A. MỞ ĐẦU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài a Thực trạng Lựa chọn ngành học và các yếu tố ảnh hưởng : Một trong những nét đặc thù của học sinh THPT là phải lựa chọn ngành học sau khi tốt nghiệp THPT. Thống kê gần đây cho thấy , mỗi năm có khoảng 300.000 học sinh tốt nghiệp THPT trong cả nước. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chỉ có thể tiếp nhận khoảng 10 – 20% số học sinh tốt nghiệp THPT. Tình hình này dẫn đến áp lực hết sức nặng nề trong các kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hàng năm, số thí sinh mỗi năm mỗi tăng cao (Th.s La Hồng Huy, 2001). Đây cũng là mối lo lắng của hầu hết các bạn học sinh phổ thông vì tỉ lệ chọi càng cao đồng nghĩa với khả năng đỗ đại học càng thấp, đòi hỏi các bạn phải có sự nỗ lực học tập và cân nhắc khi chọn lựa ngành nghề phù hợp với năng lực của mình. Trên cơ sở đó , 95,9% học sinh THPT đã có những suy nghĩ về ngành nghề sẽ học sau khi tốt nghiệp THPT , 88,2% số em đã có những quyết định về các ngành nghề hoặc trường đại học sau này sẽ dự thi. Theo các nhà chuyên môn thì ba điểm cần chú ý khi một cá nhân quyết định lựa chọn ngành nghề nào đó cho mình là sự phù hợp năng lực của cá nhân với nghề; sự hứng thú, say mê nghề và nhu cầu xã hội.Các kết quả khảo sát thực tiễn cho thấy, hơn 80% học sinh THPT khẳng định cần phải quan tâm sự phù hợp năng lực với nghề và hứng thú nghề khi lựa chọn ngành nghề . Tuy nhiên, nhu cầu xã hội về nhân lực trong từng lĩnh vực nghề nghiệp lại chỉ được khoảng 13 số học sinh chú ý. Câu hỏi đặt ra là những hiểu biết như trên của học sinh đã có tác động đến việc quyết định lựa chọn ngành nghề của các em trên thực tế như thế nào? Trên cơ sở tự đánh giá của học sinh, hiểu biết của học sinh về những điểm cần chú ý khi lựa chọn ngành nghề không hoàn toàn chi phối hành động thực tế của các em trong lựa chọn ngành học. Điều tra cho thấy khoảng 50% học sinh cho rằng nhu cầu xã hội về nhân lực trong nghề đã chọn là một trong năm nhân tố quan trọng nhât cần tính đến khi quyết định lựa chọn một ngành nghề nhất định . Sự lựa chọn ngành nghề chịu sự chi phối bởi định hướng giá trị nghề của các em nhiều hơn là những hiểu biết lý thuyết là phải chọn nghề như thế nào cho khoa học. Những lý do chi phối hành động lựa chọn ngành học khá phù hợp với định hướng giá trị của các em thể hiện trong đánh giá các giá trị của hoạt động nghề nghiệpviệc làm. Thu nhập tốt là lý do được nhiều em lấy làm cơ sở để quyết định sẽ theo học một nghề nào đó nhất (63,6%). Về cơ bản, những lý do xuất phát điểm để học sinh lựa chọn một ngành nghề nào đó thật sự gắn với những giá trị đích thực của nghề nghiệp: Nghề nghiệp có thể đem lại thu nhập, thoả mãn những nhu cầu tinh thần và tạo cơ hội cho mỗi cá nhân đóng góp sức mình cho xã hội. Tính nhàn hạ của công việc hay cơ hội làm việc gần nhà không phải là những giá trị chi phối hành động lựa chọn ngành sẽ học của nhiều học sinh. Chỉ có khoảng 14% học sinh lựa chọn ngành theo mong muốn của bố mẹ , và 0,9% là do chi phối từ bạn bè. Cơ hội thăng tiến sau này cũng chỉ được khoảng gần 15 số học sinh xem là 1 trong 5 lý do quan trọng nhất để lựa chọn ngành nghề. Điều đáng chú ý là sự phù hợp giữa năng lực cá nhân với nghề chỉ chi phối hành động lựa chọn nghề của 57,2% học sinh và hứng thú nghề chi phối 58,7%. Tuy nhiên, chỉ có 36,4% số học sinh hoàn toàn tin tưởng rằng những ngành nghề mà các em đã chọn và dự định sẽ học là hoàn toàn phù hợp với mình; 40,9% băn khoăn không biết ngành nghề đã chọn có thật sự phù hợp với các em không; 12,1% không biết sau này có xin được việc làm đúng nghề đã học không và 10,6% số học sinh cảm thấy khó trả lời. Tình trạng nêu trên diễn ra như nhau ở tất cả các khối lớp. Như vậy còn khá nhiều học sinh hoặc thiếu hiểu biết về phẩm chất và năng lực của bản thân, hoặc thiếu hiểu biết về các ngành nghề mà các em đã chọn(khoảng 23 số học sinh có biết sơ sở về các công việc cụ thể của những người lao động làm trong những ngành nghề mà các em đã chọn hoặc nơi làm việc của những người có chuyên môn ngành đó, khoảng 16 biết rõ và ít hơn một chút là không biết gì về những điều này).
Trang 1A MỞ ĐẦU
1.1 /Lý do lựa chọn đề tài
a/ Thực trạng
Lựa chọn ngành học và các yếu tố ảnh hưởng :
Một trong những nét đặc thù của học sinh THPT là phải lựa chọn ngành họcsau khi tốt nghiệp THPT Thống kê gần đây cho thấy , mỗi năm có khoảng300.000 học sinh tốt nghiệp THPT trong cả nước Hệ thống các trường đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chỉ có thể tiếp nhận khoảng 10 –20% số học sinh tốt nghiệp THPT Tình hình này dẫn đến áp lực hết sứcnặng nề trong các kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp hàng năm, số thí sinh mỗi năm mỗi tăng cao (Th.s La Hồng Huy,2001) Đây cũng là mối lo lắng của hầu hết các bạn học sinh phổ thông vì tỉ
lệ chọi càng cao đồng nghĩa với khả năng đỗ đại học càng thấp, đòi hỏi cácbạn phải có sự nỗ lực học tập và cân nhắc khi chọn lựa ngành nghề phù hợpvới năng lực của mình Trên cơ sở đó , 95,9% học sinh THPT đã có nhữngsuy nghĩ về ngành nghề sẽ học sau khi tốt nghiệp THPT , 88,2% số em đã cónhững quyết định về các ngành nghề hoặc trường đại học sau này sẽ dự thi Theo các nhà chuyên môn thì ba điểm cần chú ý khi một cá nhânquyết định lựa chọn ngành nghề nào đó cho mình là sự phù hợp năng lực của
cá nhân với nghề; sự hứng thú, say mê nghề và nhu cầu xã hội.Các kết quảkhảo sát thực tiễn cho thấy, hơn 80% học sinh THPT khẳng định cần phảiquan tâm sự phù hợp năng lực với nghề và hứng thú nghề khi lựa chọnngành nghề Tuy nhiên, nhu cầu xã hội về nhân lực trong từng lĩnh vực nghềnghiệp lại chỉ được khoảng 1/3 số học sinh chú ý Câu hỏi đặt ra là nhữnghiểu biết như trên của học sinh đã có tác động đến việc quyết định lựa chọnngành nghề của các em trên thực tế như thế nào?
Trên cơ sở tự đánh giá của học sinh, hiểu biết của học sinh về nhữngđiểm cần chú ý khi lựa chọn ngành nghề không hoàn toàn chi phối hành
Trang 2động thực tế của các em trong lựa chọn ngành học Điều tra cho thấy khoảng50% học sinh cho rằng nhu cầu xã hội về nhân lực trong nghề đã chọn là mộttrong năm nhân tố quan trọng nhât cần tính đến khi quyết định lựa chọn mộtngành nghề nhất định Sự lựa chọn ngành nghề chịu sự chi phối bởi địnhhướng giá trị nghề của các em nhiều hơn là những hiểu biết lý thuyết là phảichọn nghề như thế nào cho khoa học Những lý do chi phối hành động lựachọn ngành học khá phù hợp với định hướng giá trị của các em thể hiệntrong đánh giá các giá trị của hoạt động nghề nghiệp/việc làm Thu nhập tốt
là lý do được nhiều em lấy làm cơ sở để quyết định sẽ theo học một nghề nào
đó nhất (63,6%)
Về cơ bản, những lý do xuất phát điểm để học sinh lựa chọn mộtngành nghề nào đó thật sự gắn với những giá trị đích thực của nghề nghiệp:Nghề nghiệp có thể đem lại thu nhập, thoả mãn những nhu cầu tinh thần vàtạo cơ hội cho mỗi cá nhân đóng góp sức mình cho xã hội Tính nhàn hạ củacông việc hay cơ hội làm việc gần nhà không phải là những giá trị chi phốihành động lựa chọn ngành sẽ học của nhiều học sinh Chỉ có khoảng 14%học sinh lựa chọn ngành theo mong muốn của bố mẹ , và 0,9% là do chi phối
từ bạn bè Cơ hội thăng tiến sau này cũng chỉ được khoảng gần 1/5 số họcsinh xem là 1 trong 5 lý do quan trọng nhất để lựa chọn ngành nghề Điềuđáng chú ý là sự phù hợp giữa năng lực cá nhân với nghề chỉ chi phối hànhđộng lựa chọn nghề của 57,2% học sinh và hứng thú nghề chi phối 58,7%.Tuy nhiên, chỉ có 36,4% số học sinh hoàn toàn tin tưởng rằng nhữngngành nghề mà các em đã chọn và dự định sẽ học là hoàn toàn phù hợp vớimình; 40,9% - băn khoăn không biết ngành nghề đã chọn có thật sự phù hợpvới các em không; 12,1% - không biết sau này có xin được việc làm đúngnghề đã học không và 10,6% số học sinh cảm thấy khó trả lời Tình trạngnêu trên diễn ra như nhau ở tất cả các khối lớp Như vậy còn khá nhiều họcsinh hoặc thiếu hiểu biết về phẩm chất và năng lực của bản thân, hoặc thiếuhiểu biết về các ngành nghề mà các em đã chọn(khoảng 2/3 số học sinh có
Trang 3biết sơ sở về các công việc cụ thể của những người lao động làm trongnhững ngành nghề mà các em đã chọn hoặc nơi làm việc của những người cóchuyên môn ngành đó, khoảng 1/6 biết rõ và ít hơn một chút là không biết gì
về những điều này)
Theo khảo sát của Trung tâm tư vấn hướng nghiệp thuộc trường đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005 thìhơn 50% sinh viên được khảo sát đã cho rằng mình đã không lựa chọn đượcngành học phù hợp với năng lực và sở thích của bản thân Kết quả khảo sátnăm 2008 cho thấy :
-Chỉ có 37,9% số sinh viên năm thứ 2 được hỏi khẳng định rằng họnhận thấy càng học càng cảm thấy rằng ngành họ đang học giống với những
gì họ đã hiểu về ngành này khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông.-34,7% - nhận thấy ngành đang học phù hợp với năng lực của họ;
- 50,5% - cảm thấy hứng thú với ngành đang học;
-45,0% - khẳng định sẽ vẫn chọn để được học ngành đang học nếu như
ở vào tình huống có cơ hội lựa chọn lại
- 57,0% - muốn được làm đúng nghề đang học sau khi tốt nghiệp đạihọc
Số còn lại phần đông cảm thấy khó trả lời về những vấn đề nêu trên hoặckhẳng định những trải nghiệm âm tính liên quan đến những vấn đề đó:
-26,3% số sinh viên càng học càng cảm thấy rằng ngành họ đang họckhông giống với những gì họ đã hiểu về ngành này khi còn ngồi trên ghế nhàtrường phổ thông;
-15,3% - nhận thấy ngành đang học không phù hợp với năng lực củabản thân;
-10,5% - cảm thấy không hứng thú với ngành đang học;
-38,0% - khẳng định sẽ chọn học một ngành khác nếu như ở vào tìnhhuống có cơ hội lựa chọn lại, và
Trang 4- 21,0% - không muốn làm đúng nghề đang học sau khi tốt nghiệp đạihọc.
Xu hướng ngành nghề :
Các nghiên cứu về giáo dục tại Pháp cho thấy, phần lớn học sinh xuấtthân từ gia đình có kinh tế eo hẹp thường chọn các ngành thuộc lĩnh vực xãhội vì chi phí học những ngành này không cao và thời gian học ngắn nên họ
có thể gia nhập sớm vào thị trường lao động; ngược lại, các học sinh thuộcgia đình khá giả thường theo đuổi các ngành học đòi hỏi chi phí và thời gianhọc rất cao như bác sĩ, dược sĩ ,luật sư, kiến trúc… Chọn nghề còn phải xemkhả năng kinh tế gia đình có thỏa mãn được các yêu cầu về chi phí của việchọc hay không , phải tính đến mức độ ứng dụng trong thực tế dài hạn của nónữa Hiện nay các trường đại học, do áp lực cạnh tranh trong thu hút ngườihọc nên đã đưa ra rất nhiều ngành mới thời thượng nhưng biên độ ứng dụnglại quá hẹp Vì thế khi học những ngành này, người học rất khó tìm thấy cơhội trên thị trường lao động sau này
Trong những mùa tuyển sinh gần đây các nhóm ngành về kinh tế, tàichính, ngân hàng rồi đến những ngành về kỹ thuật công nghệ là những nhómngành được nhiều thí sinh lựa chọn đăng ký dự thi Theo điều tra của BộGD&ĐT, đây là những nhóm ngành đang chiếm ưu thế, tỷ lệ sinh viên nhậphọc những nhóm ngành này từ năm 2003 đến nay đều tăng mỗi năm trêndưới một vạn sinh viên Đây cũng có thể xem là một tín hiệu tích cực bởi đấtnước đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu về nguồnnhân lực ở những nhóm ngành này đang ngày càng gia tăng
Trong số các trường có đào tạo nhóm ngành kỹ thuật, công nghiệp,các ngành được nhiều thí sinh lựa chọn như: điện - điện tử, cơ khí, dầu khí,
cơ điện tử, điện công nghiệp… Đây là những ngành nhu cầu xã hội đang cầnnhiều nhân lực nên đang thu hút nhiều thí sinh Còn những ngành sư phạm,khoa học cơ bản, nhất là các ngành khoa học xã hội-nhân văn thì số người thi
Trang 5vào bao giờ cũng ít vì sau khi ra trường rất khó xin việc làm, lương thấp vànhu cầu xã hội không lớn
Kết quả tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2009, 2010 cho thấy , tương tựnhững năm trước , bốn nhóm ngành thu hút thí sinh là: kinh doanh, đào tạogiáo viên, tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, kế toán - kiểm toán Trong đó,nhóm ngành kinh doanh là nhóm ngành thu hút nhiều thí sinh dự thi(12,4%), kế là các nhóm ngành: đào tạo giáo viên (10,5%); tài chính - ngânhàng - bảo hiểm (8,9%); kế toán - kiểm toán (8,6%); xây dựng (4,6%)
b/ Về vấn đề nghiên cứu
Năm cuối của trung học , học sinh khối 12 đứng trước lựa chọn ngànhnghề sẽ theo học sau khi tốt nghiệp THPT Nghiên cứu thực tế cho thấy ,việc lựa chọn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi học sinh Ở lứa tuổinày, sự hiểu biết về thế giới nghề nghiệp thường rất mơ hồ, hạn chế, nhiềukhi không có được những thông tin tối thiểu, cần thiết về những dạng laođộng nào phải đảm bảo những tiêu chuẩn, những yêu cầu mà xã hội cần đến,thu nhập cao, có cơ hội phát triển Mặc dù ở những lớp dưới học sinh đã cóquá trình học tập, lao động kỹ thuật, tham gia lao động sản xuất, học nghề,
có những thông tin qua đời sống xã hội, qua sự trải nghiệm của các thế hệ đitrước Tuy nhiên, phần lớn học sinh gặp lúng túng, thiếu tự tin khi gặp phảicâu hỏi sau khi tốt nghiệp THPT sẽ học gì và làm gì?
Mặt khác , công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông cũng có ảnhhưởng đáng kể đến việc chọn ngành của học sinh 12 Nhà trường đóng vaitrò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị tâm lý cho thế hệ trẻ về tưtưởng,tâm lý, ý thức, kỹ năng để họ có thể đi vào lao động ở các ngành nghềtại những nơi xã hội đang cần và phù hợp với hứng thú năng lực cá nhân củamỗi người Tuy nhiên công tác hướng nghiệp ở các trường THPT chưa đảmbảo đúng yêu cầu về chất lượng đòi hỏi của mục tiêu đào tạo Hình thứchướng nghiệp chủ yếu là các giáo viên giảng lại theo tài liệu của trung tâm
Trang 6lao động hướng nghiệp , nhiều ngành nghề bản thân giáo viên không hiểu hếtnên chưa giải đáp thỏa đáng thắc mắc của học sinh.
Việc chọn nghề của học sinh phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng ,không chỉ với các em học sinh mà còn với xã hội Bởi nó tác động đến chấtlượng và sự ổn định của nguồn nhân lực, và nói rộng ra là tác động đến nềnkinh tế xã hội của đất nước Vậy các bạn học sinh phổ thông ngày nay đãnhận thức về nghề nghiệp như thế nào? Tìm kiếm thông tin ở đâu, các bạnđánh giá như thế nào về nguồn thông tin đã chọn? Và ra quyết định chọnngành ra sao? Đồng thời các bạn học sinh nam nữ; học sinh sống ở nôngthôn và thành thị; học sinh có năng lực học tập khác nhau; có cha mẹ làmnhững ngành nghề khác nhau , hoàn cảnh gia đình khác nhau thì sẽ khácnhau trong lựa chọn ngành nghề như thế nào ? Đây là những câu hỏi rất cầnphải được nghiên cứu và giải thích , từ đó thúc đẩy tôi lựa chọn đề tài
Những yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn ngành nghề ở học sinh lớp THPT hiện nay (khảo sát trên 4 trường THPT tại Hà Nội ).
1.2/Tổng quan vấn đề nghiên cứu
a Trên thế giới
Vào những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, hai nhà kinh tế họcE.Enghel và A.Fisher đã có những cơ sở lý thuyết nghiên cứu về xu thếchuyển dịch cơ cấu kinh tế Bằng quan sát thực nghiệm E.Enghel đã thấyrằng khi thu nhập của người dân tăng lên thì nhu cầu về lương thực tăng lênnhưng khi tăng đến một độ nào đó thì nhu cầu đó bắt đầu giảm dần và đixuống người ta chuyển sang tiêu dùng hàng hóa công nghiệp và dịch vụ.A.Fisher đưa lý thuyết về năng suất lao động, thì nghiên cứu thực tế cho thấyngành nông nghiệp là ngành có khả năng thay thế sức lao động nhanh nhất,ngành công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao động hơn ngànhnông nghiệp do đòi hỏi hiểu biết nhiều về khoa học công nghệ Trong khi đó
tỉ lệ gia tăng dùng hàng công nghiệp lại lớn hơn 0, nên số người tham giangành công nghiệp ngày càng tăng, ngành dịch vụ thì lại khó cả khả năng
Trang 7thay thế lao động nhất hàm lượng kĩ thuật tạo ra nó là cao nhất, việc thay đổicông nghệ và kĩ thuật mới tốn chi phí rất cao, mà chi tiêu cho dịch vụ lạităng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, nên số người tham gia ngành dịch vụ
sẽ tăng và tăng nhanh hơn khi đất nước càng phát triển
Xã hội châu Âu thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX cũng đã trải qua thời kìcông nghiệp hóa và ghi nhận những biến đổi đó, và trong xã hội Việt Namngày nay cũng có những biến đổi tương tự Tỉ lệ đóng góp của ngành nôngnghiệp ở các nước Mỹ, Nhật hiện nay chỉ ở 1-2%, ở Canada và Đức là 4-5%, ở các nước NICs cũng chỉ đạt 9-15% Ngành công nghiệp các ngành có
số lượng lao động cao ngày càng giảm và các ngành có đầu tư vốn lớn ngàycàng tăng Các ngành dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, bảohiểm, luật, giáo dục, y tế, du lịch ngày càng phát triển nhanh và đóng góp
ngày cành nhiều vào tỷ trọng kinh tế Trong cuốn Thế giới phẳng , tác giả
Thomas Friedman, cho rằng thời đại mới là thời đại của bán cầu não phải,bán cầu não phải thường chuyên về các ngành khoa học xã hội và nghệ thuật,
sự logic ngày càng có thể thay thế bằng máy móc còn những cảm giác thì lạikhông thể thay thế một cách dễ dàng
Các ngành khoa học tự nhiên từ trước đến giờ vẫn được xếp cao hơn sovới các ngành khoa học xã hội, đẳng thức, phép tính có vẻ rất khó nhằnnhưng những vấn đề xã hội lại liên quan đến rất nhiều người vì vậy nó hoàntoàn không hề dễ dàng và thậm chí thì ngành khoa học xã hội còn rất rắc rối
và rất khó thay thể được bằng các phép tính Những người giàu nhất vàquyền lực nhất thế giới lại xuất thân nhiều trong ngành khoa học xã hội chứkhông phải trong ngành khoa học tự nhiên Những ngành khoa học xã hộikhông hề phải là ngành giành cho những người kém cỏi, những ngành đó cầnđào tạo và cần nhiều nguồn đầu tư hơn nhiều so với các ngành khác Trongtương lai gần cơ cấu kinh tế của Việt Nam có thể sẽ chuyển dịch như cácnước phát triển đi trước
Trang 8Sau một khoảng thời gian dài nghiên cứu về năng lực và hiệu quả làmviệc của con người, các nhà nghiên cứu hầu như tập trung chủ yếu vào cácquá trình nhận thức như tư duy, khả năng tri giác, tưởng tượng, trí nhớ…Nhưng những năm gần đây, khi nghiên cứu xúc cảm như một dạng trí tuệ,nhiều nhà tâm lý học đã đặc biệt chú ý đến vai trò của niềm say mê, hứng thúnghề của người lao động đối với hiệu quả công việc của họ Trong một cuộcnghiên cứu 200 hoạ sỹ 18 tuổi sau khi họ tốt nghiệp trường mỹ thuật,
Csikszentmihalyi nhận thấy rằng chỉ những sinh viên say mê vẽ mới trởthành hoạ sỹ giỏi Những người được kích thích bởi giấc mơ nổi tiếng haygiàu có, phần lớn đã bỏ nghề sau khi nhận bằng tốt nghiệp Hầu như tất cảnhững người thành đạt trong sự nghiệp đều khẳng định rằng, muốn có đượcthành tích thì trước hết người lao động phải say mê, hứng thú với lĩnh vực
mà họ đang làm Các kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy, trong sốnhững sinh viên cảm thấy ngành đang học phù hợp với năng lực của bảnthân hoặc hứng thú với ngành học có tỷ lệ số em gắn bó với nghề cao hơnhẳn tỷ lệ tương ứng trong số những em không hứng thú với ngành học hoặcthấy ngành học không phù hợp với năng lực của bản thân Sự thiếu hiểu biết
về các loại ngành nghề, về năng lực và hứng thú nghề nghiệp của bản thân
đã dẫn đến những lựa chọn sai lầm và điều đó sẽ gây lãng phí không chỉ cho
xã hội mà cho chính bản thân các em khi phải bỏ ra khoảng thời gian 4 năm
để học một nghề mà các em không thật sự hứng thú và rồi rất có thể sẽ rời bỏnghề đó sau khi tốt nghiệp
b Các điều tra nghiên cứu tại Việt Nam
Trong cuốn Tư vấn hướng nghiệp , tập 2 Tự hướng nghiệp và rèn luyện
kĩ năng vào đời của tác giả Quang Dương có nêu thực trạng chọn trường của
học sinh , một số lựa chọn theo cảm tính, chạy theo phong trào , “ nhắm mắtđưa chân” ….hay một số lại bị sức ép từ gia đình tới việc chọn ngành nghề ,
từ đấy dẫn đến chọn lầm nghề , gây hậu quả nghiêm trọng đến tương lai củacác em
Trang 9Trong bài báo Giúp học sinh định hướng đúng nghề nghiệp đăng trên
Báo Giáo dục TP Hồ Chí Minh (14/1/2011) , đây là đề tài đạt giải nhất cuộcthi Eureka năm 2010 Các tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt về giới trongviệc lựa chọn ngành nghề thể hiện qua những số liệu cụ thể Đồng thời chothấy thực trạng: gia đình là yếu tố tác động lớn nhất đối với HS trong việcchọn nghề, từ đó đưa ra những kết luận chung về những vấn đề liên quan đếnviệc chọn ngành nghề của HS hiện nay
Bài Thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông tại tỉnh Bình Dương hiện nay đăng trên
Tạp chí Tâm lí học số 6 ( 147) 6-2011 đưa ra những yếu tổ ảnh hưởng đếnquyết định lựa chọn nghề của học sinh , từ những yếu tố xa như phương tiệntruyền thông, các trung tâm tư vấn hướng nghiệp cho đến những người xungquanh như gia đình , bạn bè , nhà trường …từ đấy điều tra về yếu tố ảnhhưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn ngành nghề ở học sinh , từ đấy giúpcác nhà quản lí điều chỉnh khi các em hướng đến những đối tượng khôngđáng tin cậy và tận dụng những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn để tác động đếnquyết định chọn nghề của học sinh
“Chọn ngành học: Theo xu hướng hay chọn "hàng hiếm"?” Bài từ Tủ
sách Khoa học VLOS đưa ra một số ngành học chỉ được đào tạo với sốlượng rất ít, từ đó đặt ra câu hỏi phải chăng đây là những ngành xã hội không
có nhu cầu hay bản thân người học chưa nhận thức được cơ hội đang có?
“ Chọn trường : ế các ngành xã hội “là bài báo nói về xu hướng chạy
đua vào các khối ngành kinh tế và thực trạng bị “tụt hạng” của khối ngành xãhội , phân tích nguyên nhân của thực trạng ấy ,Báo Mới vn
“ Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường (Khảo sát tại tỉnh Phú Thọ) “ là một cuộc
điều tra tìm hiểu nền kinh tế thị trường có những tác động như thế nào đếnviệc lựa chọn nghề của học sinh , từ đấy chỉ ra xu hướng lựa chọn ngànhnghề của học sinh 12 THPT hiện nay
Trang 10Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng , tác độngđến hành vi lựa chọn ngành nghề trước khi tốt nghiệp THPT của học sinh ,đưa ra xu hướng lựa chọn ngành nghề hay ý nghĩa của công tác giáo dụchướng nghiệp trong việc định hướng cho học sinh ngành nghề phù hợp … Trong nghiên cứu này , em muốn bổ sung và làm rõ những yếu tố chủ quan
và khách quan ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPThiện nay , những yếu tố ấy có mối liên hệ với nhau hay không , nó ảnhhưởng như thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao , giải pháp khắc phục nhữngyếu tố tiêu cực hay phương hướng vận dụng những yếu tố ảnh hưởng tíchcực đến quyết định lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT là gì ?….Từđấy ta có thể có một cái nhìn sâu hơn về vấn đề này, thấy rõ được tầm quantrọng của vấn đề lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT, nguồn nhân lựccủa đất nước
1.3/Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hướng tới tìm hiểu:
-Thực trạng về xu hướng chọn ngành nghề của học sinh THPT hiện nay(thiên về lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội)
- Các yếu tố cơ bản tác động đến việc chọn ngành của các bạn học sinhTHPT
- Xây dựng biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp phù hợpcho học sinh THPT
1.4/ Câu hỏi ( giả thuyết ) nghiên cứu
a Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn ngành nghề của học
b Giả thuyết nghiên cứu
Lựa chọn ngành nghề phù hợp với điều kiện của bản thân là điều mà cácbạn học sinh THPT , nhất là học sinh lớp 12 rất quan tâm Việc quyết địnhlựa chọn ngành học nào sau khi tốt nghiệp THPT bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu
Trang 11tố , có những lựa chọn là đúng , phù hợp , nhưng cũng có những lựa chọn sailầm gây ra lãng phí thời gian cá nhân và của cải xã hội Vì vậy , nếu tìmhiểu được những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ngành nghề của họcsinh , chúng ta có thể điều chỉnh và đưa ra biện pháp để định hướng mộtcách chính xác nhất cho học sinh , giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợpvới bản thân và nhu cầu xã hội
1.5/ Phương pháp nghiên cứu
a/ Mẫu nghiên cứu và Đối tượng khảo sát
-/Mẫu nghiên cứu :
Để tìm hiểu về các yếu tố dẫn đến việc quyết định lựa chọn ngành nghềcủa học sinh THPT , nghiên cứu sẽ chọn 400 học sinh THPT ( chủ yếu làhọc sinh lớp 12 ) tại 4 trường cấp 3 trên địa bàn Hà Nội , trong đó có 3trường thuộc quận Cầu Giấy ( nội thành Hà Nội) và 1 trường thuộc huyện HàTây ( ngoại thành Hà Nội ) Kết quả thu được trên mẫu 400 học sinh để suyrộng ra toàn thành phố
-/ Đối tượng khảo sát
-Học sinh THPT hiện nay
-Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành thu thậpthông tin từ học sinh của 4 trường THPT trên địa bàn Hà Nội :
+Trường THPT Nguyễn Tất Thành
+Trường THPT Yên Hòa
+Trường THPT DL Nguyễn Bỉnh Khiêm
+Trường THPT Ngô Quyền
Trong đó trường THPT Nguyễn Tất Thành , THPT Yên Hòa , THPT DLNguyễn Bỉnh Khiêm là 3 trường thuộc quận Cầu Giấy nội thành Hà Nội ,còn trường THPT Ngô Quyền ở Ba Vì Hà Tây ngoại thành Hà Nội
b/ Địa điểm khảo sát
Khảo sát taị 4 trường THPT trên
c/ Phương pháp thu thập thông tin