1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN ĐỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

15 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 483,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4009/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011- 2020, nhân lực khoa học và công nghệ được c

Trang 1

HỘI ĐỒNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

CHUYÊN ĐỀ THÁNG 12/2016

“CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI”

1 Đánh giá việc ban hành, thực hiện chính sách, pháp luật về nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2005 - 2015

Ngày 28/9/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, trong đó đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ được coi là một trong sáu giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện Đây là dấu mốc quan trọng, mở đầu thời kỳ 10 năm (2005 - 2015) Quốc hội, Chính phủ tập trung xây dựng, đổi mới chính sách, pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Trong giai đoạn này, một số lượng lớn văn bản, quy phạm pháp luật, với 9 Luật, 69 Nghị định, Quyết định và 231 Thông tư đã được ban hành để hoàn thiện môi trường pháp lý về khoa học và công nghệ Trong số đó, có 5 văn bản quan trọng, điều chỉnh trực tiếp đến nhân lực khoa học và công nghệ, đó là Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt nam giai đoạn 2011 - 2020, được triển khai thực hiện bởi Quyết định

số 4009/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-

2020, Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định về việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014 của Chính phủ quy định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam và Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước

Để có cơ sở nghiên cứu, đánh giá việc ban hành, thực hiện chính sách, pháp luật về nhân lực khoa học và công nghệ, trước hết cần thống nhất quan điểm về nhân lực khoa học và công nghệ Cho đến nay, các cụm từ “đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ”, “đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ”, “nguồn nhân lực khoa học và công nghệ”, “cán bộ khoa học và công nghệ nghiên cứu và phát triển” , “cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” v.v đang được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng chưa có văn bản nào quy định rõ ràng và cụ thể đối tượng của nhân lực khoa học và công nghệ Trong Quyết định số

Trang 2

4009/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-

2020, nhân lực khoa học và công nghệ được chia thành 2 nhóm: Đội ngũ nhân lực khối quản lý khoa học và công nghệ (bao gồm đội ngũ nhân lực làm công tác quản

lý nhà nước tại Bộ Khoa học và Công nghệ, tại các Vụ Khoa học và Công nghệ các

Bộ, ngành khác và tại các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương) và đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ tại các tổ chức khoa học và công nghệ, được chia theo các lĩnh vực khoa học: Xã hội và Nhân văn, Tự nhiên, Nông nghiệp, Y – Dược, Kỹ thuật và Công nghệ Trong lĩnh vực khoa học Kỹ thuật và Công nghệ, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ được chia theo một số lĩnh vực ưu tiên: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ cơ khí – tự động hóa, năng lượng nguyên tử Như vậy, tại Quyết định này mới chỉ quy định chung nhân lực khoa học và công nghệ theo các lĩnh vực chứ chưa quy định được cụ thể nhân lực khoa học và công nghệ là ai, tham gia trực tiếp hoạt động nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ của từng lĩnh vực như thế nào

Theo UNESCO và OECD, khi đánh giá năng lực khoa học và công nghệ của một quốc gia, người ta quan tâm đến 2 chỉ số, đó là: nhân lực khoa học và công nghệ quốc gia và nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ quốc gia (nhân lực NC&PT)

Nhân lực khoa học và công nghệ của một quốc gia bao gồm toàn bộ những người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người tuy chưa qua đào tạo chính quy, nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng, đại học trở lên Chỉ số nhân lực khoa học và công nghệ chỉ tính đến trình độ chung, chứ không tính đến nghề nghiệp và hoạt động khoa học và công nghệ cụ thể, chỉ cho thấy khả năng cung ứng nhân lực cho hoạt động khoa học và công nghệ về số lượng, chứ không thể hiện được chất lượng hoạt động khoa học và công nghệ

Theo số liệu thống kê dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn đã đạt được, nhóm tuổi, giới tính, thành thị, nông thôn, vùng kinh tế xã hội, vùng kinh

tế trong điểm và tỉnh/thành phố vào thời điểm 1/4/2015 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên của

cả nước là 7.120.031 người Trong đó, số cao đẳng nghề là 364.923 người (5,12%), cao đẳng chuyên nghiệp là 1.596.098 người (22,42%), đại học là 4.893.563 người (68,73%), thạc sỹ là 236.850 người (3,33%), tiến sỹ là 28.597 người (0,40%) Số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên ở thành thị là 4.611.694 người (65%), ở nông thôn là 2.508.337 người (35%) Số thạc sỹ độ tuổi 30 – 39 chiếm 46,3% Số tiến sỹ độ tuổi 30 – 39 chiếm 28,7%, độ tuổi 40 – 49 chiếm 25,2% và trên 60 tuổi chiếm 25,8% Nếu chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 - 2015 (từ khi có hệ thống giáo dục đại học ngoài công lập), tổng số sinh viên tốt nghiệp là 4.349.700 người, trong đó số sinh viên tốt nghiệp công lập là 3.858.900 người (chiếm 88,7%), số

Trang 3

sinh viên tốt nghiệp ngoài công lập là 489.800 người (chiếm 11,3%); tổng số giảng viên cao đẳng, đại học và sau đại học là 93.507 người, trong đó có 76.061 người là giảng viên công lập (chiếm 81,3%) và 17.446 người là giảng viên ngoài công lập (chiếm 18,7%) Các số liệu này cho thấy, chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã có tác dụng tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay

Tuy nhiên, khi so sánh và phân tích trình độ, năng lực khoa học và công nghệ của các quốc gia và các tổ chức khoa học và công nghệ quốc tế, người ta sử dụng chủ yếu chỉ số nhân lực NC&PT, có nghĩa là chỉ quan tâm đến đối tượng là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động NC&PT, bao gồm: các cán bộ nghiên cứu (CBNC), cán bộ kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và những người tham gia trực tiếp hoạt động NC&PT khác Trong đó, số CBNC tính theo chỉ tiêu nhân lực toàn thời gian tương đương FTE (Full-time Equivalent) được coi là số liệu “lõi”

Theo cách tính như vậy, nhân lực NC&PT của Việt Nam bao gồm: tất cả nhân viên của các viện, trung tâm NC&PT (trừ những người chỉ hoạt động trong các bộ phận sản xuất, kinh doanh và không tham gia vào hoạt động NC&PT); cán

bộ giảng dạy, cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên làm trong các đơn vị NC&PT (trừ những người chỉ làm công tác hỗ trợ giảng dạy) của trường đại học, học viện, trường cao đẳng; những người trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ của các cơ quan hành chính, sự nghiệp có hoạt động NC&PT; những người hoạt động trong các đơn vị, bộ phận làm NC&PT công nghệ, sản phẩm mới của doanh nghiệp

Thực ra, mục tiêu phát triển nhân lực NC&PT đã được đặt ra từ Nghị quyết

số 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 là “phấn đấu đưa số lượng cán

bộ NC&PT lên gấp rưỡi” Tại Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng nêu số cán bộ khoa học và công nghệ NC&PT đạt mức 11 người/ 1 vạn dân Tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, mục tiêu phát triển nhân lực được đặt ra là: “Đến năm 2015, số cán bộ NC&PT đạt 9 – 10 người/1vạn dân Đến năm 2020, số cán bộ NC&PT đạt

11 – 12 người/1 vạn dân”

Một điều cần lưu ý là, khi đánh giá trình độ, năng lực khoa học và công nghệ của các quốc gia và các tổ chức khoa học và công nghệ quốc tế, UNESCO và OECD dùng chỉ tiêu tổng nhân lực NC&PT quốc gia và tỷ lệ số CBNC/1 vạn dân chứ không sử dụng chỉ tiêu số cán bộ NC&PT/1 vạn dân Bởi vì, chỉ tiêu tổng nhân lực NC&PT không thể hiện được trình độ, năng lực, “chất lượng” khoa học và

Trang 4

công nghệ của một quốc gia Ví dụ, Trung Quốc có tổng nhân lực NC&PT (FTE) năm 2013 là 3.532.817 người, nhưng số CBNC(FTE) chỉ đạt 10.9 người/1 vạn dân.Trong khí đó, Nhật Bản có tổng nhân lực NC&PT(FTE) năm 2013 là 865.523

người, nhưng cố CBNC(FTE) lại đạt 51,9 người/1 vạn dân (Các chỉ tiêu này của

một số quốc gia có thể tìm thấy trong tài liệu tham khảo kèm theo)

Theo kết quả Tổng điều tra NC&PT năm 2014 và Điều tra doanh nghiệp năm 2014, tổng nhân lực NC&PT cả nước hiện có 164.744 người (chiếm 2,3% nhân lực khoa học và công nghệ) Trong đó, số CBNC là 128.997 người (chiếm 1,8% nhân lực khoa học và công nghệ), đạt 14 người/1 vạn dân Nếu quy đổi theo cách tính FTE của OECD thì số CBNC(FTE) của Việt Nam chỉ đạt 6,8 người/1 vạn dân (chiếm 0,86% nhân lực khoa học và công nghệ)

Nếu so sánh tỷ lệ CBNC(FTE) trên CBNC của một số nước trong khu vực, Việt Nam cũng chỉ đạt 47,5% (Trung Quốc: 72%, Nhật Bản: 74%, Hàn Quốc: 78%, Singapore: 89%)

Qua 10 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện một số chỉ tiêu quan trọng như: Giá trị sản phẩm khoa học và công nghệ, công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đóng góp ngày càng nhiều vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2011-2013 với tỷ trọng đóng góp theo các năm lần lượt là 11,7%; 19,1% và 28,7%; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10,68%/năm Tổng số bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế của Việt nam trong giai đoạn 2011-2015 gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, với tốc độ tăng bình quân là 19,5%/năm Số lượng công bố quốc tế tăng 10-20%/năm Số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ giai đoạn 2011-2015 tăng 62% so với giai đoạn 2006-2010…

Mặc dù nhân lực NC&PT của Việt Nam có tăng trong những năm qua, nhưng còn rất thấp so với các nước phát triển cả về giá trị tuyệt đối và tỷ lệ trên dân số; tỷ lệ CBNC(FTE)/vạn dân và tỷ lệ CBNC(FTE)/CBNC đều rất thấp; chất lượng nguồn nhân lực cũng còn rất hạn chế; thiếu cán bộ đầu ngành; thiếu các tập thể khoa học mạnh, nhóm nghiên cứu xuất sắc; số tổ chức khoa học và công nghệ đạt trình độ khu vực và quốc tế chỉ đạt 20% so với mục tiêu đề ra; cơ sở vật chất

kỹ thuật và trang bị nghiên cứu còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ Số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn rất ít (mới có 6,8% doanh nghiệp khoa học và công nghệ so với mục tiêu đề ra được cấp giấy chứng nhận) Số lượng cơ sở ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao chưa tới 30% so với mục tiêu đề

ra Các chỉ tiêu như giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đều do khối doanh nghiệp FDI tạo ra Phần lớn doanh nghiệp nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế

hệ Nhóm doanh nghiệp công nghiệp có trình độ tiên tiến chỉ đạt dưới 20% so với mục tiêu để ra (chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

Trang 5

Những tồn tại, hạn chế trong chính sách, pháp luật về nhân lực khoa học và công nghệ nêu trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu cũng do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và công nghệ tuy khá đồ sộ nhưng còn phức tạp, chồng chéo trong tổ chức thực hiện, thiếu ổn định, chưa thích ứng với cơ chế thị trường; thiếu chính sách và cơ chế huy động, khuyến khích nguồn nhân lực và đầu

tư từ xã hội và doanh nghiệp (các đối tượng điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về cơ chế, chính sách nhân lực khoa học và công nghệ đều thuộc các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập); chưa nhằm trúng đối tượng chính và trọng tâm phát triển khoa học và công nghệ là nhân lực NC&PT và CBNC nên khó thu hút nhân tài, phát huy sáng tạo của lực lượng này; thiếu chế tài hữu hiệu để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học

và công nghệ công lập; chưa có chính sách cụ thể và đồng bộ để nâng cao chất lượng nhân lực NC&PT trong các tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp; chưa chỉ ra được các hướng ưu tiên, chính sách và giải pháp đột phá trong những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế; các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quốc gia chưa gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thiếu tập trung cho các mục tiêu cụ thể, các lĩnh vực mũi nhọn, thiếu tính kế thừa, chưa góp phần tạo ra được nhiều sản phẩm quốc gia có chất lượng cao Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu liên kết phát triển nhân lực NC&PT, đặc biệt là đội ngũ CBNC

Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ mặc dù đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học

và công nghệ, nhằm xây dựng các đòn bẩy chính sách phù hợp, thực hiện chế độ thù lao, đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, song cho đến nay, việc thực hiện giải pháp này cũng mới được thực hiện ở mức chuyển hóa nội dung vào 5 văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực khoa học và công nghệ kể trên

2 Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay

Trong những năm qua, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của nước ta được cung cấp thông qua đào tạo ở trong nước và nước ngoài

2.1 Đào tạo ở trong nước

Hệ thống các cơ sở giáo dục đại học của nước ta hiện nay với 442 trường, trong đó có 223 trường đại học, gồm 163 trường công lập (73%) và 60 trường ngoài công lập (27%) và 219 trường cao đẳng, gồm 189 trường công lập (86%) và

30 trường ngoài công lập (14%), đảm nhận việc đào tạo cán bộ từ trình độ cao đẳng đến tiến sĩ của hầu hết các lĩnh vực, và là nơi cung cấp chủ yếu nguồn nhân

lực khoa học và công nghệ cho các thành phần kinh tế và xã hội của đất nước

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2015 - 2016, có 2.202.732 sinh viên đại học, cao đẳng đang được đào tạo Trong đó, các trường đại

Trang 6

học đang đào tạo 1.753.174 sinh viên (13,2% thuộc các trường đại học ngoài công lập), các trường cao đẳng đào tạo 449.558 sinh viên (12,8% thuộc các trường cao đẳng ngoài công lập) Số giảng viên các trường đại học, cao đẳng là 93.851 người, trong đó số giảng viên đại học là 69.591 người (20,4% thuộc các trường đại học ngoài công lập), số giảng viên các trường cao đẳng là 24.260 người (16,3% thuộc các trường cao đẳng ngoài công lập)

Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong nước và để hội nhập với giáo dục đại học của khu vực và thế giới, ngoài việc tăng cường cơ sở vật chất, nhân lực, đổi mới cơ chế quản lý và chương trình đào tạo, nhiều trường đã triển khai đào tạo theo Chương trình tiên tiến, Chương trình liên kết đào tạo với các trường nước ngoài Một số trường đại học quốc tế, trường đại học theo mô hình mới (có yếu tố nước ngoài) cũng đã được thành lập, nhờ sự hỗ trợ vốn và kinh nghiệm của các nước phát triển để trở thành các trường đại học có chất lượng cao, theo chuẩn mực quốc tế

Chương trình tiên tiến thuộc Đề án đào tạo theo chương trình tiên tiến tại

một số trường đại học của Việt Nam, giai đoạn 2008 – 2015 do Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1505/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2008 Chương trình tiên tiến là chương trình

do các cơ sở đào tạo trong nước thiết kế, xây dựng dựa trên chương trình đào tạo đang được áp dụng tại các trường đại học tiên tiến trên thế giới (có tên trong bảng xếp hạng của các hiệp hội, tổ chức kiểm định giáo dục cấp quốc gia hoặc quốc tế)

có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam Việc tham khảo các chương trình từ nước ngoài bao gồm cả nội dung đào tạo, giáo trình tài liệu, phương pháp giảng dạy, qui trình tổ chức và quản lý đào tạo, kế hoạch đào tạo Chương trình tiên tiến được nhà nước cấp kinh phí một phần, một phần do người học đóng góp và một phần do nhà trường đầu tư Phần lớn các chương trình tiên tiến tập trung vào các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, nông lâm, môi trường, vật liệu, công nghệ sinh học, y dược Đến nay, trong cả nước đã có 23 trường đại học của Việt Nam hợp tác với 22 trường đại học trên thế giới để triển khai thực hiện đào tạo 35 chương trình tiên tiến ở bậc đại học

Chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục nước ngoài được nhiều

cơ sở giáo dục đại học trong nước cùng cơ sở giáo dục đại học nước ngoài xây dựng trên cơ sở pháp lý về hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo đã được luật hóa trong uật Giáo dục 1998, 2005 và uật sửa đổi, bổ sung một số điều của uật Giáo dục 2005, Nghị định số 165/2004/NĐ-CP ngày 16/9/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của uật Giáo dục về quản lý hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, Nghị định 18/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2001 quy định về lập và hoạt động của các cơ sở văn hoá, giáo dục nước ngoài tại Việt Nam

iên kết đào tạo là hình thức hợp tác mà phía nước ngoài không cần thành lập pháp nhân mới, là một hướng xã hội hóa giáo dục, thường được gọi là “du học

Trang 7

tại chỗ” Cho đến nay, cả nước có 475 chương trình liên kết đào tạo (310 đang

hoạt động và 165 đã chấm dứt hoạt động) giữa 83 cơ sở giáo dục Việt Nam và 224

cơ sở giáo dục nước ngoài thuộc 34 quốc gia và vùng lãnh thổ (264 chương trình

do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt và 211 chương trình do các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ phê duyệt).Trong năm học 2015-2016 đã ký lại và ký mới với gần 30 đối tác là các trường đại học lớn ở Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc

Cho đến nay đã có hơn 22.000 người đã tốt nghiệp (gồm gần 10.000 sinh viên đại học, hơn 12.000 thạc sĩ và 32 tiến sĩ) và hơn 23.000 người đang học các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, góp phần cung cấp nguồn nhân lực có chất

lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ năm 2000, một số trường đại học quốc tế, trường đại học theo mô hình mới cũng đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong đó có thể kể đến:

Trường Đại học RMIT Việt Nam (RMIT International University Vietnam) là

trường đại học 100% vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Việt Nam năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 phát triển thêm cơ sở tại Hà Nội

RMIT Việt Nam đào tạo đại học các ngành công nghệ (công nghệ thông tin

và thiết kế đa truyền thông), kế toán, hệ thống thông tin kinh doanh, truyền thông chuyên nghiệp, marketing và kinh tế - tài chính; đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA và MBA-Executive), thạc sĩ kỹ thuật (điện tử và máy tính)

Trường Đại học Việt - Đức (Vietnam German University - VGU) là

trường đại học công lập của Việt Nam theo mô hình của đại học Đức đã chính thức khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 10 tháng 9 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh VGU được Chính phủ Việt Nam đầu tư xây dựng, được hỗ trợ từ Chính phủ liên bang và Chính phủ bang Hessen (Đức) và Tổ chức DAAD

Hiện tại, VGU đang triển khai 05 chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ (hệ thống thông tin doanh nghiệp, tính toán kỹ thuật và mô phỏng trên máy tính, cơ điện tử và kỹ thuật hệ thống cảm biến, phát triển đô thị bền vững, giao thông - vận tải) và 02 chương trình đào tạo trình độ đại học (điện tử - viễn thông, tài chính - kế toán)

Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (Vietnam France University - USTH) là trường đại học công lập quốc tế theo mô hình tiên tiến thuộc

hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 2067/QĐ-TTg ngày 9 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa Pháp là đối tác chiến lược của trường Trường được Ngân hàng Phát triển châu Á cấp vốn dưới hình thức cho vay

Trường thực hiện đào tạo đồng thời cả trình độ đại học và trình độ thạc sĩ cho 06 liên ngành, bao gồm: khoa học - công nghệ thông tin và truyền thông, công

Trang 8

nghệ sinh học - dược học, nước - môi trường - đại dương học, năng lượng, khoa học vật liệu - công nghệ nano và hàng không – không gian vũ trụ

Để có cái nhìn khái quát về trình độ và chất lượng các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam với các cơ sở giáo dục đại học của các nước trong khu vực và trên thế giới, theo xếp hạng các trường đại học do Cybermetrics ab (Ranking Web of Universities) tháng 7/2016, Việt Nam có 121/223 trường đại học nằm trong thứ tự xếp hạng từ 28 đến 1.344 các trường đại học của Đông Nam Á (1.498 trường), từ 312 đến 9.860 các trường đại học của Châu Á (11.399 trường), và từ 1.302 đến 23.857 các trường đại học trên thế giới (32.036 trường) Trong đó, có 8 trường đại học của Việt Nam nằm trong top 100 trường đại học của Đông Nam Á (thứ tự từ 28 đến 91), trong top 1.000 trường đại học của Châu Á (thứ tự từ 312 đến 990), và trong top 3.000 trường đại học trên thế giới (thứ tự từ 1.302 đến 3.002)

Như vậy, đến nay chưa có trường đại học nào của Việt Nam nằm trong top

20 trường đại học của Đông Nam Á, top 300 trường đại học của Châu Á và top 1.000 trường đại học của thế giới Đây là một trong các thách thức không nhỏ trong việc định hướng, xác định mục tiêu và giải pháp phát triển hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới

Cũng theo xếp hạng nói trên, trường đại học quốc tế RMIT Việt Nam (RMIT International University Vietnam) sau 16 năm thành lập hiện được xếp hạng thứ 33/121 trường đại học của Việt Nam, thứ 271 các trường đại học của Đông Nam Á, thứ 2483 các trường đại học của Châu Á và thứ 6321 các trường đại học trên thế giới Trong khi đó, trường đại học RMIT University có thứ tự xếp hạng thứ 15 trong top 100 trường đại học của Australia và thứ 398 các trường đại học trên thế giới

Trường Đại học Việt - Đức (Vietnam German University - VGU) sau 8 năm thành lập hiện được xếp hạng thứ 76/121 trường đại học của Việt Nam, thứ 510 các trường đại học của Đông Nam Á, thứ 4613 các trường đại học của Châu Á và

thứ 12.044 các trường đại học trên thế giới

Những con số nêu trên cho thấy có sự khác biệt lớn về thứ hạng giữa các cơ

sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài và các trường đại học theo mô hình mới tại Việt Nam so với các cơ sở giáo dục đại học ở chính quốc Đây chính là vấn

đề cần chú ý khi nghiên cứu chính sách về “du học tại chỗ”và xây dựng các trường đại học tiên tiến,“đẳng cấp quốc tế”tại Việt Nam

Một trong các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học, khiến cho thứ hạng của hệ thống các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, đó là việc đào tạo không gắn kết với nghiên cứu khoa học, mục tiêu đào tạo không hướng tới phát triển nhân lực NC&PT và đội ngũ CBNC Các trường đại học của Việt Nam chưa thực sự là các

Trang 9

trường đại học nghiên cứu Đây cũng chính là vấn đề cần được quan tâm trong chính sách phát triển hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam

2.2 Đào tạo ở nước ngoài

Cho đến nay, việc đào tạo nhân lực trình độ cao ở nước ngoài đã được thực

hiện theo các Chương trình học bổng theo Hiệp định song phương và Chương

trình của các tổ chức quốc tế, các Đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước và theo phương thức du học tự túc

Trong giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1990, với sự giúp đỡ to lớn của iên

Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa và một số nước khác hàng năm khoảng 2.400 lưu học sinh được gửi đi đào tạo trình độ đại học và sau đại học ở 7 nước: Ba an, Bungari, Cộng hòa dân chủ Đức, Hungary, iên Xô, Mông Cổ và Tiệp Khắc Trong giai đoạn này, chúng ta đã đào tạo được 51.999 sinh viên đại học, cao đẳng, nghiên cứu sinh, thực tập sinh thuộc hầu hết các ngành và lĩnh vực khoa học và công nghệ Ngoài ra, Nhà nước ta cũng đã gửi ra nước ngoài đào tạo 97.859 công nhân kỹ thuật, giáo viên dạy nghề

Từ năm 1991 đến năm 2000, sau khi iên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, các hiệp định hợp tác văn hóa, giáo dục giữa Việt Nam và các nước XHCN trước đây không còn hiệu lực nữa, hoặc nếu còn thì số lượng lưu học sinh Việt Nam được các nước tiếp nhận giảm đi rõ rệt (năm 1991 chỉ gửi được 913 lưu học sinh)

Cùng với việc mở cửa và hội nhập kinh tế, nhiều nước giúp đỡ chúng ta đào tạo nhân lực thông qua các thỏa thuận và dự án cấp chính phủ Hàng năm, Việt Nam nhận được khoảng 1.000 học bổng để đào tạo đại học và sau đại học tại các trường đại học có chất lượng tốt từ các nước: iên bang Nga, Trung Quốc, Úc, New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, ASEAN, Pháp, Hoa kỳ (học bổng VEF), Đức (học bổng của Tổ chức DAAD và WUS), EU (học bổng Eramus Mundus), Anh, Hà an, Bỉ, Ấn Độ, Ma-rốc,Ru-ma-ni, Ba Lan, Cuba…

Một số chương trình học bổng với quy mô nhỏ (dưới 10 học bổng mỗi năm)

và các tổ chức nước ngoài cấp học bổng trực tiếp cho người học, thực hiện độc lập): Canada, Ai Cập, Mô-dăm-bích, Sri Lanka, Phi-lip-pin, Mê-xi-cô,

Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-Ma-lay-xi-a, Cô-oét, Brunei, Ba Lan, Hung-ga-ri, Séc, Slô-va-ki-Ma-lay-xi-a, Bun-ga-ri, Mông Cổ,

Các chương trình học bổng của nước ngoài đã đóng góp tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của nước ta Tuy nhiên, kế hoạch, quy mô và ngành nghề đào tạo theo các chương trình nói trên đều do các nước giúp đỡ quyết định

Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 322/QĐ-TTg ngày 19/4/2000 phê duyệt Đề án đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật tại các cơ sở nước

Trang 10

ngoài bằng ngân sách nhà nước (gọi tắt là Đề án 322), thực hiện từ năm 2000 đến năm 2005 Năm 2005, tại Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 28/4/2005, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép điều chỉnh và gia hạn hoạt động của Đề án đến hết năm

2014 (gọi tắt là Đề án 356)

Đề án 322/356 là hai đề án đầu tiên sử dụng ngân sách Nhà nước để Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ động kế hoạch gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài cho những ngành mà Việt Nam đang cần Tính đến tháng 5/2012, Đề án 322/356 đã cử được 5.629 người đi học các trình độ khác nhau, trong đó có 2.886 tiến sĩ, 1.505 thạc sĩ,

258 thực tập sinh và 980 đại học Trong số những người được cử đi học đa số là giảng viên các trường đại học, cao đẳng (chiếm 90% tổng số người được gửi đi đào tạo trình độ tiến sĩ) Đến nay có 3.832 lưu học sinh hoàn thành chương trình học tập và về nước làm việc; 1.797 lưu học sinh đang tiếp tục học tập ở nước ngoài Đến cuối năm 2014, Đề án 322/356 đã đào tạo thành công trên 5.000 cán bộ trình

độ cao, trong đó có gần 3.000 tiến sĩ, trên 1.500 thạc sĩ và gần 1.000 cử nhân đại học Trên 200 trường đại học, cao đẳng được nhận lại cán bộ hoặc tiếp nhận mới một lượng đáng kể giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ Các cơ sở giáo dục lớn như Đại học Quốc gia, Đại học vùng có 200-300 giảng viên, nhiều trường đại học

có từ 30-100 giảng viên được đào tạo ở nước ngoài thông qua Đề án 322/356, riêng Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh có 50% giảng viên tiến sĩ được đào tạo bằng kinh phí của Đề án 322/356

Góp phần cùng Đề án 322/356, Đề án Xử lý nợ với iên bang Nga theo Hiệp định Xử lý nợ của Việt Nam với iên bang Nga được Chính phủ cho phép thực hiện theo Quyết định số 536/CP-QHQT ngày 15/6/2001 và công văn số 3663/VPCP-KG ngày 15/7/2004 của Văn phòng Chính phủ, cho phép cử 1.230 người đi học đại học, thạc sĩ, tiến sĩ (chủ yếu đại học và thạc sỹ), giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Trong đó, phía Việt Nam được sử dụng 33 triệu USD và phía Nga điều hành khoản tiền 17 triệu USD Đề án đã cử được 1.021 người đi học Hiện còn 576 lưu học sinh đang học ở nước ngoài, đã có 445 lưu học sinh kết thúc khóa học về nước Đến nay, Đề án này đã dừng tuyển sinh và chỉ còn tiếp tục cấp phát kinh phí cho số lưu học sinh còn đang học ở nước ngoài

Nhằm tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tại các trường đại học và cao đẳng, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17/6/2010 phê duyệt Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Đề án 911), với số lượng 10.000 người đào tạo ở nước ngoài, 10.000 đào tạo trong nước và 3.000 người đào tạo theo phương thức phối hợp trong và ngoài nước Tính đến thời điểm hiện nay, Đề án 911 đã cử hơn

600 ứng viên được chuyển từ Đề án 322/356 theo công văn số 2282/VPCP-KGVX ngày 06/4/2012 của Văn phòng Chính phủ, đi đào tạo ở trình độ tiến sĩ ở nước ngoài

Ngày đăng: 02/07/2018, 17:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w