Riêng đối với ngành điện, việc cổ phần hóa góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh trạnh của ngành điện nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung nhằm tăng năng lực tài chính, đầu tư đổi m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ THU HÀ
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỔ PHẦN HOÁ
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN MINH DUỆ
HÀ NỘI - 2005
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỔ
PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của loại hình công ty
1.3 Khái quát cổ phần hoá các DNNN trên thế giới –
những kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam
1.4 Vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ở Việt
Nam, những vấn đề đặt ra trong công cuộc cải cách
DNNN
28
Trang 31.6 Đối tượng, hình thức và quy trình cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nước
34
1.6.3 Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 36
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VỀ MÔ HÌNH
QUẢN LÝ VÀ XU THẾ CỔ PHẦN HÓA NHÀ MÁY
NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI
2.1.2 Đặc điểm mô hình quản lý sản xuất và tổ chức bộ
máy của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại
42
2.1.2.1 Đặc điểm mô hình quản lý sản xuất ở Nhà máy
nhiệt điện Phả Lại
42
2.1.2.2 Đặc điểm về quy trình công nghệ và tổ chức sản
xuất kinh doanh của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại
43
2.1.2.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý Nhà máy nhiệt
điện Phả Lại
45
2.2 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy
nhiệt điện Phả Lại trong những năm gần đây
53
Trang 42.2.4 Những thuận lợi, khó khăn của Nhà máy nhiệt điện
Phả Lại
57
2.3 Sự cần thiết phải đổi mới mô hình quản lý và xu thế cổ
phần hóa Nhà máy nhịêt điện Phả Lại
59
2.5 Những khó khăn, thuận lợi khi cổ phần hoá Nhà máy
nhịêt điện Phả Lại
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỔ PHẦN HOÁ
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI
Trang 61 Qui định mới về quản lý tài chính và cổ phần hoá DNNN - Nhà xuất bản tài chính, năm 2004
2 Những điều càn biết về cổ phần hoá DNNN - Nhà xuất bản lao động, năm
6 Đổi mới DNNN ở Việt Nam – Nhà xuất bản kinh tế xã hội, năm 2002
7 Một số quan điểm cơ bản tiếp tục cảI tổ khu vực DNNN – Nhà xuất bản kinh
tế xã hội, năm 2003
II CÁC LOẠI BÁO CÁO, TẠP CHÍ:
1 Nghị định số : 28/1996/NĐ-CP ngày 07/05/1996 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
2 Nghị định số : 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
3 Nghị định số : 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
4 Nghị định số : 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
5 Nghị định số : 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ về Ban hành quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước và quản lý vốn Nhà
Trang 7về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN, Tổng công ty Nhà nước
7 Thông tư số 179/2002/TT-BTC ngày 20/11/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 64/2004/NĐ- CP ngày 19/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần
8 Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần
9 Báo cáo quyết toán hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại các năm 2002,2003,2004
10 Các văn bản pháp luật và các báo cáo về tình hình CPH của các doanh nghiệp thuộc EVN do Ban cổ phần hoá và chứng khoán Tổng công ty điện lực Việt Nam cung cấp
Trang 81 Qui định mới về quản lý tài chính và cổ phần hoá DNNN - Nhà xuất bản tài chính, năm 2004
2 Những điều càn biết về cổ phần hoá DNNN - Nhà xuất bản lao động, năm
6 Đổi mới DNNN ở Việt Nam – Nhà xuất bản kinh tế xã hội, năm 2002
7 Một số quan điểm cơ bản tiếp tục cảI tổ khu vực DNNN – Nhà xuất bản kinh
tế xã hội, năm 2003
II CÁC LOẠI BÁO CÁO, TẠP CHÍ:
1 Nghị định số : 28/1996/NĐ-CP ngày 07/05/1996 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
2 Nghị định số : 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
3 Nghị định số : 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
4 Nghị định số : 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành Công ty cổ phần
5 Nghị định số : 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính Phủ về Ban hành quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước và quản lý vốn Nhà
Trang 9về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại DNNN, Tổng công ty Nhà nước
7 Thông tư số 179/2002/TT-BTC ngày 20/11/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 64/2004/NĐ- CP ngày 19/06/2002 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần
8 Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số: 187/2004/NĐ- CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ về chuyển DNNN thành công ty cổ phần
9 Báo cáo quyết toán hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại các năm 2002,2003,2004
10 Các văn bản pháp luật và các báo cáo về tình hình CPH của các doanh nghiệp thuộc EVN do Ban cổ phần hoá và chứng khoán Tổng công ty điện lực Việt Nam cung cấp
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu từ cuối thập kỷ 80 Đại hôị đảng toàn quốc lần thứ VI đã tiếp tục phát triển thành đường lối đổi mới kinh
tế và nâng chủ trương đổi mới kinh tế lên tầm cao hơn về chất, xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước
Trong quá trình đổi mới đó thì vấn đề đổi mới khu vực kinh tế nhà nước là vấn đề phức tạp, mang tính thời sự và thu hút được sự chú ý quan tâm của Chính phủ, của các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước Làm thế nào để cơ cấu lại khu vực kinh tế Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò chủ đạo của nó theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội VI và VII của Đảng Một trong những giải pháp chiến lược để giải quyết các vấn đề này là tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sở hữu, đưa các yếu tố cạnh tranh làm động lực để nâng cao hiệu quả kinh doanh và xác lập một mô hình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường Đây cũng là một giải pháp có tính phổ biến để cải cách khu vực kinh tế Nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã đi vào cuộc sống của cơ quan quản lý Nhà nước cũng như từng doanh nghiệp Nhà nước Riêng đối với ngành điện, việc cổ phần hóa góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh trạnh của ngành điện nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung nhằm tăng năng lực tài chính, đầu
tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, phát huy vai trò làm chủ thực
sự của người lao động, của các cổ đông, tăng cường sự giám sát của các nhà đầu
tư đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hòa các lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động Ngoài ra cổ phần hóa ngành điện còn thu hút nguồn
Trang 11vốn đầu tư xây dựng các công trình nguồn và lưới điện, đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng cao, giảm áp lực từ việc tăng giá điện
Cũng phải nhận thấy rằng cổ phần hoá ngành điện đóng vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta phát triển Cổ phần hóa ngành điện nói chung và cổ phần hóa các Nhà máy điện nói riêng cũng đóng một vai trò chính và không kém phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở nước
ta Mà đặc biệt là cổ phần hóa Nhà máy nhiệt điện Phả Lại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát huy tính làm chủ của người lao động trong công việc, giảm các khoản chi phí sản xuất, đầu tư các công trình lưới điện để đáp ứng nhu cầu phụ tải ngày càng tăng cao và giảm giá điện
Nhận thức được tính cấp bách của vấn đề cũng như thực hiện quan điểm của mình để góp phần vào công cuộc chung của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn đổi mới hiện nay, Tôi đã chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài:
“ PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỔ PHẦN HOÁ NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI ”
2 Mục đích của luận án
Thông qua nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn quá trình cổ phần hoá của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại; quá trình cổ phần hoá, thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước đã được cổ phần hoá trong nước và trên thế giới để đúc rút những kinh nghiệm, bài học cho công tác cổ phần hoá các Nhà máy Nhiệt điện
ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nhằm nghiên cứu cách thức, kỹ thuật; quá trình tổ chức đề ra phương án và giải pháp để tiến hành cổ phần hoá Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại; Tính khả thi của dự án, những mặt ưu - nhược điểm của việc cổ phần hoá, những
Trang 12ảnh hưởng của nó đến sự hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nhà máy nói riêng, tác động đến đời sống kinh tế xã hội nói chung Trên cơ sở đó nhằm khẳng định, xác lập lại về mặt lý luận cũng như các giải pháp cho thực tiễn nhằm xác định hướng đi phù hợp cho việc cổ phần hoá các Nhà máy nhịêt điện nói riêng hay ở tầm vĩ mô đó là cổ phần hoá ngành điện trong tương lai để không những đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá theo đúng tinh thần nghị quyết của Đảng, chính phủ mà còn nhằm mang lại hiệu quả về kinh tế-xã hội của công tác cổ phần hoá
Trang 13CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ QUÁ TRÌNH CỔ
PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, bản chất và tác dụng của cổ phần hoá
ở Bungari, Hungari, Liên Xô cũ, ở Rumani Các DNNN ở tất cả các nước trên thế giới nhìn chung hoạt động kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp tư nhân, bởi vì:
- Các doanh nghiệp Nhà nước thường hoạt động trong lĩnh vực kinh tế quốc phòng, các công trình công cộng, các ngành kinh tế mà tư nhân không muốn đầu
tư hoặc không có khả năng đầu tư vì yêu cầu vốn rất lớn, hiệu quả lại thấp
- Doanh nghiệp Nhà nước, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước nên tính năng động sáng tạo, trách nhiệm về tài sản và sự gắn bó của người quản lý với doanh
Trang 14nghiệp không thể nào bằng các doanh nghiệp tư nhân, không tránh khỏi lãng phí mất mát
- Các doanh nghiệp Nhà nước thường chịu sự quản lý của nhiều cấp trung gian, bị Nhà nước can thiệp quá sâuvào quá trình điều hành quản lý sản xuất kinh doanh Còn đối với doanh nghiệp tư nhân cấp trên của họ là luật pháp Các doanh nghiệp Nhà nước thường có khuynh hướng độc quyền, ít hoà nhập với thị trường nên sức cạnh tranh trên thị trường yếu
Hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp đã trở thành gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước Mặc dù Nhà nước đầu tư khá nhiều, song hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước vẫn không tăng lên được
Để giải quyết gánh nặng đó, Chính phủ các nước đều có xu hướng giảm bớt
bộ phận khu vực kinh tế Nhà nước bằng cách tư nhân hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được coi là một trong những giải pháp có hiệu quả nhằm xoá bỏ gánh nặng Ngân sách Nhà nước, tuy mức độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở mỗi nước diễn ra khác nhau
- Cổ phần hoá là quá trình kinh tế khách quan Từ khi ra đời đến nay, lịch sử
đã từng chứng kiến nhiều hình thức Công ty cổ phần Vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu các quá trình dẫn đến các hình thức Công ty cổ phần Có thể quá trình
đó là quá trình cổ phần hoá
Như vậy thực chất của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là chuyển quyền sở hữu tài sản và lĩnh vực hoạt động của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông thuộc các thành phần kinh tế Nói cách khác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là quá trình đa dạng hoá quyền sở hữu các doanh nghiệp vốn là của Nhà nước Ở đây cần phân biệt rõ giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá doanh nghiệp Nhà nước
Trang 15Tư nhân hoá là chuyển sở hữu tài sản của Nhà nước vào tay tư nhân hoặc là chuyển các lĩnh vực hoạt động xưa nay do Nhà nước độc quyền sang cho tư nhân
Cổ phần hoá là chuyển sở hữu tài sản và lĩnh vực hoạt động mà lâu nay Nhà nước nắm giữ vào tay các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế Nhà nước hoặc Nhà nước chiếm phần khống chế
Về phương pháp – tư nhân hoá có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: bán toàn bộ, cho không, bán một phần Còn cổ phần hoá là bán toàn bộ hoặc bán một phần doanh nghiệp Nhà nước cho các cổ đông Như vậy, cổ phần hoá và tư nhân hoá doanh nghiệp Nhà nước khác nhau cả về khái niệm, nội dung và cách thức tiến hành
1.1.2 Tác dụng của cổ phần hoá
Một là: phân định rõ ràng quyền sở hữu cuối cùng (thuộc Nhà nước) và quyền sở hữu pháp nhân (thuộc thực thể kinh doanh), quyền kinh doanh Nhà nước chỉ quản lý vĩ mô Doanh nghiệp thực sự trở thành người sản xuất và kinh doanh hàng hoá độc lập, không những có quyền mở rộng kinh doanh, mà còn có quyền xử lý tài sản, thật sự trở thành chủ thể tài sản, chủ thể kinh doanh, chủ thể đầu tư, chủ thể cạnh tranh, chủ thể tự điều tiết, thực sự chuyển đổi cơ chế kinh doanh
Hai là: thể hiện sự thống nhất về vai trò song trùng vừa là người lao động vừa là người chủ sở hữu Cổ phần nội dung là cổ phần ưu đãi, khiến vai trò cổ đông và của người lao động thống nhất với nhau trong cùng một công nhân viên chức Đồng thời, nó gắn chặt đông đảo công nhân viên chức với vận mệnh của doanh nghiệp Với ý nghĩa này, chế độ cổ phần càng phù hợp hơn đối với yêu cầu của khối cộng đồng lao động liên hợp, khiến doanh nghiệp thật sự thành khối liên hợp lợi ích của người lao động
Trang 16Ba là: Tách quyền sở hữu khỏi quyền kinh doanh, giúp ích vào việc chuyên nghiệp hoá chức năng quản lý kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Công ty cổ phần hiện nay là tổ chức đại diện cho nhiều người sở hữu cổ phần, tập trung vốn giao cho người được đào tạo chuyên môn, có năng lực
tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh Đó là kết quả của sự phân công xã hội, khiến quản lý được chuyên môn hoá, trở thành một nghề, có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao tố chất doanh nghiệp, do đó cũng nâng cao năng lực thích ứng với nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh Nếu trước kia do trình độ cạnh tranh thấp, một nhà tư bản quản lý có thể ứng phó được, thì ngày nay trên thị trường cạnh tranh bằng kỹ thuật cao, trí lực cao mà chỉ trực tiếp kinh doanh bằng kinh nghiệm hạn hẹp của người sở hữu thì không thể đứng vững được Chính vì vậy, phải đào tạo một đổi ngũ các nhà kinh doanh có trình độ để điều hành các hoạt động của doanh nghiệp
Bốn là: Thích ứng được với yêu cầu tái sản xuất mở rộng, có lợi cho việc tập trung nguồn vốn trong xã hội Ngày nay, sự phát triển của nền sản xuất hiện đại đòi hỏi phải thống nhất tập trung vốn với tập trung kỹ thuật, phải nhanh chóng lập ra các doanh nghiệp lớn theo mô hình tập trung vốn và kỹ thuật Nếu chỉ dựa vào một nguồn vốn thì không đủ Dù là doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn bằng chế độ cổ phần Có người cho rằng, có thể dựa chủ yếu vào nguồn vốn vay ngân hàng để giải quyết vấn đề vốn Quan điểm này không toàn diện, đành rằng ngân hàng có vai trò lớn trong việc tập trung vốn giúp doanh nghiệp, nhưng không thể thay thế được việc tập trung vốn theo hình thức cổ phần vì:
- Đối với người có tiền, thì ở đâu lợi tức cao thì họ bỏ vào đó Nói chung gửi tiền vào ngân hàng tuy độ rủi ro thấp nhưng mức lãi không cao bằng việc mua
cổ phần Do vậy ở các nước phát triển ngân hàng tuy nhiều nhưng không thể thay
Trang 17thế được các Công ty cổ phần Ngược lại, xu thế thực tế là cả hai đều ngày càng phát triển
- Đại đa số ngân hàng cũng là các doanh nghiệp cổ phầ, một phần khá lớn vốn của các ngân hàng cũng được gom bằng hình thức góp cổ phần
Năm là: hình thức Công ty cổ phần giúp cho việc khơi thông nguồn vốn xuyên khu vực, kết hợp các yếu tố xuyên khu vực Điều này gắn chặt với việc xây dựng và mở rộng thị trường vốn Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá khiến cho các yếu tố sản xuất không ngừng được tổ chức lại, có tính chất xuyên khu vực, lực lượng sản xuất phát triển từ vùng tập trung sang vùng mỏng yếu, từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển Việc phân phối tài nguyên được thực hiện chủ yếu thông qua thị trường tài chính, mà một trong những phương thức thực hiện ấy là giao dịch chứng khoán Xu thế cơ bản của nền sản xuất xã hội hoá
là kết hợp phân công chuyên môn hoá sâu sắc với hiệp tác, liên kết, liên hợp giữa các ngành nghề khác nhau trong cùng một ngành, thực hiện hệ thống hoá phải liên hợp giữa các ngành với nhau, thực hiện đồng bộ hoá và thâm nhập vào nhau,
có trường hợp phải kinh doanh hỗn hợp Sự đen chéo giữa chiều dọc và chiều ngang diễn ra xuyên khu vực, thậm chí diễn ra trên phạm vi thế giới Do vậy, doanh nghiệp do một người đầu tư vốn không đủ sức đảm đương Sự phân bố của kết cấu mạng tất nhiên khiến cho tư bản đan xen vào nhau, thâm nhập vào nhau từ mọi phía, các quần thể doanh nghiệp và mạng lưới doanh nghiệp ra đời thông qua
sự liên hiệp tư bản Một Công ty mẹ nhiều Công ty con – một số lượng nhiều hơn nữa các Công ty cháu, phân bố ở các vùng và các quốc gia khác nhau, quan hệ giữa họ với nhau chủ yếu là sự thâm nhập bằng cổ phần, phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và kinh doanh cùng chia lợi nhuận, rủi ro, chúng có thể vừa sử dụng lợi thế riêng vừa có thể liên hợp lại với nhau thành một lực lượng hiệp tác có hệ thống Từ đó khiến nền sản xuất xã hội phát triển
Trang 18Sáu là: chế độ cổ phần còn giúp ích cho việc mở cửa thị trường, thu hút vốn nước ngoài Có những công trình lớn như đường sắt lớn, đường xe hơi cao tốc, xây dựng thủy lợi, đều có thể áp dụng hình thức Công ty cổ phần để thu hút vốn
và các trang thiết bị kỹ thuật
Tóm lại, chế độ cổ phần thích ứng với đòi hỏi của nền sản xuất xã hội hoá, giúp vào việc hình thành kết cấu mạng của doanh nghiệp, cấu trúc lực lượng sản xuất theo chiều dọc và theo chiều ngang Các doanh nghiệp cổ phần ở các nước đều phát triển rất mạnh và đan xen lẫn nhau, suy cho cùng do đặc điểm của nền sản xuất xã hội hoá quyết định Muốn có hình thức thực hiện chế độ sở hữu tốt thì cũng phải áp dụng hình thức phổ biến theo đòi hỏi của quy luật của nền sản xuất
xã hội hoá hiện đại
1.2 Giới thiệu về Công ty cổ phần
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của loại hình Công ty cổ phần
Công ty cổ phần được hình thành từ thế kỷ XVIII và phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ cách mạng công nghiệp Đầu thế kỷ XX Công ty cổ phần trở thành hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến ở hầu hết các nước có thị trường phát triển
Sự ra đời và phát triển của Công ty cổ phần là kết quả tất yếu do sự đòi hỏi tập trung nâng cao sức sản xuất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Sự phát triển của Công ty cổ phần có thể chia làm bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn mầm mống
Ngay từ thời tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản đã có hình thù đầu tiên của hình thức kinh doanh gọi là “Công ty” đã ra đời Công ty là thực thể kinh tế không phải chỉ có một người bỏ vốn kinh doanh, mà có từ hai người trở lên bỏ vốn kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, từ doanh nghiệp nhóm bạn phát triển thành doanh nghiệp góp vốn Những năm 70 của thế kỷ XVII, vua nước Pháp đã ban hành sắc
Trang 19lệnh của Công ty Năm 1773, tại Luân Đôn, tình hình đầu tiên của Sở giao dịch chứng khoán đã ra đời và năm 1801 thì chính thức được thành lập Thị trường giao dịch chứng khoán Mỹ ra đời năm 1790 Đó là thị trường chứng khoán có liên quan đến doanh nghiệp cổ phần, gồm cả cổ phần tư nhân và cổ phần Nhà nước do Nhà nước đứng ra thành lập Như vậy, hình thù ban đầu của Công ty cổ phần có hai loại: một là doanh nghiệp góp vốn hoặc doanh nghiệp nhóm bạn, hai là do Nhà nước thành lập bằng cách phát hành trái khoán, hoặc doanh nghiệp tư nhân góp vốn Và trên cơ sở phát triển của chế độ tín dụng, thị trường chứng khoán loại nhỏ cũng bắt đầu hình thành
Giai đoạn hai: Giai đoạn hình thành
Trước và sau cuộc cách mạng công nghiệp, chủ yếu là nửa đầu thế kỷ XIX, các Công ty cổ phần chính ra đời với hình thức tổ chức và hình thức phân phối riêng của chúng Thí dụ: năm 1806 phát triển thương mại của Pháp đã có những quy định cơ bản về Công ty cổ phần Thực ra bấy giờ Anh là nước có nhiều Công
ty cổ phần nhất Qua các Công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được rất dễ dàng Bấy giờ công việc xây dựng đường sắt, các công trình lớn tại đa số các nước đều huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu Cổ phiếu đường sắt bấy giờ
có thể bán trao tay, loại giao dịch chứng khoán này có trường hợp vượt ra ngoài biên giới quốc gia, phát hành hoặc bán ra nước ngoài, thu lợi nhuận theo hình thức lợi tức định kỳ Một số doanh nghiệp lớn của tư bản tư nhân cũng bắt đầu phát hành cổ phiếu, đồng thời tách dần người đại biểu quyền sở hữu và người kinh doanh ra làm hai Đặc biệt là ở những Công ty xuất nhập khẩu hàng hoá, như Công ty Đông ấn là doanh nghiệp cổ phần bóc lột thuộc địa Đồng thời, với sự phát triển của các Công ty cổ phần, các sở giao dịch chứng khoán cũng mọc lên một cách phổ biến tại các nước phương Tây
Giai đoạn ba: Giai đoạn phát triển
Trang 20Sau những năm 70 của thế kỷ XIX, Công ty cổ phần phát triển rất nhanh, mọc lên một cách phổ biến ở tất cả các nước, các ngành, quy mô mở rộng mạnh
mẽ, tập trung tư bản diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng thầy, các tổ chức độc quyền ra đời Trong giai đoạn này hầu như tất cả các doanh nghiệp lớn đều áp dụng hình thức cổ phần, hơn nữa các doanh nghiệp lại xâm nhập vào nhau, hình thành “chế độ tham dự” với “chế độ tập trung” Các Công ty nắm giữ cổ phần khống chế ra đời, tạo thành kết cấu sâu chuổi Công ty mẹ, Công ty con, Công ty cháu, hình thành một loạt tập đoàn doanh nghiệp, vượt ra ngoài biên giới quốc gia Lúc này tư bản tài chính đã trở thành hình thái chủ thể tài sản xã hội, ngân hàng kiểm soát công nghiệp, thương nghiệp, đầu sỏ tài chính ra đời Tương ứng với nó, thị trường giao dịch cổ phiếu mọc lên ở tất cả các nước, hình thành các trung tâm tài chính quốc tế, giao dịch chứng khoán hết sức sôi động, nó đã trở thành công cụ phản ánh các dao động về kinh tế và chính trị, đồng thời còn là sân chơi của các nhà đầu cơ Thị trường chứng khoán trong giai đoạn này có tác dụng rất lớn trong việc khơi thông các nguồn vốn trên phạm vi toàn thế giới
Giai đoạn bốn: Giai đoạn trưởng thành
Sau chiến tranh thế giới thứ hai doanh nghiệp cổ phần có những đặc điểm mới
- Dùng hình thức cổ phẩn để lập nên các Công ty xuyên quốc gia và Công
ty đa quốc gia, để liên hợp kinh tế và quốc tế hoá kinh tế cổ phần, hình thành các tập đoàn doanh nghiệp quốc tế
- Thu hút công nhân viên chức mua cổ phần, vừa để làm dịu mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, vừa để thu hút vốn một cách rộng rãi
- Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần tại các nước ngày càng hoàn thiện, pháp luật ngày càng được kiện toàn, và mỗi nước đều có đặc điểm riêng Lịch sử phát triển của chế độ cổ phần nói trên cho thấy, sự phát triển của Công ty cổ phần gắn
Trang 21chặt với sự phát triển của nền sản xuất xã hội hoá và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở chỗ:
Một là: mô hình doanh nghiệp cổ phần chẳng những giúp cho quy mô sản xuất kinh doanh được mở rộng mà còn vượt ra ngoài giới hạn của doanh nghiệp, hình thành các Công ty cổ phần xâm nhập vào nhau, có quan hệ dọc
Hai là: mô hình doanh nghiệp cổ phần có quan hệ trực tiếp với sự phát triển của chế độ tín dụng Sự phát triển đầy đủ của chế độ tín dụng có nghĩa là tiền vốn
đã trở thành máu của nền kinh tế xã hội Sự khơi thông nguồn vốn phản ánh sự xã hội hoá, hàng hoá các yếu sản xuất, là tiêu chí của nền kinh tế hàng hoá phát triển
Ba là: chế độ cổ phần trở nên phổ biến tới mức hàng loạt người lao động mua cổ phiếu, chứng tỏ hình thức này có cơ chế nội tại của nó, có thể giúp cho các chế độ sở hữu xâm nhập vào nhau, giúp người ta chuyển hoá quỹ tiêu dùng thành quỹ sản xuất trong phạm vi toàn xã hội, và gắn chặt với sự vận hành của nền kinh tế thị trường
1.2.2 Đặc điểm của Công ty cổ phần trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường
Có thể thấy rằng mô hình kinh doanh của Công ty cổ phần đã mang những đặc điểm mới, cho phép thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường mà những hình thái khác không thể đáp ứng được Chúng ta có thể nêu ra một số đặc điểm sau đây:
- Xét về mặt pháp lý: Công ty cổ phần là một hình thức kinh doanh có tư cách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp dưới hình thức Công
ty cổ phần Khác với doanh nghiệp chung vốn, các cổ đông – người cấp vốn cho Công ty – chỉ có các cam kết tài chính của Công ty trong giới hạn số tiền mà họ đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của Công ty trong phạm vi số tiền họ đã bỏ ra Trong trường hợp
Trang 22Công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền họ đã đầu tư vào Công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung vốn Nhờ đặc điểm này, nó đã khắc phục được trở ngại quan trọng mà các hình thức doanh nghiệp khác không mấy khi dám mạo hiểu để thực hiện các dự án kinh doanh lớn Bằng các bán các cổ phiếu, trái phiếu cho những người có vốn muốn đầu tư để gia tăng thu nhập, nó đã làm cho những người này không phải e ngại những hâu quả tài chính có thể xảy ra đối với toàn bộ gia sản của họ
Như vậy, nhờ đặc điểm hình thái Công ty cổ phần – mọi cổ đông bây giờ chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và Công ty là một hình thức pháp lý đầy đủ, thuận lợi để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận - đã cho phép khắc phục được phần lớn các trở ngại đặt ra của hình thái kinh doanh chung vốn Nó bổ sung cho doanh nghiệp một hình thái pháp lý gần như hoàn hảo để huy động những lượng vốn lớn trong xã hội Mệnh giá cổ phiếu của Công ty thường định giá rất thấp để có khả năng khai thác được ngay cả những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong công chúng Một nhà kinh tế học đã đánh giá như sau:
“ Sản xuất lớn của hiệu quả về mặt kỹ thuật và một Công ty lớn là một cách
có lợi để nhà đầu tư chia sẻ các rủi ro không thể khắc phục được đời sống kinh doanh Không có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và Công ty, thì điều đơn giản là một nền kinh tế thị trường không thể nào thu hái lợi ích có được khi những lượng
tư bản lớn cần được thu hút vào Công ty với quy mô có hiệu quả, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm bổ sung cho nhau, chia sẻ những rủi ro và sử dụng tốt nhất tiềm năng của những đơn vị nghiên cứu lớn về kinh tế và quản lý
- Xét về mặt huy động vốn: Công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thành công Bởi vì số tiền chỉ dành dụm của nhiều gia đình nếu để riêng thì sẽ không đủ
để thành lập một doanh nghiệp nhỏ, và do đó không thể đem ra kinh doanh được, thì rõ ràng sự có mặt của Công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ đầu tư một cách
Trang 23có lợi ích và an toàn, những khoán vốn nhỏ nhưng gộp lại thì rất lớn Các khoản tiền nhỏ trên có thể gửi ngân hàng hay mua trái phiếu… song hình thức cổ phần có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không thể thay thế được vì:
Thứ nhất: Việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc gia tăng giá trị của cổ phiếu khi Công ty làm ăn có hiệu quả
Thứ hai: Các cổ đông có quyền được tham gia quản lý theo điều lệ của Công ty và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn
Thứ ba: Cổ đông có quyền được ưu đãi trong việc mua cổ phiếu mới được phát hành của Công ty trước khi đem ra bán rộng rãi cho công chúng
- Hình thái Công ty cổ phần đã thực hiện được việc tác quan hệ sở hữu ra khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của đông đảo công chúng một bên và một bên kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng vốn cho các cuộc kinh doanh quy mô lớn Khi các Công ty cổ phần ra đời, C.Mac đã chỉ ra rằng “ Quyền sở hữu của tư bản bây giờ đã hoàn toàn tách khỏi chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế, cũng hệt chứng năng đó thông qua người quản lý, tách khỏi quyền sở hữu tư bản”
Những người đóng vai trò sở hữu trong Công ty cổ phần không trực tiếp đứng ra kinh doanh mà uỷ thác chứng năng đó cho bộ máy quản lý của Công ty Bản thân Công ty được pháp luật thừa nhận như một pháp nhân độc lập tách rời với các cá nhân góp vốn và kiểm soát nó Nhờ đó, Công ty cổ phần tiến hành các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính mình và nhận trách nhiệm đến cùng với các cam kết tài chính của Công ty
Trang 24Trong cơ cấu tổ chức của một Công ty cổ phần, phản ánh rất rõ đặc điểm về
sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh Luật Công ty của nhiều nước đã nêu ra hai tổ chức chính trị đại diện cho quyền sở hữu của các cổ đông trong Công ty: đại hội cổ đông và hội đồng quản trị Quyền sở hữu tối cao Công ty thuộc Đại hội cổ đông Đại hội cổ đông thường được tổ chức mỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miện Hội đồng quản trị, quyết định sửa đổi điều lệ Công ty, phân chia lợi nhuận cổ phần, phát hành thêm cổ phiếu hoặc sát nhập vào các Công ty khác… Hội đồng quản trị được bầu ra có trách nhiệm bảo toàn và phát triển giá trị các khoản vốn đầu tư của cổ đông Chức năng chủ yếu của nó là đưa những chỉ dẫn mang tính chiến lược, bao gồm những quyết định tài chính và quyết định đầu tư lớn Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc về ban Giám đốc điều hành Bên cạnh đó, Đại hội cổ đông cũng bầu ra ban kiểm soát thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của Công ty để bảo vệ lợi ích cho những người góp vốn
Sự mô tả giản lược hệ thống tổ chức trong công ty cổ phần: Đại hội cổ đông – Hội đồng quản trị – Ban giám đốc điều hành – Ban kiểm soát, phản ánh sự tách biệt hợp lý giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, do đó, nó đáp ứng được một cách khá lý tưởng những yêu cầu kinh doanh quy mô lớn Nhờ đặc điểm này mà trong nền kinh tế thị trường hiên đại, các công ty cổ phần phát triển đến quy mô lớn không ngừng, hình thành các công ty có tính quốc gia và xuyên quốc gia Quyền sở hữu của nó thuộc về hàng vạn, hàng triệu các cổ đông nhỏ không một ai trong nhóm nào trong nhóm nắm được cổ phần tối đa Có thể nói ngày nay, sự tồn tại và phát triển của công ty cổ phần ngày càng ít dựa vào mối quan hệ sở hữu của các cổ đông mà tuỳ thuộc ngày càng nhiều vào nhân tố chủ yếu ở hiệu năng quản trị và điều hành quản trị Sự thay đổi này đã cho phép các nhà kinh tế có thể luận rằng “ Các doanh nghiệp ngày nay do thị trường chứ không
Trang 25phải do các cổ đông kiểm soát” và cho rằng một cuộc cách mạng về quản lý công
ty đã ra đời thay thế, người chỉ huy thời xưa của nền công nghiệp, với tất cả tài năng sáng tạo và khả năng tính toán những rủi ro cần thiết để xây dựng một xí nghiệp lớn, thường có đôi chút của kẻ phưu lưu và thái độ bất chấp công chúng bằng đội ngũ những người quản lý chuyên nghiệp có tầm quan trọng ngày càng tăng
- Các cổ phiếu và trái phiếu thông thường của công ty cổ phần có thể được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán Các cổ đông có thể rút lại vốn của mình để đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mới, bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếu ở các Công ty mà mình muốn Mặt khác, các cổ phiếu của một công ty cổ phần chỉ được thanh lý khi công ty phá sản, vì thế bất kể có bao nhiêu
cổ đông bán cổ phiếu hoặc chết đi và bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao nhiêu lần do bán hoặc do thừa kế, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường mà không bị ảnh hưởng Có thể nói: Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán vừa duy trì được sự ổn định của doanh nghiệp đồng thời tạo nên sự
di chuyển linh hoạt của các luồng vốn xã hội Như vậy, đặc điểm này của Công ty
cổ phần tồn tại không thể tách rời với sự duy trì và phát triể của thị trường chứng khoán
- Nhờ sự phát triển và hoàn thiện của thị trường chứng khoán, khả năng huy động vốn đầu tư được mở ra hết sức rộng rãi, nó cung cấp cho những cơ hội đầu tư
đa dạng, đơn giản, dễ dàng, thuận tiện cho đông đảo công chúng Mặt khác, nó không chỉ là nơi cung cấp vốn mà còn là nơi xếp đặt và phân phối lại các cơ hội đầu tư theo các cơ hội đầu tư đa dạng của Công ty và công chúng ở đây, vai trò của các chủ ngân hàng và những người buôn bán cổ phiếu hết sức quan trọng Họ góp phần chuyển đổi các khoản đầu tư thông qua mua bán cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu… trên thị trường cho mọi người và khuyến khích các công ty mới ra đời
Trang 26huy động vốn và đứng vứng trong kinh doanh Khi một công ty mới thành lập, còn chưa đứng vững trên thương trường đó là lúc cần có những nhà đầu tư táo bạo, giám chấp nhận mạo hiểm để có lợi nhuận cao Khi công ty đã ổn định vững chắc, các nhà đầu tư thận trọng mới vào cuộc Giá cổ phiếu đã tăng lên, nhưng bù lại có
độ an toàn cao Các nhà đầu tư táo bạo đã có thể bán lại số cổ phiếu, thu được lợi nhuận vốn là mục tiêu của họ theo đuổi một cuộc đầu tư mạo hiểm khác Nền kinh
tế cần phải có các nhà đầu tư táo bạo và có sự chuyển đổi giữa các loại nhà đầu tư
để thúc đẩy quá trình hình thành các doanh nghiệp mới hay các dự án đầu tư mới
Là nơi cung cấp vốn, nơi hội tụ các cơ hội và nhu cầu đầu tư, thị trường chứng khoán phản ứng rất nhạy bén với những thay đổi, dao động của nền kinh tế Chính vì vậy, sau này, Nhà nước với tư cách là một “ tư bản tài chính” lớn nhất đã coi thị trường chứng khoán như là một công cụ để điều tiết các nguồn vốn và tiền
tệ nói chung bằng cách quy định các hoạt động của nó, bơm vào hay hút ra các luồng công trái, trái phiếu chính phủ, qua đó điều chỉnh một khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế”
Với những đặc điểm được trình bày trên đây, các Công ty cổ phần đã thực
sự đóng vai trò tổ chức trong nền kinh tế theo những yêu cầu của thị trường Có thể nói, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các công ty cổ phần ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong đời sống kinh tế, góp phần tạo nên sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia, tham gia đắc lực vào các quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế
1.3 Khái quát cổ phần hoá các DNNN trên thế giới – những kinh nghiệm có thể áp dụng ở Việt Nam
1.3.1 Khái quát cổ phần hóa các DNNN trên thế giới
Kinh tế nhà nước đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của bất
cứ quốc gia nào, chỉ có sự khác nhau chủ yếu biểu hiện ở mức độ chiếm giữ của
Trang 27khu vực kinh tế nhà nước ở các nghành, các lĩnh vực then chốt, cách thức và mục tiêu hoạt động
Cho đến nay, khu vực kinh tế nhà nước của các quốc gia trên thế giới có sự diến biến khác nhau Nhà nước duy trì quá lâu quả lý nhà nước theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung dẫn đến khu vực kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nguồn ngân sách hạn hẹp không cho phép tăng thêm các khoản đầu tư vào các lĩnh vực, các doanh nghiệp yếu kém Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước không đảm bảo
bù lỗ hoặc không hỗ trợ nhiều cho các DNNN trước sự biến đổi mạnh mẽ kỹ thuật
và công nghệ Cuối cùng chính phủ các nước đều tiến hành giải pháp cổ phần hoá DNNN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này
Mỗi quốc gia đều có những đặc điểm đặc thù riêng do đó, việc cổ phần hoá các DNNN ở các quốc gia này không giống nhau về trình tự thực hiện, nội dung nhưng đều nhằm vào các mục đích sau:
- Nhanh chóng hình thành một hệ thống các doanh nghiệp cả thành phần quốc doanh và ngoài quốc doanh đan xen, tạo ra các loại hình chủ thể kinh doanh khác nhau, hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình đẳng trên thị trường Việc thực hiện cổ phần hoá không phải là để xoá bỏ các chức năng đặc biệt về kinh tế mà chỉ có khu vực kinh tế nhà nước mới đảm nhận được mà là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này Do đó, các chính phủ lựa chọn các phương thức tiến hành cổ phần hoá sao không làm suy yếu khu vực kinh tế nhà nước, mà trái lại, củng cố cho xứng đáng với vị trí quan trọng của nó trong nền kinh tế nhằm thực hiện một loạt các chức năng kinh tế vĩ mô vì lợi ích của toàn xã hội
- Thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở, phát huy tính chủ động, sáng tạo cuả các đơn vị kinh doanh cơ sở và của toàn thể các cá nhân người lao động
Trang 28Quá trình cổ phần hoá nhằm hình thành hàng loạt các công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước – tư nhân, trong đó một số lĩnh vực nhà nước giữ cổ phần khống chế, còn ở một số lĩnh vực khác Nhà nước chỉ giữ ở mức có thể kiểm soát hiệu quả hoạt động của chúng Các công ty này đã chuyển sang sử dụng và huy động các nguồn vốn khác nhau thay vì nhận qua ngân sách nhà nước như trước đây Đó
là nguồn vốn của các ngân hàng tư nhân, các nhà đầu tư tư nhân mua cổ phiếu, hay các cơ quan như các quỹ hưu trí, các Công ty Bảo hiểm, thông qua các hoạt động mua bán ở sở giao dịch chứng khoán Đặt các doanh nghiệp trên cơ sở điều tiết của các quan hệ thị trường, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân để dành vị trí xứng đáng trong việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội với chất lượng cao, thuận tiện và hợp thị hiếu, chứ không phải có được dựa vào sự độc quyền do Nhà nước ban cho
- Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện cho nhà nước đầu
tư vào các nghành mà tư nhân không có đủ khả năng đầu tư hoặc không muốn đầu
tư, khôi phục tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế
- Tạo khả năng thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ mới trong và ngoài nước, tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tư liệu sản xuất, tăng tính chủ động sáng tạo, tự chủ của các thành viên để bảo tồn và phát triển tài sản của doanh nghiệp
- Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, cổ phiếu, trái phiếu của các Công ty cổ phần sẽ là hàng hoá cung cấp cho thị trường chứng khoán, tạo công cụ huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng để đưa vào sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời
Do điều kiện và bối cảnh kinh tế, xã hội, chính trị khác nhau nên hướng đi, biện pháp, nguyên tắc cổ phần hóa DNNN có sự khác nhau
Trang 29Cổ phần hoá ở các nước tư bản phát triển Chính sách cổ phần hóa bao trùm
ở các nước này dựa trên quan điểm cho rằng việc tổ chức đời sống kinh tế của xã hội tuân theo quy luật của thị trường, thương mại hoá sản xuất và cạnh tranh bình đẳng có hiệu quả hơn là tuân theo các quan hệ chỉ huy tập trung và thể chế hành chính Các nước tư bản thường tiến hành cổ phần hoá DNNN trên nguyên tắc thu hồi vốn nộp vào ngân sách nhà nước Đối với tài sản và DNNN muốn chuyển sang
sở hữu tư nhân và sở hữu khác thì phải xác định đúng giá trị của nó, xác định số
cổ phiếu, mệnh giá cổ phiếu và tổ chức bán tài sản doanh nghiệp hoặc cổ phiếu
Quá trình cổ phần hoá ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển được chủ yếu thực hiện dưới hình thức bán cổ phiếu của các Công ty quốc doanh hay các DNNN qua các giao dịch cơ sở chứng khoán, bán đấu giá có thời hạn người mua, hoặc doanh nghiệp Việc bán đấu giá hay bán trực tiếp thường được áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng và thương mại, còn đối với các Công ty lớn thì phổ biến là cổ phần hoá thông qua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mức độ cổ phần hoá của từng Công ty là tuỳ thuộc vào ý đồ của chính phủ muốn duy trì ảnh hưởng đến mức độ nào trong việc kiểm soát hoạt động các doanh nghiệp
Như vậy, có thể nhận thấy nét đặc trưng quá trình cổ phần hoá ở các nước công nghiệp là hình thành các Công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước – tư nhân hoạt động trên cơ sở thị trường và luật pháp của nhà nước Những công ty quốc doanh
và các DNNN được đổi mới thành các Công ty cổ phần hỗn hợp nhà nước – tư nhân đã góp phần quan trọng làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị này trở nên năng động, nâng cao doanh lợi và khả năng cạnh tranh với các công ty cổ phần tư nhân Có thể nói, thông qua quá trình cổ phần hoá, sự hợp tác lẫn nhau giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, kể cả ở cấp công ty xuyên quốc gia đang hoạt động trên thị trường thế giới là một trong những
Trang 30con đường nâng cao hiệu quả nền kinh tế thị trường hỗn hợp ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay
Cổ phần hoá ở các nhóm nước đang phát triển
Trong các nước đang phát triển thì các nước thuộc vùng Mỹ la tinh hiện đang tiến hành cổ phần hóa khu vực kinh tế nhà nước một cách tích cực nhất Đi liền với chính sách tự do thương mại, các nước trong khu vực này đã đặt chương trình cổ phần hoá như là một biện pháp khắc phục quan điểm “ hướng nội” và quá trình quốc hữu hóa ồ ạt trước đó
Quá trình cổ phần hóa của nhóm các nước này bắt đầu tiến hành từ các xí nghiệp quốc doanh trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp Khi đã đạt được một quy mô nhất định mới chuyển sang các lĩnh vực độc quyền của nhà nước như hàng không, thông tin liên lạc, viễn thông, ngân hàng, điện lực…nhưng thường ở mức nhà nước vẫn mức cổ phần khống chế
ở nhóm các nước này thị trường vốn chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng còn ở tình trạng nhỏ bé và chính việc cổ phần hoá đã tạo điều kiện tích cực cho sự hình thành và phát triển của thị trường vốn ở các nước này
Cổ phần hoá ở nhóm các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
Khác với các quốc gia khác trên thế giới, đối với nhóm các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quá trình cổ phần hoá đã trở thành cuộc thử nghiệm quan trọng đối với các chính phủ mới thành lập trong việc cam kết chuyển sang nền kinh tế thị trường và hệ thống chính trị dựa trên quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do cá nhân Đối với các nước này, việc tiến hành cổ phần hoá được đặt trong một chương trình tư nhân hoá rộng lớn và do đó các chương trình tư nhân hoá và cổ phần hoá đang được thực hiện theo từng cách khác nhau ở từng bước
Quan niệm phổ biến ở các nước Đông Âu trong cải cách kinh tế nhằm chuyển đổi nền kinh tế chỉ huy sang cơ chế thị trường là thực hiện ồ ạt, nên quá
Trang 31trình tư nhân hoá và cổ phần hoá ở các nước này trở nên hết sức khó khăn và phức tạp do quy mô và phạm vi tiến hành quá đồ sộ, mà thời gian đòi hỏi ngắn hơn nhiều so với các nước khác
Khu vực tư nhân ở các nước này còn quá nhỏ bé và yếu ớt, thị trường vốn chưa phát triển, chính phủ đều nhằm vào các công ty nước ngoài với hy vọng thay đổi công nghệ và học tập những kinh nghiệm quản lý mới, nâng cao sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh tế mở cửa nhưng điều này đã không xảy ra như họ mong đợi Các nước Đông Âu đã phải “ thương mại hoá” các Xí nghiệp quốc doanh như
là điều kiện tiên quyết để thực hiện quá trình cổ phần hoá Việc thương mại hoá này cho phép xác định được quyền sở hữu và quyền kinh doanh đối với các tài sản Nhà nước, tạo điều kiện để biến đổi chúng thành các Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các Công ty cổ phần Vì vậy, ở các nước Đông Âu đều thành lập một cơ quan Nhà nước có quyền lực rộng lớn chuyên trách quản lý tài sản của Nhà nước, đảm bảo cho các điều kiện mua bán cổ phần, xác định các đối tượng và tỷ lệ cổ phần hoá
Nhìn chung, các trường hợp cổ phần hoá ở các nước Đông Âu thường được diễn ra bằng sự phát hành cổ phiếu và bán trực tiếp hoặc qua một tổ chức kiểm toán trung gian Biện pháp thích hợp để tiến hành cổ phần hoá các Xí nghiệp vừa
và nhỏ của Nhà nước là bán trực tiếp cho cán bộ quản lý và công nhân của Xí nghiệp, hoặc đấu thầu cho thuê bằng các hợp đồng quản lý Một mâu thuẫn lớn đặt
ra cho các nước Đông Âu giữa một bên là sức mua hạn chế của dân chúng và một bên là mục tiêu tư nhân hoá và cổ phần hoá quy mô lớn trong một thời gian ngắn Chính vì vậy, công cuộc cổ phần hoá của các nước Đông Âu không thu được kết như các nhà hoạch định chính sách mong đợi
Từ thực tiễn đúc kết được, để cổ phần hoá các DNNN cần có các điều kiện sau:
Trang 32- Phải tạo ra cơ sở pháp lý và cơ sở phương pháp luận cho việc cổ phần hoá các DNNN, có đội ngũ chuyên gia giỏi, năng động, nhạy bén, có đủ trình độ nghiên cứu và xử lý những phát sinh ở doanh nghiệp cần cổ phần hoá cũng như những qúa trình cổ phần hoá tiếp theo
- Phải lập kế hoạch để tiến hành quá trình cổ phần hoá, bao gồm những công việc sau đây: Nhiệm vụ cụ thể của quá trình cổ phần hoá, xác định giá trị doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá, phân loại tài sản theo quy mô và xác định
tỷ trọng chuyển đổi sở hữu trong từng loại, có kế hoạch khôi phục các doanh nghiệp đang thua lỗ để có phương án cổ phần hoá Cải các cơ chế quản lý ngân hàng và công tác kiểm toán phải phù hợp với cơ chế thị trường
- Chính phủ phải có sự quyết tâm, cùng với thái độ cương quyết của các cơ quan có trách nhiệm, có sự thông hiểu và ủng hộ của quần chúng Điều hành phải công khai hoá, tránh thái độ thiên vị, tư túi cá nhân Qua đó tạo ra sự hưởng ứng của dư luận xã hội, xác lập bầu không khí cởi mở, hấp dẫn hơn cho cổ phần hoá
Mọi công đoạn cổ phần hoá các DNNN phải tiến hành một cách công khai, không được tiến hành một cách ngấm ngầm, bí mật thì lợi sẽ bất cập hại Cách thức tốt nhất là tuyên truyền, công bố rộng rãi các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, các thông tin cần thiết liên quan đến quá trình cổ phần hoá cho người lao động biết
1.3.2 Một số điểm rút ra từ kinh nghiệm cổ phần hoá các nước trên thế giới
Kinh nghiệm cổ phần hoá của các nước trên thế giới là những bài học mà chúng ta có thể nghiên cứu, phân tích, đúc kết và gợi ý cho chúng ta một số vấn đề
có tính chất chung cho việc cổ phần hoá các DNNN ở nước ta
1 Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá
Trang 33Sự triển khai có tính chất toàn cầu của quá trình cổ phần hoá được bắt đầu mạnh mẽ từ những năm 80 đến nay đã chứng tỏ rằng hầu hết các Chính phủ các nước đều thấy rằng sự cần thiết phải xem xét và xác lập lại mối quan hệ giữa khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân theo hướng giảm bớt mức độ sở hữu và sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước, giành sự điều tiết mạnh mẽ hơn cho
cơ chế thị trường Sự khắc phục những hiện tượng trì truệ trong nền kinh tế do hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước, thâm hụt ngân sách Nhà nước kéo dài và gánh nặng nợ của Nhà nước ngày càng tăng, đã buộc hầu hết các Chính phủ có khu vực Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tư bản xã hội đều phải giảm bớt xuống một tỷ trọng nhất định trong nền kinh tế bằng các phương pháp tư nhân hoá Sự giảm bớt này nhằm mục đích tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân, giữa sự điều tiết của Nhà nước và của thị trường đối với hoạt động của các doanh nghiệp
Tiến trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam không thể không có nội dung cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó có vấn đề thu hẹp sở hữu Nhà nước và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp, coi trọng hơn vai trò điều tiết của cơ chế thị trường Vì vậy, tiến trình hoá các DNNN
ở Việt Nam là không thể bỏ qua, một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới
và cũng là một đòi hỏi khách quan để chuyên sang nền kinh tế thị trường dựa trên các động lực của thị trường và vai trò định hướng của Nhà nước
2 Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá
Quá trình cổ phần hoá phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, các thức tổ chức, bước đi và biện pháp cụ thể do những đặc điểm về hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của từng nước cũng như quan niệm xây dựng và phát triển kinh
tế của mỗi Chính phủ quy định Sự tương đồng về quá trình cổ phần hoá ở mỗi
Trang 34nước chủ yếu là những vấn đề có tính kỹ thuật về tài chính, phương pháp và các điều kiện thực hiện, còn những vấn đề về quan điểm tổ chức và vận dụng thì hết sức khác nhau và linh hoạt ở mỗi nước ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nhất là đã có sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường chứng khoán thì việc tiến hành cổ phần hoá gặp thuận lợi hơn nhiều so với những nước có nền kinh tế thị trường chậm phát triển và thị trường chứng khoán chưa hình thành Chẳng hạn như các nước đang phát triển, do thiếu những điều kiện hết sức quan trọng nên đã buộc các nước này tiến hành cổ phần hoá với những phương thức đặc thù và quá trình diễn ra lâu dài và phức tạp hơn nhiều so với các nước tư bản phát triển Cùng với việc cổ phần hoá các nước này phải đồng thời chuyển đổi nền kinh tế và các doanh nghiệp sang hoạt động trên cơ sở các quan hệ thị trường, tức là khuyến khích cạnh tranh và thương mại hoá các nhân tố sản xuất Trong những điều kiện như vậy, các tổ chức tài chính và ngân hàng hết sức được coi trọng, vì chúng đóng vai trò đắc lực với tư cách là các tổ chức trung gian tài chính hỗn hợp cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp ở những nước này
Quan niệm về vai trò và các lĩnh vực, khu vực kinh tế Nhà nước nắm giữ cũng như các hình thức tổ chức các doanh nghiệp Nhà nước đều có sự khác nhau
Do đó, dẫn đến vấn đề cổ phần hoá các doanh nghiệp này cũng khác nhau, tuỳ theo đặc điểm của mỗi nước ở các nước tư bản phát triển và một số nước đang phát triển, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ và các doanh nghiệp Nhà nước tồn tại dưới hình thức Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân hoạt động trên cơ sở thị trường chiếm đa số, nên quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp này cũng đồng thời là quá trình Nhà nước bố trí lại cơ cấu sở hữu và các lĩnh vực cần nắm giữ Bằng việc dùng số tiền bán cổ phần để tham dự vào các Công ty cổ phần thuộc các lĩnh vực chiến lược cần được kiểm soát và trợ giúp, Nhà nước đã thực hiện sự chuyển hoá linh hoạt của đồng thời hai quá trình đa
Trang 35dạng hoá sở hữu bằng các hình thức cổ phần hoá Điều này góp phần thực hiện việc cơ cấu lại chế độ sở hữu Nhà nước với tư nhân để xác lập mối tương quan hợp lý giữa khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế thị trường hỗn hợp Trong khi đó, ở đa số các nước đang phát triển và các nước Đông Âu, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nên quá trình cổ phần hoá ngoài các mục tiêu khác còn nhằm chuyển các doanh nghiệp này thành các Công
ty cổ phần tư nhân hay Công ty cổ phần hỗn hợp Nhà nước – tư nhân để phù hợp với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
Như vậy, ở Việt Nam không thể không chú ý đến tính đặc thù về điều kiện quy định mục tiêu, phương pháp, bước đi trong quá trình cổ phần hoá các DNNN Trong điều kiện nước ta chưa có thị trường chứng khoán, khu vực kinh tế Nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn, thì có thể học tập kinh nghiệm của các nước có đặc điểm tương đồng Tuy nhiên, sự vận dụng các quy luật này cần chú ý đến tính đặc thù của mỗi nước để sàng lọc và thử nghiệm kỹ càng trong điều kiện của nước ta
3 Tính chiến lược của quá trình thực hiện cổ phần hoá
Nhiều công trình nghiên cứu và kinh nghiệm của nhiều nước về vấn đề này đều cho thấy rằng cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cải cách toàn bộ nền kinh tế và vì vậy, nó đòi hỏi phải hành động và suy xét mang tính chiến lược Đó
là việc phải lựa chọn, cân nhắc trên cơ sở định hướng các mục tiêu lâu dài về xác lập các mục tiêu về kinh tế và tương quan giữa các lĩnh vực và khu vực kinh tế để chuyển dịch và phân bổ các nguồn lực và quyền lực cho các nhóm người sở hữu
và quản lý khác nhau Điều này giải thích tại sao quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước lại dễ gây xúc động đến các từng lớp khác nhau ở trong xã hội – những người chịu ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ những thay đổi này thường không thờ ơ về mặt chính trị mà trái lại, hành động của cách mẫu mực để nâng cao
và bảo vệ quyền lợi của họ bằng các áp lực chính trị khác nhau Vì vậy, ở hầu hết
Trang 36các nước, để cho chương trình được thực hiện thành công, Chính phủ đều đặt ra một cơ quan đại diện, đứng đầu hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với quá trình cổ phần hoá Cơ quan này phải quản lý toàn bộ quá trình theo những quan điểm có tính chiến lược trong việc đánh giá, soạn thảo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra
và điều chỉnh Đây là một yếu tố cốt yếu cho sự thành công của chương trình cổ phần hoá ở nhiều nước
Đối với nước ta, công cuộc đổi mới quản lý kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường mở cửa không thể không gắn liền với quá trình cải tổ khu vực kinh tế Nhà nước, trong đó có vấn đề
cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Với quy mô rộng lớn và tính chất quan trọng của chương trình cổ phần hoá, Chính phủ không thể không lập ra hoặc uỷ quyền cho một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo và giải quyết toàn bộ các vấn đề liên quan đến chương trình này trên cơ sở những quan điểm đổi mới và định hướng phát triển của đất nước Điều này là cần thiết để đảm bảo sự thành công của chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta
4 Tính quá trình của việc thực hiện quá trình cổ phần hoá
Việc khảo cứu ở nước ta cho thấy, cổ phần hoá diễn ra như một quá trình gồm nhiều giai đoạn: chuẩn bị các điều kiện về mặt tổ chức; lựa chọn các mục tiêu; phương pháp thực hiện và kiểm soát điều chỉnh Trên thực tế, không thể có
sự phân định rõ rệt, chắc chắn giữa các giai đoạn Nhiều công trình nghiên cứu đều cho rằng việc quan niệm cổ phần hoá của mỗi quá trình với nhiều giai đoạn có
ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiễn
- Nó truyền đạt một cách rõ ràng và dễ hiểu những biện pháp và nhiệm vụ
cơ bản, phức tạp đến những người còn chưa quen với cổ phần hoá
- Nó cho phép các nhà phân tích, hoạch định và phối hợp chính sách lường tính được những gì xảy ra trong giai đoạn kế tiếp
Trang 37- Nó cho thấy cần phải gạt bỏ những ảo tưởng nóng vội, khuyến khích tính thận trọng có các giải pháp, trình tự phù hợp đối với một công việc còn chưa quen với các quan chức Chính phủ
Quá trình vừa làm, vừa điều chỉnh và hoàn thiện trong công việc này tỏ ra thích hợp với cả Chính phủ đang cần thời gian nắm bắt và kiểm soát cũng như ông chúng đang cần thời gian để tin vào sự ổn định lâu dài về chính sách của Chính phủ
Riêng đối với nhiều nước đang phát triển, thị trường chứng khoán chưa hình thành, khu vực kinh tế tư nhân còn yếu ớt… thì tích chất lâu dài, nhiêu giai đoạn
và phải thực hiện trong nhiều năm là điều không thể tránh khỏi Tính quá trình càng được nhấn mạnh khi các Chính phủ lưu ý đến quan hệ tác động nhân quả giữa cổ phần hoá với các điều kiện cho phép thực hiện để thúc đẩy tiến trình cải cách về kinh tế Mặt khác, nó còn bao hàm cả một quá trình được tín hành thường xuyên, liên tục để di chuyển sở hữu Nhà nước sang các lĩnh vực khác nhau nhằm
cơ cấu lại nền kinh tế giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân trong nền kinh
tế thị trường hỗn hợp
Cần xác định việc tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam sẽ là một quá trình lâu dài, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để có những bước đi
cụ thể Trong hoàn cảnh còn thiếu nhiều điều kiện quan trọng để cổ phần hoá như
ở nước ta thì đây thật sự là công việc hết sức phức tạp đòi hỏi phải thực hiện trong nhiều năm Vì vậy, việc quán triệt quan điểm quá trình trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam là cần thiết để chống lại các tư tưởng và biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý trí muốn hoàn thành công việc này trong một thời gian ngắn
5 Môi trường pháp lý của việc thực hiện cổ phần hoá
Trang 38Với những tính chất cổ phần hoá đã được nêu ở trên, các nước đều phải tạo môi trường pháp lý cần thiết để tiến hành quá trình cổ phần hoá Đó là các bộ luật quan trọng có ý nghĩa là những điều kiện để xác lập và ổn định kinh tế vĩ vô, tạo
ra những khung pháp lý cho sự chuyển hoá và hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần và các Công ty nói chung Hệ thống các văn bản ở các nước khác nhau có những tên gọi không giống nhau, nhưng đều tập chung giải quyết một vấn
đề chung như: luật Công ty, luật đầu tư, luật về thị trường chứng khoán, luật phá sản, luật lao động và bảo hiểm, luật doanh nghiệp Nhà nước, luật thống kế, kiểm toán… khác với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, sự không ổn định trong môi trường kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển đang gây cản trở cho quá trình cổ phần hoá cũng như việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài Nhiều chính sách đang trong quá trình thay đổi khó đoán trước về lãi xuất, tỷ giá hối đoái, thuế quan, thị trường lao động… càng làm thêm tăng duỷ do và tính không chắc chắn đối với các nhà đầu tư khi tham gia mua cổ phần Điều đó buộc Nhà nước phải khẩn trương xác lập một hệ thống pháp lập tạo khung khổ cho sự hoạt động ổn định nền kinh tế thị trường nói chung và qú trình tư nhân hoá và khẩu phần hoá nói riêng
ở Việt Nam, để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đổi mới cơ chế kinh tế nói chung, không thể không có vấn đề về moi trường pháp lý và ổn định kinh tế vĩ mô Nhà nước cũng đã ban hành nhiều bộ luật nhằm xác lập và hoàn thiện môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Hiện nay cần có sự bổ sung, sửa đổi và ban hành các bộ luật quan trong như luật Công ty, luật đầu tư nước ngoài, luật khuyến khích đầu tư trong nước, hoặc uật thương mại luật doanh nghiệp nhà nước, luật phá sản, luật lao động và bảo hiểm… Để tường bước tạo điều kiện cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thực hiện có kết quả
Trang 396 Chi phí cho quá trình cổ phần hoá
Để thực hiện chương trình cổ phần hoá thành công, thực tiển các nước đều cho thấy nhà nước cần phải có một khoản phí tổn nhất định điều này nói lên sự khách nhau cơ bản giữa nhà nước và tư nhân Đối với tư nhân, sau khi đã bán cổ phần để thu lợi và khôn còn trách nhiệm gì đối với doanh nghiệp, thì ngược lại nhà nước vẫn phải tiếp tục quan tâm đến những vấn đề của doanh nghiệp sau khi đã cổ phần hoá cũng như vấn đề chính trị nảy sinh như là Hậu quả của quá trình nay Khoản phí tổn này được các chính phủ quan niệm và xử lý khác nhau Nó có thể là
sự ưu đải cổ phiếu khi bán hoặc cho không đối với những tầng lớp dân cư nhất định nhằm mục tiêu về chính trị, xã hội hoặc những chi phí cho việc bảo hiểm, trợ cấp, thời gian đào tạo lại nghề và tìm việc mới đối với những người lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá, hoặc những chi phí do bộ máy thực hiện và các cơ quan môi giới tư vấn quảng các cho việc thực hiện quá trình này… những khoản chi phí này là cần thiết và có tác dụng đảm bảo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội cho việc thực hiện một chương trình có tầm quan trọng lâu dài trong quá trình cải cách kinh tế ở các nước
Đối với nước ta hiện nay cũng cần có sự định hướng những khoản phí tổn khổng thể cắt giảm được, nhất là vấn đề về việc làm mới và đào tạo lại, bảo hiểm
xã hội trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá, các vấn đề về tư vấn, kiểm toán, quảng cáo, môi giới đầu tư trong và ngoài nước… Đối với vấn đề cổ phần hoá Điều này hoàn toàn cần thiết để bảo đảm thực hiện chương trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước đạt được kết quả ở nước ta
1.4 Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ở Việt Nam, những vấn đề đặt ra trong cộng cải cách DNNN
DNNN có vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân thể hiện:
Trang 401 DNNN là lực lượng chủ đạo trong công cuộc phát triển kinh tế ở Việt Nam Thực tế ở Việt Nam cho thấy: tuy trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trong công cuộc công nghiệp, hiện đại hoá Song xét trên bình diện nền kinh tế quốc dân thì tỷ trọng ngành nông nghiệp truyền thống vẫn còn rất lớn Trong tình hình đó, từ sau Đại hội Đảng VI, Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa Để thích ứng trình độ phát triển hiện có của lực lượng sản xuất, chúng ta đã xác định phương châm cơ bản là xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần cùng tồn tại Song, dù xét theo yêu cầu
về bản chất xã hội chủ nghĩa hay xét về so sáng lực lượng giữa các lực lượng sản xuất hiện có thì các doanh nghiệp Nhà nước đều chiếm ưu thế tuyệt đối, nó giữa vai trò chủ đạo, là nền tảng sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam Quá trình đổi mới hiện nay cho thấy, chỉ có phát huy được vai trò chủ đạo thực sự của các doanh nghiệp Nhà nước thì qú trình đổi mới mới thành công thực sự
2 Dù trước đây, hiện nay, hay sau này, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn là nguồn thu nhập tài chính chủ yếu của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo số liệu thống kê thì khoảng 75% thu nhập tài chính của Chính phủ Việt Nam bắt nguồn từ các doanh nghiệp Nhà nước Trong số tài sản cố định thuộc chế độ sở hữu toàn dân, tức là nền kinh tế Nhà nước có tới hơn 80% là các doanh nghiệp Nhà nước Đành rằng trong các năm gần đây do sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp khác, nên trong tổng thu nhập tài chính, tỷ trọng thu nhập do các doanh nghiệp Nhà nước giao nộp có xu hướng giảm xuống, nhưng tỷ trọng nộp lãi, thuế của các doanh nghiệp Nhà nước giảm đi không phải làm giảm số lượng tuyệt đối, mà là do các thành phần kinh tế phát triển nhanh hơn
3 Hiện nay và trong tương lai, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn là chỗ dựa quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động và trong việc nâng cao mức sống của nhân dân Trong những năm qua số doanh nghiệp Nhà nước đã