TRÁT MINH TOÀN NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP..
Trang 1TRÁT MINH TOÀN
NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRÁT MINH TOÀN
NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG HỌC CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM QUANG HUY
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3Đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tất cả những phần kế thừa, tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Trát Minh Toàn
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các biểu bảng
Danh mục các sơ đồ
Phần mở đầu 1
1 Sự cần thiết nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 4
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
6 Kết cấu của đề tài 5
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố 6
1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước 6
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 10
1.3 Xác định khe hỏng nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 14
Chương 2: Cơ sở lý thuyết 17
2.1 Một số vấn đề chung về chất lượng thông tin kế toán 17
2.1.1 Khái niệm về thông tin 17
2.1.2 Khái niệm chất lượng 18
2.1.3 Khái niệm về chất lượng thông tin 19
2.1.4 Khái niệm về chất lượng thông tin kế toán 20
2.1.4.1 Quan điểm của IPSASB 20
Trang 52.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 23
2.2.2 Mục tiêu của IPSAS 23
2.2.3 Vai trò và đặc điểm của IPSAS 24
2.2.4 Mục đích lập BCTC theo IPSAS 25
2.2.5 Hệ thống BCTC theo IPSAS 25
2.3 Một số vấn đề lý luận chung về ĐVSN công lập và chất lượng TTKT tại các trường học công lập 27
2.3.1 Một số vấn đề lý luận chung về ĐVSN công lập 27
2.3.1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập và các trường học công lập 27
2.3.1.2 Chế độ kế toán trong các trường học công lập 28
2.3.2 Chất lượng TTKT tại các trường học công lập 32
2.4 Các nhân tố tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT 33
2.4.1 Cơ sở kế toán áp dụng 33
2.4.2 Hệ thống pháp lý 33
2.4.3 Cơ chế tài chính 34
2.4.4 Hệ thống thông tin kế toán 34
2.4.5 Khả năng của kế toán viên 35
2.4.6 Sự nhận thức của người quản lý đơn vị 35
2.4.7 Hoạt động thanh tra, giám sát 35
2.5 Các lý thuyết nền liên quan đến nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng 36
2.5.1 Lý thuyết hành động hợp lý và lý thuyết hành vi dự định 36
2.5.2 Kinh tế học thể chế 37
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 39
3.1 Quy trình nghiên cứu 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp chung 39
3.2.2 Các phương pháp cụ thể 40
3.2.3 Ứng dụng các phương pháp cho từng phần nghiên cứu 42
3.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 44
3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi 46
Trang 63.4.1.2 Thang đo sử dụng khảo sát người sử dụng thông tin kế toán 47
3.4.2 Xây dựng bảng câu hỏi 49
3.4.2.1 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát kế toán các trường học 49
3.4.2.2 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát người sử dụng thông tin kế toán 49
3.5 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 50
3.5.1 Phương pháp chọn mẫu 50
3.5.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 51
3.5.2.1 Đối tượng và phảm vi khảo sát nhóm đối tượng tạo ra thông tin kế toán 51
3.5.2.2 Đối tượng và phảm vi khảo sát nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán 52
3.5.3 Chất lượng của thông tin nghiên cứu thu thập 52
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 54
4.1 Kết quả nghiên cứu 54
4.1.1 Kết quả nghiên cứu định tính 54
4.1.1.1 Thực trạng công tác kế toán tại các trường học công lập Vĩnh Long 54 4.1.1.2 Quan điểm của kế toán viên về chất lượng thông tin kế toán 59
4.1.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 61
4.1.2.1 Thống kê mô tả 61
4.1.2.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 64
4.1.2.3 Phân tích nhân tố khám phá 66
4.1.2.4 Phân tích tương quan 69
4.1.2.5 Phân tích hồi quy tuyến tính 71
4.2 Bàn luận kết quả nghiên cứu 74
4.2.1 Đánh giá sự khác biệt quan điểm về chất lượng thông tin kế toán giữa nhóm người tạo thông tin và nhóm người sử dụng thông tin kế toán 74
4.2.2 Đánh giá sự khác biệt quan điểm về chất lượng thông tin kế toán giữa các nhóm người sử dụng thông tin kế toán 75
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 77
5.1 Kết luận 77
Trang 7lập Vĩnh Long về chất lượng thông tin kế toán 78
5.2.2 Xây dựng cơ chế tài chính tự chủ, linh hoạt, phù hợp với các quy định của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kế toán của đơn vị 79
5.2.3 Nâng cao khả năng của kế toán viên tại các trường học công lập Vĩnh Long 79
5.2.4 Chuyển từ cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh sang cơ sở kế toán dồn tích đầy đủ, kết hợp với cơ sở kế toán tiền mặt áp dụng cho các trường học công lập Vĩnh Long 80
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 81
5.3.1 Hạn chế của đề tài 81
5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 82
Kết luận 83 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 82 Các chữ có nguồn gốc tiếng Anh
Từ viết tắt Từ gốc bằng tiếng Anh Từ gốc theo nghĩa tiếng Việt
Standar Board
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc
tế
IFAC International Federation of
Trang 9Accounting Standard Board quốc tế
Trang 10Bảng 1.2 Tổng hợp các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 14 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia 44 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp biến phụ thuộc và các biến độc lập 45 Bảng 3.3 Thang đo khảo sát sự ảnh hưởng của công tác kế toán đến chất lượng
thông tin kế toán tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long 46
Bảng 3.4 Thang đo khảo sát người sử dụng thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin kế toán tại các trường học công lập Vĩnh Long 48
Bảng 3.5 Cấu trúc của bảng câu hỏi khảo sát người sử dụng về các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng thông tin kế toán 50
Bảng 3.6 Thống kê trình độ học vấn của kế toán viên 51 Bảng 3.7 Thống kê thời gian công tác và số lần tập huấn của kế toán viên 52 Bảng 3.8 Thống kê mục đích sử dụng TTKT trường học công lập Vĩnh Long theo
quan điểm của người sử dụng 52
Bảng 4.1 Thực trạng công tác chứng từ kế toán tại các trường học công lập Vĩnh
Bảng 4.6 Quan điểm của kế toán các trường học công lập Vĩnh Long về các yêu
cầu đối với chất lượng thông tin kế toán 58
Bảng 4.7 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán các trường học công lập
Vĩnh Long 59
Trang 11Long theo quan điểm của người sử dụng 60
Bảng 4.10 Thống kê tần số các thang đo bảng câu hỏi dành cho người sử dụng thông tin kế toán 62
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha của biến độc lập 64
Bảng 4.12 Kiểm định KMO và Bartlett của biến độc lập 66
Bảng 4.13 Tổng phương sai trích của biến độc lập 67
Bảng 4.14 Ma trận nhân tố sau khi xoay của biến độc lập 67
Bảng 4.15 Kiểm định KMO và Bartlett của biến phụ thuộc 68
Bảng 4.16 Tổng phương sai trích của biến phụ thuộc 68
Bảng 4.17 Ma trận nhân tố trước khi xoay của biến phụ thuộc 69
Bảng 4.18 Hệ số tương quan Pearson 70
Bảng 4.19 Bảng kết quả tổng hợp mô hình hồi quy 72
Bảng 4.20 Kết quả phân tích ANOVA 72
Bảng 4.21 Kết quả hệ số hồi quy 73
Bảng 4.22 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng theo quan điểm của kế toán viên và người sử dụng TTKT các trường học công lập Vĩnh Long 74
Trang 12theo IPSASB 22
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận văn 39
Sơ đồ 3.2 Mô hình đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán
tại các trường học công lập Vĩnh Long 45
Sơ đồ 4.2 Mô hình nghiên cứu sau khi phân tích tương quan 71
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU
Các đơn vị công hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều cần thiết và đóng vai trò quan trọng góp phần cung cấp lực lượng lao động có trình độ cho xã hội Chính vì vậy, việc các đơn vị này hoạt động hiệu quả, có trách nhiệm và minh bạch thông tin sẽ tác động làm tăng lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế và tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội Để đạt được điều này cần phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nguồn kinh phí (KP) nhận được từ chính phủ, đồng thời phải phản ánh thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) một cách đầy đủ, công khai, minh bạch phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu hiện nay Do đó, việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán (TTKT) trên BCTC tại các đơn vị này theo hướng vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) là cần thiết nhằm phản ánh thông tin một cách có chất lượng theo chuẩn quốc tế
Cùng với xu hướng hội nhập hiện nay, các trường học công lập tại Việt Nam cần thiết phải lập và trình bày BCTC theo IPSAS Tuy nhiên, tại các trường học công lập Việt Nam hiện nay, BCTC hiện đang được lập và trình bày theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) cũng còn nhiều vấn đề khác biệt và còn khoảng cách so với IPSAS Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập là cần thiết nhằm tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC theo hướng dẫn của IPSAS
Tỉnh Vĩnh Long nằm ở trung tâm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, kinh tế còn khó khăn, nên việc giáo dục đào tạo luôn được quan tâm phát triển Chính vì vậy, việc hoạt động hiệu quả sẽ giúp các trường học phát triển bền vững và là một điều kiện cho phát triển kinh tế của Tỉnh, bên cạnh đó, các đơn vị này phải có trách nhiệm giải trình một cách đầy đủ, công khai, minh bạch các thông tin về tình hình tài chính và tình hình hoạt động của đơn
vị Tuy nhiên, TTKT trên BCTC tại các trường học công lập của Tỉnh cũng giống như thực trạng chung của Việt Nam và còn khoảng cách lớn so với TTKT được
Trang 14trình bày trên BCTC theo IPSAS Chính vì vậy, tỉnh Vĩnh Long được chọn làm địa bàn để tiến hành nghiên cứu
Để đánh giá được chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các đơn vị này là hết sức cần thiết Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long sẽ giúp xác định được các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở
đó đề xuất các kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC tại các đơn vị này
Chính vì những lý do trên mà đề tài “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long” cần thiết được thực hiện để nghiên cứu sâu hơn về
2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ
a) Xác định nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các
trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
b) Đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các
trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
c) Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC tại
các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trên nền tảng của các mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Trang 15a) Q1: Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng TTKT tại các trường học
công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh long?
b) Q2: Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT tại các trường học
công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long như thế nào?
c) Q3: Những kiến nghị nào cần thiết nhằm nâng cao chất lượng TTKT tại các
trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long?
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm có
cơ sở kế toán (CSKT) áp dụng, hệ thống pháp lý, cơ chế tài chính, hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT), khả năng kế toán viên, nhận thức của người quản lý và hoạt động thanh tra, giám sát
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện từ tháng 4/2016 đến tháng
10/2016 Thời gian khảo sát được thực hiện từ tháng 7/2016 đến tháng 8/2016
- Không gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện khảo sát tại các trường học công
lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trung học, tiểu học, mẫu giáo; không bao gồm các trường dân lập
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Để đánh giá sự khác biệt về về các tài liệu, quy định giữa Việt Nam và quốc
tế về công tác kế toán áp dụng cho các trường học công lập, tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm tìm ra sự khác biệt và rút ra những vấn đề cần phải làm đối với kế toán trường học công lập Việt Nam
Để đánh giá thực trạng công tác kế toán tại các trường học công lập Vĩnh Long về công tác chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo kế toán tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu trên cơ sở
Trang 16số liệu thu thập được và các tài liệu liên quan đến công tác kế toán tại các trường học công lập Vĩnh Long
Sau khi xử lý số liệu, dựa trên kết quả nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp lý luận khách quan kết hợp với các điều kiện thực tiễn để đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Để đưa ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp dựa trên phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước kết hợp với phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phương pháp được sử dụng để xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), phương pháp phân tích tương quan và phương pháp hồi quy tuyến tính
Để đánh giá sự khác biệt quan điểm chất lượng TTKT giữa nhóm tạo TTKT
và nhóm người sử dụng TTKT, giữa các nhóm người sử dụng thông tin kế toán tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp tổng hợp và phương pháp
lý luận khách quan, phương pháp phân tích phương sai ANOVA
5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC qua khảo sát thực tế nhóm đối tượng tạo ra TTKT và nhóm đối tượng sử dụng TTKT trên BCTC tại các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Trên cơ sở đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC, đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long có thể trình bày TTKT trên BCTC một cách công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình, phù hợp với xu hướng hội nhập thế giới hiện nay
Trang 176 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần các danh mục khác nhau, tài liệu tham khảo, 6 phụ lục thì kết cấu của đề tài gồm có phần mở đầu, phần nội dung gồm 5 chương và phần kết luận, cụ thể như sau:
Phần mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương
pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, kết cấu của đề tài
Phần nội dung:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Phần kết luận: Kết luận lại nội dung nghiên cứu và những đóng góp của đề tài
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước
Các nước đang phát triển đang nỗ lực cải cách kế toán KVC nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế và thực hiện các chính sách công Các giá trị xã hội của kế toán KVC đã đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong đó có mục tiêu
về xóa đói giảm nghèo Việc này đã giúp cho các nhà tài trợ và cho vay quốc tế xác nhận việc áp dụng IPSAS tại các nước đang phát triển Việc áp dụng IPSAS và chuyển sang CSKT dồn tích sẽ làm cho việc cải cách kế toán KVC trở nên hữu ích hơn (Chan, 2006) Như vậy hệ thống kế toán sẽ giúp các quốc gia đang phát triển cung cấp thông tin có chất lượng hơn, từ đó, các quốc gia này sẽ tạo được lòng tin từ các nhà tài trợ vốn giúp thu hút được nguồn lực mạnh mẽ hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Cũng theo Chan (2003), tác giả đã phân tích sự khác biệt về mục đích, tính chất của hàng hóa, dịch vụ công cộng, tài chính, thuế với khu vực tư Điều này được thể hiện trong chuẩn mực kế toán KVC tại các quốc gia phát triển Kế toán KVC đang có xu hướng tiếp cận đến CSKT dồn tích và sự kết hợp giữa BCTC chính phủ
mở rộng và báo cáo quỹ nhằm thúc đẩy trách nhiệm giải trình Đối với kế toán KVC, tất cả các nguyên tắc kế toán cần phải được quy định thành bộ khung các tiêu chuẩn nhằm thúc đẩy trách nhiệm giải trình tài chính của chính phủ Tuy nhiên, việc công bố đầy đủ thông tin tài chính của kế toán KVC còn phụ thuộc vào các yếu tố
về môi trường chính trị, môi trường kinh tế xã hội và mối quan hệ giữa các lực lượng trong tổ chức như sự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích đến chính phủ, sự ảnh hưởng của báo chí hay khả năng của lực lượng kế toán, kiểm toán KVC (Cheng, 1992)
Tại Indonesia, quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á, đã và đang chuyển dần trong việc vận dụng IPSAS vào kế toán KVC Đối với kế toán KVC, tác động của chất lượng hoạt động kiểm toán, khuyến khích từ nhà quản lý và đặc điểm chính quyền địa phương ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin BCTC của chính phủ
Trang 19địa phương Phương pháp hồi quy đa biến đã được các tác giả sử dụng để thử nghiệm các mô hình Kết quả cho thấy, chất lượng kiểm toán và khuyến khích từ người quản lý có mối quan hệ tích cực đến thông tin công bố trên BCTC (Martani & Liestiani, 2010) Cùng hướng nghiên cứu này, bằng việc sử dụng các biến độc lập theo các nghiên cứu của Ingram (1984), các tác giả Walter A Robbins và Kenneth
R Austin đã thực hiện nghiên cứu để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin trong BCTC của chính phủ địa phương hàng năm Kết quả cho thấy sức mạnh từ quản lý cho thấy sự ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin công bố (Robin & Austin, 1986)
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Úc năm 2009 đã cung cấp cách nhìn nhận vào sự hữu ích của kế toán các khoản thu nhập cho việc đo lường hiệu suất kinh tế của chính quyền địa phương trên khắp nước Úc Thông qua nghiên cứu cho thấy rằng kế toán dồn tích được thực hiện bởi chính quyền địa phương cung cấp thông tin hữu ích như đo bởi khả năng dự đoán cho năm tới về dòng tiền hoạt động Đồng thời, kế toán dồn tích cho chính phủ sẽ cung cấp thông tin có chất lượng cao trên các BCTC (Pinnuck & Potter, 2009) Tương tự như vậy, tầm quan trọng của việc chuẩn hóa hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế cũng được tác giả Lasse Oulasvirta tại Đại học Tampere (Phần Lan) nghiên cứu trong bối cảnh Phần Lan vào năm 2010 Tại Phần Lan, báo cáo tình hình thực hiện ngân sách (NS) với các phụ lục và báo cáo giải thích tình hình thực hiện NS được xem là quan trọng nhất đối với
kế toán KVC Theo tác giả, trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng NS là điều cần thiết phải làm (Oulasvirta, 2010)
Quá trình chuyển đổi CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích trong tiến trình áp dụng IPSAS là điều cần thiết Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được rút ra từ cuộc khảo sát tại Italia năm 2007, khi hệ thống kế toán tại quốc gia này cùng tồn tại hai
hệ thống kế toán dựa trên cơ sở tiền và kế toán dựa trên cơ sở dồn tích Việc cùng tồn tại hai hệ thống kế toán này được khuyến khích nhưng bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự ảnh hưởng là rất ít Việc cùng tồn tại hai hệ thống kế toán dồn tích và kế toán NS đã tạo nên một cuộc tranh luận về các nguyên tắc kế toán tại Italia Chính
Trang 20phủ chủ yếu dựa vào báo cáo kế toán NS nên kế toán chính phủ tập trung vào những báo cáo như vậy, cho nên báo cáo trên CSKT dồn tích tuy được chuẩn bị cẩn thận đã
bị bỏ qua (Eugeni & Steccolini, 2007) Các tác giả thông qua bài nghiên cứu đã đặt
ra vấn đề cho các nghiên cứu tiếp theo về kế toán KVC, đó là vai trò của hệ thống kế toán khi áp dụng các nguyên tắc kế toán truyền thống hoặc áp dụng song song hoặc tích hợp các nguyên tắc kế toán trong quá trình chuyển đổi kế toán KVC Do đó, việc nghiên cứu nhân tố CSKT là cần thiết nhằm tìm ra CSKT tốt nhất cho việc nâng cao chất lượng TTKT tại các đơn vị công
Tại Hoa Kỳ, chính quyền địa phương tại các khu vực đã áp dụng CMKT Chính Phủ số 34 (GASB 34) để cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Chính phủ Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng GASB 34 tại các khu vực đã có
sự khác biệt và tỷ lệ khác nhau trong việc áp dụng chuẩn mực này khi lập và trình bày BCTC Tác giả Patrick A.P đã thực hiện nghiên cứu về vấn đề này vào năm
2010 Kết quả cho thấy tỷ lệ áp dụng thấp tại chính quyền địa phương khu vực nông thôn và tỷ lệ áp dụng cao hơn tại chính quyền địa phương khu vực đô thị Các nhân
tố như nghề nghiệp chuyên môn, loại hình chính phủ, và chính phủ đã từng áp dụng BCTC theo GAAP là các nhân tố ảnh hưởng tích cực cho việc áp dụng (Patrick, 2010)
Cũng theo một nghiên cứu về kế toán KVC khi áp dụng GASB 34, nghiên cứu này khảo sát 530 trường học khu vực Texas để điều tra sự thích hợp thông tin trên BCTC của chính phủ được công bố theo GASB 34 Bằng chứng khảo sát từ mẫu nghiên cứu cho thấy rằng tổng tài sản ròng từ báo cáo tài sản thuần của báo cáo
toàn chính phủ mở rộng (government-wide Statement of Net Assets), cùng với thu
nhập dồn tích có điều chỉnh từ các báo cáo quỹ chính phủ, cung cấp thông tin tốt nhất để đánh giá các rủi ro (Plummer, Huchitson & Patton, 2007)
Trang 21Bảng 1.1 Tổng hợp các công trình nghiên cứu trên thế giới
STT Tên bài nghiên cứu Phương pháp
nghiên cứu Tác giả Năm
Các nhân tố rút ra từ các bài nghiên cứu
1 Công bố thông tin báo cáo tài
chính Chính Phủ tại Indonesia
Phương pháp phân tích, hồi quy
Martani, D
& cộng sự
2010 Chất lượng kiểm toán,
khuyến khích từ nhà quản lý
2 Việc áp dụng GASB 34 tại
chính quyền khu vực nông thôn
Phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp
Patrick, P
A
2010 Nghề nghiệp chuyên môn,
loại hình chính phủ
3 Chất lượng và sự bảo toàn lợi
nhuận kế toán tại chính quyền
địa phương
Phương pháp hồi quy, phân tích, tổng hợp
Pinnuck, M
& cộng sự
2009 CSKT áp dụng
4 Sự ảnh hưởng của việc tồn tại
hai hệ thống kế toán trên cơ sở
tiền mặt và trên cơ sở dồn tích:
Bằng chứng tại Italia
Phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích, tổng hợp
Eugenio, A.P &
Cheng, R
H
1992 Môi trường chính trị, môi
trường kinh tế xã hội, nhóm lợi ích, báo chí, khả năng kế toán viên, kiểm toán viên
9 Chất lượng công bố thông tin
báo cáo tài chính chính phủ:
Đánh giá sự phù hợp của các
phương pháp đo lường
Phương pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy
Tóm lại, tác giả nhận thấy nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới được trình
bày về kế toán KVC đều nhằm làm rõ sự khác biệt trong các hệ thống kế toán áp
Trang 22dụng, về nguyên tắc kế toán thì chuyển dần sang CSKT dồn tích nhằm nâng cao chất lượng TTKT trình bày trên BCTC và đều nhằm vào việc cải cách KVC theo xu hướng áp dụng các nguyên tắc, các hướng dẫn kế toán được quy định trong IPSAS Trong một số bài nghiên cứu, các tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm kiểm định lại các giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT Các nhân tố ảnh hưởng theo các bài nghiên cứu được thể hiện trong bảng 1.1 là các nhân
tố như: CSKT áp dụng, loại hình chính phủ, các điều kiện về kinh tế chính trị, nghề nghiệp chuyên môn, sự khuyến khích từ nhà quản lý, sự ảnh hưởng của lợi ích nhóm
và sự ảnh hưởng của hoạt động kiểm toán
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước
Từ các nghiên cứu tại nhiều nước khác nhau trên thế giới từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển cho thấy nhiều lợi ích khi áp dụng IPSAS vào hệ thống kế toán công tại các quốc gia này Tại Việt Nam hiện nay, kế toán KVC đang được thực hiện với nhiều chế độ kế toán khác nhau tùy theo lĩnh vực Trong lĩnh vực
kế toán đơn vị HCSN, BCTC đang được lập trên cơ sở dồn tích có điều chỉnh Theo tác giả Hà Thị Ngọc Hà (2009): “BCTC của đơn vị HCSN hiện nay mới chỉ là một
bộ phận cấu thành để tổng hợp vào báo cáo quyết toán NS nhằm phục vụ điều hành
NS của Quốc hội BCTC của các đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là báo cáo của một đơn vị kinh tế bị kiểm soát, phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của Chính Phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính” Do khoảng cách giữa chế độ kế toán HCSN Việt Nam với IPSAS là khá lớn, nên ban hành CMKT công là việc cần phải làm ngay Việc ban hành CMKT công theo IPSAS sẽ giúp cải thiện hệ thống kế toán tại các đơn vị công Việt Nam hiện nay, giúp nâng cao chất lượng TTKT Để làm được điều đó phải chuyển biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý ngân sách Nhà nước (NSNN) Như vậy theo quan điểm của tác giả, chất lượng TTKT tại các đơn vị HCSN chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố về nhận thức, phương thức quản lý NSNN Đây là những việc cần phải thay đổi trước khi ban hành CMKT công Việt Nam
Trang 23Trong các nghiên cứu về lĩnh vực kế toán công ở Việt Nam, đa phần các bài nghiên cứu đều có cùng quan điểm là cần thiết phải vận dụng IPSAS và ban hành CMKT công Việt Nam Tuy nhiên, điều trước tiên là cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý tài chính Nhà nước Trong một bài báo đăng trên tạp chí kế toán ngày 11.08.2008, trang 20, tác giả Đặng Thái Hùng (BTC) đã cung cấp bức tranh tổng quát về cơ sở lý luận đối với tài chính nhà nước và kế toán nhà nước Tài chính nhà nước là nền tảng của kế toán nhà nước và kế toán nhà nước là công cụ phản ánh bức tranh tài chính nhà nước Như vậy, dựa trên nhận định của tác giả, cơ chế quản lý tài chính Nhà nước có ảnh hưởng đến kế toán nhà nước Tuy nhiên, đây là quan điểm mang tính định tính của tác giả, chưa qua khảo sát và kiểm định thực tế
Theo tác giả Mai Thị Hoàng Minh (2008), các quốc gia cần thiết phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS
để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động cho từng năm để có sự so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất Cũng như các nước khác trên thế giới, hàng loạt các cải cách quản lý KVC (như quản lý theo kết quả đầu ra, kế hoạch NS trung hạn, tự chủ tài chính đơn vị HCSN, định hướng phát triển kế toán dồn tích,…) cùng với tiến trình hội nhập của Việt Nam Để đảm bảo cho Việt Nam
có khả năng cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và được quốc tế thừa nhận về tình hình tài chính Nhà nước để có thể đầu tư đa quốc gia, tham gia các liên minh, các tổ chức quốc tế hoặc đàm phán để đi vay, cho vay hoặc nhận tài trợ của nước ngoài, hoặc tổ chức quốc tế, việc xây dựng, công bố một hệ thống CMKT công hoàn chỉnh có tính chất tương đồng và hài hòa với quốc
tế cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là điều tất yếu, khách quan và vô cùng cần thiết Tuy nhiên, với sự thay đổi như vậy, việc ban hành cần phải có lộ trình và thực hiện từng bước Theo tác giả Ngô Thanh Hoàng (2014), những chuẩn mực thuộc nhóm tài sản rất tương đồng với CMKT doanh nghiệp (DN) cần được ban hành ngay, nhóm chuẩn mực liên quan đến quản lý quỹ NSNN và quỹ công chuyên dụng, cần phải được nghiên cứu ban hành ngay sau khi có luật NSNN sửa đổi Như vậy, theo quan điểm của các tác giả hệ thống pháp lý, phương thức quản lý, cơ chế tài
Trang 24chính là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT các đơn vị thuộc lĩnh vực công tại Việt Nam
Trong bài viết khác đăng trên Tạp chí kế toán ngày 09.10.2008, trang 11 của tác giả Phạm Văn Đăng (2008), tác giả đã xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa kế toán Nhà nước Việt Nam với IPSAS Cùng với đó, đòi hỏi kế toán Nhà nước Việt Nam phải thừa nhận các nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời phải có mô hình quản lý phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng quan điểm này, tác giả Đào Xuân Tiên (2009) cho rằng Việt Nam cần thiết phải nghiên cứu, ban hành và triển khai áp dụng các CMKT công Theo tác giả, các CMKT công được xem là những yêu cầu chính thức của Ủy ban KVC (PSC – Puplic sector committee) đối với kế toán công trong các quốc gia, nhằm cải thiện chất lượng BCTC KVC của các quốc gia Việc tuân thủ hợp lý các CMKT công sẽ tạo điều kiện cho tính minh bạch, trách nhiệm cũng như tính dễ hiểu, thích hợp trong quản lý tài chính công nói chung và trong quản lý chi tiêu công nói riêng của các quốc gia trên toàn thế giới
Với quan điểm trên, tác giả đưa ra những nhận định mà cần phải thay đổi hệ thống kế toán các đơn vị công Việt Nam hiện nay, với những thay đổi này sẽ giúp
hệ thống kế toán tại các đơn vị công phù hợp với IPSAS, qua đó nâng cao chất lượng TTKT Những nhân tố ảnh hưởng mà tác giả đưa ra là:
- Về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: vận dụng CMKT công phải phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, và cơ chế quản lý kinh tế tài chính của quốc gia, phù hợp với thực tế tổ chức hệ thống quản lý NS, tài sản công và
hệ thống tổ chức quản lý các đơn vị thuộc KVC
- Về CSKT áp dụng: Việt Nam cần áp dụng CSKT dồn tích đầy đủ theo IPSAS
- Về HTTTKT: cần đổi mới cơ chế quản lý tài chính tại các ĐVSN công khi mà khuyến khích của Nhà nước các ĐVSN công lập chuyển sang hoạt động theo loại hình DN (theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP)
Trang 25Tuy nhiên, các nhân tố ảnh hưởng hay các quan điểm mà tác giả nêu lên chỉ
là những nhận định mang tính định tính mà chưa thông qua khảo sát và kiểm định thực tế tại các đơn vị công ở Việt Nam
Theo tác giả Đào Thị Yến (2015), Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã nêu lên thực trạng của chế độ kế toán HCSN Việt Nam về lập BCTC chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý, phục vụ nhu cầu của nhà quản lý các cấp mà chưa chú trọng đến việc công bố thông tin minh bạch cho đông đảo đối tượng có liên quan Quan điểm của tác giả cho thấy, CSKT của việc ghi nhận các yếu tố trên BCTC có ảnh hưởng đến chất lượng TTKT Tuy nhiên, nhận định của tác giả chỉ mang tính định tính chưa qua kiểm định thực tế
Một nghiên cứu khác về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IPSAS vào Việt Nam của tác giả Nguyễn Như Quỳnh (2015) Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát những người làm việc trong ngành kế toán, kiểm toán và những người làm việc trong các đơn vị HCSN Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố kinh nghiệm ban hành chuẩn mực, cộng đồng kế toán, hệ thống thông tin là những nhân tố có ảnh hưởng đến sự
kỳ vọng lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IPSAS tại Việt Nam Theo tác giả, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại Việt Nam theo IPSAS sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo này
Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, đa phần các tác giả đều có chung quan điểm là việc vận dụng CMKT quốc tế vào Việt Nam sẽ nâng cao chất lượng TTKT Thông qua các bài nghiên cứu tại Việt Nam được tổng hợp trong bảng 1.2, các tác giả đã xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT, đó là: môi trường pháp lý, đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, cơ chế quản lý kinh tế tài chính, CSKT áp dụng, HTTTKT, trình độ người kế toán viên Nhưng nhìn chung đa phần đây là những quan điểm của tác giả, chưa qua khảo sát và kiểm định tại một lĩnh vực công cụ thể tại Việt Nam hay một địa phương cụ thể
Trang 26Bảng 1.2 Tổng hợp các công trình nghiên cứu tại Việt Nam ST
T Tên bài nghiên cứu
Phương pháp nghiên
Các nhân tố rút ra từ các bài nghiên cứu
Đào Thị Yến
2015 CSKT áp dụng
2
Xác định các nhân tố ảnh
hưởng việc vận dụng IPSAS:
“Báo cáo lưu chuyển tiền tệ”
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan, hồi quy
Nguyễn Như Quỳnh
2015 Cộng đồng kế toán,
HTTTKT, kinh nghiệm ban hành chuẩn mực
2014 Hệ thống pháp lý,
phương thức quản lý NSNN, cơ chế tài chính
Đào Xuân Tiên
2009 Môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội; HTTTKT; CSKT áp dụng
Hà Thị Ngọc Hà
2009 Nhận thức từ nhà quản
lý, phưng thức quản lý NSNN
Mai Thị Hoàng Minh
2008 Phương thức quản lý
NSNN, CSKT áp dụng
8
Kế toán Nhà nước Việt Nam:
Sự khác biệt với chuẩn mực
quốc tế về kế toán công
Phương pháp phân tích,
so sánh đối chiếu
Phạm Văn Đăng
2008 Phương thức quản lý
NSNN
Nguồn: tác giả tổng hợp
1.3 Xác định khe hỏng và hướng nghiên cứu của luận văn
Sau phần tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế và tại Việt Nam, tác giả đưa ra một số nhận định về hạn chế, tồn tại và các khe hỏng trong các nghiên cứu trong và ngoài nước như sau:
Trang 27Đối với các công trình nghiên cứu trên thế giới:
Thứ nhất, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu tại nơi các tác giả này sinh
sống và làm việc, chưa có nghiên cứu nào về chất lượng TTKT các đơn vị thuộc KVC mà các tác giả này thực hiện tại Việt Nam
Thứ hai, các tác giả này chủ yếu tập trung nghiên cứu các đặc điểm của kế toán
mang tầm quốc gia và quốc tế, chưa đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT của một lĩnh vực công cụ thể chẳng hạn như lĩnh vực giáo
dục
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước:
Thứ nhất, các đề tài chủ yếu đều thống nhất với quan điểm Việt Nam cần vận
dụng IPSAS để giúp nâng cao chất lượng TTKT KVC Tuy nhiên, đa phần đây đều là những quan điểm mang tính định tính và khái quát của các tác giả, các tác giả chưa đi sâu kiểm định thực tế tại một lĩnh vực cụ thể tại Việt Nam hay một địa phương cụ thể
Thứ hai, TTKT tại các ĐVSN hiện nay còn khoảng cách khá xa so với IPSAS về
tính minh bạch và độ tin cậy về thông tin Cho nên, cần thiết phải thực hiện các nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá chất lượng TTKT tại các đơn vị này nhằm củng cố thêm các nhận định và phân tích từ các bài nghiên cứu trước
Tóm lại, qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước như trên, cùng
với việc xác định những khe hỏng nghiên cứu, có thể thấy chưa có một công trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu chất lượng TTKT vào lĩnh vực giáo dục tại một tỉnh cụ thể như Vĩnh Long Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu và tiến hành trả lời các câu hỏi nghiên cứu thông qua kết quả nghiên cứu được thực hiện ở các chương sau
Kết luận chương 1:
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy rằng việc áp dụng IPSAS là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng TTKT trên BCTC, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các đơn vị thuộc KVC Trong xu thế hội nhập hiện nay, các đơn
Trang 28vị công tại Việt Nam nói chung và các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long nói riêng cần thiết phải cung cấp thông tin trên BCTC đạt được các yêu cầu theo IPSAS Do đó, việc cần làm là phải nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT trên BCTC các trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long nhằm đánh giá thực trạng chất lượng TTKT, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT và đưa ra các kiến nghị phù hợp
Trang 29Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số vấn đề chung về chất lượng TTKT
2.1.1 Khái niệm về thông tin
Theo tác giả Đoàn Phan Tân (2001), “thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm xã hội trong thời đại chúng ta Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó” Như vậy, thông tin có vai trò rất quan trọng đối với mỗi tổ chức, cá nhân trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, nói đến khái niệm về thông tin thì có rất nhiều quan điểm khác nhau, tùy theo mỗi góc độ mà thông tin được định nghĩa khác nhau:
Theo từ điển Oxford English Dictionary: “thông tin là điều mà người ta đánh giá
hoặc nói đến; là tri thức, tin tức”
Theo quan điểm của triết học: Thông tin phản ánh sự vận động và tương tác của
tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh,… và quá trình
tư duy bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người phản ánh
và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết, thành tri thức
Theo quan điểm kinh tế học: Thông tin là những gì con người thu nhận được từ dữ
liệu và xử lý dữ liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, các tri thức và được đánh giá là có ích phục vụ cho việc ra quyết định
Dữ liệu: là những con số, hình ảnh hay quan sát về một sự kiện hay hoạt động nào
đó còn ở hình thức lộn xộn, hoặc chưa có ý nghĩa phù hợp với người sử dụng
Theo quan điểm được rút ra từ các nhà nghiên cứu:
Theo các tác giả Gelinas và Dull, thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ việc ra quyết định Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập (Gelinas & Dull, 2008)
Như vậy, qua các khái niệm về thông tin cho thấy tính đa dạng và cách tiếp
cận về thông tin của các nhà khoa học mà thông tin được định nghĩa khác nhau Theo tác giả Đoàn Phan Tân (2001), nguyên nhân của sự khác nhau này là thông tin
Trang 30không thể sờ mó được, người ta bắt gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừ tượng của nó Trong phạm vi bài nghiên cứu này, do nghiên nghiên cứu về chất lượng TTKT nên cần xem xét thông tin ở góc độ kinh tế, tức là, thông tin là những gì con người thu nhận được từ dữ liệu và xử lý dữ liệu nhằm tạo
ra sự hiểu biết, các tri thức và được đánh giá là có ích phục vụ cho việc ra quyết định
2.1.2 Khái niệm chất lƣợng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đã được các chuyên gia chất lượng đưa ra như sau:
Trong “Sổ tay quản lý chất lượng”, tác giả Juran định nghĩa: chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu (Juran, 1988)
Theo tác giả Crosby, chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định (Crosby, 1979)
Theo tác giả Deming (1968), chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Nếu một sản phẩm mà không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì dù sản phẩm đó có tốt đến mấy cũng bị xem là sản phẩm kém chất lượng
Theo quan điểm của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO), chất lượng là “mức
độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” Đáp ứng các yêu cầu tức là đáp ứng được những mong đợi của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ
Như vậy, chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu
cầu của khách hàng hay người sử dụng sản phẩm dịch vụ Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù sản phẩm, dịch vụ đó được làm ra với trình độ công nghệ sản xuất ra
có hiện đại đến đâu đi nữa Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người sử dụng Đối với TTKT được tạo ra từ các báo cáo kế toán thì thông tin này có chất lượng khi nó đáp ứng được nhu cầu ra quyết định của người sử dụng thông tin
Trang 312.1.3 Khái niệm về chất lƣợng thông tin
Quan điểm của các nhà khoa học cho thấy khái niệm chất lượng thông tin là một khái niệm trừu tượng và tùy thuộc vào cảm nhận của người sử dụng thông tin Theo Wang và cộng sự , chất lượng thông tin có thể định nghĩa là thông tin phù hợp với mong đợi của người sử dụng thông tin (Wang & cộng sự, 1998) Còn theo Kahn
và cộng sự thì chất lượng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin (Kahn & cộng sự, 1999)
Bên cạnh đó, việc đo lường chất lượng thông tin cũng mang ít nhiều tính cảm tính Theo hai tác giả Eppler và Wittig, việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất lượng thông tin càng cao (Eppler & Wittig, 2000) Do việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính nên rất cần thiết phải có những đặc điểm chung về chất lượng thông tin để sử dụng làm tiêu chuẩn cho việc đo lường, các tiêu chuẩn về chất lượng thông tin được các tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu gồm:
Tính kịp thời: nhấn mạnh đến tính cung cấp thông tin một cách nhanh chóng hoặc thông tin được cập nhật đúng thời điểm theo nhu cầu của người sử dụng
Tính có thể truy cập hoặc có thể đạt được: nhằm đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng và ổn định mang lại các giá trị cho người sử dụng
Tính khách quan: đảm bảo thông tin phản ánh thực tế một cách khách quan
Tính thích hợp: thông tin phải thích hợp cho các quyết định của người sử dụng
Chính xác: đây là tiêu chuẩn đòi hỏi tính rõ ràng và chắc chắn của thông tin
Nhất quán: đây là tiêu chuẩn đòi hỏi thông tin không mâu thuẩn, nhất quán về hình thức và nội dung
Đầy đủ: thông tin phải đảm bảo các yêu cầu nhằm phản ánh đúng thực tế
Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế giữa một số các tiêu chuẩn chất lượng thông tin, chẳng hạn như giữa tiêu chuẩn an ninh và có thể truy cập vì càng đảm bảo an ninh tốt thì càng khó truy cập; hoặc giữa chính xác và kịp thời; giữa phạm vi tổng quát thông tin và mức độ chi tiết thông tin vì càng nhiều thông tin chi tiết thì càng ít mang tính tổng quát
Trang 32Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin, mỗi quan
điểm có những tiêu chuẩn khác nhau, có những tiêu chuẩn mâu thuẩn nhau, trùng lắp nhau do việc phân loại thông tin chỉ mang tính cảm tính Tuy nhiên, các tác giả đều có cách nhìn chung là thông tin có chất lượng khi nó đảm bảo một số đặc điểm, yêu cầu sao cho nó phù hợp với nhu cầu và quyết định của người sử dụng thông tin
2.1.4 Khái niệm về chất lƣợng TTKT
Khái niệm TTKT là khái niệm thuộc về thông tin nên khái niệm chất lượng TTKT cũng được xây dựng và phát triển trên nền tảng của khái niệm chất lượng thông tin Hiện nay, có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn về chất lượng TTKT
2.1.4.1 Quan điểm của IPSASB
Theo IPSASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin trên BCTC gồm: tính thích hợp, trình bày hợp lý, tính có thể hiểu được, tính kịp thời, tính có thể so sánh được, tính kiểm chứng IPSASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là cân đối giữa lợi ích - chi phí; sự kịp thời và sự cân đối giữa các đặc điểm chất lượng
Tính thích hợp:
Thông tin tài chính và phi tài chính được coi là thích hợp khi nó có giá trị khẳng định (tức là giúp người sử dụng BCTC đánh giá được quá khứ và hiện tại), giá trị tiên đoán (tức là giúp người sử dụng BCTC dự đoán tình hình tài chính trong tương lai) hoặc cả hai
Trình bày hợp lý:
Để tạo nên sự hữu ích trong BCTC, thông tin phải trình bày hợp lý về tình hình kinh tế và các sự kiện khác mà nó được trình bày Trình bày hợp lý đạt được khi việc mô tả các hiện tượng là đầy đủ, khách quan, và không có sai sót
Trong thực tế, không thể biết và xác định thông tin trong các GPFRs là đầy đủ, khách quan và không có sai sót Tuy nhiên, thông tin nên càng đầy đủ, khách quan, không có sai sót trong khả năng có thể đạt được
Thông tin trình bày trên BCTC phải khách quan, không bị xuyên tạc Thông tin không được trình bày nhằm đạt được mục đích, kết quả đã được xác định trước
Trang 33Không có sai sót không có nghĩa là chính xác hoàn toàn trong tất cả các khía cạnh Không có sai sót có nghĩa là không có sai sót trọng yếu làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC
Có thể hiểu được: Người sử dụng phải hiểu được BCTC thì thông tin mới hữu ích Người sử dụng BCTC được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh
tế, kinh doanh và kế toán cũng như phải có thiện chí và nỗ lực đọc BCTC Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định thì không được loại trừ ra khỏi BCTC dù nó khó hiểu đối với một số đối tượng
sử dụng BCTC
Tính kịp thời: Kịp thời có nghĩa là có thông tin có sẵn cho người sử dụng để phục vụ cho mục đích ra quyết định của họ Có được thông tin kịp thời có thể nâng cao tính hữu ích của của thông tin đối với người sử dụng Thiếu tính kịp thời có thể làm cho thông tin giảm đi sự hữu ích
Có thể so sánh được: Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng thống nhất các phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực
Tính kiểm chứng: tính kiểm chứng là đặc điểm giúp cho người sử dụng GPFRs giải thích hoặc định lượng được thông tin tài chính và phi tài chính trong tương lai về các giao dịch và sự kiện mà nó được trình bày
IPSASB cũng đưa ra các hạn chế liên quan tới các đặc tính chất lượng TTKT, gồm:
Sự kịp thời: Thông tin được báo cáo chậm trễ sẽ mất đi tính thích hợp nhưng ngược lại việc cung cấp thông tin đáng tin cậy phải có thời gian Vì vậy cần phải cân đối giữa yêu cầu kịp thời và tính đáng tin cậy của thông tin
Cân đối giữa lợi ích và chi phí: Lợi ích mang lại từ thông tin cần cân đối với chi phí để cung cấp chúng
Cân đối giữa các đặc điểm chất lượng: để đạt được mục tiêu của BCTC cần đạt được sự cân bằng hợp lý giữa các đặc điểm chất lượng
Các đặc điểm chất lượng thông tin theo IPSASB được tóm tắt qua sơ đồ sau:
Trang 34Sơ đồ 2.1 Sơ đồ thể hiện các đặc điểm chất lƣợng TTKT theo IPSASB
Cân đối giữa các đặc điểm chất lượng và cân đối giữa lợi ích và chi phí
Nguồn: tác giả tổng hợp
2.1.4.2 Quan điểm của CMKT Việt Nam
Theo CMKT Việt Nam số 01, các yêu cầu cơ bản đối với kế toán bao gồm:
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên
cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan tới kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kết toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh
Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán cần được tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh và đánh giá
CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN
Tính
thích
hợp
Trình bày hợp
lý
Có thể hiểu được
Tính kịp thời
Có thể so sánh được
Tính kiểm chứng
Trang 352.2 Một số vấn đề chung về IPSAS và hệ thống BCTC theo IPSAS
2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
IPSAS được xem là một bộ chuẩn mực được áp dụng dành cho kế toán KVC tại các quốc gia trên thế giới Theo tác giả Mai Thị Hoàng Minh (2008), trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động
và xác định thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có sự so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất Việc áp dụng IPSAS sẽ giúp TTKT trên BCTC KVC trở nên hữu ích hơn và có chất lượng hơn (Chan, 2006) Hiện nay, đã
có hơn 100 quốc gia áp dụng IPSAS vì những ưu điểm của hệ thống chuẩn mực này
về cách ghi nhận, đo lường và trình bày thông tin trên BCTC Từ đó giúp nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC, đáp ứng yêu cầu về trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của TTKT
IPSAS do Ủy ban chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASB) ban hành IPSASB là một tổ chức hội nghề nghiệp thực hiện việc thiết lập chuẩn mực mang tính chất tách biệt, độc lập với cơ quan nhà nước Tiền thân của tổ chức này là Ủy
ban KVC (Public Sector Committee – PSC) trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế
(IFAC) IPSAS có vai trò quan trọng vì các chuẩn mực này đã phản ánh một cách tiếp cận mới đối với kế toán KVC, đó là dựa trên phương pháp kế toán dồn tích Tính đến ngày 15 tháng 10 năm 2016, đã có 39 IPSAS được ban hành, trong đó có 1 CMKT dựa trên cơ sở tiền mặt và 38 CMKT dựa trên cơ sở dồn tích, danh mục cụ
thể các chuẩn mực được thể hiện trong Phụ lục 1 (www.ifac.org)
2.2.2 Mục tiêu của IPSAS
Theo IPSASB, để việc áp dụng IPSAS mang lại sự minh bạch trong số liệu tài chính, kế toán của các KVC, từ đó gia tăng chất lượng của thông tin mà BCTC mang lại thì IPSAS được ban hành nhằm hướng đến 5 mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Chất lƣợng và có thể so sánh đƣợc: Việc áp dụng bộ chuẩn mực này sẽ làm
tăng chất lượng và tính so sánh được đối với thông tin tài chính trên báo cáo do các đơn vị công cung cấp Điều này thể hiện qua việc các đơn vị có thể so sánh
Trang 36số liệu trên báo cáo giữa các kỳ kế toán khác nhau, giữa các tổ chức khác nhau
và thậm chí giữa các nước với nhau
(2) Tính minh bạch: Việc công bố thông tin của tất cả báo cáo khác nhau trong đơn
vị phải đảm bảo được sự minh bạch và có thể kiểm chứng được Việc công bố thông tin này sẽ có thể giúp cho người sử dụng phân tích, đánh giá dữ liệu thuộc tài chính cũng như số liệu kế toán để có quyết định kinh tế phù hợp hơn
(3) Tính thống nhất: IPSAS cũng cung cấp sự thống nhất trong quá trình lập, trình
bày BCTC các đơn vị công Từ đó, với sự thống nhất, người sử dụng đưa ra các kết luận phù hợp hơn mà không phải e ngại đến sự chênh lệch về thông tin
(4) Trách nhiệm giải trình: Việc thực hiện lựa chọn áp dụng IPSAS sẽ là minh
chứng rõ ràng về việc nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị thuộc KVC
và điều này sẽ làm cho các tổ chức kiểm toán nhà nước dễ dàng thực hiện công việc của mình khi thực hiện công việc tại các định chế công trong nước
(5) Tính quản trị: IPSAS sẽ cung cấp một phương thức quản trị và một quy trình
quản lý đơn vị một cách khoa học và mang độ tin cậy cao đối với quá trình thực hiện chuẩn mực này trên thực tế
2.2.3 Vai trò và đặc điểm của IPSAS
Khi một quốc gia áp dụng IPSAS sẽ giúp minh bạch về thông tin công bố, tạo
ra tính đáng tin cậy đối với BCTC, qua đó giúp tăng cường sự chủ động của các đơn
vị công trong quá trình hoạt động của mình Các quốc gia sử dụng IPSAS vì bộ chuẩn mực này mang lại một số lợi ích và tính hữu ích sau:
Cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và gia tăng sự hiểu biết hơn về tài sản, nợ phải trả cũng như các nguồn lực sẵn có trong tổ chức
Thông tin tài chính tổng hợp hơn sẽ cung cấp sự đánh giá chính xác về tính phù hợp của tài chính trong đơn vị, qua đó có các quyết định phù hợp hơn
Tăng sự minh bạch từ việc áp dụng IPSAS sẽ cho phép có các quyết định tốt hơn, quản lý tài sản chắc chắn hơn và hỗ trợ cho quản trị theo kết quả công việc
Tăng cường sự thống nhất và tính có thể so sánh của BCTC, từ đó khách hàng, nhà đầu tư hay người sử dụng có thể tin tưởng vào hệ thống BCTC của đơn vị
Trang 372.2.4 Mục đích lập BCTC theo IPSAS
Mục đích của BCTC là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, các hoạt động và các luồng tiền của đơn vị Những thông tin này rất bổ ích cho việc xem xét ra các quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực Đặc biệt, mục đích của các BCTC trong lĩnh vực công phải cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và thể hiện khả năng tính toán phân bổ sử dụng các nguồn lực được giao bằng cách: (1) Cung cấp các thông tin về nguồn lực, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính; (2) Cung cấp thông tin làm thế nào để đơn vị đó đảm bảo đủ vốn cho những hoạt động của nó và giải quyết được các nhu cầu về tiền mặt;
(3) Cung cấp thông tin hữu ích cho việc đánh giá khả năng của đơn vị trong việc tài trợ cho những hoạt động của nó; đáp ứng được nhu cầu trả nợ và thực hiện các cam kết của đơn vị;
(4) Cung cấp thông tin về điều kiện tài chính và những thay đổi về điều kiện tài chính của đơn vị;
(5) Cung cấp thông tin hữu ích giúp cho việc xác định đúng chi phí dịch vụ, hiệu quả hoạt động của đơn vị
Mục đích chung của BCTC còn có vai trò dự đoán trong tương lai, cung cấp thông tin hữu ích cho việc dự kiến mức độ nguồn lực yêu cầu để tiến hành các hoạt động trong tương lai, nguồn lực được tạo ra bởi các hoạt động trong tương lai cũng như rủi ro hoặc sự bất ổn định xảy ra trong tương lai Ngoài ra, BCTC còn cung cấp cho người sử dụng những thông tin sau:
(6) Chỉ ra nguồn lực đã thu được và đã sử dụng hợp pháp theo dự toán của Nhà nước; và
(7) Chỉ ra nguồn lực đã thu được và đã được sử dụng cho những nhu cầu chi tiêu theo hợp đồng đã ký tính cả những nhu cầu chi tiêu tài chính cho các cơ quan lập pháp tương ứng
2.2.5 Hệ thống BCTC theo IPSAS
Một bộ BCTC hoàn chỉnh bao gồm:
(1) Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị;
Trang 38Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị phải thể hiện ít nhất các khoản mục sau:
(a) Tài sản, nhà máy và thiết bị;
(b) Tài sản vô hình;
(c) Tài sản tài chính (bao gồm số nội dung (d), (f) và (h);
(d) Các khoản đầu tư được xác định theo phương pháp giá gốc;
(e) Hàng tồn kho;
(f) Những khoản thu về từ các giao dịch một chiều, bao gồm thuế, thu chuyển giao;
(g) Các khoản thu được từ các giao dịch trao đổi;
(h) Tiền và các khoản tương đương tiền;
(i) Các khoản phải trả thuế, chi chuyển giao;
(j) Các khoản phải trả về các giao dịch trao đổi;
(k) Các khoản dự phòng;
(l) Nợ phải trả dài hạn;
(m) Lợi ích của cổ đông thiểu số; và
(n) Tài sản thuần/Vốn chủ sở hữu
(2) Báo cáo kết quả hoạt động;
Báo báo kết quả hoạt động kinh doanh phải thể hiện ít nhất các nội dung sau: (a) Thu nhập từ hoạt động thông thường của đơn vị;
(b) Thặng dư hoặc thâm hụt từ các hoạt động;
Trang 39Sự thay đổi về tài sản thuần/vốn chủ sở hữu của đơn vị giữa hai kỳ kế toán phản ánh sự tăng, giảm tài sản của đơn vị theo những nguyên tắc đo lường được chấp nhận và được trình bày trong BCTC
(4) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ xác định các nguồn của những luồng tiền vào, những khoản mục chi bằng tiền trong kỳ kế toán Thông tin về các luồng tiền của một đơn vị rất có ích trong việc cung cấp cho người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính cho cả mục đích giải trình và ra quyết định Thông tin về luồng tiền cho phép những người sử dụng xác định các đơn vị công đã tạo ra tiền để tài trợ cho các hoạt động của mình và cách thức sử dụng tiền của đơn vị như thế nào
(5) Giải trình BCTC
Giải trình BCTC của một đơn vị phải:
(a) Nêu được những thông tin là cơ sở để lập BCTC và chính sách kế toán áp dụng và các sự kiện khác trong đơn vị;
(b) Đưa ra các thông tin theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán công mà nó chưa được trình bày trong báo cáo; và
(c) Cung cấp thêm thông tin chưa được trình bày trong BCTC nhưng cần thiết để phản ánh trung thực
2.3 Một số vấn đề lý luận chung về ĐVSN công lập và chất lượng thông tin kế toán của các trường học công lập
2.3.1 Một số vấn đề lý luận chung về ĐVSN công lập
2.3.1.1 ĐVSN công lập và các trường học công lập
Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP: ĐVSN công lập là đơn vị do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
Phân loại các ĐVSN công lập:
Theo Nghị định số 55/2012/NĐ-CP, có 04 căn cứ để phân loại ĐVSN công lập:
- Ngành, lĩnh vực hoạt động của ĐVSN công lập;
Trang 40- Chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao và cung cấp dịch vụ công của ĐVSN công lập;
- Tính chất, đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ của ĐVSN công lập;
- Cơ chế hoạt động của ĐVSN công lập
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, ĐVSN công được phân thành:
- ĐVSN giáo dục đào tạo
- ĐVSN y tế
- ĐVSN văn hóa thông tin
- ĐVSN thể dục thể thao
- ĐVSN phát thanh, truyền hình
- ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường
- ĐVSN kinh tế (duy tu, sửa chữa )
- ĐVSN khác
Như vậy, theo các quy định về ĐVSN công lập, các trường học công lập trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Long là các ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có
sử dụng nguồn KP Nhà nước cấp Vì vậy, cần phải quản lý và sử dụng nguồn KP một cách hiệu quả để các khoản KP được các trường học công lập được sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế, tránh lãng phí, thất thoát để đảm bảo được mục tiêu về chất lượng giáo dục, đào tạo
2.3.1.2 Chế độ kế toán trong các trường học công lập
Hệ thống chứng từ kế toán:
Theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC hệ thống chứng từ kế toán áp dụng trong các trường học công lập gồm những nội dung:
Nội dung và mẫu chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán phải thực hiện theo đúng
nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo quy định Trường hợp đơn vị chưa
có mẫu chứng từ quy định tại danh mục mẫu chứng từ trong chế độ kế toán này thì áp dụng mẫu chứng từ quy định tại chế độ kế toán riêng trong các văn bản pháp luật khác hoặc phải được BTC chấp thuận