Bảo tồn di sản thường được nhìn nhận như một yếu tố gây trở ngại cho sự phát triển của các đô thị bởi công tác này thường kéo theo yêu cầu phải giữ nguyên trạng các công trình, tuyến phố
Trang 1SỞ QUY HOẠCH ‐ KIẾN TRÚC
THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
DI SẢN VÀ DU LỊCH Bảo tồn di sản đồng hành cùng phát triển kinh tế
Tổng hợp nội dung tọa đàmngày 27/04/2016
Trang 2
Cuộc tọa đàm với chủ đề “Di sản và du lịch: Bảo tồn di sản đồng hành cùng phát triển kinh tế” là
hội thảo thứ tư trong chuỗi hội thảo về di sản đô thị theo sáng kiến của Trung tâm Dự báo và Nghiên cứu đô thị (PADDI – cơ quan hợp tác giữa Vùng Rhône‐Alpes– Grand Lyon và TP.HCM) phối hợp với
Dự án hợp tác Phát triển đô thị Hà Nội – Île‐de‐France (IMV – cơ quan hợp tác giữa Vùng Île‐de‐France và Thành phố Hà Nội) và sự hỗ trợ của Quỹ Đoàn kết Ưu tiên (FSP) dành cho di sản khu vực Nam Lào (trực thuộc Bộ Ngoại giao và Phát triển quốc tế Pháp). PADDI và IMV là hai cơ quan hợp tác cấp địa phương có vai trò hỗ trợ cho các cơ quan chức năng của TP Hồ Chí Minh và Hà Nội trong việc xây dựng và triển khai các chính sách bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị di sản song hành cùng nhiều hoạt động khác trong lĩnh vực đô thị.
Hội thảo lần này do Sở Quy hoạch Kiến Trúc TPHCM, PADDI, IMV phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Tổng Lãnh sự quán Pháp tại TPHCM và Viện Pháp tại Việt Nam.
Ba hội thảo được tổ chức trước đó bao gồm:
‐ “ Hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển, các cách tiếp cận và công cụ quản lý đô thị nào phục vụ cho công tác bảo tồn di sản ở TP.HCM”, phối hợp với Viện NCPT TP.HCM, 3/2014,
‐ “Phân loại, công cụ pháp lý và quy trình thực hiện, áp dụng vào trường hợp biệt thự tại TP.HCM”, phối hợp với Viện NCPT TP.HCM, 11/2014,
‐ “Di sản phương Tây ở Đông Nam Á: các phương pháp – công cụ và dự án thực tiễn » tổ chức tại Hà Nội tháng 06/2015.
Chuỗi hội thảo bàn tròn này nhằm mục đích phổ biến rộng hơn các kết quả nghiên cứu đã được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động hợp tác cấp địa phương của chúng tôi (đào tạo, nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật) và tạo ra một diễn đàn trao đổi thường kỳ với nhiều chủ thể khác nhau, dù đó là các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu hay các nhà chuyên môn về đô thị di sản trong vùng. Mỗi cuộc tọa đàm đều cố gắng phản ánh thực trạng về các thành phố lớn của Việt Nam hiện đang xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách về di sản trong bối cảnh phải chịu áp lực lớn về phát triển kinh tế. Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm của các thành phố tại Việt Nam và Đông Nam Á, những cuộc thảo luận này cũng sẽ tạo điều kiện để đề cập đến các chủ đề chuyên biệt (các phương pháp kiểm kê
di sản, các công cụ pháp quy, các kỹ thuật trùng tu…) và hình hành nên một mạng lưới liên kết giữa các chuyên gia trong lĩnh vực này.
Cuộc tọa đàm lần thứ tư với chủ đề “Di sản và du lịch: Bảo tồn di sản đồng hành cùng phát triển kinh tế” đề cập đến vấn đề phối hợp giữa công tác bảo tồn di sản và khai thác du lịch như một nhân
tố tạo nên sức hút của các đô thị xét theo các góc độ kinh tế và kỹ thuật. Làm thế nào để đánh giá được hiệu quả kinh tế và xã hội của việc phát huy giá trị di sản? Cần những đòi hỏi gì về kỹ thuật?
Để đạt được những mục tiêu đó, chương trình tọa đàm được tổ chức thành ba phiên khác nhau :
‐ Phiên thứ nhất: trình bày những thách thức chính trong việc bảo tồn di sản nhằm phát huy giá trị du lịch;
‐ Phiên thứ hai: giới thiệu những ví dụ cụ thể về các hoạt động, công cụ và sáng kiến phát huy
Trang 3‐ Phiên thứ ba: tham quan có hướng dẫn trong khu trung tâm lịch sử và khu vực tập trung nhiều biệt thự cổ của TP.HCMđể tìm hiểu tiềm năng khai thác du lịch di sản kiến trúc, đô thị
và cảnh quan của thành phố.
Trang 4
Bảo tồn di sản thường được nhìn nhận như một yếu tố gây trở ngại cho sự phát triển của các đô thị bởi công tác này thường kéo theo yêu cầu phải giữ nguyên trạng các công trình, tuyến phố, không gian đô thị và thậm chí cả cấu trúc của toàn thành phố, từ đó bị gắn với hình ảnh biến cả một thành phố thành bảo tàng theo kiểu bất di bất dịch.
Tuy nhiên, khắp nơi trên thế giới đều có xu hướng tăng cường mối liên hệ giữa di sản đô thị và du lịch. Đó là kết quả của nỗ lực kết hợp nhiều nhân tố khác nhau. Trước hết là những nhân tố mang tính bản sắc bởi các khu nội đô lịch sử trở thành những nơi chốn tạo nên bản sắc riêng của địa phương trước quá trình toàn cầu hóa. Tiếp đến là các yếu tố kinh tế khiến cho các địa danh và khu phố cũ trở nên vô cùng hấp dẫn, từ đó tạo nên giá trị kinh tế và công ăn việc làm. Cuối cùng là các yếu tố mang tính đô thị tạo ra sự gắn kết hài hòa trong một tổng thể đô thị. Quả thực chừng nào các
đô thị lớn còn chú trọng tới việc tăng cường thương mại và dịch vụ thì du lịch đô thị còn đóng một vai trò tăng trưởng mạnh trong nền kinh tế địa phương. Lĩnh vực này phát triển dựa vào di sản đô thị như một yếu tố chủ đạo để tạo ra các dịch vụ du lịch có chất lượng. Như vậy, chức năng kinh tế của
di sản ngày càng được thừa nhận rộng rãi không chỉ với các nhà quản lý mà với cả các chủ thể kinh
tế. Trong bối cảnh đó, người ta ngày càng chú ý tới các quần thể di sản có tính gắn kết cũng như công năng đa dạng của các công trình di sản căn cứ theo các nhu cầu hiện tại. Mặt khác, việc đánh giá tác động về mặt kinh tế của di sản và việc phát huy giá trị hoàn toàn có thể thực hiện được: nguồn thu trực tiếp từ bán vé tham quan công trình và nguồn thu gián tiếp từ việc cho thuê mặt bằng kinh doanh, mở quầy hàng lưu niệm, xây dựng lộ trình tham quan, v.v… cũng như tạo công ăn việc làm.
Trước hết, việc phát huy giá trị của các địa danh phải xuất phát từ việc hiểu rõ hơn những địa danh
đó (kiểm kê/quảng bá cho nhiều đối tượng khác nhau). Tiếp đến cần cân đối hài hòa giữa phát triển
du lịch và quản lý di sản; bảo tồn các khu trung tâm lịch sử và phát huy giá trị đất đai của những không gian có tính chiến lược; tài sản chung được hình thành từ di sản và tính sở hữu tư nhân. Cuối cùng, sự đối thoại giữa chính quyền địa phương và các nhà chuyên môn là một yếu tố then chốt tạo nên thành công của các dự án bảo tồn và phát huy giá trị di sản vì mục đích khai thác du lịch: Cần áp dụng chính sách di sản gì? Cần quy định thế nào về việc tổ chức các hoạt động du lịch tại các địa danh di sản? Nên can thiệp thế nào đối với các công trình (làm nhà hàng, cải tạo, v.v… )? Tìm các nguồn tài chính ở đâu?
Hiện nay, trong bối cảnh các thành phố lớn ở Việt Nam đều phát triển kinh tế theo hướng thương mại – dịch vụ, vai trò của của du lịch như một nhân tố tạo sức hút kinh tế càng được củng cố. Do đó, tiềm năng mà di sản đô thị và văn hóa tạo ra được xem như một yếu tố chiến lược trong phát triển
đô thị và kinh tế. Di sản không chỉ là một gánh nặng mà đã trở thành một lợi thế cơ bản làm nên sức hấp dẫn của các địa phương, sự phát triển kinh tế có bản sắc và sự gắn kết xã hội.
Trang 5
Như vậy, mục đích của cuộc tọa đàm là so sánh, đối chiếu các kinh nghiệm cụ thể giữa nhiều thành phố khác nhau dựa trên những cách làm đã được kiểm chứng trong nhiều bối cảnh khác nhau, đồng thời làm nổi bật các nguyên tắc cơ bản trong quá trình thực hiện các chính sách phát huy giá trị di sản này thông qua việc mở rộng cách tiếp cận từ góc độ kỹ thuật – pháp quy tới cách tiếp cận toàn diện hơn theo hướng khuyến khích sự phát triển cho các địa bàn đô thị.
Trang 6
Phiên thứ nhất: Bảo tồn di sản đô thị và cảnh quan như một phần hữu cơ của chính sách phát triển du lịch
Điều hành: Ông Nguyễn Thanh Nhã (Sở QHKT TP.HCM), Ông Khương Văn Mười (Hội Kiến trúc sư Việt Nam), Bà Fanny Quertamp (PADDI)
Trang 8Trang 9
© IMV, PADDI
Trang 10
Phiên thứ nhất ‐ Bảo tồn di sản đô thị và cảnh quan như một phần hữu cơ của chính sách phát triển du lịch
1 Vai trò của không gian biệt thự trong quá trình chuyển đổi đô thị
Tham luận của ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc – Sở Quy hoạch Kiến trúc TP Hồ Chí Minh (ARC‐ DUPA)
Kết quả kiểm kê quỹ biệt thự trên địa bàn Quận 1 và Quận 3
Ngay từ khi mới bắt đầu hình thành, Sài Gòn trước đây và TP Hồ Chí Minh hiện nay luôn là một trong những đô thị lớn của cả nước. Đó cũng không phải là một ngoại lệ dưới thời Pháp thuộc. Vì vậy, cùng với Hà Nội, Sài Gòn cũng là nơi được chính quyền Đông Dương tập trung xây dựng nhiều công trình kiến trúc có giá trị, trong đó bao gồm cả các công trình công cộng và biệt thự mang nhiều phong cách khác nhau. Những công trình này tập trung chủ yếu trong khu vực trung tâm thành phố mà đến nay
là địa bàn của Quận 1 và Quận 3.
Bắt đầu được triển khai từ năm 2015, dự án kiểm kê quỹ biệt thự được Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc thuộc Sở Quy hoạch Kiến trúc TP Hồ Chí Minh (ARC‐ DUPA) thực hiện tập trung vào 500 biệt thự trên địa bàn hai quận nói trên. Ngoài mục đích cập nhật số lượng biệt thự thực tế còn tồn tại và hiện trạng sử dụng của chúng, công việc kiểm kê còn nhằm xác định các phong cách kiến trúc đặc trưng, tính nguyên gốc của các công trình và phạm vi ranh giới của các không gian xung quanh. Về phong cách kiến trúc, số biệt thự đã được kiểm kê có thể được phân chia thành 5 phong cách chủ đạo : Tân
cổ điển (giai đoạn 1887 – 1918), Địa phương Pháp (cuối TK19 và đặc biệt phát triển đầu TK20), Art Deco (1920 – 1930), Đông Dương (1930 – 1970) và Hiện đại (1945 – 1975).
Kết quả kiểm kê cho thấy trong tổng số 500 biệt thự có 228 căn còn tồn tại (chiếm tỷ lệ 45,6%) với chức năng chính vẫn là nhà ở. Nhưng bên cạnh đó cũng có tới 194 biệt thự đã biến mất (38,8%). Số lượng biệt thự được chuyển đổi công năng sử dụng làm công trình công cộng chỉ có 7 căn (1,4%). Do cuộc kiểm kê hiện vẫn đang được tiến hành nên trong số 500 biệt thự được kiểm kê vẫn còn 71 công trình chưa hoàn thành (14,2%). Về mật độ và phạm vi phân bố các biệt thự được kiểm kê, có thể thấy rõ sự tác động của các tuyến giao thông trục chính và áp lực về phát triển kinh tế đối với các công trình này. Dọc theo các tuyến giao thông xuyên tâm quan trọng như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Đình Chiểu, Điện Biên Phủ, Võ Thị Sáu, Cách Mạng Tháng Tám, v.v… những công trình biệt thự đã biến mất gần hết, thay vào đó là những công trình khác, đa số là công trình cao tầng nhằm khai thác giá trị sử dụng đất hiện có trên các tuyến đường đó bởi đều là những tuyến có nhiều tiềm năng về thương mại, dịch vụ. Không chỉ bản thân biệt thự bị thay thế thành công trình cao tầng mà những công trình xung quanh nó cũng đã thay đổi. Điều đó vô tình làm ảnh hưởng đến những công
Trang 11di tích cần gắn liền các biệt thự xung quanh, nhằm tạo nên một không gian di sản thật sự có giá trị. Xét về góc độ vai trò của di sản lịch sử, có thể thấy tính linh hoạt và đa dạng của việc sử dụng không gian biệt thự trong các chức năng và hoạt động đô thị (hành chính, kinh tế, văn hóa, dịch vụ cư trú,
Trang 12ức đó được thể hiện trong bộ mặt cảnh quan đô thị, trong chiều sâu không gian và đời sống văn hóa đương đại, trong nhu cầu người dân và mối quan tâm của du khách muốn tìm kiếm hình ảnh về một thành phố thân thiện, cuốn hút, đáng sống và có khả năng cạnh tranh cao.
‐ Các cơ hội chuyển đổi công năng của biệt thự theo hướng khai thác du lịch: Làm cách nào giúp cho mọi đối tượng có thể tiếp cận số lượng biệt thự nhiều nhất ?
‐ Quy chế quản lý: Cần có những hình thức quản lý biệt thự như thế nào ?
‐ Quản lý đô thị: Làm cách nào hạn chế những tác động tiêu cực của áp lực đất đai và sự phát triển các công trình hạ tầng lớn đối với các biệt thự? Làm cách nào bảo vệ được cấu trúc đô thị và cảnh quan, tạo thuận lợi cho việc tản bộ của du khách, nhất là thiết lập các lộ trình tham quan ?
Trang 13
2 Định hướng khai thác, phát huy giá trị di sản trên địa bàn thành phố thông qua ý tưởng đề xuất phát triển sản phẩm du lịch “Hành trình di sản TP Hồ Chí Minh”
tế (chiếm gần 50% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam) cùng với 19,3 triệu lượt khách nội địa, tức là gần gấp đôi tổng dân số địa phương, và tạo ra doanh thu 94.600 tỷ đồng. Những con số ấn tượng đó dựa rất nhiều vào loại hình du lịch di sản hay nói một cách khác, di sản đóng vai trò cốt lõi tạo nên giá trị của ngành du lịch TP.HCM, là nền tảng để phát triển du lịch đường thủy và du lịch MICE.
Tuy nhiên, từ lâu nay có một thực tế là TP.HCM bị du khách đánh giá là các sản phẩm du lịch nghèo nàn, không có điểm tham quan mới và không có dấu ấn đặc trưng. Hầu hết những điểm tham quan quen thuộc vẫn chỉ là Dinh Thống Nhất, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố. Điều đó dẫn đến một nguy cơ rất cao là TP.HCM hiện đang bị giảm năng lực cạnh tranh so với các địa phương khác, đặc biệt là những địa phương mới nổi như Đà Nẵng nơi có thể tiếp nhận các đường bay thẳng quốc tế. Đối với những công trình di sản thuộc về văn hóa và tín ngưỡng dân gian như đình, đền, chùa, miếu hầu như không tìm được nguồn kinh phí để bảo tồn vì ngân sách thành phố không thể đảm bảo được đầy đủ cho tất cả mọi công trình khiến cho ngành du lịch cũng khó xây dựng được những sản phẩm mới. Thực trạng này dẫn đến một vấn đề hết sức mâu thuẫn: TP.HCM được đánh giá là địa phương có hàng trăm di sản nhưng lại không thể tìm ra được những sản phẩm du lịch mới.
Một trong những điểm yếu trong khai thác du lịch di sản hiện nay tại TP.HCM là không giới thiệu được giá trị di sản. Nói cách khác là các công trình di sản, di tích không thể hiện được nội dung giá trị của mình để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước. Điểm yếu tiếp theo là các cơ sở hạ tầng chưa sẵn sàng phục vụ khách du lịch, trong đó bao gồm cả cơ sở hạ tầng của chính các điểm di tích cũng như các công trình hạ tầng đáp ứng nhu cầu thiết yếu của du khách như nhà vệ sinh, bãi đỗ xe, địa điểm nghỉ chân… Điểm yếu thứ ba là các bảo tàng hoạt động chưa hiệu quả. Hầu hết các bảo tàng trên địa bàn thành phố đều sử dụng các công trình kiến trúc cổ có giá trị để khai thác làm bảo tàng, nhưng cho đến nay ngoại trừ Bảo tàng chứng tích chiến tranh hoạt động khá tốt, các bảo tàng còn lại đều không thực sự thu hút được khách tham quan, từ đó cũng làm giảm sức hấp dẫn của thành phố đối với du khách.
Những điểm hạn chế này dẫn tới một thực trạng đáng buồn là công tác quản lý, bảo tồn di sản chưa thực sự gắn kết với việc khai thác phục vụ du lịch và phát huy giá trị di sản. Quả thực ngành du lịch thành phố hiện đang hoàn toàn đứng ngoài các hoạt động bảo tồn, chỉ đơn thuần là đơn vị hưởng lợi nhờ khai thác các công trình đã được bảo tồn chứ không được mời tham gia vào quá trình bảo tồn di tích, di sản để phát huy giá trị du lịch. Tuy nhiên, câu chuyện phát huy giá trị du lịch di sản như thế nào không chỉ đơn thuần là câu chuyện của riêng ngành du lịch mà nó đòi hỏi sự quan tâm và phối hợp của nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy hoạt động của chính quyền thành phố.
Trang 14Phát huy giá trị di sản thông qua du lịch và đề xuất phát triển sản phẩm du lịch “Hành trình di sản TP.HCM”
Vấn đề phát huy giá trị di sản chỉ có thể thực hiện được khi phải bắt đầu ngay từ việc nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn di sản, không chỉ là bảo tồn các giá trị kiến trúc mà cả hệ thống cơ sở hạ tầng đi kèm. Khi công trình đã được bảo tồn tốt thì khâu tiếp theo cần thực hiện là khai thác phát triển du lịch bền vững. Khái niệm du lịch bền vững rất cần được nhấn mạnh trong trường hợp này bởi yêu cầu đặt ra là khai thác du lịch nhưng không được ảnh hưởng đến công tác bảo tồn và gìn giữ công trình chứ không phải là bất chấp tất cả chỉ nhằm mục đích đạt được doanh thu cao nhất trong hoạt động du lịch. Để làm được điều đó, trước hết phải xác định được một cách rõ ràng giá trị bản sắc di sản của TP.HCM là gì.
Theo một nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, thành viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, để tiến tới được quá trình thương mại hóa một sản phẩm du lịch di sản, trước hết cần đạt được khâu chuẩn hóa về cơ sở hạ tầng và các giá trị di sản để có thể thu hút được khách du lịch đến với các công trình
di sản. Trong quá trình thực hiện bước chuẩn hóa phải xác định được các giá trị di sản để từ đó xây dựng thành các sản phẩm du lịch đặc thù giúp du khách nhận diện được bản sắc di sản của TP.HCM,
từ đó làm tiền đề tạo ra “Hành trình di sản TP.HCM”. Trong nghiên cứu của mình, tiến sĩ Hậu đã
nhận định: “Giá trị đặc trưng của văn hóa vùng đất Sài Gòn gồm những đặc trưng của đô thị, từ
cảnh quan tự nhiên đến văn hóa cộng đồng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển kết nối với khu vực sản xuất thủ công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ và vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long”.
Trên thực tế, giá trị di sản đặc trưng của TP.HCM có những nét riêng không giống với các đô thị di sản khác ở Việt Nam. Với lịch sử hình thành và phát triển của thành phố trải dài hơn 300 năm, các giá trị di sản đô thị của thành phố không tập trung ở một giai đoạn nhất định (giống như khi nhắc đến di sản của Hà Nội là nói đến Khu Phố cổ hay nói đến cố đô Huế là nói đến khu vực Kinh thành Huế). Di sản đặc trưng của TP.HCM chính là nơi giao thoa của nhiều luồng văn hóa khác nhau, nhiều thành phần dân cư khác nhau, từ người Việt, người Hoa đến cả người phương Tây.
Vẫn theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Hậu thì giá trị di sản của TP.HCM được hình thành dựa trên
ba nội dung chính. Thứ nhất là giá trị di sản của một đô thị sông nước bởi quá trình hình thành và phát triển của thành phố dựa rất nhiều vào sông Sài Gòn và các tuyến kênh rạch chằng chịt trên địa bàn. Thứ hai là giá trị di sản của một đô thị đa dạng văn hóa bởi cộng đồng dân cư ở đây được hình thành dựa trên sự quy tụ của rất nhiều cộng đồng dân cư – văn hóa khác nhau, không chỉ bao gồm các cộng đồng từ những địa phương khác trong nước mà còn có cả các cộng đồng đến từ các quốc gia lân cận. Tất nhiên là những nét bản sắc của từng cộng đồng văn hóa khi mang đến đây đều không
bị đồng hóa mà vẫn được gìn giữ để tạo nên nét đa dạng văn hóa trong bản sắc của đô thị. Thứ ba là giá trị di sản của một đô thị theo kiểu phương Tây bởi có thể nói cấu trúc đô thị hiện tại của thành phố cho thấy dấu ấn rất đậm nét của văn hóa công trình, văn hóa đô thị phương Tây, nhất là văn hóa Pháp còn lưu giữ trong khu vực trung tâm thành phố.
Xuất phát từ ba giá trị di sản nói trên, ý tưởng hình thành “Hành trình di sản TP.HCM” dự kiến sẽ triển khai ba tuyến hành trình di sản chuyên biệt theo hướng đề cao các giá trị đã được xác định:
Trang 15‐ Tuyến hành trình di sản sông nước nhằm giới thiệu nổi bật vai trò của con sông chính cũng như các tuyến kênh rạch đã góp phần làm nên diện mạo của TP.HCM trước đây và hiện nay;
‐ Tuyến hành trình di sản văn hóa dân gian nhằm giới thiệu với du khách các công trình kiến trúc cổ như đình, đền, chùa… tiêu biểu cho các giá trị văn hóa của từng cộng đồng dân cư đã góp phần tạo nên thành phần dân cư đa dạng của thành phố;
‐ Tuyến hành trình di sản kiến trúc không chỉ giới thiệu với khách tham quan các công trình kiến trúc cổ vốn đã nổi tiếng mà còn hướng tới việc khai thác du lịch các biệt thự cổ, những công trình có giá trị cần được bảo tồn và phát huy để tạo ra những không gian văn hóa mới cho cả người dân và du khách.
Toàn cảnh khu trung tâm TP.HCM
- Hoàn thiện và phát triển các tuyến du lịch hành trình di sản: đây là nhiệm vụ chính của Sở Du lịch TP.HCM dựa trên danh mục đề xuất các công trình di sản đã được bảo tồn do các cơ quan chuyên môn của thành phố giới thiệu.
- Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch: ngành du lịch hiện nay hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường nên du khách chỉ tìm đến một địa danh du lịch nếu địa điểm đó hội tụ đủ hai yếu tố là có giá trị hấp dẫn du khách và có những điều kiện cơ sở vật chất tối thiểu để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của du khách trong quá trình tham quan. Vì vậy, muốn đưa được du khách đến với các công trình di tích, phải đảm bảo rằng
Trang 16những công trình đó chưa bị xuống cấp quá mức và phải có những cơ sở hạ tầng thiết yếu nhất, chẳng hạn như nhà vệ sinh công cộng.
- Đầu tư hoàn thiện và nâng cao chất lượng nội dung các di sản: mỗi công trình di sản chỉ có thể tạo được sức hấp dẫn đối với du khách nếu nó thực sự chứa đựng một số giá trị lịch sử hoặc văn hóa, do đó việc xác định được đúng những giá trị đặc trưng cần giới thiệu cho du khách sẽ đảm bảo cho công trình đó trở thành điểm đến mới đối với khách tham quan.
- Tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến chuyên đề di sản: đây cũng là công việc quan trọng của
Sở Du lịch TP.HCM nên trong thời gian tới cơ quan này sẽ đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, xúc tiến thông qua nhiều kênh khác nhau, từ các phương tiện truyền thông đến các hội chợ trong và ngoài nước để giới thiệu các giá trị du lịch di sản của thành phố.
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: vấn đề này liên quan đến hai nhóm đối tượng chính là các hướng dẫn viên du lịch và các thuyết minh viên tại các điểm tham quan, các bảo tàng hay chỉ đơn giản là những người có trách nhiệm trông coi tại những công trình kiến trúc truyền thống như các đình, chùa. Những đối tượng này phải là những người đầu tiên hiểu rõ được mọi giá trị
di sản của những công trình mà họ tiếp xúc hàng ngày thì mới có thể giới thiệu được cho du khách.
Trang 17
3 Bảo tồn, khai thác giá trị di sản văn hóa Thăng Long ‐ Hà Nội với phát triển du lịch Thủ đô
Tham luận của ông Trần Trung Hiếu, Trưởng phòng Kế hoạch – Nghiên cứu phát triển Sở Du lịch Hà Nội
Nguồn di sản phong phú của thủ đô Hà Nội
Với lịch sử trên 1000 năm tuổi, Thủ đô Hà Nội là Trung tâm văn hóa lớn nhất Việt Nam với sự phong phú đa dạng của các di sản. Hà Nội sở hữu 5.847 di tích, trong đó 2.380 di tích đã xếp hạng. Nổi bật nhất là 01 Di sản văn hóa thế giới (Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long); 01 Di sản tư liệu thế giới (82 tấm bia đá đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam tại Văn Miếu ‐ Quốc Tử Giám) và 12 Di tích quốc gia đặc biệt.Từ năm 2009 khi Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, Hà Nội có thêm khoảng 400 di tích được xếp hạng; đứng đầu trong các địa phương của cả nước. Nhiều quy định riêng cho quản lý
di sản đã được ban hành như Luật Thủ đô (2012), trong đó xác định những khu vực, di tích và di sản văn hóa cần được tập trung nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị. Những khu vực này bao gồm Khu trung tâm chính trị Ba Đình, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Di tích Hoàng Thành Thăng Long, Thành Cổ Loa, Văn Miếu ‐ Quốc Tử Giám và các di tích quốc gia đặc biệt khác trên địa bàn Thủ đô. Ngoài ra còn có Khu vực Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Khu Phố
cổ, làng cổ và làng nghề truyền thống tiêu biểu, các biệt thự cũ và các công trình kiến trúc khác xây dựng trước năm 1954. Cuối cùng phải kể đến các giá trị văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú trên địa bàn Thủ đô. Riêng trong năm 2013, Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề về di sản:
a) Nghị quyết số 16/2013/NQ‐HĐND về chính sách khuyến khích đầu tư, huy động đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân vào việc xây dựng công trình văn hóa, công viên, vườn hoa, khu vui chơi giải trí và bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn Thủ đô ; b) Nghị quyết số 24/2013/NQ‐HĐND ban hành danh mục phố cổ, làng cổ, làng nghề truyền thống tiêu biểu, biệt thự cũ, công trình kiến trúc khác xây dựng trước năm 1954 và di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô cần tập trung nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Mục tiêu cao nhất đặt ra cho công tác quản lý di sản văn hóa của Thành phố Hà Nội là bảo tồn lâu dài các yếu tố gốc cấu thành giá trị di sản và phát huy giá trị di sản phục vụ cho việc phát triển kinh tế ‐
xã hội của địa phương, trong đó có phát triển cộng đồng cư dân nơi có di sản. Những năm qua, việc bảo vệ và phát huy các di sản của Hà Nội đã được quan tâm đặc biệt. Nhiều di tích lịch sử văn hóa và cảnh quan thiên nhiên đã và đang được tu sửa, tôn tạo, gắn với phát triển du lịch. Các hoạt động này
đã và đang là một trong những nhân tố quan trọng của việc giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và bản sắc văn hóa độc đáo của người Hà Nội nói riêng, đồng thời đã và đang góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng và làm phong phú hơn, hấp dẫn hơn một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng của Thủ đô, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Hà Nội.
Trang 18
Các sản phẩm du lịch của Hà Nội tập trung vào 7 nhóm chủ yếu, gồm: du lịch văn hóa; du lịch sinh thái; du lịch vui chơi giải trí; du lịch MICE; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch mua sắm; du lịch nông nghiệp.Hiện nay, hầu hết các chương trình du lịch được xây dựng cho khách du lịch đến Hà Nội, đặc biệt khách du lịch quốc tế của các công ty lữ hành chủ yếu gắn với các di sản, di tích lịch sử văn hóa
và làng nghề của Hà Nội. Đây là điểm mạnh và độc đáo của du lịch Thủ đô, bởi bản sắc văn hóa Hà Nội là bản sắc văn hóa Việt Nam phải được coi trọng, gìn giữ và phát huy, trở thành yếu tố hấp dẫn trong phát triển sản phẩm du lịch, là cơ sở nền tảng của hoạt động du lịch.
Sở Du lịch Hà Nội thống nhất xác định quan điểm tham mưu chỉ đạo phát triển toàn diện du lịch Thủ
đô giai đoạn tới là gắn phát huy giá trị các di sản và bản sắc văn hóa với phát triển du lịch; giải quyết hợp lý yêu cầu bảo tồn và phát triển; đặc biệt coi trọng phát triển du lịch văn hóa, lấy du lịch văn hóa làm cơ sở, nền tảng phát triển các loại hình du lịch khác và hoạt động du lịch phải khuyến khích, tạo được động cơ và mối quan tâm tới công tác bảo tồn.
Một số sản phẩm du lịch văn hóa quan trọng được Hà Nội tập trung đầu tư phát triển và nâng cấp, bao gồm:
Tham quan di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long và tham gia trải nghiệm lễ hội Gióng
Tham quan khu thắng cảnh văn hóa ‐ tâm linh Hương Sơn
Tham quan khu di tích Cổ Loa (như một phần của tour du lịch Kinh thành Việt nối Hoa Lư và Thăng Long)
Dự án Công viên văn hóa lịch sử Hoàng Thành Thăng Long: Phát triển trên cơ sở không gian
di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long ở khu vực quận Ba Đình.
Dự án Mở rộng không gian tuyến phố đi bộ khu vực phố cổ ‐ hồ Hoàn Kiếm: Phát triển tại khu vực các phố cổ quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm với mục đích hình thành một không gian
Trang 19để thu hút du khách, cố ý tạo ra các sản phẩm văn hoá mới, biến các lễ hội ở đình, chùa thành các loại hình trình diễn cho du khách nước ngoài xem. Thách thức đặt ra là cần thay đổi cách nghĩ, quan niệm truyền thống để làm cho nền văn hoá địa phương thích nghi với nhu cầu mới để đáp ứng lòng mong đợi của du khách.Nhiều vấn đề trong thực tiễn quản lý đã phát sinh như nên "niêm phong" di sản hay "mở cửa" để mang lại những màu sắc mới phục vụ hoạt động kinh tế? Lấy di sản nuôi di sản được không? Kiểm soát tăng trưởng du lịch như thế nào trong mức khả năng đáp ứng cho khai thác của di sản?
Trang 20 Tiếp tục tập trung quảng bá điểm đến là các di sản trong bản đồ du lịch Hà Nội, phát triển các chuỗi sản phẩm du lịch của Thành phố, lấy hình ảnh giá trị di sản là giá trị nhận diện du lịch Thủ đô (hiện nay hình ảnh Khuê Văn Các đang được sử dụng làm logo của Hà Nội và ngành Du lịch). Đồng thời, tiếp tục quan tâm đầu tư bảo tồn, cải tạo, nâng cấp các di tích, đảm bảo có cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch đạt tiêu chuẩn để tổ chức đón khách.
Chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp, nối kết giữa các đơn vị quản lý, hiệp hội các doanh nghiệp du lịch để khai thác di sản phục vụ phát triển du lịch, gắn các di sản trong điểm đến của lộ trình tour. Tiếp tục kiện toàn các tổ chức quản lý di sản văn hóa của Thành phố hiện nay, đặc biệt mô hình quản lý ở các di tích quốc gia đặc biệt.
Tổ chức và duy trì thường xuyên, định kỳ có chọn lọc các hoạt động văn hóa ‐ du lịch phù hợp diễn ra trong di sản, làm cho di sản luôn có hoạt động sống bên cạnh việc thu vé thăm quan thông thường.
Nghiên cứu và triển khai một số dự án nâng cấp sản phẩm du lịch trong di sản song không làm ảnh hưởng đến công tác bảo tồn, thông qua tăng các hoạt động trải nghiệm của du khách tại di sản.
Tăng cường đào tạo cán bộ quản lý về di sản và du lịch, đào tạo nghiệp vụ thuyết minh viên, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng người dân khu vực di sản để hiểu và gìn giữ văn hóa.
Có thể nói, tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn từ di sản cho ngành du lịch Thủ đô phát triển bền vững là rất lớn; tuy nhiên mới khai thác ở một số nhỏ, cần tiếp tục học hỏi nhiều mô hình, kinh nghiệm hay để thực sự đưa chủ trương thành các chính sách và sản phẩm cụ thể, đưa lại những lợi ích kinh tế‐xã hội to lớn phục vụ cho nhà nước và người dân.
Trang 21
4 Những lợi thế của các công trình cổ và những yêu cầu kỹ thuật để phát huy giá trị Tham luận của ông Nicolas Viste, kiến trúc sư bảo tồn di sản
Những lợi thế của các công trình cổ: chất lượng thiết kế và chất lượng kết cấu
Để có thể dự kiến được chức năng sử dụng trong tương lai của các công trình di sản, trước hết cần lý giải được tầm quan trọng của chúng cũng như hiểu được những lợi thế của công trình.
Việc bảo tồn các công trình cổ có vai trò cơ bản bởi những công trình này góp phần hình thành nên cảnh quan và bản sắc đô thị, đặc biệt tạo ra tính thống nhất của không gian đô thị (cùng với các tuyến đường trục chính có trồng cây, các dải vỉa hè rộng và công trình thấp tầng). Mật độ không gian
đô thị có quy mô thân thiện với con người chính là nét đặc thù của TP.HCM giúp cho thành phố này tạo được sự khác biệt so với các đô thị lớn khác trong khu vực. Đó cũng chính là yếu tố duy nhất
khiến du khách phải tìm đến để khám phá.
Nét đặc trưng đó không chỉ là bản sắc đô thị mà còn là bản sắc lịch sử. Những công trình này là những nhân chứng hiếm hoi của lịch sử thông qua các phong cách kiến trúc đa dạng và chỉ riêng có ở Việt Nam, những yếu tố trang trí và sáng tạo về kỹ thuật độc đáo. Bản thân sự phong phú đặc biệt về
di sản đã là một yếu tố tạo động lực cho sự phát triển du lịch nhờ chính sức hấp dẫn của mình.
Về khía cạnh thích ứng khí hậu, những công trình cổ này đều được nghiên cứu kỹ để phù hợp với các điều kiện khí hậu địa phương (ngay từ khâu thiết kế ở thời điểm hoàn toàn chưa có máy điều hòa không khí). Rất nhiều yếu tố bảo vệ được dự kiến khiến cho các công trình có một giá trị thích ứng khí hậu rất cao :
‐ Chống nắng để hạn chế tác động của nắng nóng: ở các mặt đứng (ô‐văng, mái che trên các khung cửa),thiết kế lô‐gia, sân thượng có mái che và sảnh đón có ba mặt, các khuôn cửa sổ
có cánh chớp, bố trí không gian xanh xung quanh nhà,
‐ Chống mưa để hạn chế độ ẩm: mái chìa rộng, nền tôn cao hoặc làm thềm nhà cao, dùng vữa
áo mặt ngoài có khả năng bốc hơi nước,
‐ Các kỹ thuật cách nhiệt để hạn chế hơi nóng vào trong nhà: tường dày (hiệu ứng mật độ), làm trần giả (gỗ hoặc thạch cao), thông gió tự nhiên ở sườn mái hoặc trên mái.
Phần lớn các công trình cổ đều được xây dựng bằng các loại vật liệu đơn giản và có độ bền cao, chống chịu được thời tiết xấu trong thời gian dài (những vật liệu đảm bảo kết cấu chính cho những công trình này chứ không phải là những yếu tố trang trí có thể đã được nhập về trước đây hoặc không còn được sản xuất tại chỗ ở thời điểm hiện nay). Những vật liệu này đều có sẵn tại địa phương: gạch, dầm thép hoặc ngói lợp. Việc sửa chữa và duy tu các kết cấu đó đều đơn giản nếu các
hệ thống xây dựng được nghiên cứu và tìm hiểu kỹ. Mặt khác, chúng cho phép tái sử dụng một cách linh hoạt các tòa nhà đó khi kết cấu công trình được xử lý linh hoạt.
Trang 22
Những yêu cầu và khó khăn về kỹ thuật khi thực hiện các dự án phát huy giá trị
1 Khó khăn về kỹ thuật
Khi bắt tay vào các dự án phát huy giá trị những công trình cổ này, các chủ sở hữu (dù là tư nhân hay nhà nước) đều gặp phải nhiều khó khăn về kỹ thuật.
Để có thể hiểu đầy đủ các lợi thế và điểm mạnh của công trình, cần thực hiện những nghiên cứu đánh giá kỹ thuật chuyên sâu. Công việc này nhằm tìm hiểu hiện trạng kết cấu của công trình: tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu phong cách kiến trúc, nghiên cứu những lợi thế di sản đặc thù và nổi bật, xem xét những yếu tố gây hư hại, nghiên cứu các kết cấu chủ đạo và thứ yếu, nghiên cứu những thay đổi và biến dạng đã tác động tới công trình. Việc thực hiện những nghiên cứu này thường không được tính đến trong dự trù ngân sách, nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là thiếu phương pháp tiếp cận cần thiết để thực hiện những nghiên cứu đó.
Bên cạnh đó là tình trạng thiếu thông tin kỹ thuật về các vật liệu và hệ thống xây dựng do không được nghiên cứu và hiểu biết đầy đủ: móng nhà, tường và sàn được làm bằng vật liệu gì? Có những vật liệu nào là nguyên gốc, vật liệu nào được thêm vào sau, vật liệu nào chỉ dùng để trang trí? Mặt nền nhà, cửa sổ hoặc cửa ra vào, cầu thang hay các yếu tố trang trí có còn nguyên gốc hay không? Mức độ xác thực của những yếu tố này đến đâu? Việc hiểu biết không đầy đủ về vật liệu thường dẫn tới tình trạng gây hư hại cho các yếu tố gốc hoặc những đặc điểm làm nên giá trị di sản của những công trình này.
Bên cạnh tình trạng hiểu biết không đầy đủ về vật liệu còn có tình trạng không nắm rõ về các hệ thống thi công. Những vật liệu khác nhau đó hiện được kết hợp như thế nào? Các khung mái được lắp dựng và sàn nhà được thi công như thế nào ? Việc không nắm rõ được các phương pháp thi công thường dẫn tới tình trạng gây xáo trộn hoặc mất cân bằng về kết cấu sau khi có những thay đổi không phù hợp đối với các công trình. Những thay đổi đó khiến cho không thể đề xuất sửa chữa triệt
để được những điểm xáo trộn hoặc xuống cấp hiện tại.
2 Những công cụ có thể vận dụng
Để khắc phục những khó khăn về kỹ thuật mà các chủ sở hữu công trình cổ gặp phải, có thể áp dụng một số công cụ để giúp đỡ và hỗ trợ cho các dự án khôi phục giá trị của các công trình đó:
‐ Các tài liệu hướng dẫn phương pháp đánh giá hiện trạng kỹ thuật trình bày tất cả các công đoạn cần thiết khác nhau và đề xuất các hướng suy luận để có thể hiểu rõ được các công trình cổ đó,
‐ Các phiếu kỹ thuật về các loại vật liệu giới thiệu những thông tin cơ bản liên quan đến những vật liệu đó,
‐ Các phiếu kỹ thuật về các hệ thống thi công dựa trên những trường hợp đã được biết đến, những dự án cụ thể đã hoặc đang thực hiện,
‐ Các tài liệu hướng dẫn duy tu những công trình này tập hợp những kinh nghiệm từ những cách làm hay trong các dự án trùng tu hoặc phát huy giá trị những công trình cổ.
Trang 23Một số ví dụ về phát huy giá trị di sản
Những dự án như vậy đều có hiệu quả về mặt kinh tế và có thể tạo động lực phát triển du lịch. Rất nhiều giải pháp phát huy giá trị được áp dụng cho những công trình cổ này tùy theo quy mô và giá trị
di sản của chúng. Khi tính đến tất cả các khía cạnh kỹ thuật, cần xác định rằng công năng ban đầu của những công trình này có thể thay đổi được. Đó chính là thách thức của những dự án phát huy giá trị
đó. Vậy nên cần giúp đỡ các chủ sở hữu hiểu được rằng những công trình này không thể bất biến theo thời gian và việc trùng tu không hề gây cản trở cho sự phát triển hiện tại, đồng thời mang lại hiệu quả về mặt kinh tế. Nicolas Viste hiện đang thực hiện nhiều dự án khác nhau về phát huy giá trị các công trình cổ :
‐ Dự án tòa nhà VAXUCO (đang thực hiện): cải tạo một tòa nhà của quân đội được xây dựng
năm 1906 trong khu vực Hoàng thành để làm Bảo tàng Thăng Long. Ví dụ này cho thấy không nhất thiết phải phá bỏ một công trình có chức năng hoàn toàn không còn phù hợp hiện nay để đảm bảo tính hiện đại và góp phần phát triển du lịch. Qua việc trùng tu một công trình di sản để cải tạo thành nhà bảo tàng, đương nhiên bảo tàng đó sẽ được nâng lên một tầm vóc quốc tế khi trở thành trường hợp độc đáo trên thế giới.
‐ Biệt thự trên phố Hàng Bài: cải tạo một biệt thự tại số 46 Hàng Bài – Hà Nội thành một
trung tâm di sản. Ngôi biệt thự này đã được nghiên cứu kỹ thuật rất chuyên sâu, trong đó có nội dung hướng dẫn cách thức thực hiện. Nằm ở phía nam quận Hoàn Kiếm, vị trí chiến lược của ngôi biệt thự sẽ giúp cho công trình trở thành một động lực và yếu tố quan trọng phát triển du lịch cho thành phố.
Ví dụ về nghiên cứu đã được thực hiện đối với biệt thự trên phố Hàng Bài
Nguồn : Nicolas Viste
Trang 24
Ngoài những dự án mà kiến trúc sư Nicolas Viste đã tham gia còn có nhiều công trình di sản khác, thuộc diện sở hữu của cả nhà nước và tư nhân, đều tạo nên một lợi thế bổ sung về khung cảnh và không gian xung quanh so với những công trình khác tương tự. Có nhiều công trình di sản đã được thay đổi để trở thành những trọng điểm thu hút phát triển du lịch: phòng trưng bày nghệ thuật, trung tâm đào tạo hay trường dạy nấu ăn, vườn ươm doanh nghiệp… Có rất nhiều cơ hội mở ra đối với các chủ sở hữu khi tiến hành khôi phục giá trị của di sản. Và những lựa chọn đó đều mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như góp phần vào sự phát triển du lịch của thành phố khi tạo nên một sản phẩm dịch vụ mở rộng hơn và có chất lượng.
Thông tin thêm : n.viste.architecte@gmail.com