A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách nền hành chính. Hoạt động thanh tra đã góp phần tăng cường pháp chế, thiết lập kỷ cương xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, cơ quan, tổ chức thông qua đó nâng cao hiệu quản quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hằng năm, ngành thanh tra đã tiến hành hàng ngàn cuộc thanh tra, tập trung vào nhiều lĩnh vực, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước các cấp giải quyết được hàng ngàn vụ việc khiếu nại, tố cáo. Thanh tra nhân dân là một bộ phận của ngành thanh tra. Ban thanh tra nhân dân ở cơ sở tổ chức thanh tra của quần chúng, có vai trò quan trọng trong quản lý xã hội cấp cơ sở, là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở cơ sở. Bồ Lý là một xã thuộc huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, theo Pháp lệnh thanh tra ban hành ngày 0141990, Ban thanh tra nhân dân ở đây đã được thành lập và đi vào hoạt động khá tốt và ổn định. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, công tác quản lý các hoạt động về kinh tế, xã hội ở đây đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập. Tình trạng tiêu cực, tham nhũng và nhiều tệ nạn còn diễn ra đòi hỏi yêu cầu phải tăng cường công tác thanh tra nhân dân của Ban thanh tra nhân dân để giải quyết các mâu thuẫn, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Xuất phát từ thực tế trên, Tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân ở xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận Môn Học. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội bứcxúc, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng hoàn thiện Nhà nước cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách nền hành chính Hoạtđộng thanh tra đã góp phần tăng cường pháp chế, thiết lập kỷ cương xã hội,bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, cơ quan,
tổ chức thông qua đó nâng cao hiệu quản quản lý trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hằng năm, ngành thanh tra đã tiến hành hàng ngàn cuộc thanh tra, tậptrung vào nhiều lĩnh vực, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan hành chínhnhà nước các cấp giải quyết được hàng ngàn vụ việc khiếu nại, tố cáo.Thanh tra nhân dân là một bộ phận của ngành thanh tra Ban thanh tra nhândân ở cơ sở - tổ chức thanh tra của quần chúng, có vai trò quan trọng trongquản lý xã hội cấp cơ sở, là phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở
cơ sở
Bồ Lý là một xã thuộc huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc, theo Pháp lệnhthanh tra ban hành ngày 01/4/1990, Ban thanh tra nhân dân ở đây đã đượcthành lập và đi vào hoạt động khá tốt và ổn định Tuy nhiên, trong điều kiệnphát triển nền kinh tế thị trường, công tác quản lý các hoạt động về kinh tế,
xã hội ở đây đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, bất cập Tình trạng tiêu cực,tham nhũng và nhiều tệ nạn còn diễn ra đòi hỏi yêu cầu phải tăng cườngcông tác thanh tra nhân dân của Ban thanh tra nhân dân để giải quyết cácmâu thuẫn, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân Xuất phát từ thực tế trên,
Tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban thanh tra nhân dân
ở xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo trong giai đoạn hiện nay” làm tiểu luận Môn
Học
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 2Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội cấp cơ sở vàhoạt động của Ban thanh tra nhân dân tìm hiểu thực tế, phân tích thực trạngcông tác thanh tra ở xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, Tỉnh Vĩnh Phúc qua đóđánh giá thực trạng với những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế,tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng, đưa ra một số giải pháp tăng cườnghoạt động của Ban thanh tra nhân dân ở địa phương.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài đi sâu nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Ban
thanh tra nhân dân ở xã Bồ Lý, Huyện Tam Đao, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập chung tìm hiểu trong phạm vi cấp cơ sở là
xã Bồ Lý, Huyện Tam Đao, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp
lý luận găn liền với thực tiễn, phân tích tổng hợp, tìm hiểu thực tế, tổng kết
để đúc rút, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả vấn đềnghiên cứu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 3B NỘI DUNGCHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAN THANH TRA NHÂN DÂN Ở CẤP CƠ SỞ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Cấp cơ sở
Cấp cơ sở là đơn vị và hành chính nhỏ nhất trong hệ thống hành chính
bốn cấp ở nước ta Đây là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ VBan chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX đã chỉ rõ: “Cấp cơ sở ở
xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệthống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhândân, phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sốngcộng đồng dân cư”
Như vậy, có thể khái quát về cấp cơ sở như sau:
Thứ nhất, cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn, là đơn vị hành chính lãnhthổ nhỏ nhất
Thứ hai, cấp cơ sở là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống hànhchính của nước ta
1.1.2 Quản lý xã hội cấp cơ sở
Trước hết, quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và
định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnhcác quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định vàphát triển của đối tượng theo những mục tiêu đặt ra
Quản lý xã hội là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội Xã
hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý xã hội càng lớn và nội dungcàng đa dạng, phong phú Bởi theo Mác, quản lý là chức năng đặc biệt được
Trang 4sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi
sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông quaquản lý (con người điều khiển con người)
Như trên đã trình bày, cấp cơ sở là một cấp hành chính trong hệ thốnghành chính của nhà nước ta, cấp cơ sở như một xã hội thu nhỏ, một đơn vịkinh tế độc lập mang sắc thái riêng không giống bất kỳ một cấp hành chínhnào Hoạt động quản lý xã hội cấp cơ sở ở nước ta được thực hiện ở nước tađược thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Bên cạnh chủ thể cơ bản là nhànước còn có các chủ thể là các tổ chức do cộng đồng các dân cư khác nhauthiết lập nên để quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của cộngđồng Các chủ thể quản lý luôn luôn tồn tại song hành, nhưng mức độ tácđộng, phương thức tác động tới xã hội là khác nhau Trong tiến trình pháttriển của lịch sử xã hội loài người vị thế các chủ thể đối với xã hội cũng có
1.1.3 Thanh tra nhân dân và ban thanh tra nhân dân ở cấp cơ sở
Thanh tra nhân dân (TTND) là một trong những nội dung cơ bản củaLuật Thanh tra Vấn đề này cũng đã được quy định tại Pháp lệnh Thanh tranăm 1990 TTND là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban TTNDđối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tốcáo và việc thực hiện quy chế dân chủ của cơ quan, tổ chức và cá nhân cótrách nhiệm
Ban TTND được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị
sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến TTND ở cơ sởtrong bộ máy chính quyền cấp cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn
Ban TTND ở cấp cơ sở là tổ chức thanh tra của quẩn chúng được thànhlập ở cấp xã, phường, thị trấn nhằm đảm bảo quyền giám sát, kiểm tra của
Trang 5quần chúng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách,pháp luật trong phạm vi xã, phường, thị trấn Ban thanh tra cơ sở do nhân dânbầu ra, Mặt trận Tổ quốc cấp cơ sở tổ chức, chỉ đạo hoạt động.
Uỷ ban Nhân dân (UBND) cấp cơ sở có trách nhiệm thông báo cho Banthanh tra nhân dân biết các Nghị quyết của Hội Đồng nhân dân (HĐND),quyết định của HĐND cấp cơ sở và xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghịcủa Ban TTND; tạo điều kiện thuận lợi và phương tiện cần thiết cho banTTND hoạt động… Xử lý nghiêm khắc các hành vi cản trở hoạt động của các
uỷ viên Ban TTND
1.2 Nội dung của Ban thanh tra nhân dân cấp cơ sở
1.2.1 Về cơ cấu tổ chức
Được quy định tại Điều 58, Luật Thanh tra 2004
Ban TTND ở xã phường, thị trấn do Hội nghị nhân dân hoặc Hội nghịđại biểu nhân dân ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố bầu ra Việc bầu ra thànhviên Ban thanh tra nhân dân phải căn cứ vào địa bàn, số lượng dân cư ở xã,phường, thị trấn
Số lượng thành viên Ban TTND được bầu có thể từ 05 đến 11 người.Thành viên của Ban TTND không thể là người đương nhiệm trong UBND xã,phường, thị trấn Quy định này nhằm đảm bảo hoạt động của Ban thanh tranhân dân có hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc khách quan, độc lập trong quátrình thực hiện nhiệm vụ của thành viên Ban TTND
Trong một nhiệm kỳ, thành viên Ban TTND không hoàn thành nhiệm
vụ hoặc không còn được nhân dân tín nhiệm thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam xã, phường, thị trấn đề nghị Hội nghị nhân dân hoặc hội nghịđại biểu nhân dân đã bầu ra thành viên đó bãi nhiệm và bầu ra người khácthay thế
Trang 61.2.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn
Khác với thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quannhà nước, hoạt động mang tính quyền lực của Nhà nước, thanh tra nhân dân làhoạt động giám sát của nhân dân
Nhiệm vụ của Ban thanh tra nhân dân được Luật thanh tra quy địnhnhư sau:
- Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếunại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cánhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệpnhà nước
- Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì kiến nghị người có thẩm quyền xử
lý theo quy định của pháp luật và giám sát việc thực hiện kiến nghị đó
- Xác minh những vụ việc nhất định khi được Chủ tịch UBND xã,phường, thị trấn, người đứng đầu cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanhnghiệp nhà nước giao
- Kiến nghị với Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn, người đứng đầu cơquan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khắc phục sơ hở,thiếu xót được phát hiện qua việc giám sát; bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của công dân và người lao động, biểu dương những đơn vị, cá nhân cóthành tích Trường hợp phát hiện người có hành vi vi phạm pháp luật thì kiếnnghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý
1.2.3 Về hoạt động
Hoạt động của Ban TTND được quy định tại Điều 61 và Điều 65 củaLuật thanh tra Trong đó, Luật tranh tra ra các quy định mang tính nguyêntắc về hoạt động của Ban TTND Hoạt động của Ban TTND được quy địnhnhư sau:
- Ban TTND chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam cùng cấp hoặc Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong quá trìnhhoạt động
Trang 7- Phương hướng và nội dung kế hoạch hoạt động của Ban thanh trađược xây dựng căn cứ vào Nghị quyết của HĐND hoặc Nghị quyết Hộinghị công nhân, viên chức, Hội nghị đại biểu công nhân, viên chức và sựchỉ đạo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp hoặc ban chấphành công đoàn cơ sở.
- Ban TTND có trách nhiệm báo cáo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam cùng cấp hoặc Ban chấp hành công đoàn cơ sở về kết quả hoạtđộng của mình
Hoạt động của Ban TTND bao gồm:
- Giám sát chính quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của côngdân, tổ chức
- Tiếp dân; lắng nghe phản ánh của nhân dân
- Nắm tình hình, xác minh, theo dõi
- Trao đổi trong Ban TTND và Mặt trận Tổ quốc
- Kiến nghị HĐND, UBND vừa bằng hình thức phát biểu, vừa bằng văn bản
- Theo dõi việc giải quyết của chính quyền
- Tham gia trong các đoàn kiểm tra của Thanh tra nhà nước
1.3 Vai trò của Ban TTND trong quản lý xã hội cấp cơ sở
Vai trò của Ban TTND là giám sát cơ quan chính quyền, người điềuhành, quản lý, thực thi các văn bản pháp luật và ban hành các văn bản phápquy cấp cơ sở
Ban TTND được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước đểgiám sát việc thực hiện chính sách pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranhchống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức
Ban TTND vừa là tổ chức thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhândân ở cơ sở, vừa là tổ chức thực hiện quyền kiểm tra có tính nhà nước đối
Trang 8với việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức, các nhân cótrách nhiệm.
Với vai trò quan trọng như vậy, Ban TTND cần được tăng cường hoạtđộng hơn nữa để phát huy triệt để chức năng, nhiệm vụ của mình xây dựng bộmáy chính quyền ở cơ sở ổn định, phát triển vững mạnh
Trang 9CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN THANH TRA NHÂN DÂN Ở XÃ BỒ LÝ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Khái quát về đặc điểm tình hình xã Bồ Lý
Bồ Lý là một xã thuộc huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc Là xã nằm ởphía Đông Bắc huyện Tam Đảo, có diện tích đất tự nhiên khá rộng 212,23km2 với 11 thôn, xóm; dân số của xã là hơn 1,3 vạn nguời, có 05 dân tộc sinhsống; Nhân dân các dân tộc trong xã chủ yếu sống ở vùng nông thôn (chiểm87%); lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp
Những năm gần đây, với sự nỗ lực phấn đấu của mình và được sự giúp
đỡ của các ngành, các cấp trong huyện, tỉnh và Trung ương, Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân các dân tộc trong xã đã đạt được nhiều thành tựu trongphát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh quốc phòng; nền kinh tế tiếp tụcđạt mức tăng trưởng khá, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư tăngcường, nhiều công trình phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh được xây dựng
từ nguồn vốn tập trung của nhà nước, vốn sự nghiệp và vốn đóng góp củanhân dân Giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, thể thao có nhiều chuyển biếntích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt,nhiều chính sách xã hội phát triển và nâng cao đời sống nhân dân được triểnkhai thực hiện An ninh chính trị, đời sống vật chất của nhân dân được ổnđịnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sựlãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền
Tuy vậy, Bồ Lý là xã thuộc huyện miền núi, có diện tích đất đai rộngnhưng địa hình khá phức tạp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa pháttriển, quy mô kinh tế còn nhỏ, có cấu kinh tế còn nhiều lạc hậu đặc biệt làchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông – lâm ngiệp còn chậm vàchủ yếu là phụ thuộc vào thiên nhiên; đời sống nhân dân còn gặp rất nhiềukhó khăn Đây cũng là vấn đề đặt ra cho các cấp uỷ đảng, chính quyền xãcần đẩy mạnh công tác nghiệp vụ và hoạt động của Ban thanh tra nhândân, phản ánh tốt hơn mọi mặt đời sống của nhân dân, giúp ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội
Trang 102.2 Thực trạng của Ban thanh tra xã Bồ Lý
2.2.1 Về tổ chức
Ban TTND xã Bồ Lý nhiệm kỳ (2010-2013) gồm có 01 Trưởng ban, 01phó ban và 09 thành viên được phân công phụ trách từng thôn theo địa bàndân Tháng 12/2010, thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBMTTW-TC ngày 04/12/2006 của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Ủy Ban TrungƯơng Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài Chính về thực hiện Quyết định
số 80/2005/QĐ-TTg về quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng, Ban TTND
xã Bồ Lý đề nghị và được Uỷ ban Mặt trận xã ra Quyết định công nhận BanTTND kiêm thêm nhiệm vụ Giám sát đầu tư cộng đồng (GSĐTCĐ) Từ đó,Ban TTND tiếp tục bầu bổ sung thêm 01 Phó trưởng ban Tất cả thành viênBan TTND kiêm GSĐTCĐ được tập huấn kỹ năng nghiệp vụ tại huyện.Trong suốt nhiệm kỳ qua, Ban TTND kiêm GSĐTCĐ đã kịp thời phát hiệnnhững thiếu sót kiến nghị cho Ủy ban nhân dân giải quyết, góp phần xâydựng Đảng, Chính quyền trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy kinh tế - xã hộitiếp tục phát triển, trật tự xã hội trên địa bàn từng bước ổn định
2.2.2 Về hoạt động
Thực hiện sự chỉ đạo của UBND xã Bồ Lý, Ban TTND kiêm GSĐTCĐ
đã xây dựng chương trình hoạt động hằng quý, năm, đồng thời phối hợp vớicác ban ngành, đoàn thể và nhân dân hợp tác trong hoạt động giám sát Banthanh tra nhân dân kiêm GSĐTCĐ đã được HĐND, UBND và Uỷ Ban Mặttrân Tổ quốc xã cung cấp các Nghị quyết các kỳ họp HĐND xã, chương trìnhcông tác định kỳ 6 tháng, năm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, báo cáo tìnhhình kinh tế xã hội 6 tháng, năm của UBND xã, các văn bản về dự toán, thiết
kế xây dựng các công trình ở xã, các văn bản áp giá đền bù, giải phóng mặtbằng, tái định cư, khai thác quỹ đất; quy chế dân chủ ở xã Ngoài ra, BanTTND được mời tham dự các cuộc họp, hội nghị HĐND, UBND, Uỷ ban Mặttrận Tổ định kỳ 6 tháng, một năm và bất thường, các cuộc hội nghị ở thôn; hộinghị đóng góp ý kiến và lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND,
Trang 11UBND nhiệm kỳ (2011-2016) Tham gia công tác giải toả đền bù, giải phóngmặt bằng; tham gia các cuộc họp đấu thầu, nghiệm thu xây dựng các côngtrình như trường học, đường giao thông nông thôn, nhà văn hoá thôn, trungtâm văn hoá; tham gia các cuộc hoà giải và giải quyết khiếu nại ở thôn, xã.Bên cạnh đó, Ban TTND xã được nhân dân cung cấp nhiều nguồn tin có giátrị giúp Ban TTND kiến nghị kịp thời cho UBND trên các lĩnh vực như: côngtác áp giá đền bù, giải phóng mặt bằng tái định cư; lấn chiếm đất xây dựngnhà trái phép; công ty khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường như khaithác đất cao lanh, đất san lấp ảnh hưởng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt vàsản xuất của nhân dân Cụ thể như sau:
2.2.2.1 Hoạt động giám sát việc thực hiện chủ trương chính sách pháp luật
Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND xã, Ban TTND xã đãgiám sát việc xây dựng Trạm Y tế xã, xây dựng Trường Mẫu giáo đạt chuẩnQuốc gia, xây dựng Trung tâm văn hoá xã, Nhà sinh hoạt văn hoá thôn, bêtông hoá giao thông nông thôn, chế độ người có công, cấp gạo cho hộ khókhăn trong dịp Tết; giám sát áp giá đền bù, tái định cư, xây dựng đường vàcống thoát nước khu tái định cư, các công ty gây ô nhiễm nguồn nước sinhhoạt và sản xuất, đồng thời bồi lấp mương tưới tiêu, việc lập thủ tục đề nghịcấp giấy quyền sử dụng đất, việc đóng góp tiền, vật lực của dân để xây dựnggiao thông nông thôn, thu chi ngân sách và các nguồn quỹ đóng góp của dân,giám sát việc bình xét hộ đói nghèo năm 2010 – 2013…
Qua giám sát, phát hiện kiến nghị cho UBND và các ngành hữu quan
đã kiểm tra, xử lý, giải quyết được nhiều vụ việc, tạo được niềm tin, giảmkhiếu nại đông người, điển hình các vụ việc như: Chi trả tiền hỗ trợ xâydựng nhà văn hoá thôn; xử lý phạt hành chính 2.000.000 đồng về việc xâydựng nhà trái phép; buộc công ty khai thác đất cao lanh đền bù cho nhândân là 21.000.000đ để khắc phục ô nhiễm nước sinh hoạt; giải quyết tranhchấp cây cối, thu hồi lại cho người bị hại 350.000đ