1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty xăng dầu khu vực III

146 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một đề tài rất lớn và liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, trong giới hạn của luận văn tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng, phân tích các nguyên nhân

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY

XĂNG DẦU KHU VỰC III

NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ :

TRỊNH KIM LIÊN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐẠI THẮNG

HÀ NỘI, 2005

Trang 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Trung tâm Sau Đại học,

Khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Ban giám

hiệu, các Khoa, Trung tâm đào tạo Kinh tế và Quản lý, các Phòng chức

năng trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng; Ban giám đốc và các phòng

nghiệp vụ Công ty xăng dầu khu vực III; Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đại Thắng - Chủ

nhiệm khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã

trực tiếp hướng dẫn và tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và

hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này

Mặc dù đã có sự cố gắng của bản thân, song do khả năng và kinh

nghiệm có hạn, nên luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất

định Rất mong được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của các Thầy giáo, Cô giáo và các

Trang 3

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệp có nhiều nỗ lực vươn lên, góp phần quyết định vào quá trình chuyển đổi cơ cấu và duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế trong thời gian qua Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế nước ta còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường và yêu cầu hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới

Chính vì vậy vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp trong cả nước là phải tìm ra bằng được các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước Hội nghị lần thứ 3

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã chỉ rõ: ''Việc tiếp tục xắp sếp,

đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ ''

Công ty xăng dầu khu vực III là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

và các sản phẩm hoá dầu phục vụ các ngành kinh tế, xã hội, quốc phòng và nhu cầu của nhân dân trên địa bàn Thành phố Hải Phòng Là doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh mặt hàng chiến lược, hoạt động của Công ty gắn liền với điều hành, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành rất đa dạng và mang tính đặc thù cao Trong những năm gần đây, Công

ty triển khai nhiều chương trình nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong

đó chương trình giảm tỷ lệ hao hụt xăng dầu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ

Trang 4

Công ty Chính vì vậy Công ty đã đặc biệt quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, biện pháp giảm tỷ lệ hao hụt xăng dầu và bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, hiện nay việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống xã hội nói chung và vào ngành xăng dầu nói riêng ở nước ta còn là vấn đề tương đối mới và có nhiều bất cập

Để làm sáng tỏ thêm vấn đề này, là một giáo viên hiện đang công tác tại

Bộ môn Quản trị kinh doanh –Trung tâm đào tạo kinh tế và quản lý – Trường

Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng , tôi chọn đề tài ''Phân tích và đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III " làm đề tài luận văn Thạc sỹ quản trị kinh doanh Đây là một đề

tài rất lớn và liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, trong giới hạn của luận văn tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng, phân tích các nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Đây là một vấn đề hết sức bức xúc và có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển của Công ty xăng dầu khu vực III nói riêng cũng như của ngành xăng dầu Việt Nam nói chung

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :

Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận cơ bản về doanh nghiệp

và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Vận dụng những lý luận cơ bản để phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III; trên cơ sở đó tìm hiểu những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả kinh doanh của Công ty và đề ra một số giải pháp để

Trang 5

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tổng quát những vấn đề về

hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III Đi sâu phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế của Công ty nhằm tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian tới

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động kinh doanh Công ty xăng

dầu khu vực III , có đặt trong mối quan hệ chung với các công ty xăng dầu thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam

Về mặt thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động kinh

doanh xăng dầu của Công ty xăng dầu khu vực III từ năm 2002 đến nay

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Luận văn lấy việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng, đồng thời kết hợp với việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp điều tra thực tế để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Một là: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về: doanh nghiệp và hiệu quả

kinh doanh của doanh nghiệp, vai trò của doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường, giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 6

hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đặc biệt là các vấn đề về tài chính; vấn đề hao hụt xăng dầu và vấn đề áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, từ đó tìm ra những nguyên nhân và những yếu tố tác động thực tế làm ảnh hưởng hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian nghiên cứu

Ba là: Phân tích và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả

kinh doanh xăng dầu của Công ty xăng dầu khu vực III

Đề tài này có thể được áp dụng rộng rãi ở các Công ty xăng dầu của Việt Nam

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 7

1.1 Hiệu quả 7

1.1.1 Khái niệm hiệu quả 7

1.1.2 Phân loại hiệu quả 9

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả 13

1.1.4 Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh 18

1.1.5 Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh 20

1.1.6 Phương hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 27

1.2 Đặc điểm kinh doanh xăng dầu có ảnh hưởng đến HQKD 30

1.2.1 Đặc điểm kinh doanh xăng dầu 30

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 33

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC III 35

2.1 Khái quát thị trường xăng dầu 35

2.1.1 Khái quát thị trường xăng dầu Việt Nam 35

2.1.2 Khái quát thị trường xăng dầu trên địa bàn Hải Phòng 37

2.2 Giới thiệu khái quát về Công ty xăng dầu khu vực III 39

2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 39

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Công ty XDKV III 42

2.2.3 Sự vận động của hàng hóa và ảnh hưởng của nó đến HQKD 46

2.2.4 Địa bàn hoạt động chính của Công ty 47

2.2.5 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có 47

2.3 Phân tích hiệu quả hiện tại của Công ty xăng dầu khu vực III 52

2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 52

Trang 9

2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 86

2.4 Đánh giá chung 89

2.4.1 Những thành tích của Công ty 89

2.4.2 Những mặt tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại của Công ty 91

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC III 98

3.1 Phương hướng chung về phát triển kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III đến năm 2010 98

3.1.1 Phương hướng chung của toàn ngành đến năm 2010 98

3.1.2 Định hướng cụ thể của Công ty xăng dầu khu vực III 99

3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III 100

3.2.1 Giải pháp về công tác tổ chức quản lý 101

3.2.2 Giải pháp về lựa chọn cơ cấu mặt hàng kinh doanh và phát triển hoạt động kinh doanh 105

3.2.3 Giải pháp về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật 110

3.2.4 Các giải pháp cắt giảm chi phí 114

3.2.5 Giải pháp về tài chính 116

3.2.6 Các giải pháp khác 121

3.3 Một số kiến nghị 122

3.3.1 Đối với Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam 122

3.3.2 Đối với Công ty xăng dầu khu vực III 124

PHỤ LỤC 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TSCĐ: Tài sản cố định

TSLĐ: Tài sản lưu động

DN : Doanh nghiệp

HQKD: Hiệu quả kinh doanh

ĐT TCDH: Đầu tư tài chínhdài hạn

ĐT TCNH: Đầu tư tài chínhngắn hạn

ROA: Return on assets (Sức sinh lợi của tài sản)

ROE: Return on equity (Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu)

NSNN: Ngân sách Nhà nước

CPBH: Chi phí bán hàng

QLDN: Quản lý doanh nghiệp

XDKV III: Xăng dầu khu vực III

XDCB: Xây dựng cơ bản

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp luôn là vấn đề cấp thiết của mọi thời điểm, là mục tiêu cơ bản và cũng là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Kinh doanh đạt hiệu quả cao và lợi nhuận lớn sẽ cho phép thực hiện tốt quá trình tái sản xuất giản đơn và mở rộng của doanh nghiệp; đồng thời tăng mức đóng góp cho ngân sách Nhà nước để thoả mãn nhu cầu chung của xã hội Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường và yêu cầu hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới

Chính vì vậy vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp trong cả nước là phải tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã chỉ rõ: ''Việc tiếp tục xắp sếp, đổi mới,

phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách

và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ''

Công ty xăng dầu khu vực III là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu phục vụ các ngành kinh tế, xã hội, quốc phòng

và nhu cầu của nhân dân trên địa bàn Thành phố Hải Phòng Là doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng chiến lược, hoạt động của Công ty gắn liền với điều hành, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành rất đa dạng và mang tính đặc thù cao Trong những năm gần đây, Công ty triển khai nhiều chương trình nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Trong đó chương trình phát triển mạng lưới bán lẻ xăng dầu, mở rộng các hoạt động dịch vụ, giảm tỷ lệ hao hụt xăng dầu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt

Trang 12

động sản xuất kinh doanh là những chương trình lớn, quan trọng và có tính quyết định đến chiến lược nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty

Để làm sáng tỏ thêm vấn đề này, là một giáo viên hiện đang công tác tại Trung tâm đào tạo kinh tế và quản lý - Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải

Phòng, tôi chọn đề tài ''Phân tích và đề xuất một số giải pháp để nâng cao

hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III” làm đề tài luận văn

Thạc sỹ- Ngành quản trị kinh doanh Đây là một đề tài lớn và liên quan đến rất nhiều lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, trong giới hạn của luận văn tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng, phân tích các nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Vấn đề này hết sức bức xúc và có ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển của Công ty xăng dầu khu vực III nói riêng cũng như của ngành xăng dầu Việt Nam nói chung

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :

Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ sở lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Vận dụng những

cơ sở lý luận đó để phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III; từ đó tìm hiểu những nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả kinh doanh của Công ty và đề ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III trong thời gian tới

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tổng quát những vấn đề

về hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu vực III Đi sâu phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xã hội của Công ty nhằm tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian tới

Trang 13

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động kinh doanh Công ty

xăng dầu khu vực III, có đặt trong mối quan hệ chung với các công ty xăng dầu thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam

Về mặt thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động

kinh doanh xăng dầu của Công ty xăng dầu khu vực III từ năm 2002 đến nay

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Luận văn lấy việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng, đồng thời kết hợp với việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp điều tra thực tế để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:

Một là: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả kinh doanh

của doanh nghiệp, giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng về hiệu quả kinh doanh của Công

ty xăng dầu khu vực III, tập trung đi sâu nghiên cứu một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xã hội đặc biệt là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty, từ đó tìm ra những nguyên nhân và những yếu tố tác động thực tế làm giảm hiệu quả kinh doanh của Công ty trong thời gian nghiên cứu

Ba là: Phân tích và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu

quả kinh doanh xăng dầu của Công ty xăng dầu khu vực III

Đề tài này có thể được áp dụng rộng rãi ở các Công ty xăng dầu của Việt Nam

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia thành

3 chương:

Trang 14

Chương 1: Một số cơ sở lý luận về hiệu quả và nâng cao hiệu quả kinh

doanh của doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty xăng dầu khu

vực III

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của

Công ty xăng dầu khu vực III

Ch-¬ng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH

TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 1.1 Hiệu quả

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện sống còn để doanh nghiệp

tồn tại, phát triển và thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Muốn nâng cao

hiệu quả kinh doanh thì trước hết phải hiểu rõ bản chất phạm trù hiệu quả và

tính toán các chỉ tiêu hiệu quả một cách chính xác; sau đó mới là phân tích

hoạt động kinh doanh và đưa ra các giải pháp phù hợp

1.1.1 Khái niệm hiệu quả

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả:

- Hiệu quả (A Efficiency; P Efficacité): Mối tương quan giữa đầu vào

các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ, có thể được đo lường

theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo chi phí thì gọi là hiệu quả

kinh tế Khái niệm hiệu quả được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài

nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào (Từ điển thuật ngữ

kinh tế học)

- Có quan điểm cho rằng: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không

thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một sản lượng hàng

hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất

của nó"(Giáo trình Kinh tế học-P.Samuelson & W.Nordhaus, 1991) Thực

chất quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực

của nền sản xuất xã hội Nền kinh tế sẽ có hiệu quả và sẽ có mức hiệu quả cao

nhất khi sự phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng các

Trang 15

nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất Áp dụng quan điểm này vào một doanh nghiệp có thể suy ra hiệu quả chỉ có thể đạt được trên đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nhưng trên thực tế, để đạt được mức hiệu quả này rất khó, nó đòi hỏi nhiều điều kiện như: khả năng chuyển đổi dễ dàng giữa các yếu tố đầu vào, tính linh hoạt của dây chuyền và công nghệ sản xuất, cầu của từng loại hàng hoá trên thị trường

- Bên cạnh quan điểm trên, do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau mà các nhà kinh tế, các nhà thống kê có những quan điểm khác nhau về hiệu quả:

Trước đây, người ta coi hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh là doanh thu tiêu thụ hàng hoá Ngày nay, quan điểm này không

còn phù hợp vì kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả

- Quan điểm thứ ba coi hiệu quả là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy

luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội Cho rằng quỹ tiêu dùng với tính

cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát được

mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, song khó khăn ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó Đời sống nhân dân nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng, phong phú vì vậy việc phản ánh trong các chỉ tiêu thống kê mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao mức sống là khá khó khăn

- Quan điểm thứ tư cho rằng hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội

là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của

nó chứ không phải là giá trị

- Quan điểm thứ năm cho rằng hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh

biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí cho một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp

Trang 16

phần làm tăng thêm lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân Ưu điểm của

quan điểm này là đã gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình

độ sử dụng chi phí; nhược điểm là chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ở phương diện xác định và tính toán

Tóm lại: có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, cũng như sự

chính xác trong mỗi quan điểm đó Từ những định nghĩa về hiệu quả trình bày

ở trên, chúng ta có thể hiểu: Hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ lợi

dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

Từ khái niệm hiệu quả nói trên đã khẳng định bản chất của hiệu quả là

phản ánh mặt chất lượng, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất

để đạt được mục tiêu cuối cùng mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả ta

cũng nên xem xét chúng một cách riêng biệt giữa hai góc độ: Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xã hội

Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả xã hội chỉ mang tính chất tương đối, vì ngay trong một chỉ tiêu nó cũng phản ánh cả hai mặt hiệu quả Hiệu quả kinh doanh tăng lên sẽ làm tăng hiệu quả xã hội và ngược lại

1.1.2 Phân loại hiệu quả

1.1.2.1 Phân loại theo góc độ kinh tế:

Theo cách phân loại này hiệu quả được phân thành hiệu quả kinh doanh

và hiệu quả xã hội:

- Hiệu quả kinh doanh: Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận Đạt được điều này doanh nghiệp mới có điều kiện hơn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường với các đối thủ của mình Để tạo cho mình một chỗ đứng trên thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh chính là việc sử dụng có hiệu quả các

Trang 17

nguồn lực bên trong và nắm bắt, xử lý một cách khôn khéo những sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nhìn thấy và tự tạo cho mình cơ hội kinh doanh Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm hàng đầu Các doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả kinh doanh của mình, nhận định được tình hình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp để ra quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với từng thời kỳ hoạt động của doanh nghiệp Kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng ta phải đánh giá xem xét được hiệu quả kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp và từng bộ phận công tác của nó Từ đó biết được doanh nghiệp nào hoạt động có hiệu quả, doanh nghiệp nào chưa có hiệu quả để rút ra được phương hướng, biện pháp nâng cao tính hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân, tài, vật lực vốn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh doanh thấp nhất Hiệu quả kinh doanh không chỉ biểu hiện ở mối tương quan giữa

kết quả sản xuất và chi phí sản xuất, tức là đặc trưng về mặt lượng của hiệu quả kinh doanh mà nó còn biểu hiện về chất lượng Chất lượng của hiệu quả kinh doanh chính là tiêu chuẩn của hiệu quả

- Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các

nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định

Các mục tiêu xã hội thường thấy là giải quyết công ăn việc làm, giảm

số người thất nghiệp, nâng cao trình độ và đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khoẻ, giữ gìn vệ sinh môi trường

Khi xem xét hiệu quả xã hội, người ta xem xét mối tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hoá và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm ) và các chi phí bỏ ra

để đạt được các kết quả đó Vì hiệu quả xã hội là phạm trù gắn liền với kinh tế

vĩ mô nên đối với các doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận thì việc

Trang 18

thực hiện các mục tiêu để đạt được hiệu quả xã hội là rất hạn chế, thông thường Chính phủ phải can thiệp, điều tiết để nâng cao hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội đối với các doanh nghiệp chính là sự hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, các cơ hội việc làm do doanh nghiệp tạo ra, sự ổn định đời sống của người lao động trong doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại theo góc độ tổng thể và bộ phận

Theo cách phân loại này hiệu quả được phân thành hiệu quả tổng thể và hiệu quả bộ phận:

- Hiệu quả tổng thể: Hiệu quả tổng thể là các chỉ tiêu hiệu quả kinh

doanh được tính toán trên góc độ tổng thể toàn doanh nghiệp, trên cơ sở các kết quả kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh hoặc giai đoạn nghiên cứu

- Hiệu quả bộ phận: Hiệu quả bộ phận là hiệu quả kinh doanh của

từng lĩnh vực kinh doanh, từng công trình, từng sản phẩm hay hiệu quả của từng cá nhân, đơn vị trong doanh nghiệp

Khi đa phần các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả bộ phận có dấu hiệu xấu thì không thể nào có chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng thể tốt được Tỷ trọng của các bộ phận, lĩnh vực trong tổng giá trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến chiều hướng biến đổi của hiệu quả kinh doanh tổng thể, chiều hướng biến đổi tổng thể sẽ có xu hướng biến đổi theo một hoặc một vài nhân tố có tỷ trọng lớn trong kết cấu tổng giá trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mặc dù có thể có những nhân tố khác

tỷ trọng thấp trong tổng giá trị sản xuất kinh doanh có chiều hướng biến đổi ngược lại

Tuy nhiên, không thể loại bỏ hết các bộ phận chưa hoặc không có hiệu quả rõ ràng ra khỏi hoạt động kinh doanh, bởi vì có thể sự tồn tại của các bộ phận này làm cho khả năng có hiệu quả của các bộ phận có tỷ trọng lớn có xu hướng biến đổi tốt hơn Điều này cần phải được xem xét một cách kỹ càng trong quá trình nghiên cứu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 19

1.1.2.3 Phân loại theo thời gian

Theo cách phân loại này hiệu quả được phân thành hiệu quả dài hạn và hiệu quả ngắn hạn:

- Hiệu quả ngắn hạn: Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh

doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian ngắn Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm, vài năm,…

- Hiệu quả dài hạn: Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh

doanh được xem xét, đánh giá ở từng khoảng thời gian dài, gắn với chiến lược, các kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí, nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta hay nhắc đến hiệu quả lâu dài, gắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trong quá trình phát triển của một doanh nghiệp, doanh nghiệp phải

đối mặt và thích ứng với rất nhiều biến động khó lường của môi trường kinh doanh Những biến động này rất khó có thể dự đoán mà chỉ có thể khái quát thành những quy luật mang tính khách quan Việc tìm ra các quy luật này và

dự đoán xu hướng phát triển của môi trường kinh doanh ngày càng trở nên cấp thiết đối với mỗi doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hội nhập với nền kinh tế thế giới hiện nay Công việc nghiên cứu và dự đoán càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp sẽ có tính khả thi cao bấy nhiêu

Trên cơ sở xác định được kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp cần cụ thể hoá các mục tiêu phát triển đó trong từng giai đoạn nhất định, gọi là mục tiêu ngắn hạn Việc doanh nghiệp xác định được các mục tiêu ngắn hạn và thực hiện các biện pháp để đạt được mục tiêu đó cũng chính là từng bước thực hiện kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong từng hoàn cảnh cụ thể, có những mục tiêu ngắn hạn không phải là sự lựa chọn tối ưu cho hiệu quả của doanh nghiệp trong thời điểm đó, nhưng xét về mặt dài hạn, chỉ có thực hiện mục tiêu ngắn hạn đó mới phục vụ được việc thực hiện kế hoạch dài hạn Khi đó, doanh nghiệp phải

Trang 20

thực hiện mục tiêu đã đặt ra để đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch phát triển dài hạn của mình

Chính vì vậy, công tác định hướng phát triển doanh nghiệp trở nên cực

kỳ quan trọng để đề ra được những mục tiêu ngắn hạn mà doanh nghiệp cần phải đạt được, để có điều kiện thực hiện mục tiêu dài hạn, đạt được hiệu quả dài hạn, tránh để cho doanh nghiệp theo đuổi hiệu quả ngắn hạn, nhiều khi mâu thuẫn với chính mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp

Trong khuân khổ luận văn chúng ta chỉ tập trung xem xét và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo cách phân loại hiệu quả ở góc độ kinh tế, trong đó chủ yếu là hiệu quả kinh doanh

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Từ cách hiểu hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định Trình

độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo

ra kết quả ở mức độ nào Vì vậy có thể mô tả hiệu quả bằng công thức chung nhất như sau:

H= K/ C Trong đó: H- hiệu quả

K- kết quả đầu ra

C - nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó

Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguồn lực đầu vào đem lại mấy đồng kết quả đầu ra, hệ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi của chi phí đầu vào càng cao và hiệu quả càng lớn và ngược lại

Kết quả thu được là các chỉ tiêu phản ánh lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh về cơ bản được xác định bằng các chỉ tiêu thể hiện mục đích kinh doanh cần đạt được như doanh số bán ra, lợi nhuận thu được,

Trang 21

Nguồn lực đầu vào là các chỉ tiêu phản ánh các khoản phải bỏ ra của doanh nghiệp khi lựa chọn phương án sản xuất, kinh doanh có nhiều loại nguồn lực khác nhau được thể hiện bằng các chỉ tiêu như: lao động, tài sản, nguồn vốn, chi phí,…

Để tăng (H) người ta thường sử dụng các biện pháp sau:

+ Giảm nguồn lực đầu vào (C), kết quả đầu ra (K) không đổi

+ Giữ nguyên (C), tăng (K)

+ Giảm (C), tăng (K)

Trong tình trạng quản lý điều hành sản xuất bất hợp lý chúng ta có thể cải tiến nhằm sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý tránh gây lãng phí để tăng kết quả đầu ra Nhưng nếu quá trình kinh doanh đã hợp lý thì việc áp dụng những biện pháp trên là bất hợp lý, bởi ta không thể giảm (C) mà không làm giảm (K) và ngược lại Thậm trí ngay cả khi quá trình kinh doanh của ta còn bất hợp lý thì việc áp dụng những biện pháp trên đây đôi khi còn làm giảm hiệu quả Vì vậy, để có một hiệu quả không ngừng tăng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng tăng chất lượng (C)

Chất lượng (C) sẽ tăng khi: nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại hơn,…như thế ta có thể giảm được hao phí nguyên vật liệu, lao động, giảm được số sản phẩm phế phẩm…dẫn đến sản phẩm làm ra có chất lượng cao hơn, giá thành sản phẩm

hạ hơn

Như vậy để tăng hiệu quả thì con đường duy nhất là không ngừng đầu

tư công nghệ, nhân lực…qua đó giá trị đầu ra ngày càng tăng hơn đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của toàn doanh nghiệp trên thị trường

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong doanh nghiệp là các chỉ tiêu chất lượng, phản ánh hiệu suất kinh doanh hay hiệu suất sử dụng các yếu tố

cơ bản của quá trình sản xuất

Trang 22

1.1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp, các chỉ tiêu đó

phải phản ánh được “sức sản xuất” cũng như “sức sinh lợi” của từng yếu tố,

từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung:

+ Nhóm chỉ tiêu sức sinh lợi như: suất sinh lợi của tài sản, suất sinh

lợi của vốn chủ sở hữu, suất sinh lợi của lao động

1 Suất sinh lợi của

tài sản (ROA) =

Lãi ròng Tổng tài sản bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Hệ số này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và có hiệu quả

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

3 Suất sinh lợi của

lao động =

Lãi ròng Tổng số lao động bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một lao động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

+ Nhóm chỉ tiêu năng suất (sức sản xuất) như: chỉ tiêu năng suất của

lao động theo sản lượng, năng suất của lao động theo doanh thu, năng suất của tài sản theo sản lượng, năng suất của tài sản theo doanh thu

- Các chỉ tiêu năng suất của lao động:

Trang 23

4 Năng suất của lao

động theo sản lượng =

Sản lượng Tổng số lao động bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một lao động tạo ra bao nhiêu sản lượng cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

5 Năng suất của lao

động theo doanh thu =

Doanh thu Tổng số lao động bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một lao động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

- Các chỉ tiêu năng suất của tài sản:

6 Năng suất của tài

sản theo sản lượng =

Sản lượng Tổng tài sản bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu sản lượng cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

7 Năng suất của tài

sản theo doanh thu =

Doanh thu Tổng tài sản bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Hệ số này càng cao càng có hiệu quả

Ngoài các chỉ tiêu trên còn có nhiều chỉ tiêu khác, tùy thuộc vào mục đích và nội dung của việc nghiên cứu mà chúng ta có thể lựa chọn, xem xét cụ thể những chỉ tiêu phân tích thích hợp

Trang 24

1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là chỉ tiêu phản ánh mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển chung của nền kinh tế Đó là sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước thông qua hình thức thuế, thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo từng bước thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Như vậy các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội của hoạt động sản xuất kinh doanh thường được phản ánh thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau đây:

1 Tiền lương bình

quân của 1 lao động =

Tổng quỹ lương bình quân Tổng lao động bình quân

2 Thu nhập bình quân

của 1 lao động =

Tổng thu nhập CNVC bình quân Tổng lao động bình quân

Hai chỉ tiêu trên cho biết bình quân trong kỳ một lao động được hưởng bao nhiêu đồng tiền lương hoặc đồng thu nhập từ phía doanh nghiệp, hệ số này càng cao chứng tỏ tiền lương và thu nhập của người lao động được hưởng càng nhiều và ngược lại

3 Suất sinh lợi

của tài sản =

Tổng số nộp ngân sách Tổng tài sản bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng cho thu ngân sách Nhà nước Hệ số này càng cao càng thể hiện sự đóng góp của tài sản doanh nghiệp cho ngân sách Nhà nước càng nhiều,hiệu quả càng cao và ngược lại

4 Suất sinh lợi của

vốn chủ sở hữu =

Tổng số nộp ngân sách Tổng VCSH bình quân

Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng cho thu ngân sách Nhà nước Hệ số này càng cao càng

Trang 25

thể hiện sự đóng của vốn chủ sở hữu cho ngân sách Nhà nước càng nhiều, hiệu quả càng cao và ngược lại

1.1.4 Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh

1.1.4.1 Đánh giá khái quát các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh

Đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế là kết quả kinh doanh, biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, dưới sự tác động của các chỉ tiêu kinh tế mới là quá trình “định tính” Do vậy, để phân tích cần lượng hoá tất cả các chỉ tiêu phân tích và nhân tố ảnh hưởng ở những chỉ số xác định và với mức độ biến động xác định

Các chỉ tiêu cần tính toán lượng hoá cụ thể gồm: các chỉ tiêu sức sinh

lợi, các chỉ tiêu sức sản xuất

Để có thể tính toán được các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần sử dụng số liệu của các bộ phận thống kê, kế toán, các phòng ban

nghiệp vụ trong doanh nghiệp như: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối

kế toán, báo cáo công tác nhân sự trong doanh nghiệp,…

Trên cơ sở các chỉ tiêu hiệu quả tính toán được cần so sánh trị số của các chỉ tiêu hiệu quả giữa:

- Kỳ sau với kỳ trước

- Thực hiện với kế hoạch

- Doanh nghiệp với trung bình ngành

Kết quả so sánh các chỉ tiêu hiệu quả chỉ ra cho ta thấy doanh nghiệp

đã và đang kinh doanh có hiệu quả hay không, tăng hoặc giảm bao nhiêu, chỉ tiêu nào tăng, chỉ tiêu nào giảm Từ đó đưa ra dự báo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai

1.1.4.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh

a) Phân tích kết quả đầu ra

Để phân tích kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ta thường phân tích các chỉ tiêu chính như: Tổng sản lượng; Doanh thu; Lợi nhuận

Trang 26

Nhiệm vụ của việc phân tích kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là:

- Thứ nhất: Phải thu thập các thông tin số liệu đã và đang diễn ra về các

chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ các bộ phận thống

kê, kế toán, các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp

- Thứ hai: Phân tích tình hình hoàn thành kế hoạch lần lượt các chỉ tiêu

trong toàn bộ các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, bằng những kết quả phân tích cụ thể

- Thứ ba: Phân tích các nguyên nhân đã và đang ảnh hưởng tích cực và

tiêu cực đến tình hình hoàn thành kế hoạch từng chỉ tiêu, tìm ra các nguyên nhân sinh ra các biến động các chỉ tiêu kết quả đầu ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ tư: Cung cấp tài liệu phân tích kết quả kinh doanh, các dự báo

tình hình kinh doanh sắp tới, các kiến nghị theo trách nhiệm chuyên môn đến lãnh đạo và các bộ phận quản lý của doanh nghiệp

b) Phân tích các yếu tố đầu vào

Để phân tích các yếu tố đầu vào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ta thường phân tích các chỉ tiêu chính như: Lao động; Tài sản; Nguồn vốn…

Nhiệm vụ của việc phân tích các yếu tố đầu vào trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là:

- Thứ nhất: Thu thập tất cả những thông tin số liệu đã và đang diễn ra

về các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào kinh doanh của doanh nghiệp, từ các bộ phận thống kê, kế toán, các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp

- Thứ hai: Phân tích tình hình biến động của các yếu tố đầu vào, so

sánh với cùng kỳ năm trước, tìm ra mối liên hệ tương quan với các chỉ tiêu kết quả đầu ra theo thời gian, theo kế hoạch được giao Từ đó phân tích các nguyên nhân đã và đang ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến các chỉ tiêu yếu

Trang 27

tố đầu vào, xác định chính xác các nguyên nhân sinh ra các biến động các yếu

tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ ba: Cung cấp tài liệu phân tích các yếu tố đầu vào, các dự báo

tình hình kinh doanh sắp tới, các kiến nghị theo trách nhiệm chuyên môn đến lãnh đạo và các bộ phận quản lý kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.5 Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh

Căn cứ vào kết quả phân tích, tính toán, dự báo cần phải chỉ ra các nguyên nhân chính gây ra sự biến động về các chỉ tiêu hiệu quả, các yếu tố đầu vào Muốn vậy cần phải phân tích các nhân tố tác động đến kết quả của quá trình kinh doanh Có rất nhiều nhân tố tác động đến kết quả của quá trình kinh doanh, có thể phân loại theo các tiêu thức cơ bản sau đây:

1.1.5.1 Phân loại theo môi trường kinh doanh

Theo cách phân loại này được chia thành hai loại nhân tố sau đây:

a) Các nhân tố bên trong

- Thứ nhất: Đội ngũ cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp:

Đối với quá trình sản xuất, chỉ với trang thiết bị, máy móc với kỹ thuật sản xuất tiên tiến thôi chưa đủ, nếu đội ngũ lao động không đảm bảo về trình

độ đủ để vận hành, sử dụng một cách thành thạo các trang thiết bị đó thì sẽ không thể phát huy tác dụng của máy móc thiết bị Máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ sử dụng lực lượng lao động của doanh nghiệp thì mới phát huy được tác dụng, tránh lãng phí

Nhân tố quan trọng nhất tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi một doanh nghiệp chính là yếu tố con người Đội ngũ cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp chính là đội ngũ sẽ thực hiện các quyết định của nhà quản lý, vận hành các máy móc thiết bị để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm Lực lượng lao động của doanh nghiệp tác động trực tiếp tới việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì:

Trang 28

+ Bằng lao động và sự sáng tạo của mình, lực lượng lao động cải tiến trong việc vận hành trang thiết bị, máy móc, nâng cao hiệu quả sử dụng chúng, nâng cao công suất, tận dụng nguyên vật liệu, làm tăng năng suất Vì vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ tay nghề của đội ngũ lao động

có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Lực lượng lao động có kỷ luật, chấp hành đúng các quy định về thời gian, quy trình sản xuất, quy trình bảo dưỡng máy móc thiết bị sẽ tăng năng suất lao động, tăng độ bền của thiết bị, giảm chi phí sửa chữa và nâng cao chất lượng sản phẩm

Vì vậy, đối với mỗi doanh nghiệp, công tác bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu và thực tế đã cho thấy, chỉ khi có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, có tác phong làm việc khoa học, có tổ chức, kỷ luật thì doanh nghiệp mới

có thể thành công

- Thứ hai: Cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp:

Một nhân tố không kém phần quan trọng trong việc ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cơ cấu tổ chức của hệ thống quản lý trong doanh nghiệp Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ phát huy được năng lực của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp, giảm chi phí quản lý, tăng năng suất lao động, hướng tới mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp

Mỗi một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chiến thắng trong cạnh tranh với các lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hoá sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng Để đảm bảo doanh nghiệp giành chiến thắng trong cạnh tranh, khả năng quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp đặc biệt quan trọng Quản trị kinh doanh thể hiện sự kết hợp giữa kiến thức khoa học và nghệ thuận kinh doanh của các nhà quản lý, với phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việ duy trì, phát triển của doanh nghiệp

- Thứ ba: Trình độ công nghệ của doanh nghiệp:

Trang 29

Đối với các doanh nghiệp, trình độ công nghệ của máy móc, thiết bị mang tính chất quyết định đối với quá trình sản xuất của doanh nghiệp đó Thiết bị, máy móc có công nghệ, kỹ thuật hiện đại sẽ có những tác dụng sau tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

+ Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giảm chi phí tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm

+ Giảm cường độ làm việc của người lao động, tăng năng suất lao động của công nhân, làm giảm hao phí nhân công trên một đơn vị sản phẩm

+ Hạn chế việc thải các chất độc hại ra môi trường, đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, giảm thiểu chi phí xử lý chất thải

Vì vậy, cơ sở vật chất về máy móc thiết bị là nhân tố rất quan trọng trong việc tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị tác động mạnh

mẽ bởi tính hiện đại, đồng bộ, tình hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm việc của máy móc thiết bị Tuy nhiên, việc đầu tư nâng cấp máy móc thiết bị luôn luôn đi kèm với việc phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư lớn, thiết bị càng hiện đại, số tiền đầu tư càng lớn Vì vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ càng giữa lợi ích do việc nâng cấp trang thiết bị mang lại và chi phí để nâng cấp trang thiết bị

Trong thời đại tốc độ phát triển của khoa học công nghệ như vũ bão hiện nay, công nghệ phát triển nhanh chóng, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng ngắn Do vậy, sự đổi mới trang thiết bị và công nghệ ngày càng đóng vai trò quyết định tới sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh việc trang bị máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, một doanh nghiệp nếu biết quản lý tốt, sử dụng hợp lý số lượng cán bộ công nhân viên, xây dựng và đào tạo một đội ngũ công nhân lành nghề, vận hành tốt và phát huy cao nhất hiệu quả của thiết bị thì sẽ nâng cao được hiệu quả lao động, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để làm được điều này, những người làm quản lý phải luôn quan tâm tới đời sống

Trang 30

của người lao động, luôn tạo mọi điều kiện để họ được học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề từ đó nâng cao năng suất lao động - một nhân tố góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

b) Các nhân tố bên ngoài

Bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù hoạt động trong lĩnh vực gì cũng đều

là một trong những phần tử cấu thành nền kinh tế quốc dân Ngày nay, trong hoàn cảnh thương mại quốc tế đang phát triển mạnh mẽ thì doanh nghiệp có thể coi là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động rất lớn từ môi trường bên ngoài

- Thứ nhất: Chính sách của Nhà nước:

Trước đây nước ta duy trì nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nghĩa

là thực hiện chính sách tự cung tự cấp, khép cửa, không quan hệ với bên ngoài Từ đó đã làm giảm đi sự phát triển kinh tế cũng như kìm hãm năng lực phát triển của các đơn vị kinh tế trong nước, trong thời kỳ này sự hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước kéo theo sự trì trệ của nền kinh tế quốc dân

Từ khi Chính phủ thay đổi cách quản lý nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì bộ mặt của nền kinh tế đã có sự thay đổi, chính sách mở cửa đã thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển Các doanh nghiệp trong nước có thể được tiếp nhận các nguồn lực, vốn của nước ngoài làm cơ sở cho việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh

Các chính sách của Nhà nước bao giờ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một chính sách độc quyền việc cung cấp một mặt hàng nào đó bao giờ cũng là cơ hội để cho một

số ít những doanh nghiệp được phép kinh doanh mặt hàng đó thu lợi nhuận cao Môi trường pháp lý bao gồm các bộ luật, các văn bản dưới luật, các quy phạm pháp luật, các rào cản thuế quan, chính sách tín dụng, luật lao động, chính sách tiền lương đều có những tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hiệu

Trang 31

quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Mỗi một sự thay đổi trong các đường lối chính sách của Nhà nước đều có thể làm thay đổi hiệu quả của hoạt động của nền kinh tế, muốn nền kinh tế phát triển thì Nhà nước cần phải nghiên cứu để đưa ra những chính sách kinh tế hợp lý và phù hợp nhất, nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong nước có môi trường kinh doanh thuận lợi

Một môi trường pháp luật có tính cạnh tranh cao, bình đẳng, tạo nền tảng cho các mối quan hệ kinh tế lành mạnh sẽ là một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến hành cạnh tranh một cách lành mạnh, tạo sự tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn lực của xã hội và khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới các lợi ích xã hội

- Thứ hai: Nhà cung cấp:

Quá trình sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp đều gắn liền với các yếu tố đầu ra và các yếu tố đầu vào Cùng một quá trình sản xuất, một doanh nghiệp có được lợi thế về các yếu tố đầu vào thuận lợi hơn các doanh nghiệp khác thì họ sẽ có điều kiện giảm giá thành, tăng cường chất lượng hàng hoá trong khi vẫn giữ được giá bán mang tính cạnh tranh cao Chính vì nguyên nhân này nên trong nền kinh tế hiện đại, nhân tố nhà cung cấp cũng chiếm một vai trò quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp giữ được nhà cung cấp ổn định, mang tính chuyên nghiệp cao, đồng thời không phải phụ thuộc vào số ít nhà cung cấp trên thị trường sẽ

có được tính chủ động cao trong việc hình thành nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào, giúp doanh nghiệp chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh

- Thứ ba: Đối thủ cạnh tranh:

Trong nền kinh tế thị trường, đối với các ngành không chịu sự kiểm soát độc quyền của Nhà nước, cuộc chiến cạnh tranh với các đối thủ là một điều không thể tránh khỏi Khi thị trường chỉ có ít đối thủ cạnh tranh thì các nhà cung cấp có thể cùng nhau thoả thuận để kiểm soát thị trường, nhưng khi

có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì một hoặc một số doanh

Trang 32

nghiệp không thể nào tập hợp được các đối thủ để cùng thoả thuận kiểm soát thị trường

Khi một doanh nghiệp tham gia vào thị trường với quy mô lớn hơn hẳn các doanh nghiệp khác trên thị trường, với một tiềm lực tài chính mạnh, năng lực sản xuất lớn, thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại, có đủ tiềm năng để chiếm lĩnh một thị phần lớn thì doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng chiếm một vai trò quan trọng, điều phối trên thị trường cung cấp hàng hoá đó Ngược lại, khi doanh nghiệp có quy mô nhỏ so với đối thủ cạnh tranh thì sẽ chịu nhiều tác động chi phối của các hoạt động của doanh nghiệp có quy mô lớn hơn trên thị trường Vì vậy có thể nói, đối thủ cạnh tranh cũng là một trong những nguyên nhân bên ngoài tác động lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ tư: Các yếu tố văn hoá - xã hội:

Mỗi dân tộc, mỗi đất nước, thậm chí mỗi vùng, miền trên đất nước đều

có những phong tục, tập quán khác nhau, các yếu tố văn hoá thường có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán tiêu dùng hay mua sắm của người dân Vì vậy, trước khi thâm nhập vào một thị trường mới, các doanh nghiệp đều phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng về phong tục, tập quán của địa phương Có như thế doanh nghiệp mới có cơ hội phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường mới

Bên cạnh những yếu tố về văn hoá, điều kiện chính trị - xã hội cũng có tác động đến tinh thần của người lao động, người tiêu dùng Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về các chính sách kinh tế (chính sách bình đẳng trong đối xử với các doanh nghiệp, các biện pháp đảm bảo quyền lợi và tài sản của các nhà đầu tư ), các chính sách đảm bảo quyền lợi của người lao động (chế

độ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội ), mức sống trung bình của người dân của một nền kinh tế sẽ là những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đó

Các nhân tố về cơ sở hạ tầng xã hội cũng đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Điều kiện

Trang 33

cơ sở hạ tầng của địa phương, sự phát triển của các ngành có liên quan như giao thông, viễn thông, công nghiệp sẽ có tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ năm: Môi trường quốc tế và khu vực:

Ngày nay, các nền kinh tế không thể chỉ đóng cửa tự cấp, tự túc mà phải hoà mình với xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực Khi trở thành một phần của nền kinh tế khu vực và thế giới, mọi xu thế, biến động về chính trị, xã hội, kinh tế trên phạm vi toàn thế giới đều có ảnh hưởng tới nền kinh tế trong nước Là một bộ phận của nền kinh tế, tất cả các doanh nghiệp đều chịu những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực từ những biến động đó: những xu hướng chính trị, các chính sách bảo hộ và mở cửa, các cuộc chiến tranh hay đơn giản chỉ là sự phát triển quá nóng của một vài nền kinh tế lớn đều có tác động tới tình hình sản xuất kinh doanh của mỗi một doanh nghiệp

1.1.5.2 Phân loại theo nội dung kinh tế của nhân tố

Theo cách phân loại này được chia thành hai loại nhân tố sau đây:

số lượng vật tư, tiền vốn,…Những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quy

mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

thu, sản lượng…Thường ảnh hưởng có tính dây chuyền, từ khâu cung ứng đến sản xuất, đến tiêu thụ và từ đó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của

doanh nghiệp

1.1.5.3 Phân loại theo tính tất yếu của nhân tố

Theo cách phân loại này được chia thành hai loại nhân tố sau đây:

doanh do chi phối của bản thân doanh nghiệp, như: giảm chi phí sản xuất, tăng thời gian lao động, tiết kiệm các nguồn lực,…là tuỳ thuộc vào sự nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp

Trang 34

b) Các nhân tố khách quan: Phát sinh và tác động đến kết quả

kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu, ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp, như: giá cả thị trường, thuế suất…

Việc phân tích kết quả kinh doanh theo sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan giúp cho doanh nghiệp đánh giá đúng đắn những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và tìm hướng tăng nhanh hiệu quả kinh doanh

1.1.5.4 Phân loại theo tính chất của nhân tố

Theo cách phân loại này được chia thành hai loại nhân tố sau đây:

a) Các nhân tố số lượng: Phản ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh

doanh, như: số lượng lao động, tổng sản lượng, doanh thu bán hàng…

b) Các nhân tố chất lượng: Phản ánh hiệu suất kinh doanh, như: giá

thành đơn vị sản phẩm, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn…

Phân tích kinh doanh theo hướng tác động của nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho việc đánh giá phương hướng kinh doanh, chất lượng kinh doanh, vừa có tác dụng trong việc xác định trình tự sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh

1.1.6 Phương hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, cần thực hiện các biện pháp chính sau:

1.1.6.1 Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh

Nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng với những sự biến động đó, xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh năng động Chỉ trên cơ sở chiến lược đó, doanh nghiệp mới có thể phát hiện và tận dụng các thời cơ, đồng thời phát hiện và đề ra những biện pháp thích hợp để chống lại các mối đe doạ từ môi trường bên ngoài Chiến lược kinh doanh phải đạt được các yêu cầu sau:

+ Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phải xây dựng gắn với thị trường, trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhu cầu thị trường và khai thác tối đa

Trang 35

các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp Đồng thời, chiến lược phải có tính linh hoạt cao, không chỉ đề ra những vấn đề cụ thể mà nhằm đề ra hướng đi cho doanh nghiệp trên thị trường

+ Trong chiến lược phải đề ra các mục tiêu then chốt, những vùng kinh doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó

+ Chiến lược kinh doanh phải bao trùm và hài hoà giữa chiến lược kinh doanh chung và các chiến lược kinh doanh bộ phận (chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả )

1.1.6.2 Nâng cao trình độ và tạo động lực cho đội ngũ lao động:

Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp cần đầu tư thoả đáng để phát triển quy mô bồi dưỡng lại và đào tạo mới lực lượng lao động cũng như đội ngũ cán bộ có tri thức chất lượng cao trong doanh nghiệp của mình: nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật để khai thác tối ưu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến

Đối với các cán bộ quản lý đặc biệt phải tuyển chọn kỹ càng, có trình

độ hiểu biết, am hiểu về các kiến thức xã hội, văn hoá, quản lý, tâm lý, kinh

tế, pháp luật, tổng hợp những tri thức của cuộc sống và phải biết vận dụng những kiến thức đó vào tổ chức và ra quyết định trong thực tiễn hoạt động của

doanh nghiệp

1.1.6.3 Tăng cường công tác quản trị và tổ chức sản xuất:

Một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, có cơ chế ra quyết định nhanh chóng là một mẫu doanh nghiệp thích ứng với nền kinh tế thị trường với nhiều biến động Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, cần phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức Có như thế, hoạt động của doanh nghiệp mới được thực hiện đi vào nề nếp, tránh sự chồng chéo giữa chức năng và nhiệm

Trang 36

vụ của các bộ phận, duy trì và bảo đảm sự cân đối trong hoạt động của bộ máy

Trong công tác quản trị không thể không nhắc đến vai trò của hệ thống thông tin trong doanh nghiệp, hệ thống này bao gồm các thành phần liên quan mật thiết đến nhau từ khâu thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá và ra quyết định Hệ thống thông tin của doanh nghiệp phải được thường xuyên cập nhật,

bổ sung, được thiết kế phù hợp với khả năng khai thác của doanh nghiệp và đảm bảo vận hành với chi phí thấp nhất

1.1.6.4 Đổi mới công nghệ, kỹ thuật:

Đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp là điều kiện sống còn đối với các doanh nghiệp trong cuộc cách mạnh khoa học kỹ thuật ngày nay; Tuy nhiên, công tác đổi mới công nghệ, đầu tư thiết bị cần có những điểm lưu ý sau:

+ Dự đoán đúng nhu cầu của thị trường

+ Lựa chọn được công nghệ phù hợp, tránh sử dụng những công nghệ lạc hậu hoặc quá hiện đại

+ Có giải pháp huy động vốn hợp lý, hiệu quả: vốn cần cho đổi mới công nghệ rất lớn, vì vậy cần sử dụng vốn hợp lý, đầu tư đúng công nghệ cần thiết cho doanh nghiệp

1.1.6.5 Tăng cường mở rộng quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội:

Cùng với sự phát triển của xã hội, mối quan hệ giữa các thành phần trong xã hội ngày càng chặt chẽ, doanh nghiệp cần tranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế các khó khăn của môi trường bên ngoài:

+ Giải quyết tốt mối quan hệ với khách hàng

+ Tạo sự tín nhiệm, uy tín trên thị trường, xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp

+ Giải quyết tốt mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, cung ứng: làm giảm áp lực vốn đối với doanh nghiệp, tăng cường xây dựng hình ảnh doanh nghiệp

Trang 37

+ Hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật

Đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là có ý nghĩa sống còn, nó giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tích luỹ được nguồn vốn để tái đầu tư phát triển doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng và củng cố hình ảnh của mình trên thị trường, tăng khả năng thích ứng với các biến động của môi trường kinh doanh Đây chính là việc mà mỗi doanh nghiệp đều phải tích cực thực hiện nếu muốn tiếp tục đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường

1.2 Đặc điểm kinh doanh xăng dầu có ảnh hưởng đến HQKD

1.2.1 Đặc điểm kinh doanh xăng dầu

1.2.1.1 Xăng dầu là một ngành hàng đặc biệt

a) Xăng dầu- mặt hàng chiến lược của Nhà nước:

Xăng dầu và những sản phẩm từ dầu mỏ là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu cực kỳ quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đất nước Xăng dầu cung cấp năng lượng chính cho cho các thiết bị của ngành vận tải ôtô, đường sắt, máy bay, tầu thủy, luyện cán thép, xi măng, thủy tinh, đánh bắt và chế biến thủy, hải sản, …đặc biệt có ý nghĩa trong quốc phòng, an ninh, và đời sống hàng ngày của nhân dân

Các sản phẩm dầu mỏ là nguyên liệu, là các chất phụ gia để sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoặc là những yếu tố để đảm bảo máy móc thiết bị hoạt động bình thường, an toàn, có hiệu quả

Nhựa đường là sản phẩm của công nghiệp dầu mỏ góp phần quan trọng trong kế hoạch thực hiện xây dựng, nâng cấp hệ thống giao thông của cả nước Gas hóa lỏng (LPG) một sản phẩm thu được từ việc khai thác dầu mỏ là nguồn chất đốt quan trọng trong một số ngành thủy tinh, xây dựng, đóng tầu…đặc biệt trong sinh hoạt của nhân dân, góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao đời sống nhân dân

Trang 38

Mặt khác, xăng dầu là mặt hàng mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, hàng năm Tổng công ty xăng dầu Việt Nam nộp ngân sách Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, góp phần ổn định giá cả, kìm hãm lạm phát…tạo ra môi trường lành mạnh cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân

b) Xăng dầu- mặt hàng có tính chất đặc biệt:

Xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ có những đặc tính hết sức đặc biệt ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kinh doanh Từ những đặc tính đặc biệt này, yêu cầu phải có những biện pháp, công nghệ thích hợp đáp ứng được những yêu cầu của tính chất đặc biệt đó

- Xăng dầu là sản phẩm ở thể lỏng: trong môi trường bình thường xăng

dầu luôn ở thể lỏng, vì vậy phải có thiết bị tồn chứa đặc biệt, việc vận chuyển, giao nhận, bảo quản phải tuân thủ theo quy luật vận động của chất lỏng Xăng dầu không thể đóng gói được, bao bì chứa đựng phải có yêu cầu riêng và có thể sử dụng được nhiều lần Các yếu tố của môi trường như nhiệt độ, áp suất,…có ảnh hưởng lớn đến việc xác định khối lượng xăng dầu

- Xăng dầu là chất dễ bay hơi: Xăng dầu là sản phẩm được chưng cất từ

dầu mỏ Xăng dầu dễ bay hơi do nhiệt độ sôi của xăng ôtô từ 35-2000C, nhiệt

độ sôi của nhiên liệu phản lực từ 200 -3000C, nhiệt độ sôi của diesel từ

250-3700C nên ở nhiệt độ bình thường 20-350C các mặt hàng xăng dầu đặc biệt là xăng bay hơi rất nhanh Vì vậy, trong quá trình tồn chứa, bảo quản, xuất, nhập

sẽ có một lượng xăng dầu mất đi (hao hụt) ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Để giảm hao hụt cần áp dụng những giải pháp ngăn chặn sự bay hơi của sản phẩm, đặc biệt đối với gas hóa lỏng có nhiệt độ sôi – 420C, sự hóa hơi xảy ra ngay ở điều kiện nhiệt độ, áp suất bình thường, do đó phải chứa trong những bình, bồn chứa chuyên dụng chịu áp lực được chế tạo bằng công nghệ đặc biệt, vận hành theo những quy tắc an toàn nghiêm ngặt

- Xăng dầu là chất dễ cháy nổ: Xăng dầu có nhiệt độ bắt cháy rất thấp

(Xăng ô tô: -360C, Nhiên liệu phản lực JETA1: 380C, diesel: 600C) Mặt khác xăng dầu dễ bay hơi, hơi xăng dầu nặng hơn không khí 5,5 lần, hơi xăng dầu hoà trộn với không khí tạo thành hỗn hợp cháy nổ ở nồng độ rất thấp, khoảng

Trang 39

giới hạn nồng độ nổ của hơi xăng dầu trong không khí tương đối rộng nên rất nguy hiểm về cháy nổ (khoảng giới hạn nồng độ cháy nổ của hơi xăng dầu trong không khí từ 0,5%- 7% thể tích) Xăng dầu nhẹ hơn nước nên loang rộng và phát tán rất nhanh trong môi trường nước Xăng dầu khi cháy tỏa ra năng lượng lớn nhiều khói độc, xăng dầu cháy lan rất nhanh, tốc độ cháy của xăng là 195 kg/m2/h Xăng dầu dẫn điện kém nên trong quá trình bơm rót vận chuyển thường sinh ra hiện tượng tĩnh điện rất nguy hiểm về cháy nổ Xăng dầu có nhiệt độ sôi thấp nên khi xảy ra cháy mà trong bể có nước rất dễ xảy ra sôi trào dẫn đến nổ bể chứa làm cho đám cháy lan rộng khó kiểm soát Vì vậy việc bảo quản, vận chuyển hàng hóa phải tuân theo quy trình đặc biệt, các thiết bị chứa đựng phải đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt

- Xăng dầu có yêu cầu chất lượng cao trong khi tính ổn định thấp: Tính

ổn định là chỉ tiêu biểu thị khả năng thay đổi thành phần và tính chất của nhiên liệu khi bảo quản, vận chuyển và sử dụng Trong quá trình tồn chứa dưới tác động của môi trường, xăng dầu thường bị nhựa hóa, tạo cặn bẩn và làm giảm chất lượng xăng dầu Vì vậy, phải có những biện pháp ngăn ngừa và công nghệ thích hợp

- Xăng dầu- mặt hàng đa dạng, có yêu cầu kỹ thuật cao: Xăng dầu và

các sản phẩm của dầu mỏ rất đa dạng và có yêu cầu kỹ thuật cao vì nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất làm việc của máy móc, tuổi thọ của thiết bị Tính

đa dạng và yêu cầu kỹ thuật chặt chẽ làm cho hàng hóa có tính phức tạp cao, đòi hỏi phải có những công nghệ, quy trình thích hợp và phải có thiết bị tương ứng

- Xăng dầu- chất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường lớn: Do tính chất

lý hóa xăng dầu không hòa tan trong nước mà lan nhanh trên mặt nước, khó phân hủy, dễ khuyếch tán trong không khí, khi xâm nhập vào môi trường sẽ phá hủy môi trường sống rất mãnh liệt Sau khi cháy hoặc đã qua sử dụng, những chất do nó sinh ra đều có tác hại đến sự sống một cách lâu dài

Trang 40

1.2.1.2 Xăng dầu là mặt hàng thiết yếu chịu sự quản lý của Nhà nước

Do nhu cầu sử dụng xăng dầu ngày một gia tăng, đồng thời nhận thức

rõ vị trí thiết yếu cũng như tầm quan trọng và tính phức tạp trong khâu quản

lý phân phối loại vật tư chiến lược này, nên ngày 19/01/1995 Bộ thương mại

ra quyết định số 52/TM/TCCB hợp nhất Công ty dầu lửa và Tổng công ty xăng dầu thành Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), với tên giao dịch quốc tế là VietNam National Petroleum Corporation-viết tắt là

Petrolimex, lấy biểu tượng đặc trưng là chữ “P”, trụ sở : số 1- Khâm Thiên-

Hà Nội

Mục tiêu kinh doanh hiện nay của Petrolimex là đa dạng hoá có chọn lọc mặt hàng và loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, nhưng kinh doanh xăng dầu vẫn là chính chiếm vị trí chủ đạo

Việc kinh doanh xăng dầu chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của tình hình biến động giá cả trên thị trường xăng dầu thế giới, từ đó làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong nước

Đồng thời, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu còn chịu sự điều tiết trực tiếp của Nhà nước đối với giá cả các mặt hàng xăng dầu bán ra trên thị trường Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu chỉ được phép bán các mặt hàng theo các mức giá trần quy định của Nhà nước theo từng thời điểm, không được phép tự ý nâng giá bán Vì vậy trên thực tế có những thời kỳ việc kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu rơi vào tình trạng thua

lỗ nhưng vẫn được Nhà nước chấp nhận bù lỗ

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

Với mục tiêu phục vụ xã hội là chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu xăng dầu cho các tổ chức, cá nhân trong cả nước và mục tiêu kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nên việc tính toán các chỉ tiêu hiệu quả của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cũng sử dụng các chỉ tiêu giống như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, đó là các chỉ tiêu sức sinh lợi và các chỉ tiêu năng suất (sức sản xuất), song cơ bản nhất vẫn là nhóm chỉ tiêu năng suất

Ngày đăng: 30/06/2018, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Bình (2001), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Khác
2. Bộ vật tư (1998), Định mức hao hụt xăng dầu (trong xuất, nhập, vận chuyển và tồn chứa), Hà Nội Khác
3. Đặng Đình Cung (2002), Bảy công cụ quản lý chất lượng, NXB Trẻ, Hà Nội Khác
4. Phạm Văn Được, Đặng Kim Cương (1997), Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền (2004), Quản trị kinh doanh:, NXB LĐ-XH, Hà Nội Khác
6. Phạm Hữu Huy (1998), Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Lưu Thị Hương, Vũ Duy Hào (2003), Tài chính doanh nghiệp, NXB LĐ-XH, Hà Nội Khác
8. Phạm Ngọc Kiểm (1999), Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Khoa kế toán kiểm toán- Trường Đại học KTQD, Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
10. Nghị quyết Hội nghi lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, tháng 9/2001 Khác
11. Nguyễn Đình Phan (1996), Quản trị kinh doanh, những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Năng Phúc (2002), Phân tích kinh tế doanh nghiệp, NXB tài chính, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Hải Sản (1996), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
14. Đỗ Hoàng Toàn (2002), Quản lý kinh tế, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Lê Văn Tâm, Ngô Kim Thanh (2004), Quản trị doanh nghiệp, NXB LĐ-XH, Hà Nội Khác
16. Từ điển thuật ngữ kinh tế học: NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội- 2001 Khác
17. Trường Đại học Tài chính- Kế toán, Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội Khác
18. Đỗ Văn Phức (2003), Khoa học quản lý hoạt động kinh doanh, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
19. Phan Thị Ngọc Thuận (2003), Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hoá nội bộ doanh nghiệp:, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
20. Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (2001), Quy định quản lý và hạch toán kinh doanh xăng dầu, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w