1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát việc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh ở bệnh viện phụ sản trung ương

66 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân được sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch có nguy cơ gặp một số biến chứng trên lâm sàng như các biến chứng nhiễm trùng, biến chứng chuyể

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM THỊ HẢI

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG DỊCH TRUYỀN DINH DƯỠNG TĨNH MẠCH

TRÊN TRẺ SƠ SINH

Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRÊN TRẺ SƠ SINH

Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

Trang 3

Lời cảm ơn

Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

tới ThS Cao Thị Bích Thảo – giảng viên Bộ môn Dược Lâm Sàng, trường Đại học Dược Hà Nội và ThS Nguyễn Huy Tuấn – Phó trưởng khoa Dược, Bệnh viện Phụ

Sản Trung ương Hai thầy cô đã luôn hết lòng chỉ bảo, tận tình giúp đỡ và quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn TS.BS Lê Minh Trác – Giám đốc Trung tâm Điều Trị

và Chăm sóc sơ sinh Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã dành cho tôi nhiều góp ý vô cùng hữu ích trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các bác sĩ, cán bộ công nhân viên tại

Trung tâm Điều Trị và Chăm sóc sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tạo mọi điều kiện cho tôi khi thu thập dữ liệu

Tôi bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể thầy cô giáo Bộ môn Dược Lâm Sàng,

trường Đại học Dược Hà Nội đã luôn theo sát, hỗ trợ và động viên tôi trong quá trình làm khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội

đã dạy dỗ, dìu dắt tôi suốt 5 năm học tại trường

Cảm ơn những người bạn tuyệt vời của tôi đã luôn luôn ủng hộ và sẵn sàng

giúp đỡ tôi bất cứ việc gì, bất cứ khi nào

Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn cho gia đình, người thân mình, họ luôn là

điểm tựa và là động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận

Hà nội, ngày 18 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Khái niệm về dinh dưỡng tĩnh mạch 2

1.1.1 Định nghĩa, vai trò của nuôi dưỡng 2

1.1.2 Các hình thức nuôi dưỡng 2

1.1.3 Định nghĩa dinh dưỡng tĩnh mạch 2

1.1.4 Mục đích của dinh dưỡng tĩnh mạch 3

1.1.5 Chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh 3

1.1.6 Chống chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch 3

1.2 Thành phần dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch 4

1.2.1 Glucid 4

1.2.2 Protid 5

1.2.3 Lipid 6

1.2.4 Các chất điện giải 7

1.2.5 Các yếu tố vi lượng 7

1.2.6 Vitamin 8

1.2.7 Nước 8

1.3 Nhu cầu nuôi dưỡng ở trẻ sơ sinh 9

1.3.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ sơ sinh 9

1.3.2 Nhu cầu dịch 10

1.3.3 Nhu cầu năng lượng 10

1.3.4 Nhu cầu glucid 11

1.3.5 Nhu cầu protid 11

1.3.6 Nhu cầu lipid 12

1.3.7 Nhu cầu điện giải 12

1.3.8 Nhu cầu vitamin và yếu tố vi lượng 13

1.4 Phương pháp nuôi dưỡng tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh 13

1.4.1 Đường nuôi dưỡng 13

Trang 5

1.4.2 Các bước thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch 14

1.5 Theo dõi bệnh nhân trong và sau khi nuôi dưỡng tĩnh mạch 15

1.5.1 Biến chứng trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch 15

1.5.2 Các chỉ số cần theo dõi trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch 15

1.6 Các nghiên cứu về nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh 15

1.7 Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương 16

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 17

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.2.2 Mẫu nghiên cứu 17

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 17

2.2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 18

2.2.5 Các tiêu chuẩn và quy ước sử dụng trong nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 24

3.1 Đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch 24

3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân 24

3.1.2 Đặc điểm về thời gian nuôi dưỡng đường tĩnh mạch 24

3.1.3 Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân 25

3.1.4 Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng 26

3.2 Đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch 26

3.2.1 Đặc điểm về lựa chọn dịch truyền dinh dưỡng 26

3.2.2 Đặc điểm về thể tích dịch nuôi dưỡng 27

3.2.3 Đặc điểm về năng lượng từ dịch nuôi dưỡng và dịch truyền dinh dưỡng 28

3.2.4 Đặc điểm về hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong dịch nuôi dưỡng và dịch truyền dinh dưỡng 31

3.2.5 Đặc điểm về đường nuôi dưỡng tĩnh mạch 33

3.2.6 Đặc điểm về tốc độ truyền dung dịch dinh dưỡng tĩnh mạch 34

Trang 6

3.2.7 Đặc điểm bệnh nhân trong và sau quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch 34

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 36

4.1 Đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch 36

4.2 Đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch 37

4.3 Một số khó khăn và hạn chế khi thực hiện nghiên cứu 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

ảng Phân loại acid amin 5

ảng Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh 13

ảng Nội dung thu thập thông tin trên bệnh nhân 18

ảng Phân loại tuổi thai lúc sinh 20

ảng 3 Phân loại cân nặng lúc sinh 20

ảng Tiêu chuẩn so sánh với Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh 22

ảng iến cố và tiêu chuẩn ghi nhận các biến cố 23

ảng 3 Đặc điểm chung của bệnh nhân 24

ảng 3 Thời gian nuôi dưỡng đường tĩnh mạch 25

ảng 3 3 Tỷ lệ bệnh nhân nuôi dưỡng qua từng giai đoạn 25

ảng 3 Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân 25

ảng 3 Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng 26

ảng 3 Các loại dịch truyền dinh dưỡng được sử dụng 27

ảng 3 Công thức dinh dưỡng tĩnh mạch 27

ảng 3 Tổng thể tích dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn 28

ảng 3 Năng lượng từ dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn 29

ảng 3 Năng lượng từng thành phần dinh dưỡng 29

ảng 3.11 Tỷ lệ năng lượng từng thành phần trong dịch nuôi dưỡng 30

ảng 3 Năng lượng từ dịch truyền dinh dưỡng 31

ảng 3 3 Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong dịch nuôi dưỡng 32

ảng 3 Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong dịch truyền 32

ảng 3 Đường nuôi dưỡng tĩnh mạch 33

ảng 3 Thời gian nuôi dưỡng qua mỗi đường 33

ảng 3 Tốc độ truyền dung dịch nuôi dưỡng tĩnh mạch 34

ảng 3 Sự thay đổi cân nặng của bệnh nhân sau quá trình nuôi dưỡng 35

ảng 3 iến cố bất lợi trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch 35

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng tĩnh mạch là một kỹ thuật lâm sàng đã được sử dụng phổ biến trên thế giới trong vòng năm trở lại đây nhằm hỗ trợ dinh dưỡng cho những bệnh nhân nặng không thể hoặc không cung cấp đủ dinh dưỡng qua đường tiêu hóa [16], [17], [44] Ở trẻ sơ sinh, dinh dưỡng tĩnh mạch được áp dụng cho trẻ sinh non tháng do không thể đáp ứng đủ nhu cầu dưỡng chất và năng lượng bằng chế độ ăn bình thường và/hoặc trẻ có tình trạng bệnh lý đặc biệt như dị tật bẩm sinh hay tổn thương đường tiêu hóa [2], [14] Dinh dưỡng tĩnh mạch đã được chứng minh giúp nâng cao chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ biến chứng và rút ngắn thời gian nằm viện cho các đối tượng bệnh nhân này [6], [12], [21]

Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân được sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch có nguy cơ gặp một số biến chứng trên lâm sàng như các biến chứng nhiễm trùng, biến chứng chuyển hóa làm giảm sức đề kháng, mất cân bằng điện giải ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động sinh lý của trẻ [23], [42], [44], [49] Vì vậy, việc cung cấp một chế độ chăm sóc dinh dưỡng tĩnh mạch để đáp ứng nhu cầu năng lượng và đảm bảo an toàn cho trẻ sơ sinh là điều vô cùng cần thiết

Ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương, phương pháp dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh đã được áp dụng tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh từ trước những năm

2000 Bệnh viện đã ban hành các phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh, trong

đó có Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh ban hành năm [4] để tối ưu hóa việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh non tháng và/hoặc có các tình trạng bệnh lý đặc biệt Tuy nhiên cho đến nay, Bệnh viện vẫn chưa có tổng kết nào về việc nuôi dưỡng tĩnh mạch trên đối tượng đặc biệt này

Chính vì lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát việc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh ở Bệnh viện Phụ sản Trung ương” với

hai mục tiêu sau:

1 Khảo sát đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch điều trị tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương

2 Khảo sát đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh

điều trị tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản

Trung ương

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1.1 Định nghĩa, vai trò của nuôi dưỡng

Nuôi dưỡng là một quá trình bao gồm việc đưa vào cơ thể những thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hóa và hấp thu để bù đắp hao phí năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể, tạo ra sự đổi mới các tế bào và mô cũng như điều tiết các chức năng sống của cơ thể [13]

Mục đích chính của nuôi dưỡng là cung cấp năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể, duy trì và tối ưu hóa hoạt động miễn dịch và khả năng đề kháng của bệnh nhân, thúc đẩy quá trình khắc phục các tổn thương và thúc đẩy làm lành vết thương nhằm giảm tỷ lệ tử vong và số ngày nằm viện của bệnh nhân [7], [20], [23] Vì vậy, trong quá trình điều trị, nếu nuôi dưỡng không đảm bảo sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như thời gian hồi phục kéo dài, giảm sức đề kháng, dễ nhiễm trùng, chậm lành vết thương, chậm liền xương, thiếu máu, teo cơ, suy giảm chức năng các cơ quan [15]

1.1.2 Các hình thức nuôi dưỡng

Có thể phân loại các hình thức nuôi dưỡng thành hai loại là nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa và nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch Trong đó, nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa rất đa dạng bao gồm nuôi dưỡng qua ống thông miệng – dạ dày, ống thông mũi – dạ dày, ống thông mũi – tá tràng, ống thông mũi – hỗng tràng, nuôi dưỡng qua thành bụng – dạ dày, nuôi dưỡng qua thành bụng – tá tràng, thành bụng – hỗng tràng Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch bao gồm nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm và tĩnh mạch ngoại vi [23]

1.1.3 Định nghĩa dinh dưỡng tĩnh mạch

Dinh dưỡng tĩnh mạch (hay nuôi dưỡng tĩnh mạch) là việc đưa các chất dinh dưỡng cần thiết và phù hợp qua đường tĩnh mạch vào máu để nuôi dưỡng cơ thể Các chất dinh dưỡng bao gồm glucid, protid, lipid, nước, muối khoáng, các chất vi lượng

và vitamin [1], [2], [6], [8] Có thể phân loại dinh dưỡng tĩnh mạch thành dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn và dinh dưỡng tĩnh mạch một phần [2] Dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn khi năng lượng cung cấp từ dịch truyền ≥ 75% tổng năng lượng tiêu thụ và dinh dưỡng tĩnh mạch một phần là năng lượng cung cấp từ dịch truyền < % năng lượng tiêu thụ [34]

Trang 10

1.1.4 Mục đích của dinh dưỡng tĩnh mạch

Mục đích của dinh dưỡng tĩnh mạch là đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân khi đường tiêu hóa bị suy giảm chức năng hoặc không dung nạp chất dinh dưỡng

để bảo vệ cơ thể khỏi những hậu quả của việc thiếu dinh dưỡng [49] Nhờ vậy, tình trạng thể chất của bệnh nhân được cải thiện, giảm các biến chứng chuyển hóa và nhiễm trùng, giảm thời gian nằm viện, qua đó giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân [42] Ngoài ra, trên trẻ sơ sinh non tháng, mục đích của dinh dưỡng tĩnh mạch là giúp đạt được tỷ lệ tăng trưởng sau sinh gần với trẻ sơ sinh bình thường có cùng tuổi thai [36]

1.1.5 Chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh

Trên trẻ sơ sinh, dinh dưỡng tĩnh mạch được chỉ định trong các trường hợp HOẶC trẻ có cân nặng < 1500g [3], [14]; HOẶC trẻ có cân nặng ≥ 1500g nhưng có chống chỉ định nuôi dưỡng qua đường miệng hoặc đường ruột [8], [49] như giai đoạn sớm hậu phẫu đường tiêu hóa, suy hô hấp có chỉ định giúp thở (giai đoạn đầu), bệnh lý cần phẫu thuật ngay, bệnh lý toàn thân nặng như hôn mê kèm theo co giật [8], [23], nhiễm trùng huyết nặng, ngạt nặng [3], suy các cơ quan (gan, thận, phổi, tụy) hoặc mắc tim bẩm sinh [54]; HOẶC trẻ không thể dung nạp năng lượng tối thiểu 50 kcal/kg/ngày qua đường tiêu hóa trong thời gian 3 ngày (nếu cân nặng ≤ g) hoặc 5 ngày (nếu cân nặng > 1800g) [3] như dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa (hở thành bụng, thoát vị rốn, teo thực quản, teo ruột non, ruột xoay bất toàn, tắc ruột phân su, thoát vị hoành); đường tiêu hóa đang bị tổn thương nặng (xuất huyết tiêu hóa nặng, viêm ruột hoại tử, viêm ruột mạn tính nặng) [14]; rối loạn tiêu hóa nặng (bất dung nạp tiêu hóa nặng, nôn ói nhiều do nguyên nhân thần kinh hoặc không rõ nguyên nhân, bụng trướng nhiều, tiêu chảy kéo dài) [5], [14]; sau khi hóa trị liệu; ghép tạng [54]

1.1.6 Chống chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch

Chống chỉ định dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh trong các trường hợp đường tiêu hóa còn hoạt động tốt; dị ứng với bất kỳ thành phần nuôi dưỡng nào; khi bệnh nhân còn đang trong tình trạng nặng đe dọa tính mạng trước khi nuôi dưỡng tĩnh mạch như shock, thiếu oxy nặng, mất nước quá nhiều, mất cân bằng điện giải, rối loạn cân bằng acid – base, chuyển hóa mất bù; khi đó cần điều trị ổn định trước khi tiến hành nuôi dưỡng [8], [23]

Trang 11

1.2 Thành phần dịch truyền dinh dƣỡng tĩnh mạch

Các thành phần chính trong dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch bao gồm glucid, protid, lipid, chất điện giải, yếu tố vi lượng, vitamin và nước Trong đó, hợp phần cung cấp năng lượng gồm glucid, protid, lipid và hợp phần không cung cấp năng lượng là các chất còn lại như chất điện giải, yếu tố vi lượng, vitamin và nước [1], [42], [45] Các yêu cầu đối với thành phần nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh là rất cụ thể và phụ thuộc vào cân nặng, tuổi và tình trạng bệnh của trẻ [42]

1.2.1 Glucid

Glucid là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu trong dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch, trong đó glucid thường được dùng là glucose ngoài ra sorbitol, frutose và levulose ít gặp hơn [42] Vì vậy, glucose là nguồn cung cấp glucid chính trong thành phần dinh dưỡng tĩnh mạch cho đến nay [33], bởi lẽ, glucose được chuyển hóa bởi tất

cả các tế bào trong cơ thể và là một dưỡng chất thiết yếu cho các mô thần kinh trung ương, hồng cầu và vỏ thận Về chức năng của glucose đối với cơ thể sống, chúng tham gia tạo hình, bảo vệ cơ thể và là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể [9], [10] Glucose chiếm 40 – 50% tổng nhu cầu năng lượng, tuy nhiên còn phụ thuộc vào mức

độ nghiêm trọng của bệnh, nhu cầu calo và khả năng dung nạp của bệnh nhân [8] Nuôi dưỡng glucose qua đường tĩnh mạch có thể xuất hiện một số tác dụng không mong muốn như trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận, nếu truyền dung dịch glucose đẳng trương quá liều hoặc tốc độ truyền quá nhanh có thể gây ứ nước, lợi tiểu thẩm thấu; dung dịch ưu trương nếu truyền ngoài mạch có thể gây hoại tử mô; gây giảm kali và natri trong máu; gây hạ đường huyết nếu ngừng đột ngột sau một thời gian truyền kéo dài [6], [23] Đồng thời, khi chuẩn bị dịch truyền glucose cho trẻ sơ sinh, cần lưu ý glucose là nguồn cung cấp glucid dễ đồng hóa, rẻ tiền nhưng năng lượng cung cấp từ glucose thường không đủ đáp ứng nhu cầu chuyển hóa, do đó trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch phải dùng glucose ưu trương [6] Khi sử dụng nhiều glucose, cơ thể tăng sản xuất CO2 do quá trình oxy hóa glucose dẫn đến không dung nạp glucid và gây ra tăng đường máu do phát sinh tình trạng kháng insulin; tăng tạo lipid gây ra gan nhiễm mỡ [42], [28], [39] Vì vậy cần sử dụng glucose một cách tối ưu bằng cách không vượt quá khả năng oxy hóa glucose, đảm bảo nồng độ glucose trong máu bình thường và hạn chế tối thiểu việc tạo mỡ bằng cách sử dụng hỗn hợp glucose

và lipid [23]

Trang 12

1.2.2 Protid

Protid là một thành phần trong chế độ ăn bình thường Chúng là những chất đại phân tử được tạo ra từ 20 acid amin Trong dinh dưỡng tĩnh mạch, protid được truyền dưới dạng dung dịch có vai trò quan trọng trong việc cung cấp acid amin để xây dựng

cơ thể, là nguồn cung cấp năng lượng khi cần thiết [41] Theo đó, protid chiếm khoảng

10 – 20% và không quá 35% tổng nhu cầu năng lượng (tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh và từng bệnh cụ thể) [8] Đơn vị cấu trúc cơ bản của protein là acid amin và chúng được chia thành ba nhóm là acid amin thiết yếu, acid amin bán thiết yếu, acid amin không thiết yếu [24], [28], [41] được trình bày trong Bảng 1.1 Các acid amin có thành phần tương tự gần giống protid trong sữa mẹ, một số các acid amin trở thành acid amin thiết yếu trong những điều kiện cụ thể như histidin trở thành acid amin thiết yếu trong quá trình tăng trưởng ở trẻ em; tyrosin và cystein trở thành acid amin thiết yếu với hàm lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của trẻ sơ sinh non tháng, trẻ suy dinh dưỡng [1], [42]

Bảng 1.1 Phân loại acid amin Acid amin

thiết yếu

Acid amin bán thiết yếu

Acid amin không thiết yếu

Methionin Tyrosin Acid glutamic

Phenylalanin Cystein Glycin

Valin

Về chức năng sinh học, protid có vai trò quan trọng tham gia cấu tạo hầu hết cấu trúc của cơ thể như da, gân, màng, cơ, xương ; hỗ trợ quá trình tăng trưởng và phục hồi các mô của cơ thể; điều hòa một số chu trình trong cơ thể và làm bất hoạt các chất xâm nhập ngoại lai do đó bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật; duy trì cân bằng acid – base; giúp vận chuyển các cơ chất như chất béo, vitamin, khoáng chất và cung cấp năng lượng cho cơ thể [6], [7], [52] Tuy nhiên, việc sử dụng dịch truyền protid có thể

Trang 13

xuất hiện một số tác dụng không mong muốn như nhiễm toan chuyển hóa (đặc biệt acid amin ở dạng hydrochlorid), tăng ure máu ở người suy giảm chức năng gan, thận; tăng đường huyết hoặc đa niệu do tăng áp lực thẩm thấu đặc biệt là khi phối hợp với dung dịch glucose hoặc có thể bị sốc quá mẫn, dị ứng [6] Khi quá liều protid ở trẻ sơ sinh non tháng sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hóa liên quan đến tăng amoniac máu, nhiễm toan và ứ mật, ví dụ quá liều methionin gây rối loạn quá trình tăng trưởng và thoái hóa trong gan, tụy, thận, lách; quá liều phenylanin sẽ làm giảm serotonin trong não ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ; quá liều glutamin gây buồn nôn và nôn [42]

1.2.3 Lipid

Lipid là nguồn cung cấp và dự trữ năng lượng quan trọng trong cơ thể, là một hợp chất cấu tạo nên màng tế bào, bảo vệ cơ thể tránh tổn thương và mất nhiệt [11] Lipid chiếm 30 – 3 % và không quá % tổng nhu cầu năng lượng [2], [3] Trong nuôi dưỡng tĩnh mạch, phải có một lượng chất béo để đáp ứng ít nhất 5% tổng năng lượng của cơ thể đòi hỏi trong một tuần vì nếu nguồn năng lượng chỉ lấy từ glucose bằng cách truyền liên tục, cơ thể sẽ phản ứng lại bằng cách ức chế việc giải phóng chất béo, gây thiếu acid béo cần thiết với các triệu chứng như khô da, tăng tính thấm thành mạch, vết thương chậm lành, giảm sức đề kháng, tăng khả năng nhiễm khuẩn, giảm tiểu cầu [6]

Việc sử dụng nhũ dịch lipid không gây kích ứng tĩnh mạch, cung cấp được nhiều năng lượng và các acid béo cần thiết Nhũ dịch lipid ở đây là các chất mang một nguồn năng lượng không phải protein nghĩa là chất béo và vitamin tan trong dầu [42] Có hai loại nhũ dịch lipid hay dùng là % và 20% Theo khuyến cáo nên dùng loại nhũ dịch lipid 20% do hạn chế lượng dịch đưa vào cơ thể, giảm độ thanh thải, tiết kiệm chi phí

Có thể pha nhũ dịch lipid vào trực tiếp dịch truyền nuôi dưỡng tĩnh mạch qua hệ thống AIO (All in one) hoặc sử dụng bằng cách truyền qua nhánh chữ Y bao gồm hỗn hợp dung dịch các chất acid amin, glucose, điện giải,…ở một nhánh và nhũ dịch lipid truyền riêng ở nhánh thứ hai [28]

Khi nuôi dưỡng lipid qua đường tĩnh mạch có thể gặp một số tác dụng không mong muốn như toát mồ hôi, đau đầu, ớn lạnh, mệt mỏi, nổi ban da; khi điều trị kéo dài có thể bị tăng nhẹ phosphatase – kiềm, transaminase, bilirubin trong máu, giảm tiểu cầu vừa phải ở người lớn và trầm trọng ở trẻ em; có một số trường hợp bị to gan

và vàng da [6] Chống chỉ định truyền lipid trên bệnh nhân tăng lipid máu nặng; suy

Trang 14

gan trầm trọng; viêm tụy cấp tính có kèm tăng lipid máu hay dị ứng với lecithin của trứng [1]

1.2.4 Các chất điện giải

Chất điện giải là các muối của natri, kali, magie, canxi, phosphat, clorid, sulfat và acetat Các chất điện giải đóng vai trò quan trọng trong việc không chỉ duy trì sự hằng định áp suất thẩm thấu mà còn liên kết với nitơ trong các mô tế bào và giúp cho sự vận chuyển glucose qua màng Các ion K+, Mg2+, PO43- là thành phần quan trọng với dịch lỏng trong tế bào; các ion Na+, Cl-, HCO3- là hợp phần không thể thiếu được của huyết tương và rất cần thiết trong trường hợp tế bào bị mất nước và điện giải [6] Nghiên cứu

đã công bố về nồng độ calci thấp ảnh hưởng đến tỷ trọng khoáng của xương và có nguy cơ gãy xương cao khi trưởng thành [27] Vì vậy, nhu cầu các thành phần chất điện giải đòi hỏi cao trong giai đoạn đầu nuôi dưỡng ở trẻ sơ sinh đặc biệt trên trẻ sinh non Tuy nhiên, việc sử dụng chất điện giải bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm nhiệt độ cơ thể tăng, tổn thương bất thường đường tiêu hóa (nôn, tiêu chảy), tăng dị hóa (suy dinh dưỡng), mất nước qua da ở bệnh nhân bỏng, suy tim và suy giảm chức năng thận, khi điều trị bằng thuốc và một số yếu tố bên ngoài (độ ẩm, nhiệt độ) [42]

1.2.5 Các yếu tố vi lượng

Các nguyên tố vi lượng cần thiết cho đời sống hàng ngày là Zn, Cu, Fe, Cr, Mn,

I, Se, Co, Mo Các yếu tố vi lượng tuy có hàm lượng rất nhỏ nhưng lại có vai trò tối cần thiết cho cả người khỏe mạnh và người bệnh [1], [6], [24] Chúng có vai trò trong chuyển hóa các chất sinh học có hoạt tính cao [9]; hằng định nội môi; có chức năng điều khiển và tham gia hoạt động chống oxy hóa [1]; đồng thời, một số nguyên tố tham gia vào vai trò cấu trúc để duy trì hình dạng nếp gấp của phân tử protein [6] ình thường hàm lượng của các nguyên tố vi lượng có đủ trong thực phẩm và nếu không rối loạn về bệnh lý thì không bao giờ thiếu Tuy nhiên, trong dịch truyền nuôi dưỡng tĩnh mạch, do đặc tính về độ tinh khiết cao của các hợp chất khi đưa vào mạch máu nên các yếu tố này không có trong các dịch truyền, vì vậy, khi nuôi dưỡng trong thời gian dài thì cần bổ sung thêm [6] Cần chú ý tới nguyên tắc cung cấp các nguyên tố vi lượng đó là trừ trường hợp sự thiếu hụt một nguyên tố vi lượng riêng lẻ nào đó đã được xác định thì các nguyên tố vi lượng nên được cung cấp kết hợp với nhau, bởi lẽ việc cung cấp một nguyên tố vi lượng riêng lẻ nào đó có thể dẫn đến rối loạn cho toàn bộ hệ thống cơ thể [23]

Trang 15

sẽ kéo theo thừa hoặc thiếu các vitamin khác và gây bệnh cho cơ thể ví dụ thiếu vitamin B12, cơ thể sẽ không tổng hợp được acid folic gây ra bệnh thiếu máu [55] Vitamin thường có sẵn trong thực phẩm, do đó ở người khỏe mạnh có chế độ ăn uống cân đối thì không cần bổ sung vitamin Nhưng trong dinh dưỡng tĩnh mạch kéo dài, việc bổ sung vitamin là bắt buộc nếu không sẽ gây rối loạn nghiêm trọng đối với

cơ thể Liều dùng của vitamin không được xác định rõ ràng nhưng với quá trình nuôi dưỡng kéo dài, liều dùng của vitamin rất cần thiết [42] Các vitamin tan trong dầu được tích lũy trong cơ thể nên nếu dùng một lượng quá mức có thể tiềm ẩn độc tính, trong khi đó nếu dùng quá mức vitamin tan trong nước sẽ không gây nguy hiểm vì chúng được đào thải ra ngoài [42]

1.2.7 Nước

Nước là thành phần cơ bản của cơ thể để duy trì sự sống và cũng là thành phần quan trọng trong nuôi dưỡngtĩnh mạch [39] Ở người trưởng thành bình thường, nước chiếm khoảng 60% trọng lượng cơ thể và chiếm khoảng 75-80% ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [24], [42] Nhu cầu nước liên quan đến lượng tiêu thụ calo và tỷ trọng nước tiểu, đồng thời việc mất nước cũng dẫn đến việc mất các chất điện giải Sự cân bằng nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thể tích dịch đưa vào; thành phần protein; dung dịch điện phân; mức độ chuyển hóa, hô hấp; thân nhiệt của cơ thể [42]

Trang 16

1.3 Nhu cầu nuôi dƣỡng ở trẻ sơ sinh

1.3.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ sơ sinh

Ở trẻ em, việc cung cấp và sử dụng các chất dinh dưỡng có giá trị sinh học tốt hơn bất cứ giai đoạn phát triển nào nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu cơ bản và hỗ trợ

sự phát triển của cơ thể [19] Vì vậy, trẻ cần thêm 3 % năng lượng so với tổng nhu cầu năng lượng của người bình thường để hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển [24] Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, ở trẻ em và người lớn có sự khác biệt về tỷ lệ nước

và nhu cầu năng lượng cơ thể; kích thước các cơ quan; hoạt động sinh lý của cơ thể; quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ; nhu cầu dinh dưỡng và biện pháp dinh dưỡng [9], [10], [19], [23]

Tỷ lệ nước trong cơ thể trẻ sơ sinh là rất cao, chiếm 90% trọng lượng cơ thể ở trẻ sinh non [35], [43] Tỷ lệ này lớn hơn nhiều so với người lớn do tốc độ chuyển hóa mạnh, cơ thể phải đào thải nhiều chất cặn bã trong quá trình chuyển hóa do sự tăng trưởng nhanh và sự cô đặc nước tiểu ở thận kém nên lượng dịch trong cơ thể/kg cân nặng của trẻ cao hơn của người lớn [24], [35] ên cạnh đó, nhu cầu năng lượng và nhu cầu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh là cao nhất, nhu cầu năng lượng theo kg cân nặng gấp 3 lần ở người trưởng thành do khả năng dự trữ chất dinh dưỡng trong cơ thể trẻ rất thấp, tăng quá trình chuyển hóa để thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển Do nguồn dự trữ nội sinh của các cơ chất cần thiết rất ít ỏi nên chức năng sinh lý và hệ enzym chuyển hóa ở trẻ chưa phát triển, đồng thời khả năng chuyển hóa chuyên biệt chưa hoàn thiện nên những chất thiết yếu ở trẻ sơ sinh lại là chất không thiết yếu đối với người trưởng thành Hơn nữa, một số cơ quan của trẻ sơ sinh vẫn chưa phát triển toàn diện như não, cơ, xương nên việc cung cấp dưỡng chất theo đúng nhu cầu cho trẻ là cực kì quan trọng Trong giai đoạn sơ sinh, não chiếm 14% trọng lượng cơ thể trong khi ở người lớn chiếm 2% nên đòi hỏi nhu cầu chuyển hóa cao trong suốt giai đoạn này nhằm thúc đẩy quá trình phát triển của hệ thống thần kinh trung ương [19], [24] Theo Koletzko và cộng sự (2005), dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh ảnh hưởng lâu dài đến khả năng nhận thức và quá trình phát triển tư duy [43] Hậu quả lâm sàng rõ rệt nhất của việc cung cấp không đầy đủ dinh dưỡng là trẻ không tăng cân và chiều cao, điều này liên quan mật thiết đến việc giảm kháng thể và tăng tỷ lệ tử vong với các bệnh truyền nhiễm Chính những đặc điểm sinh lý này của trẻ sơ sinh nên yêu cầu phải có một chế

Trang 17

độ dinh dưỡng riêng cũng như cách tính dinh dưỡng và sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt [23]

Theo các tài liệu khuyến cáo, quá trình dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh trải qua 3 giai đoạn Giai đoạn khởi đầu là quá trình nuôi dưỡng trong ngày đầu, nuôi dưỡng từ ngày thứ 2 đến hết ngày thứ 7 được tính là giai đoạn chuyển tiếp, nuôi dưỡng

từ ngày thứ 7 trở đi được tính là giai đoạn trưởng thành [2], [3], [4], [14]

1.3.2 Nhu cầu dịch

Nhu cầu dịch ở trẻ sơ sinh thay đổi theo cân nặng và giai đoạn phát triển của trẻ, trong giai đoạn đầu nuôi dưỡng, trẻ càng nhẹ cân thì nhu cầu dịch càng cao [2], [8] Ở giai đoạn khởi đầu, thể tích dịch cung cấp cho trẻ có cân nặng ≤ g là – 90 ml/kg/ngày và trẻ > 1500g là – ml/kg/ngày Trong giai đoạn chuyển tiếp và giai đoạn trưởng thành, nhu cầu dịch cung cấp lần lượt là – 125 ml/kg/ngày và – ml/kg/ngày [4], [14]

Nhu cầu dịch còn phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng, đặc điểm chăm sóc và cung lượng nước tiểu của bệnh nhân [2], [3] Cần tăng nhu cầu dịch trong các trường hợp xuất hiện tình trạng nước mất không nhận biết bao gồm trẻ sinh cực non, trẻ nằm giường sưởi, chiếu đèn, tăng thân nhiệt, thở nhanh, khi đó thể tích dịch thường được tăng thêm – 3 ml/kg/ngày; mất nước qua đường tiêu hóa như nôn ói, tiêu chảy, dẫn lưu dạ dày hoặc mất nước qua đường tiểu, khi đó cần bổ sung thêm lượng dịch tương đương với lượng đã mất; hậu phẫu ống tiêu hóa cần tăng nhu cầu dịch gấp 1,5 –

3 lần so với bình thường [14] ên cạnh đó, các trường hợp cần giảm nhu cầu dịch là bệnh nhân nằm lồng ấp hay xuất hiện tình trạng tăng tiết ADH không thích hợp bao gồm ngạt nặng trong 72 giờ đầu, xuất huyết não, suy hô hấp, bệnh phổi mạn, suy tim, suy thận cấp thiểu niệu cần hạn chế dịch xuống còn ml/kg/ngày [2], [3], [5]

1.3.3 Nhu cầu năng lượng

Tùy thuộc vào mục đích mà nhu cầu cung cấp năng lượng là khác nhau Để duy trì cân nặng cần cung cấp một năng lượng từ 50 – 60 kcal/kg/ngày, trong khi đó để trẻ tăng cân cần cung cấp một nhu cầu năng lượng cao hơn, khoảng 100 – 120 kcal/kg/ngày [2], [3]

Nguồn năng lượng chính cần được cung cấp từ glucid và lipid với tỷ lệ calo thích hợp là glucid/lipid ≈ [2] Ở trẻ sơ sinh, nhu cầu năng lượng trong những ngày đầu chỉ cần cung cấp 40 – 50 kcal/kg/ngày, rồi tăng dần trong giai đoạn chuyển tiếp 60 – 100

Trang 18

kcal/kg/ngày và khi nuôi dưỡng từ một tuần trở lên cần cung cấp năng lượng 100 –

120 kcal/kg/ngày Nhu cầu năng lượng thay đổi theo tình trạng bệnh lý ệnh nhân suy

hô hấp cần tăng thêm 3 – 50% nhu cầu năng lượng bình thường, trường hợp thở máy giảm còn 3/ nhu cầu [2] Trong khi đó, bệnh nhân mắc bệnh phổi cấp nặng, suy thận cấp nặng chỉ cần cung cấp một năng lượng duy trì – 60 kcal/kg/ngày, bệnh phổi mạn cung cấp 130 – 150 kcal/kg/ngày [14] Để tăng thêm gam cân nặng, cần cung cấp tăng thêm 3 – 4,5 kcal/kg/ngày trong đó 50% năng lượng cung cấp từ lipid, 10%

từ protein và 40% từ glucid [22]

1.3.4 Nhu cầu glucid

Tỷ lệ năng lượng glucid so với tổng năng lượng cung cấp từ dịch truyền chiếm khoảng 40 – % và gam glucid cung cấp 4 kcal [2], [8] Nhu cầu glucid tăng qua mỗi giai đoạn phát triển Trong ngày đầu cung cấp khoảng 4 – mg/kg/phút; giai đoạn chuyển tiếp tăng lên đến 6 – mg/kg/phút và ở giai đoạn trưởng thành khoảng

12 – mg/kg/phút [14]

Khi truyền thành phần glucid qua đường tĩnh mạch, cần kiểm soát chặt chẽ đường huyết, tránh tăng hoặc giảm đường huyết, dùng insulin nếu glucose máu > 180 mg/dL và glucose niệu > 2+ [14] Ở trẻ sơ sinh non tháng thường có hiện tượng tăng đường huyết, vì vậy thường lựa chọn dịch truyền có nồng độ thấp, có khi là – 7,5%

và nồng độ truyền glucose qua tĩnh mạch ngoại vi được giới hạn ≤ , %, cần lưu ý rằng nồng độ glucose của dịch truyền phụ thuộc vào khả năng dung nạp của trẻ [3], [22]

1.3.5 Nhu cầu protid

Năng lượng cung cấp từ protid chiếm 10 – 20% tổng năng lượng từ các dịch truyền, 1 gam protid cung cấp kcal cho cơ thể [2], [3] Hàm lượng protid cung cấp tăng dần qua từng giai đoạn Trong giai đoạn khởi đầu, hàm lượng protid cung cấp khoảng 1,5 – g/kg/ngày; tăng dần đến 2 – 3, g/kg/ngày trong giai đoạn chuyển tiếp

Ở giai đoạn trưởng thành, trẻ càng nhẹ cân càng cần cung cấp nhiều thành phần protid,

cụ thể trẻ có cân nặng từ 1000 – 1800g nhu cầu protid cần cung cấp khoảng 3,5 – 4 g/kg/ngày và trẻ < 1000g cần cung cấp 4 – , g/kg/ngày [14]

Trong quá trình nuôi dưỡng bằng dịch truyền chứa protid không nên truyền quá liều đích vì dễ dẫn đến tình trạng nhiễm toan chuyển hóa [22]; duy trì tỉ số protid/năng lượng ≤ / , giữ nồng độ ure máu < 3 mg/dL và HCO3- > 20 mmol/l, nếu ure máu ≥

Trang 19

150 – mmol/l thì cần ngừng truyền [2]; duy trì UN – 20 mg/dL, nếu tăng UN quá cao sẽ gây ra các tình trạng như tăng dị hóa protein nội sinh, xuất huyết tiêu hóa, tăng nhập protid, mất nước, suy thận [14] Đồng thời, cần lưu ý rằng, ở trẻ sơ sinh rất non, khoảng 30 – 50% gặp tình trạng tắc mật khi nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn, khi

đó cần ngừng truyền protid ngay lập tức [22]

1.3.6 Nhu cầu lipid

Năng lượng cung cấp từ lipid chiếm 30 – 40% tổng nhu cầu năng lượng của cơ thể và 1 gam lipid cung cấp 10 kcal [3] Ở giai đoạn khởi đầu cần cung cấp một hàm lượng lipid là g/kg/ngày [2], [25], [38], [51], tăng đến 1 – 3 g/kg/ngày ở giai đoạn chuyển tiếp và 3 – g/kg/ngày ở giai đoạn trưởng thành [29], [35] Tuy nhiên, cần giới hạn hàm lượng lipid là , – g/kg/ngày khi trẻ vàng da tăng bilirubin gián tiếp nặng [22] hoặc trẻ sinh rất non (< 33 tuần) hoặc nhiễm khuẩn huyết có giảm tiểu cầu nặng hoặc suy hô hấp do bệnh phổi chưa ổn định [14]

Lipid là dung dịch đẳng trương, an toàn khi truyền tĩnh mạch ngoại biên, khi truyền cần tránh pha chung với các dung dịch khác vì dễ gây hiện tượng nhũ tương hóa gây thuyên tắc mỡ, lý tưởng nhất nên truyền một đường riêng hoặc nếu sử dụng chung một đường tĩnh mạch qua chạc ba, lipid cần được truyền ở gần tĩnh mạch nhất nhằm hạn chế thời gian tiếp xúc với các dung dịch khác đồng thời cần truyền tĩnh mạch liên tục trong 20 – 24 giờ [2], [14] Khi truyền nên truyền nhũ dịch lipid 20% hơn nồng độ 10% do tỉ lệ phospholipid/triglycerid thích hợp hơn đối với sơ sinh [2], [8], [30], [46] Trong quá trình truyền, nếu triglycerid > 400 mg/dl, cần thay đổi lipid

có nồng độ thấp, giảm tốc độ truyền, nếu tình trạng vẫn không cải thiện cần ngừng truyền lipid Ở trẻ sơ sinh cực non hoặc mắc nhiễm trùng sơ sinh thường không dung nạp với liều tối đa của lipid, nghĩa là sau 6 – 8h ngừng truyền lipid, huyết tương vẫn còn màu đục như sữa hoặc triglycerid/máu ≥ mg%, trong trường hợp này cần giảm liều lipid [8]

1.3.7 Nhu cầu điện giải

Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh phụ thuộc vào tuổi thai lúc sinh [1], [44], [46], [51] được trình bày trong ảng 1.2

Trang 20

Bảng 1.2 Nhu cầu điện giải ở trẻ sơ sinh (mEq/kg)

Khi bổ sung các chất điện giải ở trẻ sơ sinh cần chú ý chỉ bắt đầu bổ sung Na+,

K+, P, Zn++ từ ngày thứ hai sau khi sinh; bổ sung Mg++ từ ngày thứ ba sau sinh [2], [14]; đối với trẻ non tháng, nhu cầu Na+ cao hơn so với trẻ đủ tháng nên có thể tăng đến 4 – mEq/kg/ngày [2] và khi bệnh nhân có vàng da ứ mật nặng thì các chất điện giải chỉ bổ sung 2 lần mỗi tuần (do ứ đồng và mangan) [3]

1.3.8 Nhu cầu vitamin và yếu tố vi lượng

Bệnh nhân sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch sau 1 tuần cần bổ sung thêm các vitamin và sau tuần cần bổ sung các yếu tố vi lượng, riêng với sắt cần bổ sung sau 2 tuần qua đường tĩnh mạch nếu chưa được bổ sung đầy đủ qua đường tiêu hóa [2], [8], [23] Nhu cầu vitamin và các yếu tố vi lượng cho trẻ sơ sinh được trình bày trong Phụ lục 2

1.4.1 Đường nuôi dưỡng

Có hai loại đường nuôi dưỡng tĩnh mạch là đường tĩnh mạch ngoại vi và đường tĩnh mạch trung tâm

1.4.1.1 Đường tĩnh mạch ngoại vi

Nuôi dưỡng qua tĩnh mạch ngoại vi được chỉ định trong trường hợp chống chỉ định hoặc không thể đặt catheter tĩnh mạch trung tâm; nhiễm trùng catheter; nhiễm trùng huyết [1]; áp lực thẩm thấu của dịch nuôi dưỡng ≤ mOsm/l [2], [8], [23] Đây là phương pháp thích hợp cho bệnh nhân cần nuôi dưỡng ngắn ngày, là phương pháp dễ thực hiện, phù hợp ở bệnh viện nhỏ, không cần các nhân viên y tế được huấn luyện đặc biệt [1] Khi nuôi dưỡng qua tĩnh mạch ngoại vi có thể xuất hiện biến chứng

mà phần lớn là viêm tĩnh mạch, một số trường hợp nặng hơn có thể bị hoại tử mô tại

Trang 21

chỗ, nhiễm trùng Có thể khắc phục biến chứng bằng cách thêm heparin hoặc dùng kèm hydrocortisol vào dịch truyền để làm giảm phản ứng nội mạc tĩnh mạch, giảm tỷ

lệ huyết khối Lưu ý khi nuôi dưỡng tĩnh mạch ngoại vi nồng độ glucose cần ≤ , %

và nồng độ acid amin cần ≤ 2% [2]

1.4.1.2 Đường tĩnh mạch trung tâm

Nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm được chỉ định trong trường hợp bệnh nhân không thể lấy được đường truyền ngoại vi; khi cần nuôi ăn tĩnh mạch dài ngày (≥ tuần) [23]; khi dịch truyền nuôi dưỡng có áp suất thẩm thấu > 1100 mOsm/l [2], [8], [23] Biến chứng khi nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm liên quan đến catheter và kỹ thuật đặt catheter như tắc nghẽn catheter, áp xe, nhiễm trùng catheter, tràn khí, tràn máu màng phổi, dò động mạch, tổn thương ống ngực [23] ên cạnh đó, các nồng độ của dịch truyền có thể nuôi dưỡng qua tĩnh mạch trung tâm là glucose %, 3 %, 50%; lipid 10%, 20%; acid amin 5%, 10%, 15% [7]

1.4.2 Các bước thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch

1.4.2.1 Nguyên tắc thực hiện

Khi thực hiện nuôi dưỡng tĩnh mạch, cần cung cấp đầy đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng Các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể cùng lúc, chậm, đều đặn trong vòng giờ [3] Lipid cần truyền riêng từ 12 – 18 giờ hoặc truyền cùng dịch khác qua chạc ba trong 24 giờ Dung dịch glucid, protid, điện giải có thể pha chung và phải đảm bảo tốc độ truyền của các thành phần [8]

1.4.2.2 Các bước tiến hành

Các bước thực hiện dinh dưỡng tĩnh mạch bao gồm:

- Đánh giá bệnh nhân: dấu hiện sinh tồn, cân nặng, tình trạng dinh dưỡng hiện tại, bệnh lý hiện tại và bệnh lý nền như suy gan, suy thận [3], [8]

- Xét nghiệm: công thức máu, đếm tiểu cầu, điện giải đồ, đường huyết [3], [8]

- Trình tự thực hiện khi dinh dưỡng tĩnh mạch (DDTM) [2], [3], [14]

1 Tính nhu cầu dịch/DDTM/ngày = Nhu cầu dịch/ngày – dịch pha thuốc – dịch dinh dưỡng tiêu hóa + dịch cơ thể mất khác

2 Tính lượng, thể tích protid theo cân nặng của bệnh nhân

3 Tính lượng, thể tích lipid theo cân nặng của bệnh nhân

4 Tính lượng, thể tích điện giải

5 Tính thể tích glucid, nồng độ glucid

Trang 22

6 Tốc độ truyền dịch (ml/h)

7 Tính năng lượng thực tế cung cấp

1.5.1 Biến chứng trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch

Bệnh nhân trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch có thể xuất hiện một số biến chứng liên quan đến dịch truyền bao gồm biến chứng cơ học như tắc nghẽn, thắt nút; biến chứng nhiễm trùng như nhiễm trùng da tại chỗ, nhiễm trùng huyết [1], [28]; biến chứng chuyển hóa như tình trạng thiếu hụt các chất điện giải, yếu tố vi lượng, vitamin; biến chứng chuyển hóa cấp như rối loạn nước và điện giải, tăng đường huyết hoặc hạ đường huyết, tăng ure máu, gan nhiễm mỡ, tăng triglycerid máu hay bệnh chuyển hóa mạn như bệnh gan, bệnh xương Việc theo dõi các kết quả xét nghiệm giúp phát hiện các biến chứng, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng cũng như mức độ cải thiện nhu cầu dinh dưỡng đối với bệnh nhân [18]

1.5.2 Các chỉ số cần theo dõi trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch

Tình trạng của bệnh nhân được theo dõi định kỳ trong suốt quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch Các chỉ số cân nặng, phù, mất nước, lượng dịch xuất – nhập, năng lượng, protein được theo dõi mỗi ngày; chiều dài, vòng đầu theo dõi mỗi tuần; khi bệnh nhân

có sự thay đổi đường huyết cần theo dõi – 3 lần/ngày sau đó là lần/tuần; bên cạnh

đó các chỉ số ion đồ, tỷ số Ca/P, photphatase kiềm, BUN, albumin, triglycerid, chức năng gan cần được theo dõi – 2 lần/tuần [14]

Trên thế giới, nghiên cứu về nuôi dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh khá phổ biến [26], [27], [42], [49], hầu hết là các nghiên cứu về việc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn [23], [42], [49], [60] Ở Việt Nam, các nghiên cứu về dinh dưỡng tĩnh mạch trên trẻ sơ sinh không nhiều, một số nghiên cứu đã được thực hiện như nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu về dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn ở Bệnh viện Nhi Trung ương (2013) [23], Ngô Quốc Huy về dinh dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn

ở Bệnh viện Bạch Mai (2011) [15]

Các nghiên cứu trên đã mô tả đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng [23], [49], [52], [60], thời gian dùng dịch của bệnh nhân [22], [23], [49], các công thức nuôi dưỡng [23], [28], hàm lượng các thành phần dinh dưỡng [47], [50],

Trang 23

[52], [56], [59], [60], đường dùng dịch truyền [23], [40], [49], biến chứng sau quá trình dùng dịch [23], [49], [57]

Các nghiên cứu cũng chỉ ra bệnh nhân được sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch có nguy cơ gặp một số biến chứng lâm sàng như biến chứng nhiễm trùng, biến chứng chuyển hóa làm giảm sức đề kháng, mất cân bằng điện giải dẫn đến kéo dài thời gian dùng dịch của bệnh nhân [23], [42], [43], [49]

Dinh dưỡng tĩnh mạch sơ sinh được áp dụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

từ trước những năm và đã qua nhiều lần xây dựng và sửa đổi Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch

Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch hiện đang thực hiện tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh được xây dựng năm , là phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn khuyến cáo về nhu cầu dịch, nhu cầu năng lượng, nhu cầu các thành phần dịch truyền bao gồm glucid, protid, lipid và một số thành phần điện giải theo ba giai đoạn phát triển của trẻ sơ sinh là giai đoạn khởi đầu, chuyển tiếp, trưởng thành Ở mỗi giai đoạn khác nhau nhu cầu các thành phần dịch truyền dinh dưỡng là khác nhau Theo đó, thời gian nuôi dưỡng càng dài thì nhu cầu dinh dưỡng càng cao

Ngoài phụ thuộc vào thời gian nuôi dưỡng, nhu cầu dinh dưỡng còn phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng và đặc điểm chăm sóc của từng bệnh nhân

Hiện tại, việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương được thực hiện dựa trên sự kết hợp Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn và Phác đồ nuôi dưỡng tiêu hóa tối thiểu Các Phác đồ nuôi dưỡng này được trình bày trong Phụ lục 3

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân sơ sinh điều trị nội trú tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ / / đến hết tháng 3 năm

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Bệnh nhân được chỉ định dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân tử vong trong quá trình sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả tiến cứu thông qua quan sát, theo dõi bệnh nhân và ghi nhận thông tin vào phiếu thu thập thông tin

2.2.2 Mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập số liệu tiến hành qua các bước:

ước : Xây dựng bộ công cụ là phiếu thu thập thông tin của bệnh nhân, bao gồm thông tin cơ bản, thông tin đặc điểm bệnh nhân (về bệnh lý, chăm sóc, lâm sàng), kết quả xét nghiệm cận lâm sàng (huyết học, sinh hóa, khí máu), quá trình dùng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch (loại dịch truyền, thể tích dịch truyền, tốc độ truyền, đường dùng), tình trạng bệnh nhân trong và sau quá trình truyền dịch

ước 2: Thử nghiệm bộ công cụ để thu thập thông tin bệnh nhân trong 1 tuần trên một số bệnh nhân đang điều trị tại khoa Sau đó, bộ công cụ được chỉnh sửa giúp quá trình thu thập số liệu được thuận tiện nhất Phiếu thu thập hoàn chỉnh được trình bày ở Phụ lục 1

ước 3: Thu thập thông tin từ bệnh án và quá trình theo dõi bệnh nhân hàng ngày theo nội dung được trình bày ở Bảng 2.1

Trang 25

Bảng 2.1 Nội dung thu thập thông tin trên bệnh nhân

bệnh nhân hàng ngày

Thông tin cơ bản (mã bệnh nhân, họ tên, giới

tính, ngày vào khoa, tuổi thai, cân nặng lúc sinh)

máu)

Cân nặng hàng ngày (theo dõi qua biển mạch)

Đặc điểm về kê đơn (loại dịch truyền, thể tích

dịch truyền, đường truyền, thời gian nuôi dưỡng)

Biến cố trong quá trình nuôi dưỡng

2.2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:

2.2.4.1 Đặc điểm của trẻ sơ sinh sử dụng dịch truyền dinh dưỡng

- Tỷ lệ bệnh nhân theo giới tính

- Tỷ lệ bệnh nhân theo phân loại tuổi thai lúc sinh

- Cân nặng trung bình, tỷ lệ bệnh nhân theo phân loại cân nặng lúc sinh

- Tỷ lệ bệnh nhân được nuôi dưỡng tĩnh mạch một phần, toàn phần

- Thời gian nuôi dưỡng tĩnh mạch

- Tỷ lệ các bệnh lý của bệnh nhân

- Tỷ lệ bệnh nhân theo các đặc điểm về chăm sóc (bao gồm nằm lồng ấp, nằm giường sưởi, chiếu đèn) và đặc điểm về lâm sàng (bao gồm thở nhanh, phù, sốt)

2.2.4.2 Đặc điểm sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

 Đặc điểm về lựa chọn dịch truyền dinh dưỡng

- Tỷ lệ các loại dịch truyền dinh dưỡng được sử dụng

- Tỷ lệ các công thức dinh dưỡng tĩnh mạch

Trang 26

 Đặc điểm về thể tích dịch nuôi dưỡng

- Tổng thể tích dịch nuôi dưỡng trung bình theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (ml/kg/ngày)

 Đặc điểm về năng lượng từ dịch nuôi dưỡng và dịch truyền dinh dưỡng

- Năng lượng trung bình từ dịch nuôi dưỡng và từ dịch truyền dinh dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (kcal/kg/ngày)

- Năng lượng trung bình từng thành phần (glucid, protid, lipid) trong dịch nuôi dưỡng và trong dịch truyền dinh dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (kcal/kg/ngày)

- Tỷ lệ năng lượng trung bình từ glucid, protid, lipid trong dịch nuôi dưỡng và trong dịch truyền dinh dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (%)

 Đặc điểm về hàm lượng của từng thành phần trong dịch nuôi dưỡng và trong dịch truyền dinh dưỡng:

- Hàm lượng trung bình của từng thành phần trong dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (g/kg/ngày)

- Hàm lượng trung bình của từng thành phần trong dịch truyền dinh dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng (g/kg/ngày và mmol/kg/ngày)

 Đặc điểm về đường nuôi dưỡng tĩnh mạch

- Tỷ lệ các đường nuôi dưỡng tĩnh mạch và thời gian truyền trung bình qua mỗi đường nuôi dưỡng

 Đặc điểm về tốc độ truyền dịch truyền dinh dưỡng

- Tốc độ truyền trung bình theo từng giai đoạn nuôi dưỡng

- Tỷ lệ tốc độ truyền không phù hợp theo từng giai đoạn nuôi dưỡng

 Đặc điểm bệnh nhân trong và sau quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch

- Tỷ lệ bệnh nhân có thay đổi cân nặng (tăng cân, giữ nguyên cân, giảm cân) sau quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch

- Tỷ lệ các biến cố bất lợi trong quá trình nuôi dưỡng tĩnh mạch

2.2.5 Các tiêu chuẩn và quy ước sử dụng trong nghiên cứu

2.2.5.1 Phân loại tuổi thai lúc sinh

Tuổi thai lúc sinh được phân loại theo khuyến cáo Điều trị dinh dưỡng cho trẻ sinh non – nhẹ cân của Hội Nhi khoa Việt Nam, Hội Chu sinh và Sơ sinh Thành phố

Hồ Chí Minh [14] như ảng 2.2

Trang 27

Bảng 2.2 Phân loại tuổi thai lúc sinh

2.2.5.2 Phân loại cân nặng lúc sinh

Cân nặng lúc sinh được phân loại theo khuyến cáo Điều trị dinh dưỡng cho trẻ sinh non – nhẹ cân Hội Nhi khoa Việt Nam, Hội Chu sinh và Sơ sinh Thành phố Hồ Chí Minh [14] như ảng 2.3

Bảng 2.3 Phân loại cân nặng lúc sinh

Nhẹ cân vừa 1500 – < 2500

Rất nhẹ cân 1000 – < 1500

2.2.5.3 Các giai đoạn nuôi dưỡng tĩnh mạch

 Theo Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh được áp dụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương [14], chúng tôi phân biệt 3 giai đoạn nuôi dưỡng như sau:

- Giai đoạn khởi đầu: ngày và ngày sử dụng dịch truyền dinh dưỡng

- Giai đoạn chuyển tiếp: từ ngày 3 đến hết ngày sử dụng dịch truyền dinh dưỡng

- Giai đoạn trưởng thành: từ ngày đến khi kết thúc dịch truyền dinh dưỡng

 Thời điểm thu thập thông tin về việc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch theo các giai đoạn được thống nhất như sau:

- Giai đoạn khởi đầu chọn ngày thứ 2

- Giai đoạn chuyển tiếp chọn ngày thứ 5 Nếu không có thông tin của ngày thứ 5,

chúng tôi chọn ngày thứ và nếu tiếp tục không có thông tin ở ngày thứ , chúng tôi chọn ngày thứ 3 để thu thập thông tin

Trang 28

- Giai đoạn trưởng thành chọn ngày thứ 10 Nếu không có thông tin của ngày thứ

10, chúng tôi chọn ngày thứ 9 và nếu tiếp tục không có thông tin ở ngày thứ 9, chúng tôi chọn ngày thứ 8 để thu thập thông tin

2.2.5.4 Tổng thể tích dịch nuôi dưỡng, tổng năng lượng từ dịch nuôi dưỡng và từ dịch truyền dinh dưỡng

 Tổng thể tích dịch nuôi dưỡng bao gồm thể tích sữa và thể tích dịch truyền cung cấp cho bệnh nhân qua mỗi giai đoạn được tính như sau:

- Vdịch nuôi dưỡng = Vsữa + Vdịch truyền

- Vdịch truyền = Vdịch truyền glucid + Vdịch truyền protid + Vdịch truyền lipid + Vdịch truyền khác

 Tổng năng lượng từ dịch nuôi dưỡng bao gồm năng lượng từ sữa và năng lượng từ dịch truyền dinh dưỡng

- Tổng năng lượng từ dịch nuôi dưỡng và năng lượng của từng thành phần trong dịch nuôi dưỡng (glucid, protid, lipid) được ghi nhận trên bệnh nhân được nuôi

ăn bằng sữa qua sonde dạ dày và/hoặc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

- Năng lượng từ sữa được tính theo năng lượng từ sữa mẹ, ước tính 0,67 kcal/ml [2], [3]

+ Hàm lượng glucid trong sữa mẹ ước tính là (g/L) [2]

+ Hàm lượng protid trong sữa mẹ ước tính là (g/L) [2]

+ Hàm lượng lipid trong sữa mẹ ước tính là , (g/L) [2]

 Tổng năng lượng từ dịch truyền dinh dưỡng bao gồm tổng năng lượng từ dịch truyền glucid, protid, lipid

- Tổng năng lượng từ dịch truyền dinh dưỡng và năng lượng của từng thành phần trong dịch truyền dinh dưỡng (glucid, protid, lipid) được ghi nhận trên bệnh nhân

sử dụng các dịch truyền dinh dưỡng này

+ Năng lượng từ glucid: 1g glucid cung cấp 4 kcal [3], [8], [54]

+ Năng lượng từ protid: 1g protid cung cấp 4 kcal [3], [8], [54]

+ Năng lượng từ lipid : 1g lipid cung cấp 10 kcal [3], [8], [54]

2.2.5.5 Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Các kết quả nghiên cứu về thể tích dịch nuôi dưỡng, năng lượng dịch nuôi dưỡng, hàm lượng các thành phần từ dịch nuôi dưỡng theo từng giai đoạn nuôi dưỡng

Trang 29

được so sánh với các tiêu chuẩn trong khuyến cáo của Phác đồ nuôi dưỡng tĩnh mạch trẻ sơ sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương trình bày trong ảng 2.4

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn so sánh với Phác đồ nuôi dƣỡng tĩnh mạch sơ sinh

2.2.5.6 Đánh giá tốc độ truyền của dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

 Các dịch truyền được trộn chung vào một chai và được truyền trong 24 giờ qua hệ thống bơm tiêm điện nên tốc độ truyền lý thuyết (ml/h) được tính theo công thức:

- Tốc độ truyền lý thuyết (ml/h) = Vdịch truyền/24

 Tốc độ truyền thực tế được đánh giá so với tốc độ lý thuyết như sau:

- Nếu tốc độ truyền thực tế (ml/h) nằm trong khoảng tốc độ lý thuyết ± % (ml/h) thì được coi là tốc độ truyền phù hợp

- Ngược lại, tốc độ truyền thực tế (ml/h) nằm ngoài khoảng tốc độ lý thuyết ± % (ml/h) thì được coi là tốc độ truyền không phù hợp

2.2.5.7 Ghi nhận cân nặng của bệnh nhân sau khi ngừng sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

 Chúng tôi quy ước ngày ghi nhận chỉ số cân nặng sau khi ngừng dịch truyền như sau:

- Ngày : ngày cuối cùng bệnh nhân sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

- Ngày thứ : ngày sau khi ngừng sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

- Ngày thứ n: n ngày sau khi ngừng sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

 Chỉ số cân nặng ghi nhận sau khi kết thúc dịch truyền được so sánh với chỉ số cân nặng của bệnh nhân ngay sau khi sinh

Trang 30

2.2.5.8 Ghi nhận biến cố xuất hiện trên bệnh nhân trong quá trình sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

Các biến cố được ghi nhân trên bệnh nhân trong quá trình sử dụng dịch truyền dinh dưỡng bao gồm tăng CRP, rối loạn điện giải, tăng ure máu, hạ glucose huyết, thiếu yếu tố vi lượng được ghi nhận qua kết quả cận lâm sàng qua các ngày trừ kết quả của ngày đầu tiên nhập viện Tiêu chuẩn ghi nhận biến cố được trình bày trong Bảng 2.5 dưới đây

Bảng 2.5 Biến cố và tiêu chuẩn ghi nhận các biến cố

Rối loạn điện giải

Hạ Na+ Nồng độ Na+/huyết tương < 135 mmol/l

Hạ K+ Nồng độ K+/huyết tương < 3,5 mmol/l

Hạ Catp++ Nồng độ Catp++/huyết tương < 2,15 mmol/l Tăng ure máu Ure máu > 7,4 mmol/l

Hạ glucose máu Glucose máu ≤ 2,2 mmol/l

Toan chuyển hóa Theo chẩn đoán của bác sĩ

Thiếu yếu tố vi lượng Theo giá trị cận lâm sàng

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học nhờ phần mềm SPSS 16 Đối với biến số định danh và phân hạng, kết quả được trình bày dưới dạng tỷ lệ %; đối với biến liên tục được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn (X ± SD) nếu là biến số phân phối chuẩn và dưới dạng trung vị nếu là biến số phân phối không chuẩn

Trang 31

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ

Chúng tôi ghi nhận 100 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đưa vào nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

Các đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được trình bày trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

Cân nặng lúc sinh

Đủ cân (≥ 2500g) 10 (10,0) Nhẹ cân vừa (1500 – < 2500g) 37 (37,0) Rất nhẹ cân (1000 – < 1500g) 44 (44,0) Cực nhẹ cân (< 1000g) 9 (9,0) Cân nặng trung bình ± SD (g) , ± 3 ,

Nhận xét: Bệnh nhân được chỉ định truyền dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch

hầu hết là trẻ sinh non (91,0%) và trẻ nhẹ cân ( , %) Toàn bộ 100 bệnh nhân khảo sát đều được nuôi dưỡng tĩnh mạch một phần

3.1.2 Đặc điểm về thời gian nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

Toàn bộ bệnh nhân đều được nuôi dưỡng từ những ngày đầu sau khi sinh Đặc điểm về thời gian nuôi dưỡng tĩnh mạch được trình bày trong Bảng 3 và tỷ lệ bệnh nhân được nuôi dưỡng qua 3 giai đoạn trình bày trong ảng 3.3

Trang 32

Bảng 3.2 Thời gian nuôi dưỡng đường tĩnh mạch

Trung vị số ngày nuôi dưỡng (IQR) 9,0 (7,0 – 12,0)

Bảng 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân nuôi dưỡng qua từng giai đoạn

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân được nuôi dưỡng tĩnh mạch trong thời gian từ 1 –

2 tuần (52,0%) Trung vị số ngày nuôi dưỡng là ngày

3.1.3 Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân

Chúng tôi đã ghi nhận 94 bệnh nhân mắc tình trạng bệnh lý trước khi sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch như mô tả ở Bảng 3.4

Bảng 3.4 Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân được nuôi dưỡng tĩnh mạch có tình trạng suy hô

hấp (93,0%) và chủ yếu bệnh nhân này cần hỗ trợ thở máy ( ,3%)

Trang 33

3.1.4 Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng

Một số đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng liên quan đến việc sử dụng dịch truyền dinh dưỡng tĩnh mạch được trình bày trong Bảng 3.5

Bảng 3.5 Đặc điểm về chăm sóc và lâm sàng

Lâm sàng

Nhận xét: Toàn bộ bệnh nhân được nằm lồng ấp hoặc nằm giường sưởi, trong đó

tỷ lệ bệnh nhân nằm lồng ấp cao gấp 4 lần tỷ lệ bệnh nhân nằm giường sưởi Phần lớn bệnh nhân được chiếu đèn trong giai đoạn chuyển tiếp (65%) Về đặc điểm lâm sàng,

gần 1/5 bệnh nhân có dấu hiệu thở nhanh, 3% bệnh nhân có phù hoặc sốt

3.2.1 Đặc điểm về lựa chọn dịch truyền dinh dưỡng

3.2.1.1 Các loại dịch truyền dinh dưỡng được sử dụng

Các loại dịch truyền dinh dưỡng sử dụng trên bệnh nhân được trình bày trong Bảng 3.6

Ngày đăng: 02/07/2018, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w