thị Ngân, các em Nguyễn Thị Linh, Trịnh Thị Hải Yến - những người đồng hành cùng với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Cám ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các em Nguyễn Thị Linh, Trịnh Thị Hải Yến, Khổng Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Thúy đã đóng góp rất nhiều công sức quý báu
dành cho khóa luận
Cảm ơn các bạn, các em, những người đã cùng tôi học tập dưới mái trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt 5 năm qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình thân yêu, bạn bè thương mến đã
luôn tin tưởng và ủng hộ tôi, là điểm tựa để tôi ngày càng cố gắng hơn trong học tập và cuộc sống
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về chi Curcuma L 3
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Curcuma L 3
1.1.2 Đặc điểm thực vật của chi Curcuma L 3
1.2 Tổng quan về Nghệ vàng Curcuma longa L 7
1.2.2 Sinh trưởng và phân bố 8
1.2.3 Thành phần hóa học thân rễ Nghệ vàng Curcuma longa L 9
1.2.4 Công dụng 11
CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Nguyên liệu và phương tiện nghiên cứu 14
2.1.1 Nguyên liệu 14
2.1.2 Phương tiện nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Thu mẫu nghiên cứu 17
2.3.2 Xác định hàm lượng tinh dầu 17
2.3.3 Định tính các mẫu tinh dầu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng 17
Trang 52.3.4 Phân tích thành phần tinh dầu bằng sắc ký khí kết hợp khối
phổ (GC/MS) 19
2.2.5 Phân nhóm các mẫu Nghệ vàng nghiên cứu bằng kỹ thuật phân chùm 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Kết quả thu mẫu 22
3.2 Hàm lượng tinh dầu các mẫu Nghệ vàng 26
3.3 Định tính tinh dầu bằng sắc ký lớp mỏng 28
3.4 Kết quả phân tích các mẫu tinh dầu Nghệ vàng bằng sắc ký khí - khối phổ 29
3.5 Phân nhóm các mẫu tinh dầu Nghệ theo thành phần tinh dầu 33
BÀN LUẬN 37
ĐỀ XUẤT 42
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HPTLC High performance thin layer chromatography
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các loài thuộc chi Curcuma L ở Việt Nam 4
Bảng 3.2: Kết quả phân tích thành phần tinh dầu các mẫu: HN.02; NA.01;
HN.05; HY.01; HB.01; HY.02; NA.02; HN.07; HN.08; HN.09; HB.03; HB.02; HN.06 29
Bảng 3.3: Kết quả phân tích thành phần tinh dầu các mẫu: HN.03; HN.04;
HN.01; CB.01; BG.01; NĐ.02; TH.01; TB.01; HT01; NĐ.01; TN.01; HN.10 30
Bảng 3.4: Các cấu tử là thành phần thường gặp trong các mẫu tinh dầu 32 Bảng 3.5: Bảng hàm lượng các thành phần thuộc cụm pic M1, S1, S2 và tỉ lệ S2/S1
33
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
nh Công thức cấu tạo 3 curcuminoid thường gặp 10
nh : Hình ảnh các mẫu thân rễ thu được 24
nh 3.2: Sắc ký đồ các mẫu tinh dầu Nghệ sau khi phun thuốc thử
vanillin/H2SO4 28
nh : Sắc ký đồ mẫu HT.01 31
nh : Biểu đồ phân nhóm tinh dầu bằng phương pháp phân tích chùm 35
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghệ vàng theo cách gọi dân gian là một cây trồng quen thuộc ở nhiều địa phương trong cả nước, được sử dụng từ rất lâu đời để làm gia vị và làm thuốc Trong những thập kỷ gần đây, rất nhiều các nghiên cứu đã được công bố về hoạt tính sinh học của Nghệ vàng cũng như các thành phần chiết xuất từ củ nghệ, trong các thành phần đó curcuminoid và tinh dầu nghệ được chứng minh là những thành phần chính tạo nên dược tính cao của củ Nghệ vàng
Các nghiên cứu đã chứng minh tinh dầu Nghệ vàng có nhiều hoạt tính sinh học
nổi bật như tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt với loại vi khuẩn Streptococus mutans là vi
khuẩn tạo mảng bám trên răng và gây sâu răng [25], tác dụng diệt một số chủng vi nấm gây bệnh trên da [1] cũng như một số chủng nấm gây bệnh cho cây trồng [22], [40], tác dụng chống muỗi, đặc biệt trên các chủng muỗi là vector truyền bệnh sốt xuất huyết, sốt rét với thành phần có hoạt tính là ar-turmeron [14] Tinh dầu nghệ cũng đã được nghiên cứu sử dụng để bảo quản hoa quả tươi sau thu hoạch và cho các kết quả khả quan [6] Đồng thời tinh dầu Nghệ cũng được FDA xếp vào danh mục các hợp
chất an toàn khi sử dụng: GRAS (Generally Recognized As Safe) [42] Như vậy bên
cạnh thành phần curcuminoid , tinh dầu cũng là một thành phần cần được nghiên cứu, khai thác nhằm nâng cao hơn nữa giá trị sử dụng của cây Nghệ vàng
Trên thực tế Nghệ vàng là tên gọi chung ở các địa phương cho một số giống
Nghệ mà phần thân rễ có màu vàng trong đó chỉ có loài Curcuma longa L là loài
chính thức được đưa vào Dược điển Việt Nam cũng như Dược điển một số nước trên thế giới Là một nước được đánh giá cao về sự đa dạng sinh học, Việt Nam có nguồn
Nghệ vàng phong phú, phân bố ở cả miền núi, đồng bằng, trung du Qua một số khảo
sát thực tế trên thị trường, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy có rất nhiều giống nghệ mà thân rễ có màu vàng, được sử dụng với cùng công dụng, nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau về đặc điểm hình thái thân rễ Tại Việt Nam đã có các nghiên cứu về thành phần tinh dầu Nghệ vàng tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trên số lượng mẫu lớn và ở nhiều tỉnh thành khác nhau Để góp phần vào việc nghiên cứu một
cách sâu và rộng hơn các loài nghệ trong nước nói chung, cụ thể là Nghệ vàng
Curcuma longa nói riêng, để từ đó lựa chọn các nguồn gen Nghệ vàng cho tinh dầu có
hoạt tính sinh học cao và để có thể ứng dụng cây Nghệ vàng một cách khoa học, có
Trang 10hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế hơn, đề tài: “Nghiên cứu thành phần tinh dầu một số
mẫu Nghệ vàng ở Việt Nam ” được thực hiện với 2 mục tiêu sau:
1 Phân tích thành phần tinh dầu một số mẫu Nghệ vàng ở Việt Nam
2 Bước đầu phân nhóm các mẫu Nghệ vàng theo thành phần tinh dầu
Trang 11C ƯƠNG TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chi Curcuma L
1.1.1 Vị trí phân loại của chi Curcuma L
Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan (1987) [4], chi Curcuma L có
vị trí phân loại như sau:
1.1.2 Đặc điểm thực vật của chi Curcuma L
Đặc điểm đặc trưng của chi Nghệ (Curcuma L.) là cây thảo, cao 0,5-2 m, rễ
phần lớn dạng ống, thân rễ có nhánh, dày, nạc, có mùi thơm Lá có phiến hình mác rộng hay thuôn, hiếm khi là hình dải hẹp; cuống lá thường dài; lưỡi ngắn Cụm hoa mọc từ thân rễ hay giữa các bẹ lá, thường hoa xuất hiện sau khi có lá, đôi khi hoa xuất hiện cùng lá hay trước lá Các lá bắc dính với nhau nhiều hay ít ở phía dưới và làm thành dạng túi, phần trên xòe ra, mỗi lá bắc chứa một cụm nhỏ có 2-7 hoa, phía đầu các lá bắc có màu sắc khác nhau, các lá bắc con mở đến gốc Hoa có phần dưới đài hình ống hay chuông ngắn, trên xẻ sâu 1 bên, đầu xẻ thành 2 hoặc 3 thùy dạng răng nhỏ; ống tràng dạng phễu hẹp, trên 3 thùy, các thùy gần bằng nhau hay thùy giữa hơi dài hơn hai thùy bên, đầu dạng mũ; bộ nhị có chỉ nhị ngắn, rộng; bao phấn 2 ô, gốc ô bao phấn kéo dài xuống phía dưới thành dạng cựa hay không, phần phụ trung đới kéo dài lên trên thành mào hay không; cánh môi có phần giữa dày, mỏng hơn ở hai bên
Cây ưa bóng, mọc dưới tán rừng ẩm, ven suối, ven nương rẫy, sinh trưởng tốt trên đất giàu dinh dưỡng, đất phù sa nhiều mùn ẩm, thoát nước, không chịu được úng [2]
Trang 121.2.3 Phân bố
Cho tới nay, chi Nghệ (Curcuma L.) có khoảng 120 loài phân bố ở vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới châu Á, đặc biệt là ở Nam và Đông Nam Á (Nguyễn Quốc Bình, 2011) [3]
Theo tổng hợp của Lý Ngọc Sâm và cộng sự đến năm 2015: Ở Việt Nam, hiện có tới 27 loài (Jana Leong-Škorničková, Ngọc-Sâm Lý & Quốc Bình Nguyễn, 2015), phân bố rải rác từ Bắc vào Nam [3]
Tháng 3/2017 tác giả Nguyễn Quốc Bình cùng cộng sự đã mô tả loài nghệ
Curcuma singularis Gagnep bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam khi thực hiện đề tài
“Điều tra, nghiên cứu các loài trong chi Nghệ (Curcuma L.) ở Tây Nguyên” [37]
Tháng 10/2017 tác giả Lưu Hồng Trường cùng cộng sự đã mô tả và công bố loài
nghệ mới Curcuma cotuana Luu, Škorničk & H.Đ.Trần sp nov [33]
Như vậy cho đến nay đã có 29 loài thuộc chi Curcuma L được báo cáo ở Việt Nam Danh sách cụ thể 29 loài thuộc chi Curcuma L có mặt ở Việt Nam được trình bày
trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Các loài thuộc chi Curcuma L ở Việt Nam
TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Phân bố TLTK
Tây Ninh, Châu Đốc, Quảng Ninh Kom Tum, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang
[2], [9]
Trang 13TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Phân bố TLTK
Lắc(Yok Đôn), Bà Rịa- Vũng Tàu
Sơn La (Mộc Châu), Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh
co khản min (Thái)
Được trồng ở nhiều nơi ở Việt
Hiện nay chưa thu lại được mẫu [2], [9]
Lào Cai (Sa Pa), Thái Nguyên (Đại Từ), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (Bá Thước), Kon Tum (Đắk Glei,
Trang 14TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Phân bố TLTK
Mọc hoang ở Sơn La Mộc Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Bình Phước,
Mọc hoang dại và được trồng
ở nhiều nơi ở Việt Nam [2], [9]
Lắk (Ea Súp), Tây Ninh [2], [9]
Thanh Hóa, Gia Lai (Mang Yang), Lâm Đồng (Dran, Lang Bian)
[2]
Salisb
Nghệ trắng, Nghệ rừng, Ngải trắng Uất
kim
Được trồng và mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam
Sơn La (Mộc Châu), Yên Bái (Văn Chẩn), Cao Bằng (Nguyên Bình),
Hà Nội (Ba Vì, Từ Liêm), Ninh Bình (Cúc Phương), Lâm Đồng (Bảo Lộc)
Cho đến nay, loài C arida chỉ
mới ghi nhận phân bố tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, một trong những nơi
[31], [44]
Trang 15TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Phân bố TLTK
khô hạn nhất Việt Nam
Škorničk & N.S.Lý
Nghệ sa huỳnh,
C sahuynhensis chỉ mới ghi nhận
phân bố ở các kiểu rừng trên đất thấp ven biển thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nhất là các
xã Phổ Thạnh và xã Phổ Khánh
[31], [44]
Gia Lai: Sa Thay, KBang
1.2 Tổng quan về Nghệ vàng Curcuma longa L
Trang 16Nghệ vàng Curcuma longa L (Curcuma domestica Valet.) trong nước còn được
gọi với tên đồng nghĩa khác là khương hoàng, co hem, co khản mỉn (Thái), khinh lương (Tày)
Tên nước ngoài: Common turmeric, long turmeric (Anh), safran des Indes (Pháp)
Họ: Gừng (Zingiberaceae) [13]
Bộ phận thường dùng để làm thuốc của nghệ vàng là thân rễ, trong đông y gọi là
khương hoàng (Rhizoma Curcuma longae) và rễ củ gọi là uất kim (Radix Curcuma
longae) [11]
1.2.1 Đặc điểm thực vật
Cây có thân thảo, cao 0,60-1m Thân rễ to, có ngấn, phân nhánh thành nhiều củ hình bầu dục, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng, vàng sẫm, vàng cam đến vàng đỏ, mùi thơm [2], [5], [9], [10], [11] Lá mọc thẳng từ thân rễ, gốc thuôn hẹp, đầu hơi nhọn, dài 30 - 40 cm, rộng 10 - 15cm, hai mặt nhẵn cùng màu lục nhạt, mép nguyên uốn lượn, bẹ lá rộng và dài Cụm hoa hình trụ hoặc hình trứng đính trên một cán mập dài đến 20 cm, mọc từ giữa túm lá; lá bắc rời, màu rất nhạt, những lá phía dưới mang hoa sinh sản, màu lục hoặc trắng nhạt, những lá gần ngọn không mang hoa hẹp hơn và pha màu hồng ở đầu lá; đài có 3 răng không đều; tràng có ống dài, cánh giữa dài hơn các cánh bên, màu vàng; nhị có bao phấn có cựa do một phần lồi ra của trung đới ở dưới các ô, nhị lép dài hơn bao phấn; cánh môi hơi chia 3 thùy; bầu có lông [2], [13]
1.2.2 Sinh trưởng và phân bố
Nghệ là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng; cây có biên độ sinh thái rộng, thích nghi được với nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, từ khí hậu cận nhiệt đới đến khí hậu nhiệt đới điển hình Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông ở các tỉnh phía bắc và mùa khô ở các tỉnh phía nam Cây mọc lại vào giữa mùa xuân, có hoa sau khi đã ra lá Hoa mọc trên những thân của những chồi năm trước Những thân đã
ra hoa thì năm sau không mọc lại nữa và phần thân rễ của chúng trở thành những „„củ cái‟‟ già, sau 1 - 2 năm bị thối, cho những nhánh non nẩy chồi thành các cá thể mới Nghệ thu hoạch vào mùa đông khi thân lá tàn lụi Thân rễ thường được thu hái vào
Trang 17tháng 8 và 9 cắt bỏ hết rễ để riêng Muốn để lâu phải hấp trong 6 - 12 giờ sau đó để ráo nước đem phơi nắng hoặc sấy khô [13]
Nghệ có nguồn gốc nguyên thủy có lẽ từ Ấn Độ Từ xa xưa, cây đã được trồng
ở nhiều nơi về sau trở nên hoang dại, trước hết là ở Trung Quốc Vào thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 8, cây được du nhập sang Đông Phi, đến thế kỷ thứ 13, sang vùng Tây Phi và thế kỷ 18 người dân Jamaica mới tiếp xúc với cây nghệ Ngày nay nghệ
là một cây trồng quen thuộc ở khắp các nước vùng nhiệt đới, từ Nam Á đến Đông Nam Á và Đông Á [13]
Ở Việt Nam, nghệ là cây trồng lâu đời phân bố ở khắp các địa phương từ vùng đồng bằng ven biển đến vùng núi cao trên 1500m Ở một số nơi thuộc huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu)…nghệ đã trở nên hoang dại hóa ở các ruộng ngô, nương rẫy [13]
1.2.3 Thành phần hóa học thân rễ Nghệ vàng Curcuma longa L
Trong khoảng 110 loài thuộc chi Curcuma L., chỉ có khoảng 20 loài đã được nghiên cứu về thành phần hóa học Trong đó Curcuma longa là loài được nghiên cứu
về thành phần hóa học nhiều nhất [32]
Cho đến nay có khoảng hơn 200 hợp chất là thành phần của thân rễ Nghệ vàng
đã được xác định, chủ yếu là các hợp chất phenolic, terpenoid, cụ thể bao gồm các diarylheptanoid (thường được biết đến là các curcuminoid), các diarylpentanoid, monoterpen, sesquiterpen, diterpen, triterpenoid, alcaloid và sterol [32]
Trong đó 2 thành phần trong thân rễ Nghệ vàng là các curcuminoid (các chất màu phenolic) và các thành phần trong tinh dầu nghệ là các thành phần chính đã được chứng minh là có vai trò quyết định đến tác dụng dược lý của thân rễ Nghệ vàng Curcuminoid là thành phần đem lại màu vàng của thân rễ nghệ còn tinh dầu Nghệ mang lại mùi thơm và hương vị cho thân rễ Nghệ [41]
Curcuminoid
Thành phần chính được nghiên cứu nhiều nhất trong nhóm curcuminoid là curcumin Bên cạnh curcumin còn có 2 curcuminoid khác là demetoxycurcumin và bisdemetoxycurcumin [41] “Curcumin” thương phẩm trên thị trường trên thực tế là hỗn hợp của curcumin, demetoxycurcumin and bisdemetoxycurcumin (Hình1.1) Ba
Trang 18curcuminoid này cũng được tìm thấy ở một vài loài khác thuộc chi Curcuma L nhưng
là xuất xứ của cây Nghệ vàng
Các nghiên cứu đã công bố cho thấy tinh dầu thân rễ Nghệ vàng có các thành phần thuộc hai nhóm monoterpen và sesquiterpen
Các monoterpen chính trong các mẫu tinh dầu Nghệ vàng Curcuma longa L đã
được công bố bao gồm: p-cymen, α-terpinen, β-terpinen, α-phellandren, β-phellandren terpinolen, camphor, α-pinen, β-pinen, 1,8-cineol, myrcen, linalool, isoborneol, α- terpineol [32], [21], [34], [16] Tuy nhiên, hàm lượng cũng như sự có mặt của các thành phần cụ thể phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc mẫu Nghệ cũng như điều kiện sinh trưởng, giống, vị trí địa lý, nguồn, điều kiện canh tác, môi trường, phương pháp thu hoạch và điều kiện bảo quản…[32], [21]
Nhóm sesquiterpen thường chiếm tỷ lệ cao trong tinh dầu thân rễ Nghệ vàng Các thành phần sesquiterpen thường gặp bao gồm: ar-turmeron, β-turmeron, ar-curcumen, ar-tumerol, bisabolon, α-zingiberen, (Z)-α-atlanton, β-bisabolen, α-curcumen, β-curcumen, β-sesquiphellandren, (Z)-γ-atlanton, (E)-γ-atlanton, germacron, β-farnesen, curzerenon [32] Tuy thành phần và hàm lượng các cấu tử trong nhóm này có sự biến
Curcumin: R1 = R2 = OCH3Demethoxycurcumin: R1 = H, R2 = OCH3Bisdemethoxycurcumin: R1 = R2 = H
Trang 19đổi giữa các vùng địa lý nhưng thành phần đặc trưng cho tinh dầu Nghệ vàng là hỗn hợp 3 sesquiterpen ar-turmeron, α-turmeron và β-turmeron [12] Trong các mẫu tinh dầu Nghệ vàng ở Ấn Độ [16], Pakistan [34], Trung Quốc, Nhật Bản, Iran [32], ar-turmeron
là thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất (dao động trong khoảng 25- 70%) Trong khi đó, một vài nghiên cứu về thành phần tinh dầu Nghệ vàng khác ở Thái Lan [36], Hàn Quốc [25] lại có thành phần α-turmeron chiếm tỷ lệ cao nhất (50% và 36%) Nghiên cứu mẫu Nghệ vàng ở miền Bắc Ấn Độ lại cho thấy 2 thành phần chiếm tỉ lệ lớn nhất
và tương đương nhau là: 1,8-cineol (11,2%), ar-turmeron (11,1%) [40] Một nghiên cứu khác về mẫu nghệ vàng ở Nepal lại cho thấy β-turmeron chiếm tỉ lệ cao nhất (17,74%) [21]
Ở Việt Nam, Nghệ vàng được tập trung nghiên cứu chủ yếu về thành phần curcumin và các hoạt tính sinh học có liên quan, rất ít nghiên cứu tập trung phân tích thành phần tinh dầu Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Cúc và cộng sự nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Nghệ vàng thu tại Hưng Yên đã phân tích và xác định được 13 thành phần trong tinh dầu bao gồm các hợp chất monoterpen (1,8-cineol, terpinolen) và sesquiterpen (β-caryophyllen, α-humulen, ar-curcumen, α-zingiberen, β-bisabolen, β-sesquiphellandren, zingiberen, ar-tumeron, α-tumeron), trong đó ar-turmeron là thành phần chính chiếm tỷ lệ cao nhất (30,3%) [20] Mẫu Nghệ vàng ở Kontum cũng cho tinh dầu có thành phần chính là ar-turmeron (22,34%) [8] Trong khi đó, thành phần tinh dầu Nghệ vàng thu tại Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Nam và Nghệ An lại có thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất là α-turmeron (dao động từ 31% đến 43%) [1] Các thành phần còn lại có sự dao động lớn về hàm lượng
Trang 20Rễ củ nghệ (uất kim) chữa khí huyết uất trệ, hông sườn đau, chảy máu cam, thổ
huyết, đái ra màu, nhiệt bệnh hôn mê, dùng ngoài chữa vết thương lâu lên da [13] Theo y học hiện đại
Curcumin đã được nghiên cứu và cho thấy có nhiều tác dụng sinh học như: tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa (dạ dày, ruột), bảo vệ gan, kích thích tuyến tụy tiết các men tiêu hóa, bảo vệ tim mạch, tác dụng làm chống lại suy giảm trí nhớ, giảm lipid máu, đặc biệt là chống viêm, chống oxy hóa Ngoài ra curcumin cũng được tìm thấy tác dụng trong điều trị ung thư, đái tháo đường, chống lại một số nấm mốc, vi khuẩn và virus gây bệnh [18]
Các nghiên cứu in vitro, in vivo và các thử nghiệm lâm sàng thực hiện tại Trung Quốc và
Mỹ đã cho thấy tiềm năng trong điều trị Alzheimer của curcumin [32]
Các tác dụng sinh học của tinh dầu nghệ vàng đã được tổng hợp trong tổng quan của Suruchi Verma và Vikas Kumar năm 2015 bao gồm các tác dụng: kháng nấm, chống côn trùng, kháng khuẩn, chống kết tập tiểu cầu, chống viêm, giảm đau, chống oxy hóa, chống viêm khớp, chống lại cơn thiếu máu não cục bộ và chống lại suy giảm nhận thức do làm chậm sự thoái hóa của tế bào não Bên cạnh đó tác dụng của tinh dầu Nghệ vàng chống lại xơ hóa dưới niêm mạc miệng, bảo vệ gan, chống virus và chống lại khối u cũng đã được báo cáo [42] Tinh dầu Nghệ cũng có thể cải thiện sinh khả dụng của curcumin sau khi dùng đường uống ở người [15] Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cũng đã công nhận tinh dầu Nghệ vàng là phụ gia thực phẩm cũng như là một thuốc an toàn [42]
Các kết quả nghiên cứu về tác dụng dược lý cụ thể đã cho thấy tinh dầu Nghệ vàng có thể được sử dụng có hiệu quả trong dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm trùng
răng miệng do Streptococus mutans [25] Tinh dầu thân rễ Nghệ vàng có hoạt tính
kháng nấm mạnh trên các chủng nấm gây bệnh trên da người [1], ức chế một số loại nấm mốc và một số loại nấm gây bệnh cho cây trồng [22], [40] Tinh dầu Nghệ vàng
Curcuma longa L có tác dụng chống muỗi Aedes aegypti và Anopheles dirus và đặc
biệt ar-turmeron thành phần chính của tinh dầu Nghệ vàng có tác dụng chống muỗi
một liều lượng [14]
Trang 21Thành phần chính trong tinh dầu thân rễ Nghệ vàng, ar-tumeron là thành phần đã được chứng minh là có khả năng kháng khuẩn, chống lại ấu trùng và chống oxy hóa [32], điều trị các bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da do nấm, chống ung thư [34] Trên thế giới, một số thử nghiệm tiền lâm sàng đã được triển khai và bước đầu cho thấy ar-tumeron có khả năng ứng dụng trong điều trị động kinh [38], ung thư [23], đái tháo đường [35], chống kết tập tiểu cầu [24] đã khẳng định vai trò thực tiễn và tiềm năng
ứng dụng trong y học của tinh dầu thân rễ Nghệ vàng Curcuma longa L
Ở Việt Nam, ứng dụng đồng thời tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm của tinh dầu Nghệ vàng trong thực tiễn là hướng đi mới đang rất được quan tâm, trong đó đề tài nghiên cứu sử dụng tinh dầu Nghệ vàng trong bảo quản hoa quả tươi đã cho các kết quả khả quan [6]
Trang 22C ƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ P ƯƠNG P ÁP NG IÊN CỨU
2.1 Nguyên liệu và phương tiện nghiên cứu
2.1.1 Nguyên liệu
Mẫu thân rễ Nghệ vàng ( theo tên gọi tại các địa phương) được thu tại các vườn
cây thuốc, vườn trồng nghệ gia đình ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam
Mẫu thân rễ được thu cùng toàn bộ phần trên mặt đất để xác định nguồn gốc Thời
gian thu hái chủ yếu vào tháng 11/ 2016 và tháng 10/2017, thu lấy phần thân rễ đã trải
qua thời gian sinh trưởng cố định bắt đầu từ đầu mùa vụ (bắt đầu vào mùa xuân, chủ
yếu vào tháng 2 dương lịch)
Thông tin và ký hiệu của 25 mẫu thu được được trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Thông tin thu mẫu STT Ký hiệu Địa điểm thu mẫu Thời gian thu mẫu
Trung tâm nghiên cứu cây trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội Viện Dược Liệu
01/11/2016
cây trồng học viện Nông Nghiệp
Việt Nam
03/10/2017
Trang 23STT Ký hiệu Địa điểm thu mẫu Thời gian thu mẫu
2.1.2 Phương tiện nghiên cứu
a) Hóa chất
- Các dung môi: dung môi dùng cho phân lập chất đối chiếu và triển khai sắc ký
lớp mỏng: ethylacetat, toluen, n-hexan đạt tiêu chuẩn phân tích; dung môi dùng cho phân tích GC/MS: chloroform, n-hexan đạt chuẩn để phân tích HPLC
- Thuốc thử hiện màu trong sắc ký lớp mỏng: vanilin - acid sulfuric đƣợc pha mới bằng cách phối hợp đồng thể tích vanilin 1% trong cồn và dung dịch H2S04 10% trong cồn
- Natri sulfat khan (Trung Quốc)
- Dãy đồng đẳng alkan C8-C20 (Sigma Aldrich)
b) Thiết bị và dụng cụ
* Dùng cho định lƣợng tinh dầu
- Cân kỹ thuật Statoris TE412
- Bếp điện
- Bộ dụng cụ cất tinh dầu theo Dƣợc điển Mỹ
* Dùng cho phân tích thành phần tinh dầu
Trang 24- Cột sắc ký (chiều dài 50 cm, đường kính trong 2 cm), chất nhồi cột: silicagel 0,04 - 0,063 mm (Merck )
- Bản mỏng HPTLC silicagel 60 F254 (Merck), 10x10 cm
- Hệ thống sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao CAMAG (máy chấm sắc ký tự động Linomat 5, buồng chụp bản mỏng TLC Visualiser có kết nối máy tính với phần mềm VisionCATs, bình khai triển sắc ký)
- Hệ thống sắc ký khí Agilent 7890A, detector khối phổ 5975C, cột DB-5MS (30
2.2 Nội dung nghiên cứu
* Phân tích thành phần tinh dầu một số mẫu Nghệ vàng ở Việt Nam
- Thu hái các mẫu Nghệ vàng ở một số tỉnh thành và mô tả đặc điểm thực vật các bộ phận thu được
- Xác định hàm lượng tinh dầu bằng phương pháp cất kéo hơi nước
- Phân tích các mẫu tinh dầu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC)
- Xác định các thành phần tinh dầu bằng phương pháp sắc ký khí hết hợp khối phổ (GC/MS)
* Phân nhóm các mẫu Nghệ vàng dựa trên các thành phần tinh dầu
- Phân nhóm các mẫu tinh dầu bằng kỹ thuật phân chùm theo cụm thứ bậc HCA (Hierarchical cluster analysis)
Trang 252.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu mẫu nghiên cứu
Mẫu sau thu hái tại thực địa sẽ được mô tả đặc điểm hình thái những bộ phận thu được và đối chiếu với các tài liệu chuyên sâu về thực vật như: Nghiên cứu phân loại họ
Gừng (Zingiberaceae Lindl.) ở Việt Nam của Nguyễn Quốc Bình [2], thực vật chí
Trung Quốc (Flora of China) [43]
Các mẫu sẽ được chụp ảnh toàn cây, một số mẫu có hoa sẽ được chụp ảnh, phân tích hoa để giám định loài Các mẫu chưa có hoa được mang về trồng dưới vườn thực vật - trường ĐH Dược Hà Nội để lưu mẫu, phục vụ công tác giám định loài Phần thân
rễ sau khi thu hái được rửa sạch, chụp ảnh toàn bộ phần thân rễ, lát cắt ngang và lát cắt dọc, mô tả về màu sắc Các mẫu này sau đó được làm nhỏ để cất tinh dầu
Xác định tên khoa học với những mẫu thu được hoa sẽ dựa trên việc so sánh, đối chiếu đặc điểm hình thái, dựa vào các khóa phân loại [2], [43] và với sự giúp đỡ của chuyên gia phân loại bộ môn Thực vật
2.3.2 Xác định hàm lượng tinh dầu
Tinh dầu thu được bằng phương pháp cất kéo hơi nước, sử dụng bộ dụng cụ cất tinh dầu theo mô tả của Dược điển Mỹ Thân rễ được rửa sạch, cân và chia nhỏ Đổ nước vừa đủ ngập lượng dược liệu, cất cho đến khi lượng tinh dầu không tăng lên nữa thì tắt bếp, để nguội, đọc thể tích tinh dầu Tinh dầu được loại nước bằng Na2SO4khan, bảo quản trong lọ kín trong tủ lạnh Hàm lượng tinh dầu (thể tích/khối lượng) được tính trên dược liệu tươi
Trong đó : - X (%) là hàm lượng tinh dầu tính theo dược liệu tươi;
- V là thể tích tinh dầu thu được (ml);
- m là khối lượng thân rễ đem cất (g)
2.3.3 Định tính các mẫu tinh dầu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng
2.3.3.1 Khảo sát hệ dung môi khai triển và phân lập chất đối chiếu
Trang 26* Khảo sát hệ dung môi khai triển
- Khảo sát một số hệ dung môi thông thường để lựa chọn hệ dung môi pha động
thích hợp phân tích tinh dầu nghệ bằng sắc ký lớp mỏng
Hệ dung môi khai triển được lựa chọn là hệ dung môi cho khả năng tách các vết chất rõ nhất Các hệ dung môi cũng được lựa chọn cho sắc ký cột để phân lập một số thành phần chính trong tinh dầu làm chất đối chiếu trong sắc ký lớp mỏng
* Phân lập chất đối chiếu
Các thành phần chính trong tinh dầu nghệ được phân lập bằng phương pháp sắc
ký cột với chất nhồi cột là silicagel 0,04 - 0,063 mm (Merck), hệ dung môi rửa giải được lựa chọn theo kết quả khảo sát
- Chuẩn bị cột: cột sắc ký được rửa sạch, để khô và lót một miếng bông nhỏ dưới
đáy cột
- Chuẩn bị chất nhồi cột: silicagel sau khi hoạt hóa được ngâm với một lượng vừa
đủ n- hexan, khuấy đều, đuổi hết bọt khí
- Nhồi cột: tiến hành nhồi cột theo phương pháp nhồi ướt, hỗn dịch silicagel đã
chuẩn bị ở trên được đổ từ từ lên cột, vừa đổ vừa gõ nhẹ vào thành cột để silicagel được nén đều, mở khóa cột tối đa Sau khi đưa hết silicagel lên cột, tiếp tục gõ nhẹ, đều và đối xứng xung quanh thân cột tới khi trong cột không còn bọt khí, bề mặt lớp silicagel phẳng và ổn định Cho dung môi chảy qua cột trong 2 giờ để ổn định cột, chiều cao cột sau khi ổn định là 20 cm
- Nạp mẫu: tinh dầu được pha loãng trong n-hexan với tỉ lệ 1:5, thể tích dịch pha loãng tinh dầu đưa lên cột là 1,8 ml
- Tiến hành rửa giải với dung môi đã chọn, tốc độ rửa giải 20 giọt/phút, thu dịch rửa giải vào các ống nghiệm, mỗi ống 1 ml
- Kiểm tra các phân đoạn thu được bằng SKLM Các phân đoạn chỉ có 1 vết chất,
có cùng giá trị Rf trên sắc ký đồ được gộp lại Phân tích các thành phần phân lập được bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ
2.3.3.2 Phân tích các mẫu tinh dầu bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng
Trang 27Sau khi đã lựa chọn hệ dung môi pha động và phân lập chất đối chiếu, 25 mẫu tinh dầu thu được được phân tích đồng thời bằng sắc ký lớp mỏng
Các điều kiện khai triển sắc ký chung:
- Bản mỏng HPTLC silicagel 60 F 254 (Merck) tráng sẵn, được hoạt hóa ở 110oC trong 1h, để nguội và bảo quản trong bình hút ẩm
- Dịch chấm sắc ký: tinh dầu nghệ được pha loãng với chloform với tỉ lệ 1:30 Mẫu thử được đưa lên bản mỏng dưới dạng dải 5 mm, thể tích chấm 2 µl bằng hệ thống máy chấm bán tự động Linomat 5.Vị trí tiêm mẫu cách mép dưới bản mỏng 10,0
mm Khoảng cách giữa vết ngoài cùng và mép ngoài bản mỏng là 8,5 mm Khoảng cách giữa 2 vết chấm là: 4mm
- Sau khi khai triển với hệ dung môi pha động thích hợp, bản mỏng được quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 254 nm và 366 nm, sau khi phun thuốc thử hiện màu vanillin - acid sulfuric, sấy ở 1100C trong 5 phút, hình ảnh sắc ký được chụp bằng buồng CAMAG TLC Visualiser dưới ánh sáng thường
2.3.4 Phân tích thành phần tinh dầu bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC/MS)
* Mẫu phân tích: tinh dầu được pha loãng trong cloroform với tỷ lệ 1:100
* Phân tích tinh dầu bằng hệ thống sắc ký khí Agilent 7890A, detector khối phổ 5975C; cột DB-5MS (30 m x 0,25 mm x 0,25 µm) Khí mang heli, tốc độ dòng 1 ml/phút; chương trình nhiệt độ: 45oC trong 5 phút, tăng 3oC/phút đến 240oC, tăng 10°C/phút đến 280o
C, giữ trong 10 phút Thể tích tiêm mẫu 1µl, chia dòng 1:50
* Các thành phần trong tinh dầu được xác định dựa trên giá trị RI, so sánh với các dữ liệu có trong thư viện NIST và cơ sở dữ liệu đã được công bố [17] Chỉ số lưu giữ RI được tính toán dựa trên dãy đồng đẳng alkan C8-C20 (Sigma Aldrich), được phân tích trên cùng cột và cùng chương trình phân tích tinh dầu Tính chỉ số RI của từng pic theo công thức:
Trong đó:
Tx: Thời gian lưu của chất phân tích;
Trang 28Tn: Thời gian lưu của alkan liền trước pic của chất phân tích;
Tn+1: Thời gian lưu của alkan liền sau pic của chất phân tích;
n: số nguyên tử carbon của alkan liền trước pic của chất phân tích
2.2.5 Phân nhóm các mẫu Nghệ vàng nghiên cứu bằng kỹ thuật phân chùm
Phép phân nhóm sử dụng kết quả phân tích thành phần tinh dầu bằng GC/MS, sử dụng biến số đưa vào là hàm lượng các thành phần để so sánh các mẫu tinh dầu
Phép phân nhóm thực hiện bằng kỹ thuật phân chùm theo cụm thứ bậc (Hierarchical cluster analysis), sử dụng phần mềm SPSS 20
Trong đó, sử dụng các phương pháp:
- Agglomerative approach-bottom up approach: Ban đầu, mỗi đối tượng (mẫu tinh dầu) được coi là 1 nhóm (cluster) và nhóm 2 đối tượng gần nhất (có khoảng cách nhỏ nhất) thành 1 cụm (clusters) mới Quá trình này lặp lại cho đến khi tất cả các đối tượng được nhóm vào 1 cụm (clusters) cuối cùng
- Tính toán khoảng cách bằng phương pháp khoảng cách bình phương (Squared Euclidean Distance): khoảng cách giữa hai đối tượng sẽ được tình theo công thức sau:
Trong đó: - i, j là hai đối tượng
- X1i, X2i,…, Xki là giá trị của các biến nằm trong đối tượng i
- X1j, X2j,…, Xkj là giá trị của các biến nằm trong đối tượng j
- Nhóm các clusters bằng phương pháp liên kết trung bình giữa các nhóm (average linkage between groups): Khoảng cách giữa 2 clusters được tính là khoảng cách trung bình giữa các đối tượng trong 2 clusters đó (average distance)
Trang 29Ví dụ: clusters A gồm 2 đối tƣợng a và b, clusters B gồm 3 đối tƣợng c,d,e thì khoảng cách giữa 2 clusters A và B sẽ đƣợc tính bằng giá trị trung bình của các khoảng cách: (a,c); (b,c); (a,d); (b,d); (a,e); (b,e)
Kỹ thuật phân chùm theo cụm thứ bậc HCA (Hierarchical cluster analysis) sẽ sắp xếp các mẫu tinh dầu vào các chùm thông qua tính toán khoảng cách giữa các mẫu-thể hiện sự khác nhau về hàm lƣợng các thành phần trong tinh dầu và biểu diễn trên biểu
đồ dendrogram Trên biểu đồ, các mẫu có thành phần càng giống nhau sẽ đƣợc xếp gần nhau và đƣợc xếp vào cùng một chùm
Trang 30C ƯƠNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả thu mẫu
Sau khi quan sát và đối chiếu đặc điểm phần trên mặt đất thu được tại thực địa của 25 mẫu thu được cho thấy có đặc điểm cơ quan sinh dưỡng phù hợp với mô tả loài
Curcuma longa L trong tài liệu về thực vật [2], [43] như sau: cây thân thảo, lá mọc
thẳng từ thân rễ, gốc thuôn hẹp, đầu hơi nhọn, hai mặt nhẵn có màu lục nhạt, mép nguyên uốn lượn, bẹ lá rộng và dài
Tuy nhiên phần thân rễ giữa các mẫu thu được có sự dạng về hình thái (số nhánh, kích thước nhánh, hướng mọc các nhánh) và đặc biệt có sự khác nhau về cường
độ màu và màu sắc theo 3 nhóm màu chủ yếu: Nhóm màu vàng cam sẫm, nhóm màu vàng sáng đến vàng đậm và nhóm màu vàng nhạt
Hình ảnh các mẫu thân rễ nghệ thu được như sau:
Trang 31Mẫu HN.05 Mẫu HN.06
Mẫu HN.07 Mẫu HN.08
Mẫu HN.09 Mẫu HN.10
Trang 32Mẫu HT.01 Mẫu BG.01
Trang 33Mẫu NĐ 02 Mẫu TH.01
Mẫu TN.01 Mẫu NA.01 Mẫu NA.02
nh nh ảnh các mẫu thân rễ thu đƣợc
Trang 34Trong 25 mẫu nghiên cứu, có 9 mẫu Nghệ vàng đã thu được hoa Qua quan sát,
mô tả, phân tích đặc điểm cơ quan sinh dưỡng cùng với các đặc điểm của hoa, kết hợp
với các tài liệu chuyên sâu về thực vật và sự giúp đỡ của Th.S Nghiêm Đức Trọng - Bộ
môn Thực vật trường Đại học Dược Hà Nội, các mẫu trên đã được xác định thuộc về 2
loài là: Curcuma longa L (bao gồm các mẫu HT.01, HB.01, HB.02, HB.03 và NĐ.01) và
Curcuma viridiflora Roxb (bao gồm các mẫu: HN.10, HN.07, HN.08, HN.09) (Phụ lục 1)
3.2 àm lượng tinh dầu các mẫu Nghệ vàng
Hàm lượng tinh dầu tính trên dược liệu tươi dao động từ 0,1 cho đến 1,5% Đa số
các mẫu tinh dầu có hàm lượng nằm trong khoảng 0,5 đến 1% Mẫu có hàm lượng cao
nhất là HN.02 (1,5%), mẫu có hàm lượng thấp nhất là NĐ.01 và TN.01 (0,1%) Tinh
dầu thu được có dạng lỏng, nhẹ hơn nước và có mùi thơm đặc trưng Màu sắc tinh dầu
thu được không màu hoặc có màu vàng nhạt, riêng 2 mẫu cho tinh dầu màu vàng sẫm
là HN.03 và HN.04 Hàm lượng tinh dầu tính theo dược liệu tươi của 25 mẫu nghiên
cứu được trình bày theo bảng sau:
Bảng àm lượng tinh dầu tính theo dược liệu tươi
TT Kí hiệu mẫu
Khối lượng thân
rễ đem cất (g)
Thể tích tinh dầu thu được (ml)
àm lượng tinh dầu (%, V/m)
Trang 35TT Kí hiệu mẫu
Khối lƣợng thân
rễ đem cất (g)
Thể tích tinh dầu thu đƣợc (ml)
àm lƣợng tinh dầu (%, V/m)
Trang 363.3 Định tính tinh dầu bằng sắc ký lớp mỏng
3.3.1 Khảo sát hệ dung môi khai triển và phân lập chất đối chiếu:
Sau khi khảo sát một số hệ dung môi thông thường, nhóm nghiên cứu lựa chọn
hệ dung môi tolueethylacetat (97:3) để khai triển sắc ký lớp mỏng và hệ dung môi hexan - ethylacetat (70:1) để triển khai sắc ký cột
n-Bằng phương pháp sắc ký cột đã phân lập được 2 thành phần chính, ký hiệu là X1 và X2 Các thành phần này đều cho 1 vết chất trên sắc ký đồ Tuy nhiên khi phân tích bằng GC/MS cho kết quả:
X1: hỗn hợp ar-curcumen, α-zingiberen, α-bisabolen, β-sesquiphellandren
X2: Hỗn hợp β-turmeron, ar-turmeron, α-turmeron
Trên hình ảnh sắc ký đồ 25 mẫu tinh dầu có thể nhận thấy xuất hiện nhiều vết chất
có màu sắc khác nhau và tách nhau khá rõ ràng, các vết chất có giá trị Rf nằm trong
Trang 37khoảng 3 vùng Rf = 0,1-0,3 (nhiều vết chất nhỏ); Rf = 0,3-0,6 (có vết đậm nhất màu tím
đỏ Rf = 0,50); Rf = 0,6-0,9 (có vết đậm màu xanh tím Rf = 0,78) (hình 3.2)
So sánh với 2 phân đoạn chất đối chiếu X1, X2 nhận thấy tất cả các mẫu tinh dầu đều chứa thành phần thuộc 2 phân đoạn này chứng tỏ sự có mặt các thành phần của hầu hết các mẫu tinh dầu đều là các sesquiterpen không chứa oxy (S1) và các sesquiterpen có chứa oxy (S2) Trong các mẫu nghiên cứu, riêng 2 mẫu HN.03 và HN.04 kết quả sắc ký đồ cho thấy S1 và S2 trong tinh dầu 2 mẫu này có hàm lƣợng thấp hơn nhiều so với các mẫu còn lại
Nhƣ vậy dựa trên quan sát và so sánh sự có mặt của các vết chất trên sắc ký đồ 25 mẫu tinh dầu, sơ bộ có thể thấy tinh dầu 25 mẫu Nghệ phân tích đƣợc chia làm 3 nhóm:
3.4 Kết quả phân tích các mẫu tinh dầu Nghệ vàng bằng sắc ký khí - khối phổ
Kết quả phân tích 25 mẫu tinh dầu bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ đƣợc trình bày trong bảng 3.2 và 3.3 Trong đó, hàm lƣợng mỗi thành phần đƣợc báo cáo là % diện tích pic sắc ký của từng pic so với tổng diện tích tất cả các pic trên sắc ký đồ
Trang 38Bảng 3.2: Kết quả phân tích thành phần tinh dầu các mẫu: HN.02; NA.01; HN.05; HY.01; HB.01; HY.02; NA.02;
Monoterpen không có oxy
Sesquiterpen không có oxy (S1)
Tổng hàm lƣợng monoterpen (M )
Tổng hàm lƣợng S
Sesquiterpen có oxy (S2)
Tổng hàm lƣợng S2
Trang 39Bảng 3.3: Kết quả phân tích thành phần tinh dầu các mẫu N 0 ; N 0 ; N 0 ; CB 0 ; BG 0 ; NĐ 02; T 0 ;
Monoterpen không có oxy
Sesquiterpen không có oxy (S1)
Tổng hàm lƣợng monoterpen (M )
Tổng hàm lƣợng S
Sesquiterpen có oxy (S2)
Tổng hàm lƣợng S2
Trang 40Các tín hiệu thu được trên sắc ký đồ nằm trong khoảng thời gian lưu từ 9 - 57 phút Các mẫu tinh dầu có sự khác nhau về số lượng các cấu tử, trong đó đã xác định được sự có mặt của khoảng 20 cấu tử thuộc hai nhóm monoterpen và sesquiterpen (mẫu phân tích được ít nhất là HN.03 đã xác định được 10 thành phần chiếm 49,02% tổng hàm lượng tinh dầu và mẫu phân tích được nhiều nhất là TB.01 với 96,4% tổng hàm lượng tinh dầu)
Hình ảnh trên sắc ký đồ của tất cả các mẫu xuất hiện 3 cụm píc có thời gian lưu chủ yếu trong khoảng từ 10 phút đến 19 phút (các monoterpen), từ 33 phút đến 40 phút (các sesquiterpen không có oxy) và từ 44 phút đến 46 phút (sesquiterpen có oxy) (Đại diện sắc ký đồ mẫu HT.01- Hình 3.1)