1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu bào chế vi nang diclofenac bằng phương pháp đông tụ sử dụng alginat

58 321 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 8,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

27 3.2 Kết quả khảo sát các yếu tố công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng nhanh dược chất trong ruột non .... Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài

Trang 1

SỬ DỤNG ALGINAT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

1 Bộ môn Công nghiệp Dược

2 Viện Công nghệ Dược phẩm Quốc gia

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cảm ơn

đến Ths Trần Ngọc Bảo và Ths Bùi Thị Lan Phương, là những người thầy đã tận

tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện khoá luận

Tiếp theo, tôi xin gửi lời cám ơn đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Chiến cùng các anh

chị cán bộ, kỹ thuật viên của Viện Công nghệ Dược phẩm quốc gia và Bộ môn Công Nghiệp Dược đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện khoá luận

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, nhà trường, các bạn sinh viên khoá

68 thực hiện khoá luận tại Bộ môn Công Nghiệp Dược và Viện Công nghệ Dược phẩm Quốc gia đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện khoá luận này

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Quản Hữu Thế

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC

BẢNG DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Giới thiệu về natri diclofenac (NaD) 2

1.1.1 Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý 2

1.1.2 Tác dụng dược lý 3

1.1.3 Tác dụng không mong muốn 3

1.1.4 Giới thiệu về các dạng bào chế của NaD trên thị trường dùng đường uống 3 1.2 Tổng quan về vi nang và bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ 4

1.2.1 Khái niệm, cấu tạo và ứng dụng của vi nang 4

1.2.2 Các phương pháp bào chế vi nang 5

1.2.2.1 Phương pháp tách pha hay đông tụ 5

1.2.2.2 Phương pháp trùng hiệp 7

1.2.2.3 Phương pháp tĩnh điện 7

1.2.2.4 Phương pháp cơ học 7

1.2.3 Các kỹ thuật bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ 8

1.2.3.1 Kỹ thuật phun sấy 8

1.2.3.2 Kỹ thuật rắn hoá nhũ tương 8

1.2.3.3 Kỹ thuật nhỏ giọt 9

1.2.3 Các nghiên cứu bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ sử dụng cho đường uống 10

1.2.3.1 Vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại dạ dày 10

1.2.3.2 Vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại ruột non 11

1.3 Giới thiệu về alginat 12

1.3.1 Nguồn gốc và công thức cấu tạo 12

1.3.2 Đặc điểm, tính chất liên quan đến bào chế vi nang 12

1.3.3 Ưu, nhược điểm của Alg trong bào chế vi nang 13

1.3.4 Ứng dụng của Alg 13

Trang 5

1.4 Một số nghiên cứu về vi nang NaD bằng phương pháp đông tụ sử dụng Alg 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 16

2.1.1 Nguyên liệu 16

2.1.2 Thiết bị 16

2.2 Nội dung nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3.1 Xây dựng công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng nhanh dược chất trong ruột non 17

2.3.1.1 Xây dựng công thức ban đầu 17

2.3.1.2 Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ Alg 18

2.3.1.3 Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CaCl2 18

2.3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ NaD và Alg 18

2.3.1.5 Khảo sát ảnh hưởng của việc phối hợp chitosan vào dung dịch CaCl2 19 2.3.1.6 Khảo sát ảnh hưởng của việc phối hợp pectin vào gel Alg 19

2.3.2 Xây dựng công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non 19

2.3.2.1 Xây dựng công thức ban đầu bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non 19

2.3.2.2 Khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ dược chất và TDD 20

2.3.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của các loại TDD 20

2.3.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp TDD và chitosan 20

2.4 Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá các đặc tính của vi nang 21

2.4.1 Lựa chọn phương pháp thử độ hoà tan vi nang NaD 21

2.4.2 Xây dựng đường chuẩn dung dịch NaD trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 24

2.4.3 Xây dựng phương pháp định lượng NaD trong vi nang bằng phương pháp đo quang 24

2.4.4 Tính hiệu suất vi nang hoá 26

2.4.5 Xác định hàm ẩm của vi nang 26

2.4.6 Đánh giá hình thức của vi nang 26

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 27

Trang 6

3.1 Kết quả xây dựng đường chuẩn dung dịch NaD trong môi trường đệm

phosphat pH 6,8 27

3.2 Kết quả khảo sát các yếu tố công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng nhanh dược chất trong ruột non 28

3.2.1 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Alg 28

3.2.2 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CaCl2 29

3.2.3 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ NaD và Alg 30

3.2.4 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp chitosan vào dung dịch CaCl2 31

3.2.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp pectin vào gel Alg 33

3.3 Kết quả khảo sát các công thức vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất trong ruột non 35

3.3.1 Kết quả khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ TDD 35

3.3.2 Kết quả ảnh hưởng của các loại TDD 36

3.3.3 Khảo sát ảnh hưởng của việc phối hợp chitosan và TDD 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

BẢNG DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DC/TDD Tỷ lệ dược chất và tá dược thân dầu

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Công thức phân tử NaD 2

Hình 1.2 Cấu tạo vi nang 5

Hình 1.3 Công thức cấu tạo của phân tử Alg 12

Hình 1.4 Cấu trúc "vỉ trứng" mô tả liên kết chéo giữa Alg và Ca2+ 13

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa nồng độ dung dịch NaD và mật độ quang trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 27

Hình 3.4 Đồ thị thử hoà tan khảo sát ảnh hưởng của nồng độ CaCl2 30

Hình 3.5 Đồ thị thử hoà tan khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ NaD/Alg 31

Hình 3.6 Đồ thị thử hoà tan khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp chitosan 32

Hình 3.7 Đồ thị thử hoà tan khảo sát sự ảnh hưởng của việc phối hợp pectin 34

Hình 3.8 Đồ thị thử hoà tan khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ TDD 36

Hình 3.9 Đồ thị thử hoà tan khảo sát ảnh hưởng của các loại TDD 37

Hình 3.10 Đồ thị thử hoà tan khảo sát sự ảnh hưởng của việc phối hợp TDD và chitosan 39

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Độ tan của NaD theo pH 2

Bảng 2.1 Nguyên liệu trong quá trình làm thực nghiệm 16

Bảng 2.2 Công thức ban đầu bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng nhanh dược chất tại ruột non 17

Bảng 2.3 Công thức gốc ban đầu bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non 20

Bảng 3.1 Mật độ quang của NaD trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 27

Bảng 3.3 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Alg 28

Bảng 3.4 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ CaCl2 29

Bảng 3.5 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ NaD/Alg 30

Bảng 3.6 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp chitosan 31

Bảng 3.7 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp pectin 33

Bảng 3.8 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ DC/TDD 35

Bảng 3.9 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của loại TDD 37

Bảng 3.10 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp TDD và chitosan 38

Trang 10

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Natri diclofenac là một thuốc chống viêm không steroid (NSAID) đã được sử dụng

phổ biến trong lâm sàng để điều trị các các cơn đau cấp, đau bụng kinh, đau dây thần kinh và đặc biệt là để điều trị các bệnh đau xương khớp Tuy nhiên, nhược điểm chính của natri diclofenac là có tác dụng phụ gây lên dạ dày Để khắc phục các nhược điểm

đó, các chế phẩm natri diclofenac trên thị trường thường ở dạng viên nén bao tan trong ruột hoặc bao một số tá dược giúp kiểm soát giải phóng dược chất Các nghiên cứu gần đây theo xu hướng bào chế viên nén natri diclofenac bao tan trong ruột hoặc nghiên cứu các dạng bào chế mới nhằm hạn chế giải phóng của dược chất trong dạ dày

và kiểm soát giải phóng dược chất trong ruột non như vi nang, vi cầu

Alginat là một tá dược có nguồn gốc thiên nhiên, có tính tương thích sinh học cao đặc biệt có khả năng đông tụ với các ion kim loại hoá trị II tạo phức hợp không tan trong môi trường acid dịch vị Ứng dụng tính chất này, alginat được sử dụng để bào chế vi nang mang dược chất nhằm bảo vệ dược chất khỏi ảnh hưởng của acid dịch vị

và để tránh tác động bất lợi của dược chất lên dạ dày Mặt khác, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi phối hợp alginat với một số tá dược khác như chiosan, pectin vào trong quá trình đông tụ có thể kiểm soát giải phóng dược chất trong vi nang

Từ những thông tin trên, sử dụng alginat để vi nang hoá những dược chất như diclofenac là một hướng tiếp cận mới hứa hẹn nhiều tiềm năng Vì vậy, nhóm nghiên

cứu quyết định thực hiện đề tài "Nghiên cứu bào chế vi nang diclofenac bằng phương pháp đông tụ sử dụng alginat" với mục tiêu: Nghiên cứu xây dựng công

thức vi nang natri diclofenac kháng acid dịch vị và kiểm soát giải phóng dược chất trong ruột non

Trang 11

2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về natri diclofenac (NaD)

1.1.1 Đặc điểm cấu tạo và tính chất vật lý

Ø Công thức cấu tạo[2]:

Hình 1.1 Công thức phân tử NaD

Tên khoa học: Natri 2-{[(2,6-dichlorophenyl)amino-] phenyl} acetat

Công thức phân tử: C14H10Cl2NNaO2

Phân tử lượng: 318,1 g/mol

Ø Tính chất vật lý [2]:

- Cảm quan: Bột kết tinh màu trắng hoặc gần vàng nhạt

- Độ tan: Hơi tan trong nước, độ tan trong nước ở 25℃ thay đổi tuỳ theo giá trị pH; tan tốt trong methanol; tan trong ethanol; acetone; thực tế không tan trong ether

- Cực đại hấp thụ tia UV trong dung môi MeOH: 283 nm; trong đệm phosphat

Trang 12

Có tác dụng giảm đau mạnh với vị trí tác dụng là các receptor cảm giác ngoại vi

Cơ chế giảm đau do làm giảm tổng hợp prostaglandin F2, làm giảm tính cảm thụ của ngọn dây thần kinh cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như bradykinin, serotonin

Ø Tác dụng chống viêm:

Cơ chế chống viêm của NaD là do ức chế enzym cyclooxygenase (COX), ngăn cản tổng hợp prostaglandin-chất trung gian hoá học gây viêm, từ đó làm giảm quá trình viêm Ngoài ra, còn đối kháng với hệ enzym phân huỷ protein, ngăn cản quá trình biến đổi protein làm bền vững màng lysosom và đối kháng tác dụng của các chất trung gian hoá học như bradykinin, histamin, serotonin, ức chế hoá hướng động bạch cầu, ức chế

sự di chuyển của bạch cầu tới ổ viêm

1.1.3 Tác dụng không mong muốn

Tác dụng không mong muốn chủ yếu liên quan tới tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin [4], [3] gây ra những tác dụng không mong muốn như sau:

Ø Trên tiêu hoá: Kích ứng, đau thượng vị, nặng hơn có thể là loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hoá…

Ø Trên thận: Làm giảm lưu lượng máu qua thận, giảm sức lọc cầu thận, giảm thải dẫn đến ứ nước, tăng kali máu và viêm thận kẽ

Ø Trên hô hấp: Gây cơn hen giả ở người không bị hen hoặc làm tăng các cơn hen

ở người bị hen phế quản

Ø Trên máu: Kéo dài thời gian chảy máu do ức chế kết tập tiểu cầu, giảm tiểu cầu

và giảm prothrombin Hậu quả gây kéo dài thời gian đông máu, mất máu không nhìn thấy qua phân, tăng nguy cơ chảy máu

1.1.4 Giới thiệu về các dạng bào chế của NaD trên thị trường dùng đường uống

Tham khảo các tài liệu và tìm hiểu trên thị trường, các dạng bào chế được chia thành các mức liều như sau:

- Liều NaD 25 mg: dạng bào chế là viên nén kháng acid dịch vị

Trang 13

4

- Liều NaD 50 mg: dạng bào chế là viên nén kháng acid dịch vị

- Liều NaD 75mg: dạng bào chế là viên nén giải phóng kéo dài release) hoặc viên nén thay đổi giải phóng (modified-release)

- Liều NaD 100 mg: dạng bào chế là viên giải phóng kéo dài (prolonged-release)

(prolonged-1.2 Tổng quan về vi nang và bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ

1.2.1 Khái niệm, cấu tạo và ứng dụng của vi nang

Ø Khái niệm:

Vi nang (microcapsules) là những tiểu phân hình cầu hoặc không xác định, có kích

thước 0,1 - 5 mm (thông thường từ 100 - 500 µm) Vi nang được bào chế bởi quá trình

bao dược chất lỏng hoặc rắn bằng một lớp màng mỏng polyme liên tục [5]

Ø Cấu tạo:

- Phần nhân: Gồm một hoặc hơn một dược chất (ít khi gồm nhiều dược chất) ở dạng rắn hoặc lỏng Ngoài dược chất còn có thể phối hợp thêm các tá dược khác với mục đích ổn định hoặc kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất [5], [17], [39]

- Phần vỏ: Thường là các hợp chất cao phân tử có nguồn gốc thiên nhiên hoặc tổng hợp, có tác dụng tạo màng mỏng, độ dày của vỏ từ 0,1 µm đến 200 µm

Tỉ lệ nhân - vỏ dao động trong khoảng rất rộng, thông thường khối lượng vỏ chiếm khoảng 1 - 70% so với khối lượng của vi nang và quyết định phần lớn tính chất của vi nang [5]

Trang 14

Trong lĩnh vực dược phẩm, công nghệ vi nang hoá giúp giải quyết những vấn đề khó khăn với các mục đích khác nhau, có thể kể đến như:

- Bảo vệ cơ thể tránh các tác dụng không mong muốn của dược chất (ví dụ bào chế aspirin kéo dài kháng acid dịch vị), hay bảo vệ các dược chất tránh khỏi các tác nhân khác như độ ẩm, ánh sáng, chất oxy hoá (nifedipin, vitamin A, vitamin K) [5]

- Chuyển các dược chất ở dạng lỏng thành các hệ chất rắn khô (giả rắn) thuận tiện cho việc vận chuyển, bảo quản (eprazinon) [39], hoặc thành các dạng bột

có độ trơn chảy cao thuận lợi cho việc bào chế (dễ dàng đưa vào viên nén) [25]

- Tách các thành phần tương kỵ với nhau (ví dụ để tăng độ ổn định của cặp tương kỵ aspirin và clorpheniramin maleat bằng cách tạo vi nang của từng chất trước khi trộn chung với nhau) [5], [39]

- Kiểm soát sinh khả dụng của dược chất trong vi nang: Giải phóng nhanh, giải phóng kéo dài hoặc hướng đến tác dụng tại đích [5], [25], [39]

1.2.2 Các phương pháp bào chế vi nang

Về nguyên tắc, phương pháp chung để chế tạo vi nang không bắt buộc phải có thiết bị riêng Việc lựa chọn phương pháp chế tạo phụ thuộc vào điều kiện thực tế như

độ tan, tính tương đồng, kích thước vi nang [5]

Vi nang có thể được bào chế bằng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng tổng quát được chia thành bốn phương pháp [1] đó là:

Ø Phương pháp tách pha hay đông tụ

Trang 15

6

Các pha được tách nhờ sự thay đổi nhiệt độ, sự hoá muối hoặc khi thêm một dung môi thứ hai vào hệ vi nang Từ dung dịch keo trong một dung môi thích hợp, tiến hành các tác động nhằm thay đổi độ tan của nó, kết quả là một lượng đáng kể keo được tách ra thành pha mới Như vậy hệ trở thành hệ hai pha, một pha có nồng độ cao chất keo được tách ra dưới dạng giọt nhỏ gọi là các giọt đông

tụ (coacervat) Sau đó các hạt đông tụ dần kết dính lại với nhau hoặc hấp thụ lên

bề mặt chất cần bao gói tạo thành lớp màng vi nang [5], [9]

Ø Cơ chế:

Theo cơ chế phương pháp đông tụ có thể chia làm hai loại:

- Đông tụ đơn giản: Là quá trình loại nước của các chất keo thân nước dùng trong hệ, do đó làm giảm độ tan của các chất keo Trong phương pháp này thường chỉ sử dụng một loại polyme (gelatin, polyvinyl alcol, carboxymethyl cellulose) Quá trình làm giảm độ tan của chất keo có thể bằng các cách sau: Thêm vào một dung môi có thể trộn lẫn với nước (ethanol, aceton, isopropanol ); thêm vào một muối vô cơ hay thay đổi nhiệt độ [38]

- Đông tụ phức tạp: Là quá trình tương tác giữa các phân tử tích điện âm và tích điện dương của hai hay nhiều hợp chất cao phân tử Sự tương tác này thường

do sự thay đổi nồng độ các chất tan cao phân tử hoặc thay đổi pH Các polyme càng có sự khác nhau về điểm đẳng điện càng dễ dàng tạo thành hạt đông tụ [9], [36]

Quá trình tách pha (đông tụ) có thể do các cơ chế sau [1]:

- Tách pha do thay đổi nhiệt độ

- Tách pha do thêm vào một polyme khác không tương đồng: Nhân được phân tán vào dung dịch polyme thứ nhất để tạo màng không tan trong dung dịch Màng này sẽ đông vón xung quanh nhân khi phân tán thêm dung dịch đậm đặc polyme thứ hai không tương đồng

- Tách pha do thêm vào hệ một dung môi thứ hai: Khi cho thêm vào hệ một dung môi khác không hoà tan polyme dùng làm vỏ vi nang, polyme sẽ tách ra tạo thành lớp áo xung quanh nhân

- Tách pha do sự hoá muối: Thêm dung dịch đậm đặc muối điện ly mạnh vào hệ chế tạo vi nang, sẽ tạo thành hai pha, kết quả là một pha trong đó sẽ trở nên bão các tiểu phân keo

Trang 16

7

- Tách pha do sự tương tác tĩnh điện của các polyme: Các polyme có điện tích trái dấu sẽ tương tác với nhau tạo thành hạt đông tụ bao quanh nhân Trong phương pháp này các polyanion như Alg kết hợp với các ion đa hoá trị hoặc polycation tạo thành các hạt gel có mạng lưới không gian ba chiều bao gói lấy dược chất tạo lớp màng có độ bền cơ học cao và ngăn thấm tốt hơn

1.2.2.2 Phương pháp trùng hiệp

Là một phương pháp mới để chế tạo vi nang, cơ sở của phương pháp là do phản ứng của các monome tại bề mặt nhân và pha phân tán nhân Pha nhân và vỏ có thể ở trạng thái lỏng hoặc khí, vì vậy do phản ứng trùng hiệp hoá có thể xảy ra ở bề mặt lỏng - lỏng, lỏng - khí, rắn - lỏng, rắn - khí [1]

1.2.2.3 Phương pháp tĩnh điện

Phương pháp tĩnh điện đòi hỏi cả vỏ và nhân đều được làm thành dạng khí dung

Vỏ vi nang được hoá lỏng trong quá trình chế tạo vi nang và phải có khả năng bao quanh nhân, khí dung tạo thành phải có điện tích trái dấu với nhân làm vi nang Phương tiện để chế tạo vi nang cần có 3 khoang riêng, trong đó 2 khoang được dùng

để phun vật liệu làm vỏ và dược chất làm nhân, khoang thứ 3 dùng để pha trộn Các ion tích điện trái dấu sẽ tích tụ và bao quanh các giọt lỏng khi chúng được phun ở dạng khí dung [1]

1.2.2.4 Phương pháp cơ học

Vi nang có thể được chế tạo bằng các phương pháp đặc biệt khác như [1]:

- Phương pháp ly tâm: Cơ sở của phương pháp này là dùng lực ly tâm để đưa các tiểu phân dược chất làm nhân vào màng vỏ vi nang

- Phương pháp phun sấy: Dược chất làm nhân được phân tán vào dung dịch chứa chất tạo vỏ nang Hỗn dịch này được phun vào một dòng khí nóng, dung môi hoà tan vật liệu làm vỏ sẽ bốc hơi còn lại vi nang

- Phương pháp phun kết tụ: Tiểu phân dược chất được phân tán vào vật liệu làm

vỏ bao đã đun chảy, sau đó được bơm vào buồng sấy có thổi một luồng khí lạnh, khi đó sự đông tụ xảy ra do thay đổi nhiệt độ

- Phương pháp dùng nồi bao viên thông thường

- Phương pháp bao tầng sôi: Sử dụng thiết bị tầng sôi để chế tạo vi nang

Trang 17

8

1.2.3 Các kỹ thuật bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ

Có nhiều kỹ thuật bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ nhưng có 3 kỹ thuật

chính là: Kỹ thuật phun sấy, kỹ thuật rắn hoá nhũ tương và kỹ thuật nhỏ giọt [6]

1.2.3.1 Kỹ thuật phun sấy

Hệ chứa dược chất và các chất mang được phát tán vào luồng không khí khô qua thiết bị phun sấy làm dung môi bốc hơi rất nhanh thu được các vi nang mang dược chất ở dạng bột khô

Kỹ thuật phun sấy trải qua các bước như sau [1]:

- Phân tán dược chất vào dịch polyme vỏ nang

- Hỗn dịch (hoặc dung dịch) dược chất trong polyme được phát tán vào dòng khí nóng qua thiết bị phun sấy, khi đó dung môi hoà tan polyme làm vỏ nang sẽ bốc hơi và còn lại vi nang

Các vi nang bào chế theo kỹ thuật phun sấy có dạng hình cầu và có đường kính khoảng 5 - 600 µm Kích thước vi nang phụ các đặc tính của bản thân dược chất, chất mang polyme và các thông số quy trình như nhiệt độ khí vào, tốc độ cấp khí, tốc độ cấp dịch, áp lực phun, kích thước đầu phun [38]

Kỹ thuật phun sấy có ưu điểm là quá trình diễn ra liên tục, chi phí thấp và dễ dàng

mở rộng quy mô và thích hợp bào chế vi nang nhằm mục đích cải thiện mùi vị và giải phóng kéo dài [5] Tuy nhiên, do polyme chất mang có độ nhớt cao, tiểu phân dược chất có kích thước lớn và kích thước đầu súng phun nhỏ nên rất dễ gây tắc súng phun, đồng thời kỹ thuật đòi hỏi cần thiết bị công nghệ cao, chi phí đầu tư đắt tiền

1.2.3.2 Kỹ thuật rắn hoá nhũ tương

Vi nang được tạo từ kỹ thuật rắn hoá nhũ tương có cơ chế tạo liên kết chéo (đông tụ) do sự tương tác tĩnh điện của các tiểu phân tích điện trái dấu Quá trình bào chế tiến hành như sau [29], [35]:

- Hỗn dịch polyme chứa dược chất được thêm lượng lớn tá dược dầu thể lỏng như dầu đậu nành, parafin lỏng và chất diện hoạt để tạo nhũ tương N/D

- Nhũ tương tạo thành ở bước trên được thêm các tác nhân gây đông tụ vào nhũ tương như dung dịch các ion kim loại hoá trị II như Ca2+, Mg2+ Các ion này sẽ khuếch tán từ pha dầu sang pha nước và tương tác với các polyme ở pha nước tạo thành liên kết chéo tạo thành vi nang

- Vi nang tạo thành được phân lập bằng cách để lắng hoặc dùng lực ly tâm

Trang 18

9

- Vi nang tươi thu được ở trên được đem sấy khô loại nước

Kỹ thuật rắn hoá nhũ tương có ưu điểm là vi nang thu được có kích thước nhỏ, đồng đều Tuy nhiên kỹ thuật gặp một số hạn chế như khó nâng cấp quy mô, vi nang thu được khó loại hết pha dầu bám theo

Kỹ thuật nhỏ giọt gồm những bước như sau [18], [34]:

- Phân tán dược chất vào trong dung dịch chất mang polyme để tạo dung dịch hoặc hỗn dịch đồng nhất của dược chất trong polyme

- Hỗn dịch (hoặc dung dịch) thu được ở trên được nhỏ thành từng giọt xuống dung dịch chứa các tác nhân gây đông tụ nhờ trọng lực hay lực nén bằng pitton

để tạo thành các liên kết chéo ngay tức thời ở bề mặt tiếp xúc hình thành vi nang

- Vi nang được khuấy ổn định trong môi trường đông tụ để tác nhân đông tụ có thể thấm sau vào bên trong để tạo liên kết chéo, sau đó được phân lập và đem đi sấy khô thu vi nang

Kỹ thuật nhỏ giọt có ưu điểm là thiết bị bào chế tương đối đơn giản, dễ sử dụng,

vi nang thu được hình cầu, hiệu suất nạp thuốc cao đặc biệt là các dược chất kém tan trong nước [34] (do hạn chế sự thất thoát dược chất sang pha dung dịch tạo vỏ nang) Tuy nhiên, phương pháp có một số nhược điểm như: Kích thước nang tương đối lớn 2-

5 mm, hiệu suất nạp thuốc giảm với các dược chất tan tốt trong nước [34] và khó nâng cấp quy mô

Từ những thông tin trên, do có nhiều ưu điểm về tính đơn giản, dễ thiết kế thí nghiệm và đặc điểm dược chất kém tan trong nước có thể làm tăng hiệu suất vi nang hoá Nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng kỹ thuật nhỏ giọt để bào chế vi nang NaD bằng phương pháp đông tụ nhằm bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và kiểm soát giải phóng dược chất trong ruột non

Trang 19

10

1.2.3 Các nghiên cứu bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ sử dụng cho đường uống

Có nhiều nghiên cứu bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ sử dụng cho

đường uống nhưng nhìn chung có thể chia thành hai mục đích bào chế đó là:

- Bào chế vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại dạ dày [12], [24]

- Bào chế vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại ruột non [20], [30], [33]

1.2.3.1 Vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại dạ dày

Đặc điểm của dược chất: Dược chất thường là các kháng sinh như metronidazol,

amoxicillin được bao gói trong vi nang nhằm mục đích diệt vi khuẩn Helicobacter pylori (là một tác nhân gây loét dạ dày) [12], [23], [24]

Đặc điểm bào chế vi nang: Các vi nang được bào chế bằng phương pháp đông tụ

bằng kỹ thuật nhỏ giọt và polyme chất mang thường là Alg Dược chất được phân tán trong gel Alg và dung dịch đông tụ thường sử dụng CaCl2 kết hợp với chitosan Alg và chitosan ngoài vai trò đông tụ tạo vi nang còn là một tác nhân bám dính (mucoadhesive polyme) tăng thời thời gian lưu giữ góp phần tăng khả năng giải phóng dược chất tại dạ dày [10], [24] Ngoài ra, một số nghiên cứu phối hợp thêm TDD vào gel giúp vi nang tạo thành có thể nổi trong môi trường acid dịch vị nhằm cải thiện thời gian lưu giữ tại dạ dày [24]

Ishak và cộng sự (2007) [24] đã tiến hành nghiên cứu bào chế vi nang metronidazol sử dụng Alg nhằm mục đích kiểm soát giải phóng dược chất tại dạ dày

với mục tiêu diệt vi khuẩn Helicobacter pylori Dược chất được phân tán trong gel

Alg, ngoài ra còn phối hợp thêm một số polyme khác như methyl cellulose, Carbopol 934P , "-carrageenan để tăng độ nhớt của gel đồng thời phối hợp thêm magnesium stearat có vai trò như một tác nhân làm nổi và hạn chế sự xâm nhập của môi trường vào vi nang do có tỉ trọng nhẹ hơn nước và tính chất sơ nước của tá dược Hỗn dịch trên được nhỏ xuống dung dịch đông tụ là gồm CaCl2 và chitosan để tạo vi nang Kết quả, hiệu suất nạp thuốc vào vi nang cao trong khoảng 84 - 96% Kết quả thử hoà tan trong môi trường acid HCl pH 1,2, thời gian giải phóng 80% metronidazol trong vi nang đối với các công thức phối hợp methyl cellulose và Carbopol 934P dao động trong khoảng 40 - 70 phút, riêng các công thức sử dụng "-carrageenan thời gian tăng đột biến, đặc biệt với công thức: Chitosan 0,4%; " -carrageenan 0,5% và magnesium stearat 5% thời gian để giải phóng 80% dược chất là 215 phút Từ kết quả thu được đã

Trang 20

11

chứng minh vai trò kiểm soát giải phóng dược chất khi phối hợp hợp thêm "carrageenan và magnesium stearat trong môi trường acid HCl pH 1,2

-1.2.3.2 Vi nang kiểm soát giải phóng dược chất tại ruột non

Đặc điểm của dược chất: Dược chất thường là những chất có bản chất sinh học,

không bền với môi trường acid dịch vị như albumin huyết thanh bò (BSA) [30] hoặc

gây tác dụng không mong muốn trên dạ dày omerprazol [27]; diclofenac [10], [20] Đặc điểm bào chế vi nang: Vi nang được bào chế bằng kỹ thuật đông tụ nhỏ giọt

Dược chất được phân tán trong dung dịch gel thường là sự phối hợp của Alg và một gel khác như gelatin, pecin nhằm mục đích cải thiện nhược điểm trương nở giải phóng dược chất trong môi trường acid dịch vị [26], [34] Hỗn dịch trên được nhỏ xuống dung dịch các ion kim loại hoá trị II như Ca2+, Zn2+ và phối hợp thêm chitosan nhằm hạn chế sự trao đổi ion kim loại trên ở dịch vị gây trương nở vi nang làm giải phóng dược chất [40]

Madziva và cộng sự (2005) [26] đã bào chế vi nang chứa acid folic bằng phương pháp đông tụ sử dụng hai polyme là Alg và pectin Dược chất được thêm vào dung dịch hai polyme trên rồi nhỏ xuống dung dịch đông tụ là CaCl2 nhờ áp lực nén của khí Nito để tạo vi nang Vi nang thu được đem sấy khô tại nhiệt độ phòng trong 24 giờ Kết quả, hiệu suất nạp thuốc trong khoảng 55 - 89%, các công thức phối hơp pectin hiệu suất nạp thuốc cao hơn so với công thức chỉ sử dụng Alg, đặc biệt là công thức với tỉ lệ Alg/pectin là 70:30 hiệu suất đạt 88,6 ± 0,15% Kết quả thử giải phóng in vitro trong hai môi trường: acid HCl pH 1,2 và đệm phosphat pH 8,2 có kết quả công thức phối hợp pectin giải phóng dược chất thấp hơn trong môi trường acid HCl pH 1,2 và trong môi trường đệm phosphat giải phóng với tốc độ chậm hơn, cụ thể thời gian giải phóng 90% acid folic các công thức chứa pectin trung bình khoảng 100 phút, trong khi

đó công thức chỉ sử dụng Alg thời gian là 80 phút Từ kết quả thu được cho thấy vai trò của sự phối hợp pectin giúp hạn chế giải phóng dược chất trong môi trường acid HCl pH 1,2 và kiểm soát giải phóng trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 so với chỉ

sử dụng Alg

Trang 21

12

1.3 Giới thiệu về alginat

1.3.1 Nguồn gốc và công thức cấu tạo

Alginat là một polysaccharid anion được chiết tác từ loài tảo nâu, bao gồm 2 chuỗi

có cấu tạo từ acid # - 1,4 - mannuronic ( chuỗi M) và α - 1,4 - L - guluronic (chuỗi G) liên kết với nhau bằng liên kết 1,4 - glycosid [28]

Hình 1.3 Công thức cấu tạo của phân tử Alg

1.3.2 Đặc điểm, tính chất liên quan đến bào chế vi nang

Độ nhớt: Độ nhớt của các loại alginat khác nhau phụ thuộc vào tỷ lệ block M và G

có mặt trong các chuỗi polyme và theo thứ tự sau: GG > MM > MG Ngoài ra, độ nhớt của Alg còn thay đổi phụ thuộc vào nồng độ, nhiệt độ, pH và sự có mặt của các ion kim loại [32]

Hiện tượng đông tụ: Sự đông tụ Alg được xảy ra khi có sự hiện diện của các cation

kim loại hoá trị II, khi đó xảy ra sự tương tác giữa chuỗi G với các cation trên để tạo thành cầu ion [37] Vì vậy, khả năng đông tụ của Alg phụ thuộc vào tỷ lệ M/G, chiều dài của chuỗi G cũng như khối lượng mol của cả phân tử Cơ chế đông tụ của Alg được giải thích theo mô hình " vỉ trứng " trong đó block M là các dải hẹp và block G

là các dải gấp khúc, khi có mặt các ion kim loại đa hoá trị như Ca2+, Ba2+, Sr2+ ở nồng độ thích hợp của các ion thì sự đông tụ xảy ra [21] Khi đó các phân tử Alg sắp xếp lại song song nhau, các phần gấp khúc tạo thành khoảng không gian giống như vỉ đặt trứng và các ion kim loại khớp vào các chỗ trống này tạo nên mạng lưới không gian ba chiều hình "vỉ trứng" Ái lực của Alg với cation hoá trị II giảm theo thứ tự sau

Pb > Cu > Cd > Ba > Sr > Ca > Co, Ni, Zn > Mn Tuy nhiên ion Ca2+ là cation thường được sử dụng nhất để tạo đông tụ với Alg [19] Ứng dụng tính chất này, Alg được sử dụng trong phương pháp đông tụ để bao gói dược chất hay vi sinh vật trong các vi nang với nhiều mục đích như bảo vệ và chống lại các tác động bất lợi từ môi trường, kiểm soát giải phóng dược chất [28]

Trang 22

13

Hình 1.4 Cấu trúc "vỉ trứng" mô tả liên kết chéo giữa Alg và Ca 2+

1.3.3 Ưu, nhược điểm của Alg trong bào chế vi nang

Ưu điểm:

Alg là nguyên liệu an toàn, không độc, dễ sử dụng và giá thành rẻ [31] Alg gel hóa nhanh chóng tại pH trung tính và ở nhiệt độ nên thích hợp vi nang hoá tế bào sống, phân tử sinh học như protein, acid nucleic và các dược chất không bền ở nhiệt

độ cao [31] Quá trình vi nang hoá sử dụng Alg dễ tiến hành, đơn giản, cho hiệu suất bao gói và độ ổn định cao, hạt vi nang tạo thành đẹp và tương đối đồng đều [11]

Nhược điểm:

Vi nang bị dễ bị trương nở hoặc tan rã khi ion Ca2+ được thay thế bằng các cation hoá trị I, chất tạo phức chelat hoặc trong môi trường acid có pH thấp Khi vi nang tiếp xúc với môi trường có pH thấp hơn pKa của acid mannuronic và acid guluronic (3,6

và 3,7) Alg chuyển thành acid alginic và giải phóng ion Ca2+ [15], [22]

1.3.4 Ứng dụng của Alg

Do Alg có ưu điểm là không độc, thích ứng sinh học và đặc biệt có khả năng gel hoá nên được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực bất động tế bào, protein, hay vi khuẩn [13] Tại Việt Nam, cũng có các hướng nghiên cứu về các hệ cố định tế bào sử dụng Alg Đàm Thanh Xuân và cộng sự (2017) [8] đã tiến hành tạo vi nang probiotic theo phương pháp đông tụ hoá muối Tiến hành pha 100 ml hỗn dịch sinh khối tế bào, tinh bột, glycerin, Alg thu được hỗn dịch đồng nhất Sau đó bơm nhỏ hỗn dịch thu được qua đầu kim cỡ 25G xuống xung dịch calci clorid và chitosan với tốc độ 60 -80 giọt/phút, khuấy hỗn dịch thu được tốc độ 400 - 600 vòng/phút; ủ vi nang tạo thành trong môi trường đông tụ 30 phút Tiến hành đông khô vi nang thu được, mẫu sau đông khô được bảo quản trong túi

Trang 23

14

polyme kín miệng, nhiệt độ 2 - 80C Tác giả đã tiến hành đánh giá khả năng bảo vệ

Lactobacillus acidophilus ở môi trường acid HCl pH 1,2 trong 1 giờ Kết quả cho thấy

các thành phân Alg, tinh bột, chitosan đều có vai trò bảo vệ vi sinh vật trong vi nang trong môi trường acid HCl pH 1,2

Trong lĩnh vực dược phẩm, Alg được sử dụng trong các dạng bào chế đường uống

và bôi ngoài da với vai trò như làm tá dược dính trong viên nén, tá dược độn trong viên nang, ngoài ra còn dùng trong các dạng bào chế giải phóng kéo dài Với đặc tính

dễ dàng tạo phức hợp đông tụ với các ion kim loại hoá trị cao của mình, Alg được ứng dụng phổ biến trong dạng bào chế vi nang Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ sử dụng Alg [7] nhưng còn rất hạn chế Vì vậy, khoá luận này đi theo hướng sử dụng Alg để bào chế vi nang bằng phương pháp đông tụ nhằm giải quyết các mục tiêu đặt ra với dược chất là NaD

1.4 Một số nghiên cứu về vi nang NaD bằng phương pháp đông tụ sử dụng Alg

González và cộng sự (2002) [20] đã tiến hành bào chế vi nang NaD bằng phương pháp đông tụ sử dụng kỹ thuật nhỏ giọt NaD được phân tán đều trong gel Alg sau đó hỗn dịch này được nhỏ xuống dung dịch chứa các cation đông tụ là Ca2+/ Al3+ và chitosan trong acid acetic 0,5% Vi nang thu được đem thử hoà tan lần lượt các môi trường HCl pH 1,2 trong 2 giờ; sau đó điều chỉnh pH của môi trường lên 6,6 và 7,4 bằng đệm phosphat Kết quả, tất cả các công thức vi nang bào chế đề hầu như không giải phóng dược chất tại môi trường pH 1,2, tuy nhiên khi chuyển sang môi trường đệm phosphat pH 6,6 các công thức được đông tụ bằng ion Ca2+ nhanh chóng giải phóng hoàn toàn NaD trong vi nang sau 1 giờ, còn các công thức đông tụ bằng Al3+chỉ giải phóng khoảng 40% Đối với các công thức đông tụ bằng Ca2+, sự phối hợp thêm chitosan vào phức hợp đông tụ với luọng chitosan càng cao thì tốc độ giải phóng dược chất càng chậm

Ahmed và cộng sự (2013) [10] đã tiến hành nghiên cứ bào chế vi nang NaD sử dụng Alg bằng phương pháp đông tụ từ nhũ tương NaD được phân tán trong gel Alg cùng với calci carbonat 5% (khối lượng/thể tích) Tiếp theo, hỗn hợp được phân tán trong dầu parafin với tỉ lệ gel/parafin là 3:10, sử dụng chất nhũ hoá là Span 80 và Tween 80 kết hợp với khuấy trộn để tạo thành nhũ tương Thêm 20 ml dầu parafin chứa acid acetic băng , khuấy trộn liên tục để calci carbonat phản ứng với trong gel phản ứng với acid acetic tạo ra ion Ca2+ để hình thành liên kết chéo với Alg Kết quả,

Trang 24

15

hiệu suất của quá trình vi nang hoá khoảng 79,55 - 97,41%; hàm lượng dược chất trong vi nang trong khoảng 66,20 - 96,36% Việc tăng tốc độ khuấy trộn làm giảm kích thước của vi nang cũng đã được ghi nhận Kết quả thử hoà tan cho thấy, hàm lượng dược chất giải phóng thấp (không quá 16% dược chất được nạp) tại môi trường acid HCl pH 1,2 trong 2 giờ đầu và dược chất được giải phóng kéo dài trong môi trường đệm phosphat pH 7,4 sau đó 6 giờ cũng đã được chỉ ra

Trang 25

16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị

2.1.1 Nguyên liệu

Bảng 2.1 Nguyên liệu trong quá trình làm thực nghiệm

2.1.2 Thiết bị

- Máy khuấy từ WiseStir - MSH 20A (Hàn Quốc)

- Bơm nhu động Ismatce Ecoline VC 380 (Đức)

- Máy tầng sôi Mini - Glatt (Đức)

- Máy thử hoà tan Pharmatest (Đức)

- Máy đo quang phổ UV-VIS HITACHI U-1900 (Nhật Bản)

- Máy đo hàm ẩm Ohaus (Mỹ)

- Tủ sấy, cân kỹ thuật, cân phân tích và các dụng cụ thuỷ tinh khác

2.2 Nội dung nghiên cứu

Từ mục tiêu của đề tài là: "Nghiên cứu xây dựng công thức vi nang diclofenac kháng acid dịch vị và kiểm soát giải phóng dược chất trong ruột non" Và qua tìm

Trang 26

17

hiểu về các sản phẩm NaD sử dụng trong đường uống đã trình bày ở mục 1.1.4, nội

dung nghiên cứu của nghiên cứu chi tiết như sau:

Ø Nghiên cứu xây dựng công thức vi nang NaD kháng acid dịch vị với lượng NaD trong vi nang đem thử hoà tan là 50 mg (khối lượng tương tự các loại viên nén diclofenac kháng acid dịch vị liều 50 mg trên thị trường)

Ø Nghiên cứu xây dựng công thức vi nang NaD kháng dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non với lượng NaD trong vi nang đem thử hoà tan là 75

mg (khối lượng NaD tương tự viên các loại viên nén diclofenac 75 mg giải phóng kéo dài trên thị trường)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Xây dựng công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng nhanh dược chất trong ruột non

2.3.1.1 Xây dựng công thức bào chế ban đầu

Từ những nghiên cứu trước đây [19], [28], các tá dược tối thiểu để bào chế vi nang cần có Alg và ion Ca2+ Các kết quả cũng chỉ ra rằng nồng độ gel Alg 2%, và nồng

độ ion Ca2+ 2% là các nồng độ thích hợp để bào chế vi nang Vì vậy, nồng độ Alg 2% và nồng độ dung dịch CaCl2 2% được chọn làm công thức gốc và được trình bày

chi tiết trong Bảng 2.2 và quy trình bào chế vi nang sau đây:

Bảng 2.2 Công thức bào chế ban đầu vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải

phóng nhanh dược chất tại ruột non

Mô tả quy trình bào chế vi nang NaD như sau:

• Cân và cho 1,00g Alg vào cốc có mỏ 100 ml rồi thêm 50ml nước tinh khiết, đặt vào bể điều nhiệt và điều chỉnh nhiệt độ bể là 700C và khuấy trộn bằng đũa thuỷ tinh trong 3 giờ đến khi được gel đồng nhất Để nguội gel Alg về nhiệt độ phòng, sau đó thêm 1,00 g NaD vào gel và khuấy trộn bằng máy khuấy từ với tốc độ 200 -

300 vòng/ phút để NaD phân tán đều trong gel

Trang 27

18

• Cân 2,65 g CaCl2.2H2O cho vào cốc có mỏ 250 ml, thêm 100 ml nước tinh khiết vào cốc, khuấy bằng đũa thuỷ tinh đến khi tan hết Dung dịch tiếp tục được khuấy bằng máy khuấy từ với tốc độ 400-500 vòng/phút để tiến hành nhỏ giọt tạo vi nang

• Nhỏ hỗn dịch NaD trong gel Alg xuống dưới dung dịch CaCl2 2% qua một bơm nhu động với tốc độ 10ml/phút, đường kính của dây nhỏ là 1 mm đến khi hết hỗn dịch trên Tiếp tục khuấy dung dịch đông tụ và vi nang thêm 30 phút để ổn định vi nang Sau đó, gạn lấy vi nang rửa nang bằng 20ml nước tinh khiết để loại CaCl2trên bề mặt vi nang

• Sấy vi nang bằng thiết bị tầng sôi Mini - Glatt với thông số kỹ thuật như sau:

ü Tốc độ gió vào: 23-25 m3/h

ü Nhiệt độ khí vào: 650C

ü Nhiệt độ buồng bao: 45-500C

ü Thời gian: 2 giờ

• Thu vi nang sau sấy, bảo quản trong túi nhựa PE kín, tránh ẩm

2.3.1.2 Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ Alg

Tiến hành bào chế vi nang NaD với nồng độ gel của Alg lần lượt là: 2%; 2,5%;

3,0% Giữ nguyên các thông số còn lại như mục 2.3.1.1 để khảo sát ảnh hưởng của

nồng độ gel Alg đến các đặc tính của vi nang Từ kết quả khảo sát, chọn công thức tốt nhất về độ hoà tan và một số đặc tính khác để tiếp tục khảo sát các yếu tố tiếp theo

Từ kết quả khảo sát ở mục 2.3.1.2, chọn nồng độ Alg thích hợp để tiếp tục khảo sát

sự ảnh hưởng dung dịch CaCl2 với các nồng độ lần lượt là 2%; 4%; 6% và giữ

nguyên các thông số còn lại như mục 2.3.1.1 Từ kết quả khảo sát, chọn công thức tốt

nhất về độ hoà tan và một số đặc tính khác để tiếp tục khảo sát các yếu tố tiếp theo

2.3.1.4 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ NaD và Alg

Từ kết quả khảo sát ở mục 2.3.1.3, chọn nồng độ CaCl2 thích hợp để khảo sát tỉ lệ NaD/Alg với các tỉ lệ khối lượng khô lần lượt là là 1:1 ; 1:2 và 1:4 với khối lượng của NaD không đổi là 1,00 g Từ kết quả khảo sát, chọn công thức tốt nhất về độ hoà tan

và một số đặc tính khác để tiếp tục khảo sát các yếu tố tiếp theo

Trang 28

19

Từ kết quả khảo sát ở mục 2.3.1.4, chọn tỉ lệ NaD/Alg thích hợp để khảo sát ảnh

hưởng của chitosan Khi phối hợp chitosan vào dung dịch CaCl2 có sự thay đổi quy trình bào chế do bản chất của chitosan dễ tan trong môi trường acid nên sử dụng đệm acetat pH 5 để hoà tan hỗn hợp chitosan và CaCl2 như các nghiên cứu trước đây đã thực hiện Vì vậy, quy trình bào chế được tiến hành như sau:

• Cân 2,65 g CaCl2.2H2Ovà chitosan tương tứng với khối lượng lần lượt là 0,25 g; 0,50 g; 0,75 g; 1,00 g, thêm khoảng 80 ml nước cất, tiếp theo thêm 0,4 ml acid acetic băng Siêu âm 5 phút đến khi chitosan và CaCl2 tan hết, điều chỉnh pH của dung dịch đến pH 5 bằng dung dịch NaOH 2M hoặc HCl 2M Thêm nước vừa đủ thu được 100 ml dung dịch

• Các bước còn lại tương tự như mục 2.3.1.1

2.3.1.6 Khảo sát ảnh hưởng của việc phối hợp pectin vào gel Alg

Từ kết quả khảo sát ở mục 2.3.1.4, chọn tỉ lệ NaD/Alg thích hợp để khảo sát ảnh hưởng của pectin Do bản chất trương nở chậm tạo thành gel của pectin tương tự như

Alg Vì vậy, quy trình bào chế được tiến hành như sau:

• Cân 1,00 g Alg và pectin với khối lượng lần lượt với các công thức như sau: 0,50 g; 1,00 g và 1,50 g Thêm 50ml nước cất, đặt vào bể điều nhiệt và điều chỉnh nhiệt độ bể là 700C và khuấy trộn bằng đũa thuỷ tinh trong 3 giờ đến khi được gel đồng nhất

• Các bước tiếp theo tương tự mục 2.3.1.1

2.3.2 Xây dựng công thức bào chế vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non

2.3.2.1 Xây dựng công thức bào chế ban đầu vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất tại ruột non

Tham khảo các nghiên cứu trước đây, sự phối hợp thêm các tác nhân khác như tá dược thân dầu (TDD), các polyme khác vào gel Alg [24], [26] hay phối hợp chitosan vào dung dịch đông tụ cùng với CaCl2 [12], [20] có khả năng giải phóng kéo dài dược chất trong vi nang Do đó, công thức gốc được đề xuất để bào chế vi nang NaD kiểm soát giải phóng sử dụng một TDD là glycerol monostearat (GMS), công thức chi tiết

được trình bày trong Bảng 2.3 như sau:

Trang 29

20

Bảng 2.3 Công thức bào chế ban đầu vi nang NaD kháng acid dịch vị và giải

phóng kéo dài dược chất tại ruột non

Quy trình bào chế vi nang NaD kiểm soát giải phóng:

• Cân 1,00 g NaD và 1,00 g GMS cho vào cốc có mỏ 100 ml Đun nóng trong bình cách thuỷ tới nhiệt độ 700C cho GMS nóng chảy hết Khuấy đều, sau đó từ

từ thêm 50 ml dung dịch gel Alg 2% đã được ngân trương nở ở trên ở nhiệt độ

700C vào Giữ nhiệt độ của cốc sau khi phối hợp các thành phần trong khoảng 65-700C trong quá trình nhỏ giọt

• Các bước tiếp theo thực hiện tương tự như quy trình bào chế ở mục 2.3.1.1 2.3.2.2 Khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ dược chất và TDD

Tiến hành thay đổi khối lượng của TDD và giữ nguyên các thành phần còn lại trong

công thức gốc ở mục 2.3.2.1 với các tỉ lệ DC/TDD lần lượt là: 1:1 ; 1:3 ; 1:5 để khảo

sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ DC/TDD đến khả năng kháng acid dịch vị và giải phóng kéo dài dược chất ở ruột non, đồng thời đánh giá các đặc tính khác của vi nang Từ kết quả khảo sát, chọn công thức tốt nhất để khảo sát các yếu tố tiếp theo

2.3.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của các loại TDD

Từ kết quả ở mục 2.3.2.2, chọn công thức có tỉ lệ DC/TDD thích hợp để khảo sát

sự ảnh hưởng của các loại TDD Các TDD được khảo sát bao gồm: glycerol monostearat (GMS), acid stearic (AS), alcol cetylic (AC), alcol cetostearylic (ACS)

Quy trình bào chế tương tự ở mục 2.3.2.1 Từ kết quả khảo sát, chọn công thức tốt

nhất để khảo sát các yếu tố tiếp theo

2.3.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp TDD và chitosan

Từ kết quả ở mục 2.3.2.3, chọn công thức có có loại TDD thích hợp, sau đó tiến hành

thí nghiệm để khảo sát ảnh hưởng của sự phối hợp chitosan vào dung dịch đông tụ Khối lượng chitosan phối hợp vào dung dịch CaCl2 lần lượt là 0,25 g; 0,50 g; 0,75 g; 1,00 g

Ngày đăng: 02/07/2018, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm