1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN môn CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN đô THỊ phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững ở việt nam trong giai đoạn hiện nay

33 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 189,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong quá trình phát triển của các quốc gia trên thế giới từ nền kinh tế sản xuất nhỏ lẻ, kém phát triển sang nền kinh tế sản xuất phát triển cao với sự phát triển của tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia. Trong quá trình phát triển nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế thì bất kỳ mỗi quốc gia nào trong tiến trình phát triển của đất nước mình đều gặp phải những vấn đề trong quy hoạch phát triển đô thị để có thể đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng nhu cầu của nền kinh tế. Vấn đề quy hoạch và phát triển đô thị không chỉ dừng ở việc quy hoạch một đô thị thật tốt về giao thông, về các yếu tố hậu cần, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà những đô thị được hoạch định đó cần phải đáp ứng được những yêu cầu cao hơn, có thể đáp ứng được những nhu cầu về đô thị trong những giai đoạn tiếp theo của tiến trình phát triển. Đó chính là vấn đề phát triển đô thị bền vững – một vấn đề đang rất được chú trọng trong phát triển đô thị nói chung hiện nay. Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế và cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong quá trình phát triển này, bộ mặt đô thị Việt Nam cũng có rất nhiều thay đổi một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng được với những yêu cầu về các đô thị hiện đại để đáp ứng và phục vụ quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới cũng gặp phải những vấn đề khó khăn trong phát triển đô thị, đặc biệt là vấn đề phát triển đô thị bền vững. Xuất phát từ những vấn đề đó, với mong muốn của bản thân em trong việc tìm hiểu một cách sâu sắc thực trạng phát triển đô thị cũng như những chính sách của nước Việt Nam về phát triển đô thị bền vững do vậy em đã lựa chọn đề tài: “Phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm tiểu luận hết môn môn học Chính sách phát triển đô thị.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển của các quốc gia trên thế giới từ nền kinh tếsản xuất nhỏ lẻ, kém phát triển sang nền kinh tế sản xuất phát triển cao với sựphát triển của tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia.Trong quá trình phát triển nền kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa và hiện đạihóa nền kinh tế thì bất kỳ mỗi quốc gia nào trong tiến trình phát triển của đấtnước mình đều gặp phải những vấn đề trong quy hoạch phát triển đô thị để cóthể đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng nhu cầu của nền kinh tế Vấn đềquy hoạch và phát triển đô thị không chỉ dừng ở việc quy hoạch một đô thịthật tốt về giao thông, về các yếu tố hậu cần, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao,văn hóa nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà những đô thị đượchoạch định đó cần phải đáp ứng được những yêu cầu cao hơn, có thể đáp ứngđược những nhu cầu về đô thị trong những giai đoạn tiếp theo của tiến trìnhphát triển Đó chính là vấn đề phát triển đô thị bền vững – một vấn đề đangrất được chú trọng trong phát triển đô thị nói chung hiện nay

Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành phát triển công nghiệphóa, hiện đại hóa nền kinh tế và cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu Trongquá trình phát triển này, bộ mặt đô thị Việt Nam cũng có rất nhiều thay đổimột cách nhanh chóng nhằm đáp ứng được với những yêu cầu về các đô thịhiện đại để đáp ứng và phục vụ quá trình phát triển kinh tế của đất nước.Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác trênthế giới cũng gặp phải những vấn đề khó khăn trong phát triển đô thị, đặc biệt

là vấn đề phát triển đô thị bền vững Xuất phát từ những vấn đề đó, với mongmuốn của bản thân em trong việc tìm hiểu một cách sâu sắc thực trạng pháttriển đô thị cũng như những chính sách của nước Việt Nam về phát triển đô

thị bền vững do vậy em đã lựa chọn đề tài: “Phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm tiểu luận hết môn môn học Chính sách phát triển đô thị.

Trang 2

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN

ĐÔ THỊ BỀN VỮNG

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm về sự phát triển mọi mặt nhằmđáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển đápứng nhu cầu trong tương lai Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiếntrình phát triển của xã hội, là một lựa chọn mang tính chiến lược và là mụctiêu hướng tới mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm Mỗiquốc gia sẽ dựa vào những đặc điểm riêng của mình để hoạch định chiến lượcphát triển bền vững sao cho phù hợp nhất với quốc gia đó

Khái niệm "phát triển bền vững" (sustainable development) xuất hiệnlần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (đượccông bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế

- IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉchú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếucủa xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Năm 1987, trong bài báo có tiều đề: “Tương lai chung của chúng ta”(còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Hội đồng Thế giới về Môitrường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc,phát triển bền vững đượcđịnh nghĩa cụ thể hơn đó là "sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiệntại nhưng không trở ngoại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ maisau " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh

tế hiệu quả, xã hội phát triển công bằng, văn minh và môi trường được bảo

vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các chính quyền, các thành phần kinh

tế, các tổ chức xã hội phải cùng nhau có trách nhiệm thực hiện nhằm mụcđích dung hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội - và bảo vệ môi trường

Trang 3

1.1.2 Khái niệm phát triển đô thị bền vững

Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại:môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường

xã hội Cả ba loại hình này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệrất chặt chẽ với nhau, hoặc đại diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu,phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của con người trong đô thị Một đôthị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình thái môi trường lớnhơn tổng của các hậu quả xấu

Sự tác động giữa môi trường kinh tế và môi trường vật chất thườngđược đặc trưng bằng nhiều yếu tố bất lợi từ bên ngoài Các ảnh hưởng xấusinh ra từ các hoạt động kinh tế trong đô thị lên môi trường vật chất rất rõràng, có thể xác định là thảm họa về môi trường sinh ra từ đô thị, sự giảmsút của tài nguyên thiên nhiên, tiếng ồn, ô nhiễm nước và không khí, sự thuhẹp của các không gian xanh, tắc nghẽn giao thông và việc sử dụng quá mứcnăng lượng

Sự tác động giữa môi trường kinh tế và xã hội làm tăng lên các hiệuquả kể cả thuận lợi và bất lợi Hiệu quả thuận lợi xuất phát từ các dịch vụ xãhội như giáo dục, sức khoẻ, tiện nghi xã hội và những nghề nghiệp có chấtlượng Ngược lại, các yếu tố bất lợi về kinh tế có thể gây ra các hậu quả xấu

về môi trường xã hội

Sự tác động thứ ba nêu lên những thuận lợi và khó khăn xuất phát từcác môi trường vật chất và xã hội Các khu cây xanh cho sinh hoạt công cộng

là nguồn môi trường tốt cho phúc lợi xã hội Mặt khác, sự xuống cấp của cáccông trình lịch sử, sự mất mát của những công trình văn hoá hoặc các vấn đề

về sức khoẻ đô thị là những ví dụ về hậu quả của môi trường vật chất lên môitrường xã hội

Nhiều tài liệu cho rằng một trong những đòi hỏi ban đầu cho phát triển đô thị bền vững là khả năng tồn tại lâu dài, với ba yếu tố cơ bản:

Trang 4

1 Phương tiện sinh sống (sự đầy đủ về nước sạch, thực phẩm, khôngkhí, không gian trống, năng lượng và xử lý chất thải);

2 An toàn (không có chất độc, bệnh tật, tiếng ồn và các mối nguy hiểmtrong môi trường);

3 Hài hoà (mức độ của mỗi cá nhân cảm nhận sự tiện lợi đối với môitrường xung quanh)

Một số điểm quan trọng được xem xét ở đô thị bền vững có thể là: Sựtham gia của dân cư trong việc quyết định chính sách và phát triển cộng đồng;Hình dáng cấu trúc của đô thị liên hệ chặt chẽ với tính chất sử dụng; Sự liênkết cao hơn giữa các khu vực tự nhiên và khu vực xây dựng; Đi bộ, xe đạp vàgiao thông công cộng là hình thức cơ bản của giao thông; Có tính tập thể vềbảo tồn văn hoá và tài nguyên tự nhiên cho các thế hệ mai sau; Cung cấp các

cơ hội công bằng về chất lượng sống cho mọi người trong cộng đồng; Giảmchi phí về năng lượng và tài nguyên; Giảm mức độ chất thải do tái chế

Tóm lại, đô thị bền vững là một đô thị được phát triển dựa trên cơ sởbền vững của các yếu tố chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường và kinh tế.Dân cư hiện tại và những thế hệ tương lai đều có được cuộc sống hạnh phúc,

có đầy đủ phúc lợi và các dịch vụ công cộng cơ bản, có sức khoẻ, được đảmbảo an toàn, giáo dục và đối xử công bằng Được tận hưởng bản sắc văn hoádân tộc, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, có quyền chăm lo, bảo vệ cảnh quan

và môi trường

Hiện nay ở Việt Nam, nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy mọi mặt quátrình phát triển đô thị bền vững Tuy nhiên bên cạnh đó, nhiều vấn đề còn cầnphải nghiên cứu khắc phục, như: Quy hoạch đô thị đôi khi vẫn bị coi là mộtsản phẩm, chưa phải là một quá trình; Cơ chế, thể chế triển khai quy hoạchcòn chưa rõ ràng, phương pháp lập quy hoạch chưa hiện đại; Vốn dành chocông tác quy hoạch đô thị còn ít, quá trình xây dựng theo quy hoạch cònchậm; Thiếu sự tham gia của cộng đồng trong suốt quá trình phát triển đô thị;Thiếu sự phối hợp giữa các chuyên ngành, thiếu sự đồng bộ giữa các công

Trang 5

trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật; và Công tác quản lý đô thị nói chung

ở mọi khâu còn yếu kém

Để có được các đô thị phát triển bền vững, ngoài việc tận dụng và pháthuy nội lực, việc tranh thủ ngoại lực, học tập các kinh nghiệm của thế giới vàkhu vực, rút ra bài học cho đất nước là hết sức cần thiết

1.2 Những thời kỳ phát triển đô thị ở Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, đô thị xuất hiện từ khi người Pháp chiếm SàiGòn từ năm 1861, trên cơ sở một đô thị thương mại do người Việt và ngườiHoa xây dựng Người Pháp đã quy hoạch, thiết kế và xây dựng lại thành phốSài Gòn theo ý tưởng tạo ra một “Paris nhỏ”, một “hòn ngọc viễn đông” củanước Pháp

Một số kỹ sư người Pháp đã đưa ra những ý tưởng quy hoạch và thiết

kế thành phố Sài Gòn khác nhau, tuy không đề án nào được thực hiện trọnvẹn nhưng trải qua nhiều thập kỷ xây dựng, dáng dấp của một “Paris nhỏ” đãhiện ra với những công trình kiến trúc đặc sắc như: Nhà Rồng, nhà thờ Đức

Bà, dinh Xã Tây, nhà hát lớn, khách sạn Continantal Khi chiếm được HàNội, họ cũng quy hoạch lại và đưa kiến trúc Pháp vào để xây dựng một thànhphố có quy mô khoảng 200 ngàn dân Người Pháp chủ trương phát triển côngnghiệp và thương mại ở các thành phố như: nhà máy thuốc lá, rượu bia, dệtmay, cơ khí sửa chữa, đóng tàu

Nhìn từ góc độ phát triển đô thị thì người Pháp đã có những ý tưởng rất

rõ ràng khi xây dựng các thành phố: về hình thức theo phong cách kiến trúccủa Paris, về quy mô, chỉ là thành phố loại vừa, về chức năng là thương mại,dịch vụ và công nghiệp chế biến, cơ khí sửa chữa - và tất nhiên phải trở thànhnơi hưởng thụ của giới thượng lưu trong chính quyền thực dân và bản địa Vềquản lý đô thị: theo chế độ thị trưởng và hội đồng thành phố

Các thành phố của Việt Nam thời đó như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng

và một số đô thị khác đều do người Pháp quy hoạch, thiết kế nhưng mỗi nơi

có những sắc thái riêng, không rập khuôn theo Sài Gòn Nhìn chung, đến thời

Trang 6

điểm năm 1954, các đô thị ở Việt Nam mang đậm nét kiến trúc Pháp nhưngkhông mất hẳn nét kiến trúc Việt Nam về quản lỳ đô thị, người Việt Nam đãquen dần với nền hành chính và lối sống thị dân của châu Âu.

Sau năm 1954, các thành phố ở miền Bắc do chính phủ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa quản lý nhưng do kinh tế còn nghèo cả nước còn chiến tranhnên hầu hết các thành phố không có sự thay đổi lớn về quy hoạch, kiến trúc

và không mở rộng về không gian, không tăng nhiều dân số Về quản lý đô thị:theo chế độ bao cấp và bán thời chiến nên thương mại tư nhân không pháttriển, chỉ có xí nghiệp nhà nước và mậu dịch quốc doanh

Ở miền Nam, Sài Gòn và các thành phố khác bắt đầu chịu ảnh hưởngcủa kiến trúc đô thị kiểu Mỹ - nhà hộp, mái bằng Về quản lý đô thị cũngmang tính chất thời chiến nên sự kiểm soát dân cư rất chặt chẽ Các đô thịmiền Nam đồng thời là những căn cứ quân sự nên có sự mở rộng về khônggian và xây dựng thêm các công trình kiến trúc dân sự và quân sự

Sau năm 1975, Việt Nam trải qua một thời kỳ 10 năm khủng hoảngkinh tế xã hội và đối phó với chiến tranh biên giới ở cả hai đầu đất nước Đây

là thời kỳ các thành phố bị xuống cấp cả về hạ tầng đô thị và nếp sống vănminh: nhiều chung cư cũ nát, đường sá hư hỏng nhiều nơi, tệ nạn xã hội quaylại và phát triển rất nhanh đời sống nhân dân hết sức khó khăn Trong khi đócách tổ chức bộ máy quản lý đô thị không khác nhiều so với quản lý lãnh thổ

đe dọa đến sự phát triển bền vững

Sự phát triển đô thị Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ khác nhau: đô thịthời thực dân - phong kiến - kéo dài hơn 80 năm, đô thị thời chiến tranh kéodài 30 năm và đô thị thời công nghiệp hóa mới được 20 năm

Trang 7

Ảnh: Qúa trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra nhanh chóng

Nguồn: Báo xây dựng

Đô thị trong thời kỳ CNH - HĐH có hoàn cảnh lịch sử và những đòi hỏikhác hẳn so với các thời kỳ trước Đô thị thời công nghiệp hóa đòi hỏi kết cấu

hạ tầng kỹ thuật hiện đại hơn, có quy mô không gian và dân số lớn hơn nênphải có trình độ quản lý đô thị cao hơn, bảo vệ môi trường nghiêm ngặthơn mới bảo đảm sự phát triển bền vững

1.3 Thách thức đối với Việt Nam trong phát triển đô thị bền vững

Sau hơn 25 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường Nềnkinh tế Việt Namđã chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định Sản xuấtnông nghiệp luôn đạt mức tăng trưởng cao Từ một nước phải nhập khẩulương thực, đến nay, Việt Namđã đảm bảo được an ninh lương thực và lànước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Sản xuất công nghiệp tăngtrưởng cao và ổn định Các ngành dịch vụ được mở rộng với chất lượng ngàycàng được nâng lên

Trang 8

Cơ sở hạ tầng được cải thiện đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầuphát triển kinh tế-xã hội Sự phát triển mạnh mẽ và hiệu quả của các thànhphần kinh tế, đã làm cho tỷ lệ hộ đói nghèo trong cả nước giảm xuống 14%trong năm nay Việt Namcó quan hệ thương mại với 165 quốc gia và vùnglãnh thổ trên thế giới và là địa điểm đầu tư hấp dẫn của rất nhiều nhà đầu tưnước ngoài Với mức thu nhập bình quân đầu người trên 1.200 USD, hiệnViệt Nam đã ra khỏi danh sách những nước nghèo chậm phát triển và trởthành một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người đạt mức trungbình Các lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt được những thành tựu quan trọng trênnhiều mặt.

Tuy nhiên, trong những năm qua, phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Namvẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất laođộng còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiềunăng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộđói nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn bất cập,các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để… đang là những vấn đềbức xúc

Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãngphí và kém hiện quả Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêmtrọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động Hệ thống chính sách và công

cụ pháp luật chưa đồng bộ để có thể kết hợp một cách hiệu quả giữa 3 mặtcủa sự phát triển: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trong các chiến lược,quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũngnhư của các ngành và địa phương, 3 mặt quan trọng trên đây của sự phát triểncũng chưa thực sự được kết hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau

Quá trình đô thị hóa hiện đang gặp những thách thức như sau:

Quy hoạch và đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị ở hầu hết các đô thị ViệtNam đều chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội đô thị và chưa đápứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tình trạng yếu kém và lạc hậu

Trang 9

của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn, hệ thốnggiao thông

Mặc dù hạ tầng kỹ thuật đô thị ở các thành phố lớn đã được quan tâmđầu tư cải tạo và nâng cấp, nhưng nhìn chung vẫn còn rất yếu kém, chưa đápứng được những tiêu chuẩn của đô thị hiện đại Tình trạng ô nhiễm môitrường và phá vỡ cân bằng sinh thái đô thị, cảnh quan thiên nhiên đang là mối

lo ngại chung

Chưa có sự lồng ghép quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch đôthị nên vừa làm tăng các vấn đề môi trường đô thị vừa gây khó khăn trong việckhắc phục các hậu quả Biểu hiện rõ nhất là tình trạng xây dựng xen kẽ các nhàmáy gây ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư đông đúc, thiếu các cơ sở hạtầng và dịch vụ xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Đô thị hoá với tốc độ nhanh và sự gia tăng dân di cư từ nông thôn rathành thị gây nên sức ép ngày càng lớn về nhà ở và vệ sinh môi trường đô thị

1.4.Những vấn đề cần tập trung giải quyết về phát triển đô thị bền vững

Về cơ bản phát triển bền vững đô thị cần tập trung giải quyết các vấnđề: (1) Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho người dân

đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp và người nghèo đô thi; (2) Đảmbảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thốngdân tộc, đảm bảo công bằng xã hội; (3) Tôn tạo, gìn giữ và bảo vệ môi trường

đô thị xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị

Để góp phần xây dựng thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất nước,công tác phát triển và quản lí phát triển đô thị đã được Đảng và Nhà nước đặcbiệt quan tâm nhằm xây dựng và phân bố hợp lý các đô thị tạo sự phát triểnbền vững, cân bằng giữa các vùng lãnh thổ, có sức cạnh tranh cao giữa các đôthị, tạo môi trường sống tốt, lành mạnh cho người dân, đảm bảo phát triểnKT-XH với an ninh quốc gia Phát triển đô thị bền vững đã trở thành mộtyêu cầu chiến lược tất yếu trong định hướng phát triển hệ thống đô thị quốcgia Các lĩnh vực cần ưu tiên trong các chiến lược thuộc Chương trình nghị sự

Trang 10

21 của Chính phủ phải được lồng ghép và cụ thể trong chiến lược phát triểnbền vững đô thị quốc gia, cụ thể là:

Những lĩnh vực kinh tế trong khu vực đô thị cần ưu tiên nhằm pháttriển bền vững: Chuyển dịch cơ cấu và duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh vàbền vững; Thay đổi mô hình sản xuất và thói quen tiêu dùng theo hướng thânthiện với môi trường; Thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”; Tăngcường mối liên kết giữa khu vực đô thị và nông thôn theo hướng bền vững;

Những lĩnh xã hội trong khu vực đô thị cần ưu tiên nhằm phát triển bềnvững: Xây dựng chương trình phát triển đô thị quốc gia khoa học, hợp línhằm phát triển bền vững hệ thống đô thị; Phân bố hợp lí dân cư, lao động và

hệ thống đô thị theo nguồn lực, tiềm năng, ngưỡng phát triển từng vùng,miền; Tập trung nỗ lực để giảm nghèo đô thị, đẩy mạnh thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội; Tiếp tục giảm mức tăng dân số và tạo thêm việc làm chongười lao động; Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí và trình độnghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu của quá trình đô thị hóa; Phát triển về sốlượng và nâng cao chất lượng của dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ, cải thiệnđiều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống;

Những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường vàkiểm soát ô nhiễm trong khu vực đô thị cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững:Tiết kiệm nguồn tài nguyên đất đai; hạn chế phát triển đô thị, công nghiệp vàokhu vực đất nông nghiệp gắn với chiến lược an ninh lương thực quốc gia; sửdụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất phát triển đô thị; Bảo vệ môitrường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; Bảo tồn đa dạng sinh học;bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng, nông nghiệp, biển, hải đảo, giữa cáckhu vực đô thị và nông thôn; Giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn, đất, nước ởcác đô thị và khu công nghiệp; quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại;Thực hiện các biện pháp giảm sự gia tăng biến đổi khí hậu và hạn chế nhữngảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu (nhất là ảnh hưởng của mực nước biểndâng, triều cường ), phòng và chống thiên tai; Đổi mới phương pháp lập quyhoạch đô thị, nông thôn; Phát triển đô thị xanh, kiến trúc xanh

Trang 11

Để nâng cao chất lượng đô thị hóa và phát triển đô thị bền vững tại ViệtNam, trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (số 445/QĐ-TTg, ngày07/4/2009) phê duyệt “Điều chỉnh định hướng qui hoạch tổng thể phát triển

hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050”, đã xácđịnh mục tiêu chiến lược phát triển hệ thống đô thị quốc gia là: “Từng bướcxây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạnglưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kĩ thuật, xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; cómôi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiến tiến,giàu bản sắc; có mối quan hệ và vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh caotrong phát triển kinh tế, xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thựchiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổquốc” Việc hình thành và phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025

và tầm nhìn đến năm 2050 phải đảm bảo:

Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển lực lượng sản xuất cảnước, với yêu cầu của quá trình CNH - HĐH và xu hướng hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam, tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội;

Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triểncân đối giữa các vùng Coi trọng mối liên kết Đô thị - Nông thôn, đảm bảochiến lược an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng đô thị, bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với từng giai đoạn pháttriển chung của đất nước;

Phát triển ổn định, bền vững và trường tồn, trên cơ sở tổ chức hợp lýmôi sinh, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tiết kiệm nănglượng; bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái; Xây dựng đồng bộ cơ

sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật với trình độ thích hợp hoặc hiện đại, tuỳthuộc vào yêu cầu khai thác, sử dụng và chiến lược phát triển của mỗi đô thị;

Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong kiểm soát phát triển đô thị;đổi mới cơ chế, chính sách; huy động các nguồn lực vào mục đích cải tạo vàxây dựng đô thị, đảm bảo cho các đô thị phát triển theo quy hoạch và pháp

Trang 12

luật; Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào mụcđích cải tạo, xây dựng và hiện đại hóa đô thị; xây dựng chính quyền đô thịđiện tử; Kết hợp chặt chẽ với việc đảm bảo an ninh, quốc phòng và an toàn

xã hội; đối với các đô thị ven biển, hải đảo và các đô thị dọc hành lang biêngiới phải gắn với việc bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia

Theo đó, hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm

2050 cơ bản được phát triển theo mô hình “mạng lưới đô thị”, đảm bảo sự kếthừa các ưu điểm của định hướng phê duyệt năm 1998, phù hợp với các yêucầu phát triển KT - XH, phát triển bền vững của đất nước theo từng thời kì và

xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Định hướng phát triểnchung không gian đô thị cả nước theo hướng đảm bảo phát triển hợp lí cácvùng đô thị hóa cơ bản (được xác định dựa trên cơ sở 6 vùng kinh tế, xã hộiquốc gia), giữa miền Bắc, miền Trung và miền Nam; giữa phía Đông và phíaTây, gắn với việc phát triển các cực tăng trưởng chủ đạo và thứ cấp quốc gia,đồng thời đảm bảo phát triển theo mạng lưới, có sự liên kết tầng bậc theo cấp,loại đô thị

Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh

tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn và các KKT tổng hợp đóng vai trò là cựctăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm 2016 đến năm 2025 ưu tiên pháttriển vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phân tán, cục bộ theođịa phương để chuyển dần sang phát triển theo mô hình “mạng lưới đô thị” ởgiai đoạn sau năm 2025 Mô hình này thể hiện chiến lược phát triển bềnvững hệ thống đô thị quốc gia trong quá trình đô thị hóa; hướng tới sự pháttriển cân bằng hơn giữa các vùng, giữa khu vực đô thị và nông thôn; đô thị cósức cạnh tranh cao, có vị thế xứng đáng, có mối liên hệ với hệ thống đô thịkhu vực và thế giới

Trang 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Thực trạng đô thị hóa và phát triển đô thị Việt Nam

Việt Nam đang trong tiến trình phát triển thành một nước công nghiệphiện đại vào năm 2020 Tuy chịu ảnh hưởng tác động chung của suy thoáikinh tế thế giới nhưng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm

2014 ước tính tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó nguồn thu từcác hoạt động kinh tế đô thị, đặc biệt các thành phố lớn, các đô thị gắn vớiphát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm tỷ lệ khá cao trong

cơ cấu GDP cả nước, khẳng định vai trò của hệ thống đô thị động lực chủ đạocủa Việt Nam Tỷ lệ % GRDP của 05 thành phố trực thuộc Trung ương/tổngDRDP cả nước, chiếm trên 50% GDP của cả nước (trong khi dân số đô thịchiếm trên 1/3 dân số cả nước) Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm trên70% tổng thu ngân sách toàn quốc

Đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thịhóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng và cả nước.Nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành phát triển; nhiều đô thị cũđược cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở: đường xá, điện nước, cơ sở giáo dục, y

tế, vệ sinh môi trường…Các đô thị Việt Nam đang nỗ lực phát triển, nâng tầmcao với kiến trúc hiện đại

Các đô thị lớn như ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng đã có nềntảng phát triển kinh tế vững chắc, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp vàdịch vụ thương mại cũng tăng mạnh hơn Tại đây, các động lực phát triển mớiđang chuyển dịch mạnh mẽ sang các lĩnh vực giáo dục, dịch vụ tài chính –ngân hàng, bất động sản, viễn thông và truyền thông… Các nơi có điều kiện

tự nhiên đặc biệt như Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Sa Pa, Phú Quốc… haycác đô thị có di sản văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế như Huế, Hội

Trang 14

An, Hạ Long, Côn Đảo,…thì du lịch đã trở thành động lực phát triển chính.

Hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật các đô thị loại II trở lên đã được tăngcường, đô thị loại IV trở lên đã được nâng cấp, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ

sở (điện đường, trường trạm, môi trường nước, rác…) nhờ các khoản đầu tưtrong và ngoài nước

Các khu kinh tế cấp quốc gia như: Khu kinh tế Vân Đồn (Quản Ninh),Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nghệ An (Bắc TPVinh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Chân Mây – Lăng Cô(Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), NhơnHội (Bình Định), Văn Phong (Khánh Hòa), Nam Phú Yên (Phú Yên), đảoPhú Quốc (Kiên Giang), là các khu kinh tế tổng hợp đa ngành có quy mô sảnxuất lớn, có hạ tầng quan trọng là cảng biển có diện tích đất đai rất lớn là nềntảng để hình thành và phát triển các đô thị mới

Các khu công nghiệp tập trung và khu công nghệ cao cấp quốc gia, cáckhu/cụm/ điểm công nghệ cấp địa phương do tỉnh/ huyện quản lý được pháttriển ở gần các đô thị hiện có hoặc dọc theo các tuyến giao thông quốc gia đểtận dụng các hạ tầng xã hội và kỹ thuật sẵn có như nguồn nhân lực, các cơ sở

y tế, gíao dục, đường bộ, đường sắt, cảng biển, sân bay Các khu công nghiệpTrung ương và địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tỷ lệlấp đầy tương đối cao, thu hút nhiều ngành công nghiệp và nhân công, mức

độ đô thị hóa ở đây cũng gia tăng rất nhanh Đây là các tiền đề quan trọng đểhình thành và phát triển các vùng đô thị lớn, vùng kinh tế trọng điểm có khảnăng cạnh tranh với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á.Bên cạnh đó, các khu công nghiệp Trung ương và địa phương ở các tỉnh cóđóng góp đáng kể vào tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng

tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hình thành các đô thị mới hay khu đô thịmới Các cụm, điểm công nghiệp ở các tỉnh có tác động rất tích cực tới quátrình công nghiệp hóa nông thôn các Vùng nơi có mạng lưới công nghiệp địaphương, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển khá dày đặc

Trang 15

Trong nhiều năm qua thương mại quốc tế thông qua các cảng biển đãthúc đẩy các đô thị ven biển có tiềm năng cảng phát triển mạnh Trong nhữngnăm gần đây, khối lượng thương mại quốc tế trên đất liền thông qua các cửakhẩu đã được tăng cường đáng kể, thúc đẩy phát triển nhanh các đô thị cửakhẩu quốc gia, quốc tế đã có từ trước như Lạng Sơn, Lào Cai hay mới đượchình thành như Cầu Treo (Hà Tĩnh), Bờ Y (Kon Tum), Bu Phơ Răng (ĐắcNông), Mộc Bài (Tây Ninh), Xà Xía (Kiên Giang)… Một số đô thị cửa khẩukinh tế thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở như Lào Cai trên các hành langCôn Minh (Trung Quốc) -Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lao Bảo trên hànhlang kinh tế Đông - Tây nối Mukdahan (Đông - Bắc Thái Lan) - Savanakhet(Trung - Nam Lào) - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng; Bờ Y trên tuyến Đông BắcCampuchia - Pakse (Nam Lào) - Kon Tum - Quy Nhơn; hay Mộc Bài trênhành lang Đông - Nam Campuchia - Tây Ninh - TP.HCM -Vũng Tàu Các đôthị cửa khẩu là các điểm tựa đô thị hóa quan trọng đối với các khu vực biêngiới miền núi vốn chậm phát triển ở nước ta và cũng là những mốc giới quantrọng đảm bảo an ninh biên giới tổ quốc.

Về du lịch, kể cả du lịch quốc tế và du lịch trong nước, đã nổi lên nhưmột trong các động lực chính phát triển đô thị Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay Các giá trị truyền thống và bản sắc của một nền văn hóa lịch sử lâu đời,cảnh quan thiên nhiên đa dạng, bờ biển dài và ấm quanh năm là các yếu tốchính hấp dẫn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Thêm vào đó, du lịch làmột ngành công nghiệp có nhiều ưu điểm nổi trội, khá phù hợp với khả năngphát triển của Việt Nam và các yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm phát triểnbền vững Trong các năm qua lượng khách du lịch quốc tế và nội địa ở ViệtNam tăng chậm hơn, giữ mức độ trung bình mức 15-20%/năm, phụ thuộc ítvào các biến động thất thường của kinh tế, nhưng đang chịu ảnh hưởng khôngnhỏ bởi các vấn đề an ninh quốc phòng trên không và trên biển Có thể thấy,ngoài các điều kiện tự nhiên các khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng đô thị và

cơ sở dịch vụ tốt hấp dẫn được khách du lịch

Trang 16

Đánh giá chung phát triển đô thị hóa Việt Nam trong giai đoạn vừa qua

có nhiều chuyển biến số lượng Năm 1999 cả nước có 629 đô thị đến nay có

772 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 47

đô thị loại III, 64 đô thị loại IV và 630 đô thị loại V Trong 6 tháng đầu năm,

có TP Thanh Hóa nâng lên đô thị loại I, các TP Rạch Giá, TP Bạc Liêu, TP.Ninh Bình, TP Thái Bình nâng lên loại II, 3 đô thị loại V hình thành mới và 1

đô thị (thị trấn Cầu Diễn thuộc huyện Từ Liêm cũ sát nhập vào quận mới)

Về đơn vị hành chính đô thị do hiện nay Hiến pháp 2013 đã có hiệu lựcnên việc nâng cấp quản lý hành chính và điều chỉnh ranh giới hành chính đôthị phải thông qua thường trực Quốc hội, 6 tháng đầu năm 2014 không cóbiến động về cấp quản lý hành chính, cả nước có 5 thành phố trực thuộcTrung ương, 63 thành phố thuộc tỉnh, 47 thị xã thuộc tỉnh, 613 thị trấn (trong

đó 27 thị trấn là đô thị loại IV) Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hóa với

28 thị trấn Tỉnh Ninh Thuận chỉ có 3 thị trấn, thành phố Đà Nẵng không cóthị trấn nào

Về dân số thành thị (gồm dân số nội thành, nội thị và thị trấn) đạtkhoảng 30,4 triệu người, tập trung tại 2 đô thị loại đặc biệt và 15 đô thị loại Ikhoảng 14,8 triệu người chiếm 49% dân số các đô thị trên toàn quốc) Tỷ lệ

đô thị hóa trung bình cả nước đạt khoảng 34%, tăng trung bình 1% năm Đôthị hóa tập trung cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ (64,15%), thấp nhất tạivùng Trung Du miền núi phía Bắc (21,72%) Các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương có tỷ lệ dân số thành thị cao, cao nhất cả nước là TP HCM 83%,Bình Dương 71,6%, Quảng Ninh 68,86%,… Các tỉnh có tỷ lệ dân số thành thịthấp nhất cả nước gồm: Thái Bình 10,7%, Tuyên Quang 12,41%, Sơn La13,7%, Bắc Giang: 13,05%

Về đất đô thị, tổng diện tích cả nước 331.698 km2, diện tích đất đô thịkhông có biến động so với năm 2013, đến nay, tổng diện tích đất tự nhiêntoàn đô thị đạt 34,017 km2 chiếm khoảng 10,26% diện tích đất tự nhiên của

cả nước, nội thành nội thị 14.760 km2 chiếm khoảng 4,42% diện tích đất tự

Ngày đăng: 02/07/2018, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. – Khái niệm đô thị bền vững và ứng dụng tại Việt Nam. Dự án VIE/01/021. Hà Nội 2002, 31 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. "– Khái niệm đô thị bền vững và ứng dụngtại Việt Nam
2. Nguyễn Hữu Hải: Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Hải: "Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sáchcông, Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật"
3. Học viện Hành chính: Giáo trình quản lý nhà nước về đô thị, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học viện Hành chính: "Giáo trình quản lý nhà nước về đô thị
Nhà XB: NxbKhoa học Kỹ thuật
4. Minh Huyền – Tìm lời giải cho qui hoạch đô thị. Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 5/11/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Huyền – "Tìm lời giải cho qui hoạch đô thị
5. Lê Hồng Kế và các cộng sự – Phân tích những tác động của chính sách đô thị hóa đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam . NXB Lao động xã hội. Hà Nội 2006,009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Hồng Kế và các cộng sự – "Phân tích những tác động của chínhsách đô thị hóa đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động xãhội. Hà Nội 2006
8. TS.Đào Hoàng Tuấn, CN. Trần Thị Tuyết: Phát triển bền vững hệ thống đô thị ở Việt Nam: Một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS.Đào Hoàng Tuấn, CN. Trần Thị Tuyết
9. Đào Hoàng Tuấn – Phát triển bền vững đô thị: những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới. NXB. Khoa học xã hội. Hà Nội 2008, 334 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Hoàng Tuấn "– Phát triển bền vững đô thị: những vấn đề lý luậnvà kinh nghiệm của thế giới
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội. Hà Nội 2008
12. Trần Thị Tuyết – Thực trạng đô thị hóa và vấn đề đói nghèo của thành phố Hà Nội. Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững. Đề tài cấp Viện năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Tuyết – "Thực trạng đô thị hóa và vấn đề đói nghèo củathành phố Hà Nội
6. Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ về quản lý đầu tư phát triển đô thị Khác
7. Luật xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003; Luật số 38/2009/QH12 năm 2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009 Khác
11. Tài liệu lưu hành nội bộ. Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học & công nghệ. Hà Nội 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w