BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐINH NGỌC TÚ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ BAN GIÁM ĐỐC ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN – NG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH NGỌC TÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ BAN GIÁM ĐỐC ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH NGỌC TÚ
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ TRONG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ BAN GIÁM ĐỐC ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN – NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP.HCM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận – Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố HCM” là kết
quả của quá trình học tập, nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Trần Thị Giang Tân Các số liệu, thông tin sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy
TP.Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Tác giả
Đinh Ngọc Tú
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1
LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
KẾT CẤU LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LƠI NHUẬN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ ĐẾN HÀNH VI NÀY 7
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 14
1.2 XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU 16
Kết luận chương 1 2020
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2121
2.1 CÁC KHÁI NIỆM CĂN BẢN 2121
2.1.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận 2121
2.1.2 Giới tính và giới tính nữ 23
2.1.3 Một số khái niệm khác 23
2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 24
2.2.1 Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency theory) 24
Trang 52.2.2 Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory) 25
Kết luận chương 2 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 28
3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 29
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 29
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 332
3.3 MẪU 34
3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 35
3.5 THANG ĐO 36
3.6 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 39
3.6.1 Phương pháp thống kê mô tả 39
3.6.2 Phân tích tương quan 39
3.6.3 Kiểm định mô hình hồi quy 40
Kết luận chương 3 41
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4242
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 42
4.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ KIỂM TRA HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN 44
4.3 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH HỒI QUY 47
Kết luận chương 4 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 54
5.1 KẾT LUẬN 54
5.2 GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC: Báo cáo tài chính
BKS: Ban kiểm soát
CEO: Chief Executive Officer- Giám đốc điều hành
CFO: Chief Financial Officer- Giám Đốc Tài chính
HĐQT: Hội đồng quản trị
KTV: Kiểm toán viên
ROA: Return on Assets-Tỷ số lợi nhuận trên tài sản UNKS: Ủy ban kiểm soát
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước ………17
Bảng 3.1: Số lượng mẫu trong các ngành ……… 35
Bảng 3.2: Tóm tắt các biến ….………38
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả cho biến trong mô hình ………42
Bảng 4.2: Bảng ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình ……… 46
Bảng 4.3: Bảng nhân tử phóng đại phương sai (VIF) ……… 47
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS, FEM, REM ………48
Bảng 4.5: Bảng kết quả hồi quy theo GLS ……… 50
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu ………31
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Theo số liệu thống kê của Vietstock năm 20081, trong số 357 công ty niêm yết, có đến 194 công ty có chênh lệch lợi nhuận sau thuế giữa số liệu trước và sau kiểm toán, với giá trị rất lớn từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, trên cả hai sàn HOSE
và HNX, trong đó, có đến 47 công ty có mức chênh lệch trên 50% Ví dụ như trường hợp của Công ty Thủy sản Minh Phú (MPC), chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán từ lãi 4,036 tỷ đồng về lỗ 38,097 tỷ đồng
Năm 2011, theo trang Cafef.vn2
, nhiều công ty có chênh lệch số liệu lợi nhuận sau thuế trước kiểm toán so với sau kiểm toán đến 2 lần, thậm chí cá biệt có công ty gấp 4 lần Ví dụ như công ty cổ phần Than Hà Lầm (HLC) có lợi nhuận sau thuế giảm 80% so với số liệu trước kiểm toán
Năm 2014, số liệu thống kê của Vietstock vào tháng 4/20143
, cho thấy đến 80% công ty trong số 500 công ty công bố BCTC, phải điều chỉnh số liệu lợi nhuận sau thuế Trong đó, khá nhiều công ty có báo cáo lãi, nhưng sau khi kiểm toán thì lại
bị lỗ, với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng và ngược lại Ngoài ra, nhiều công ty bị các công ty kiểm toán đưa ra các vấn đề lưu ý người đọc cùng với giả định hoạt động liên tục
Năm 2015, theo trang Cafef.vn, có 193 công ty có kết quả hoạt động kinh doanh lãi (chiếm 81%) Tuy nhiên, theo một thống kê mới đây của bộ Kế hoạch và đầu tư, trong số các công ty đang hoạt động ở thời điểm cuối năm 2015, chỉ có 42% công ty hoạt động có lãi, hơn một nửa công ty là thua lỗ hoặc hòa vốn4 Ví dụ như công ty Hoàng Anh Gia Lai có lợi nhuận sau thuế giảm từ 679 tỷ đồng xuống còn
602 tỷ đồng, tương đương với mức chênh lệch là 77 tỷ đồng
1
chinh-2700013.html
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/chung-khoan/bao-dong-ve-chat-luong-bao-cao-tai-2
2013042910001047010.chn
http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/nha-dau-tu-thiet-hai-thi-truong-anh-huong-3
sau-thue-737-341507.htm
http://touch.vietstock.vn/2014/04/sau-kiem-toan-80-doanh-nghiep-phai-dieu-chinh-lai-4
2013042910001047010.chn
Trang 9http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan/nha-dau-tu-thiet-hai-thi-truong-anh-huong-Tình hình trên cho thấy, số liệu lợi nhuận bị sai lệch trước và sau kiểm toán không còn là hiện tượng đơn lẽ mà đã xảy ra khá phổ biến tại các công ty niêm yết Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là vì quy định công ty sẽ bị hủy niêm yết nếu 3 năm thua lỗ liên tiếp Quy định này đã tạo ra áp lực cho nhà quản lý thực hiện các điều chỉnh lợi nhuận nhằm mục đích làm đẹp báo cáo tài chính, để thu hút nhà đầu tư cũng như để đủ tiêu chuẩn tiếp tục niêm yết Hành
vi điều chỉnh lợi nhuận làm báo cáo tài chính không phản ảnh trung thực hợp lý tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty, và có đưa đến quyết định sai lầm của người sử dụng báo cáo tài chính đồng thời cũng làm mất niềm tin của họ vào thị trường vốn
Việc điều chỉnh lợi nhuận có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp và chịu tác động bởi nhiều nhân tố Nghiên cứu (Chtourou et al 2001, Xie et al 2003, Gonza´lez et al 2014, Peasnell et al 2000, Iqbal & Strong 2012, Wang & Campbell
2012, Latif & Abdullah 2015, Murhadi 2010, Gulzar & Wang 2011…) đã chứng minh rằng các nhân tố của quản trị công ty như hội đồng quản trị (quy mô của HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, sự kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT…), ủy ban kiểm soát (sự hiện điện của UBKS, Tỷ lệ thành viên độc lập…) có tác động đến hành vi này
Nhiều nghiên cứu khác cũng đã chứng minh rằng nếu công ty có CEO, CFO
là nữ hay công ty có số lượng nữ giới trong HĐQT cao sẽ giúp giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Peni 2010, Gulzar & Wang 2011, Gavious, Segev & Yosef
2012, Ismail & Abdullah 2013, Lakhal et all 2015, Arun et al 2015…)
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi này còn khá khiêm tốn Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của thành viên nữ trong hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty như nghiên cứu của Trần Đặng Vĩnh Hảo 2014; Hoàng Cẩm Trang & Võ Văn Nhị 2014 Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Trong khi đó, theo chiến dịch quốc gia về bình đẳng giới 2011 – 2020 của Chính phủ, với mục tiêu là đẩy mạnh, nâng cao sự tham gia của phụ nữ vào các vai trò lãnh đạo và quản lý trong nên kinh tế Vì vậy, vấn đề đặt ra là nữ giới có vai trò thật sự quan trọng hay không, đặc biệt trong lĩnh
Trang 10vưc quản lý, và nếu nữ giới là người lãnh đạo có làm giảm thiểu hành vi điều chỉnh
lợi nhuận hay không Từ đó, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận – Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố HCM” để tìm hiểu mối quan hệ này ở Việt Nam
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung: Xem xét ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị
và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xem xét ảnh hưởng của giới tính nữ của thành viên Ban giám đốc (CEO,CFO) và hội đồng quản trị (chủ tịch HĐQT) đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
- Xem xét ảnh hưởng của số lượng nữ trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
- Xem xét ảnh hưởng của số lượng nữ điều hành trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Thành viên nữ trong Ban giám đốc (CEO,CFO) và chủ tịch HĐQT có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM không?
- Số lượng nữ trong HĐQT có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM?
- Số lượng nữ tham gia điều hành trong HĐQT có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM?
Trang 11ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là tác động của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Luận văn sử dụng dữ liệu của các các công ty niêm yết tại HOSE cho giai đoạn 2010-2015 được thu thập trên báo cáo tài chính, báo cáo thường niên Phạm
vi nghiên cứu không bao gồm các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, các ngân hàng và công ty bảo hiểm vì các đối tượng này lập và trình bày BCTC theo chế độ
kế toán khác với chế độ kế toán dành cho các công ty
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có hai loại phổ biến đó là hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến dồn tích (AEM-Accruals-based Earnings Management) và hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế (REM- Real Activities Manipulation hay Real Earning Management) Với thời gian hữu hạn, luận văn chỉ
tập trung nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến dồn tích
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và một số phương pháp nghiên cứu cụ thể mà luận văn sử dụng là:
- Phân tích thống kê mô tả
- Phân tích tương quan
- Kiểm định mô hình hồi quy OLS
Trang 12- Công ty có CFO là nữ có mối tương quan thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp một số điểm về mặt thực tiễn như:
- Các công ty (hay chính các cổ đông của công ty) có thể lựa chọn CEO là nữ hay quy định về số lượng nữ trong Hội đồng quản trị phù hợp (tối thiểu từ 3 nữ trở lên) Điều này giúp giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời nên hạn chế số lượng thành viên nữ kiêm nhiệm chức năng điều hành trong HĐQT cũng như việc bổ nhiệm giám đốc tài chính là nữ có thể làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Công ty kiểm toán và kiểm toán viên (KTV) nhận diện khả năng xuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong giai đoạn tìm hiểu khách hàng và lập kế hoạch kiểm toán KTV đánh giả rủi ro có hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua xem xét số lượng nữ giới trong HĐQT, số lượng nữ giới điều hành trong HĐQT, CEO và CFO của công ty
KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài chương Mở đầu, kết cấu luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu trước
Chương này sẽ trình bày về tổng quan và nhận xét nội dung của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện có liên quan đến đề tài đồng thời
xác định những kết quả đạt được và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương này sẽ trình bày về các khái niệm nền tàng như hành vi điều chỉnh lợi nhuận, Cơ sở dồn tích, Chính sách kế toán, Thay đổi ước tính kế toán
Ngoài ra, chương này còn trình bày các lý thuyết nền tảng giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận kế toán
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Từ phần tổng quan các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết, chương này sẽ trình bày về: các giả thuyết nghiên cứu, đề xuất phương pháp nghiên cứu, xây dựng
mô hình nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và mô tả các biến cũng như phương pháp kiểm định để giải quyết cụ thể cho mục tiêu nghiên cứu đưa ra
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương này sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu thu được và bản luận kết quả này
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương này sẽ tóm tắt nghiên cứu, thảo luận các vấn đề xoay quanh kết quả đạt được, đề xuất một số kiến nghị và trình bày về hạn chế của nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước đã được thực hiện liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT và Ban Giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận; đồng thời xác định những kết quả đạt được cũng như khe hổng nghiên cứu,
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LƠI NHUẬN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ ĐẾN HÀNH VI NÀY
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm vì hành vi này làm BCTC không còn phản ảnh trung thực và hợp lý, ảnh hưởng đáng kể quyết định người sử dụng và có thể gây thiệt hại cho xã hội Trong đó, khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh giới tính nữ có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Các dòng nghiên cứu chính có thể kể ra bao gồm:
1.1.1.1 Các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Dòng nghiên cứu này tập trung xây dựng các mô hình đề phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận như là:
1.1.1.1.1 Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán (thông qua các biến dồn tích)
Điều chỉnh lợi nhuận là hành vi sử dụng các phương pháp nhằm thay đổi kết quả hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu của người quản lý Có nhiều cách thức để thay đổi kết quả, một trong số này là lựa chọn chính sách kế toán như khấu hao, dự phòng, trì hoãn hay ghi nhận sớm doanh thu Phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận rất quan trọng đối với nhiều nghề nghiệp, trong đó có nghề kiểm toán Một số nghiên cứu tiêu biểu về hành vi này như sau:
Healy (1985) nghiên cứu về hành vi của nhà quản lý khi khoản thưởng hàng năm của họ gắn liền với lợi nhuận trình bày trên báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy kế hoạch thưởng cho người quản lý có ảnh hưởng đến sự lựa chọn
Trang 15chính sách kế toán nhằm thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của người quản lý Khi lợi nhuận trong kỳ kế toán hiện tại dự tính cao hơn mức lợi nhuận để nhận được khoản thưởng, nhà quản lý có khuynh hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận của năm hiện hành để làm tăng lợi nhuận cho các kỳ sau nhằm đạt các khoản thưởng vào kỳ sau Kết quả nghiên cứu của Healy cũng chỉ ra rằng biến tổng dồn tích (total accruals - được ước tính bằng lợi nhuận sau thuế trừ đi dòng tiên từ hoạt động kinh doanh), được xem là biến đại diện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận Biến này bao gồm dồn tích có điều chỉnh (discretionary accruals) và dồn tích không điều chỉnh (nondiscretionary accruals)
Jones (1991) nghiên cứu các công ty có trợ cấp từ nhập khẩu (import relief) như gia tăng ưu đãi thuế và giảm hạn ngạch (tariff increases and quota reduction) để xem xét liệu có hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn công ty nhận trợ cấp nhập khẩu, Ban giám đốc có ít động cơ để tăng lợi nhuận mà thường điều chỉnh giảm lợi nhuận thông qua cách thức trì hoãn việc ghi nhận doanh thu Cách làm này sẽ giúp BGĐ hưởng lợi trong tương lai khi không còn khoản trợ cấp Khi ấy, với số lợi nhuận cao, Ban Giám đốc sẽ có các khoản tiền thưởng cao hơn Trong đó, biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA- discretionary accruals) được sử dụng để đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận vì biến tổng dồn tích (TA- total accruals) có thể bị chi phối rất lớn từ Ban giám đốc
Từ đó, Jones (1991) đã xây dựng mô hình để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, đặc biệt mô hình này sử dụng để kiểm tra cho dữ liệu thời gian (time-series)
và dữ liệu chéo (cross-section), mô hình như sau:
Trong đó:
TA: tổng dồn tích (Total Accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền từ hoạt động
REV: Doanh thu (Revenues)
PPE: Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình (Property, Plant and Equipment)
A: Tổng tài sản
Trang 16NDA: Biến dồn tích không điều chỉnh
Dựa vào mô hình trên, có thể xác định tham số αi, βi1, βi2 Sau đó, dựa vào các tham số nàyđể xác định biến dồn tích không điều chỉnh- NDA và từ đó sẽ tiến hành tính ra biến dồn tích có điều chỉnh-DA bằng công thức sau:
DA = TA – NDA
Dechow, Sloan & Sweeney (1995) cũng nghiên cứu mô hình để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Từ mô hình của Jones (1991), các tác giả đã cải tiến để đưa ra mô hình mới bằng cách thay sự thay đổi của doanh thu trong mô hình Jones (1991) bằng sự thay đổi của doanh thu và nợ phải thu Nguyên nhân đưa đến sự thày đổi này là vì nhà quản lý có thể điều chỉnh doanh thu trong khi chưa thu được tiền Điều này sẽ làm tăng doanh thu và tăng tổng dồn tích (TA-Total Accruals vì do tăng doanh thu) nên việc sử dụng mô hình Jones để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể bị thiên lệch Nhóm tác giả đã đi đến kết luận rằng mô hình cải tiến từ mô hình Jones này giúp phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn so với mô hình của Jones Mô hình các tác giả này đề xuất như sau:
Trong đó là sự thay đổi trong tài khoản nợ phải thu Và các hệ số , vẫn được tính toán dựa vào mô hình Jones Kothari, Leone & Wasley (2005) đã dựa trên mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan & Sweeney (1995) và đưa thêm vào mô hình biến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản năm t-1 (ROAt-1) để đo lường biến dồn tích có điều chỉnh và kết quả hoạt động Mô hình các tác giả này đề xuất như sau:
Trong đó là tỷ suất lợi nhuận trên tài sản năm t-1
1.1.1.1.2 Nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế
Điều chỉnh lợi nhuận thông qua hoạt động kinh tế là cách thức mà nhà quản
lý sẽ tác động tới các hoạt động kinh tế như thực hiện chính sách bán hàng cho
Trang 17hưởng chiếu khấu, thay đổi việc đầu tư vào tài sản hay thiết bị mới… để từ đó tác động tới doanh thu, chi phí, lợi nhuận hay dòng tiền của công ty
Khá nhiều nghiên cứu chứng minh công ty có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế (Real Activities Manipulation hay Real Earning Management-REM) Một số nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Roychowdhury (2006) đã xây dựng mô hình để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế Thông qua sử dụng mô hình hồi quy chéo (Cross-sectional) cho 36 ngành của 4252 công ty tại Hoa kỳ trong giai đoạn 1987-2001, tác giả phát hiện ra rằng nhà quản lý có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế để tránh báo cáo lỗ hàng năm Đặc biệt, tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy nhà quản lý đã áp dụng các biện pháp như thực hiện chiết khấu để gia tăng doanh thu, sản xuất nhiều để báo cáo chi phí giá vốn hàng bán thấp hơn Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận bao gồm thành viên ngành5, hàng tồn kho dự trữ và các khoản phải thu cao Tác giả cũng phát hiện ra rằng các công ty sẽ thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với các phân tích dự báo hàng năm Đồng thời, tác giả cũng tìm ra các mối quan
hệ nghịch chiều giữa cấu trúc sở hữu về vốn và hành vi điều chỉnh lợi nhuận, và mối quan hệ dương giữa hàng tồn kho dự trữ, nợ phải thu, cơ hội tăng trưởng và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Zamri et al (2013) đã sử dụng mô hình của Roychowdhury (2006) để kiểm tra mối quan hệ giữa các tỷ số về đòn bẩy tài chính với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tác giả đã sử dụng mẫu nghiên cứu là 4,076 công ty trong giai đoạn 2006-
2011 của các công ty niêm yết ở Bursa Malaysia, và tác giả đã tìm ra mối quan hệ
âm giữa đòn bẩy tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Từ các nghiên cứu trên cho thấy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích) và thông qua các hoạt động kinh tế Như phần phạm vi nghiên cứu ở chương mở đầu đã đề cập, luận
5
Thành viên ngành: theo giải thích của tác giả thì các công ty sản xuất và phi sản xuất có thể thực hiện chiết khấu để tăng doanh thu, tuy nhiên các công ty sản xuất có một chiến lược để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận là sản xuất dư thừa Do đó, các bằng chứng
về sản xuất dư thừa, chi phí sản xuất bất thường thuộc về các ngành công nghiệp sản xuất
Trang 18văn này chỉ nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích)
1.1.1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng giới tính có ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận Một số nghiên cứu tiêu biểu như là:
1.1.1.2.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính Nữ trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Kramer et al (2006) nghiên cứu về mức tới hạn (Critical Mass) trong ban điều hành với nhan đề: Vì sao ban điều hành nên là ba hoặc nhiều thanh viên nữ hơn? Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng phụ nữ cao trong HĐQT có thể tạo ra một sự khác biệt đáng kể Nếu chỉ có một phụ nữ duy nhất, thường không có những đóng góp đáng kể, nhưng khi số lượng phụ nữ tăng lên gấp đôi, lên gấp ba hoặc nhiều hơn, tiếng nói và ý tưởng của phụ nữ sẽ được lắng nghe và họ sẽ làm tăng sự năng động của HĐQT một cách đáng kể Sự kỳ diệu này sẽ xảy ra khi ba hoặc nhiều hơn phụ nữ hiện diện trong HĐQT, số lượng phụ nữ này có thể ảnh hưởng tích cực đến quản trị công ty Phụ nữ được coi là cá nhân với tính cách, phong cách, và lợi ích khác nhau Xu hướng của phụ nữ là hợp tác nhiều hơn, chủ động hơn trong việc đưa ra những câu hỏi về những vấn đề khác nhau trong các buổi thảo luận để tăng cường tính hiệu lực cho hội đồng quản trị
Bermig & Bernd (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT, thành phần HĐQT và quy mô HĐQT tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 294 công
ty niêm yết ở Đức, tương ứng với khoảng 2.400 quan sát trong giai đoạn 1998-2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính nữ trong HĐQT có thể nâng cao hiệu suất của HĐQT trong việc giám sát các CEO, cải thiện sự trao đổi thông tin, nâng cao hiệu suất hoạt động và từ đó giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban giám đốc Nghiên cứu của Srinidhi et al (2011, theo Man & Wong 2013) cũng xác nhận kết quả tương tự
Gulzar & Wang (2011) nghiên cứu về đặc điểm quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 1009 công ty niêm yêt ở Trung Quốc trong giai đoạn 4 năm (từ 2002 tới 2006), kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng nữ trong HĐQT cao
Trang 19sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Ismail & Abdullah (2013) nghiên cứu về ảnh hưởng giới tính nữ trong HĐQT và Ủy ban kiểm toán đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tại các công ty ở Malaysia, với mẫu là 639 công ty niêm yết vào năm
2008 cũng xác định kết quả nghiên cứu tương tự Và nghiên cứu Lakhal et all (2015) cũng đưa ra kết quả tương tự như các nghiên cứu trên
Gavious, Segev & Yosef (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại 60 công ty kỹ thuật số/công nghệ cao (high-technology firms) của Israel, niêm yết ở Mỹ trong giai đoạn 2002-2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ lệ nữ giới trong HĐQT với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Arun et al (2015) cũng nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 1217 quan sát trong giai đoạn 2005-2011 cho các công ty niêm yết ở Anh Tác giả đã sử dụng mô hình modified Jones tức mô hình của Dechow et al (1995) để tính biến dồn tích có điều chỉnh DA cho dữ liệu chéo (cross-section), sau
đó tiến hành hồi quy mô hình OLS Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng nữ giới trong HĐQT cao sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và tác giả còn tìm ra một kết luận khác là số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT càng cao thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Man & Wong (2013) nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phương pháp tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trước Kết quả nghiên cứu cho thấy giới tính nữ trong HĐQT sẽ có thể giúp nâng cao sự tin cậy đối với sự lãnh đạo và giúp nâng cao khả năng chống lại rủi ro gian lận và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Lakhal et all (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của sự đa dạng giới tính trong HĐQT và Ban Giám đốc đối với hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 170 công ty niêm yết tại Pháp trong giai đoạn 4 năm từ 2008 tới 2011.Tác giả tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa công ty có ít nhất trở lên ba phụ nữ trong HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu của Lakhal et all (2015) cho thấy, phụ nữ có một mối quan tâm lớn hơn về mối quan hệ giữa các cá nhân và thường công bằng hơn khi họ ở cùng
vị trí quyền lực so với nam giới Thông qua các nghiên cứu, tác giả nhận xét rằng
Trang 20đàn ông và phụ nữ khác nhau về đặc điểm và hành vi, phụ nữ thường nhận thức đạo đức cao hơn đàn ông Phụ nữ không chỉ thận trọng hơn so với nam giới, mà còn ít bị chủ nghĩa cơ hội trong việc ra quyết định Điều này càng thấy rõ hơn khi phụ nữ ở các vị trí cao nhất như chủ tịch hội đồng quản trị Nữ chủ tịch HĐQT thường có thể
có nhiều khả năng để phát hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để tránh nguy cơ kiện tụng và mất danh tiếng bởi vì họ không dễ dàng ở vào các vị trí như nam giới Cuối cùng, tác giả đã kết luận rằng khi chủ tịch HĐQT là nữ thì sẽ có mối quan hệ nghịch chiều đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Kyaw et al (2015) kiểm tra sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và hành vi điều chỉnh lợi nhuận bằng phương pháp kiểm định mô hình hồi quy với dữ liệu bảng cho 970 công ty ở Châu Âu trong giai đoạn 2002-2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng nữ trong HĐQT làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận với điều kiện
là phải có sự cân bằng giới tính trong HĐQT Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trao quyền cho nữ giới ở nơi làm việc trong việc đạt được những lợi ích tiềm năng của nó Nữ giới trong HĐQT có thể mang lại các lợi ích cho công
ty nếu họ được trao quyền thực sự trong môi trường làm việc
1.1.1.2.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính Nữ trong Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh ảnh hưởng của giới tính Nữ đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận Zahra et al (2007), trong nghiên cứu về “Hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả về gian lận của Ban Giám đốc” Tác giả cho rằng một số đặc tính cá nhân (Individual characteristics) như tuổi, giới tính, kinh nghiệm, giáo dục của Ban giám đốc-bên cạnh các áp lực của xã hội, ngành nghề hay tổ chức-ảnh
hưởng đến hành vi gian lận Nam giới thường được cho là sẵn sàng chấp nhận các
hành vi trái đạo đức để đạt được mục tiêu của họ nhiều hơn là nữ giới Nam giới thường là thủ phạm chính của gian lận trong tổ chức có thể bởi vì họ muốn tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong tổ chức
Peni & Vähämaa (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa CEO và CFO là nữ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho 391 công ty tương ứng với 1955 quan sát của
4 ngành trong giai đoạn 2003-2007, bằng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy khi CFO là nữ thì sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi
Trang 21nhuận, tuy nhiên tác giả không tìm thấy mối quan hệ khi CEO là nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Kết quả nghiên cứu Gavious, Segev & Yosef (2012) đã dẫn ở trên cho thấy hành vi điều chỉnh lợi nhuận thấp hơn khi CEO hoặc CFO là nữ giới
Khan & Vieito (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính CEO và hiệu quả hoạt động của công ty tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992-2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu CEO là nữ thì mức độ rủi ro của công ty sẽ nhỏ hơn so với khi CEO là nam
Ngược lại với các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Arun et al (2015) đã dẫn ở trên cho thấy khi CFO là nữ thì không ảnh hưởng tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Lakhal et all (2015) nghiên cứu đã dẫn ở trên cho thấy khi CEO và CFO là
nữ thì không ảnh hưởng mạnh đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Duong & Evans (2016) nghiên cứu sự ảnh hưởng của giới tính nữ CFO đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các công ty niêm yết ở Úc trong giai đoạn 2006-
2010 bằng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng của 556 quan sát Nghiên cứu nhắm xem xét ảnh hưởng của CFO là nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến dồn tích (AEM) và hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế (REM) Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan nghịch giữa CFO là
nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cả cho AEM và REM tức khi CFO là nữ thì sẽ làm giảm hành vi này
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Một số nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Hiện ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, một số nghiên cứu về chủ đề này như sau:
Phạm Thị Bích Vân (2012) nghiên cứu về mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Nghiên cứu này phân tích sự phù hợp của mô hình Modified Jones trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của 54 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM (HOSE) trong niên độ kế toán 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty
Trang 22niêm yết trên HOSE vì hệ số đo lường mức độ phù hợp của mô hình R2 = 3,8% Tuy nhiên sau khi phân tích môi trường vĩ mô của TP.HCM nói riêng và VN nói chung, tác giả đã đưa các biến như: doanh thu, chi phí khấu hao, chi phí dự phòng đưa vào
mô hình thì hệ số đo lường sự phù hợp của mô hình tăng lên (R2 = 40,9%)
Nguyễn Trí Tri (2012) nghiên cứu về lý thuyết về thủ thuật chi phối lợi nhuận của nhà quản lý và tác động của nó đến người sử dụng báo cáo tài chính Tác giả đã
hệ thống các nghiên cứu trước đây trên thế giới về các vấn đề về hành vi điều chỉnh lợi nhuận như phân loại, các đối tượng ảnh hưởng và một số thủ thuật để điều chỉnh lợi nhuận Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu về các mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Từ đó tác giả đưa ra các góp ý hướng nghiên cứu thực nghiệm hành
vi điều chỉnh lợi nhuận ở Việt Nam
Nguyễn Trí Tri (2013) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trước đây và đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng như: Lương thưởng cho nhà quản lý, giá cổ phần, hợp đồng vay vốn, chất lượng kiểm toán BCTC, sự độc lập của HĐQT và UBKT và môi trường pháp lý Từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC ở Việt Nam
Giáp Thị Liên (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Tác giả nghiên cứu 101 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM tương ứng vơi 505 quan sát trong giai đoạn 2009-2013 và sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow et al (1995) để đo lường biến hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho dữ liệu bảng (panel data) Tác giả tìm ra rằng: tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành, tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi ban giám đốc, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lớn đều giúp làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Tác giả không tìm thấy một mối quan hệ có ý nghĩa quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm chức vụ trong công ty, thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính – kế toán – kiểm toán, tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi thành viên Hội
Trang 23đồng quản trị không điều hành, tỷ lệ sở hữu cổ phần của Ban kiểm soát có tương quan với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
1.1.2.2 Một số nghiên cứu về giới tính nữ
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu liên quan tới giới tính nữ Riêng nghiên cứu ảnh hưởng giới tính nữ đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận chưa được thực hiện tại Việt Nam Một số nghiên cứu về giới tính nữ được thực hiện như là:
Hoàng Cẩm Trang & Võ Văn Nhị (2014) nghiên cứu ảnh hưởng của thành viên nữ trong hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy, tỷ lệ phụ nữ trong HĐQT có tương quan thuận với hiệu quả hoạt động công ty dựa vào giá trị thị trường (Tobin’s Q) nhưng không ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động công ty theo giá trị kế toán (ROA, ROE và ROCE) Ngoài ra nghiên cứu coàn phát hiện ra khi số thành viên nữ trong HĐQT từ 3 thành viên trở lên sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động công ty theo giá trị thị trường và giá trị kế toán
Trần Đặng Vĩnh Hảo (2014) nghiên cứu về sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng giới tính trong HĐQT không có tác động đáng kể đến giá trị của công ty Và điều thu hút các nhà quản trị nữ làm việc trong một công ty không phải là do giá trị của công ty mà là do ảnh hưởng từ số lượng thành viên trong HĐQT và quy mô công ty đó
1.2 XÁC ĐỊNH KHE HỔNG NGHIÊN CỨU
Như đã trình bày ở phần trên, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu xoay quanh ảnh hưởng của, giới tính đến hiệu quả hoạt động, chất lượng báo cáo tài chính hay hành vi điều chỉnh lợi nhuận… Tại Việt Nam cho đến nay số lượng nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận còn khá khiêm tốn và chưa có nghiên cứu nào theo hướng ảnh hưởng của Giới tính Nữ là thành viên Ban giám đốc và Hội đồng quản trị đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do vậy, tác giả đã chọn đề tài này
đề làm luận văn thạc sỹ nhằm thực nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của giới tính
nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, qua
Trang 24đó xem xét tác động của ảnh hưởng của giới tính nữ trong Hội đồng quản trị và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận như thế nào
Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước
Nghiên cứu nước ngoài
1 Healy (1985) Nghiên cứu về hành vi của nhà quản lý khi khoản thưởng
hàng năm của họ gắn liền với lợi nhuận trình bày trên báo cáo tài chính
2 Jones (1991) Nghiên cứu các công ty có trợ cấp từ nhập khẩu như gia
tăng ưu đãi thuế và giảm hạn ngạch để xem xét liệu có hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không
Trang 2510 Gulzar & Wang
Nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận
14 Khan & Vieito
16 Kyaw et al
(2015)
Nghiên cứu sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và hành
vi điều chỉnh lợi nhuận
17 Arun et al (2015) Nghiên cứu về giới tính nữ trong HĐQT, Ban Giám đốc
với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
18 Duong & Evans
(2016)
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của giới tính nữ CFO đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu trong nước
3 Nguyễn Trí Tri
(2013)
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC
Trang 264 Giáp Thị Liên
(2014)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 27Kết luận chương 1
Trong chương này tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
và nghiên cứu trong nước liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, giới tính nữ
và ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT và Ban Giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, cũng như những kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước đây từ
đó xác định khe hổng nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cho luận văn
Trang 28CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này gồm 2 phần: phần đầu tiên đề cập các khái niệm liên quan như, hành vi điều chỉnh lợi nhuận, giới tính và giới tính nữ, cơ sở dồn tích, chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán Phần tiếp theo trình bày các lý thuyết nền tảng giải
thích ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
2.1 CÁC KHÁI NIỆM CĂN BẢN
2.1.1 Hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Có khá nhiều định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận (hay chi phối lợi nhuận- chi phối thu nhập) đứng trên nhiều góc nhìn khác nhau, trong đó có 2 khái niệm được sử dụng khá phổ biến như:
Healy & Wahlen (1999) đưa ra định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận
như sau“Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản lý dùng xét đoán trên
báo cáo tài chính và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế nhằm làm thay đổi kết quả kinh doanh để gây hiểu lầm (mislead) cho một số đối tượng có liên quan về thực trạng kinh tế của công ty hoặc nhằm tác động đến kết quả của các hợp đồng kinh tế
mà chúng dựa trên số liệu kế toán”
Ronen và Yaari (2008) đã định nghĩa: Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là một
tập hợp các quyết định quản lý tác động đến BCTC mà kết quả không phản ánh đúng lợi nhuận thực trong ngắn hạn, nhắm tối đa hóa giá trị công ty (true short-term, value maximizing earnings) mà nhà quản lý đã biết về chúng Hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể là mang lại lợi ích (cung cấp tín hiệu về giá trị trong dài hạn), nguy hại (che dấu giá trị ngắn hạn hoặc dài hạn), trung tính (cho thấy năng lực hoạt động thực trong ngắn hạn)
Như vậy, từ hai định nghĩa trên cho thấy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận có đặc điểm chung đó là tác động có chủ ý của người quản lý nhằm thay đổi lợi nhuận kế toán Ở định nghĩa đầu tiên, hành vi điều chỉnh lợi nhuận chỉ là hành động của nhà quản lý nhằm thay đổi số liệu để gây đánh giá sai cho một số đối tượng có liên quan Định nghĩa thứ hai (Ronen và Yaari), nhà quản lý dựa trên hiểu biết của mình
để đưa ra các quyết định để làm thay đổi lợi nhuận nhắm tối đa hóa giá trị công ty
Trang 29Định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Ronen và Yaari được chọn làm định nghĩa sử dụng chính thức trong bài luận văn
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường được phân loại thành hai nhóm: (1) điều chỉnh lợi nhuận dựa trên lựa chọn chính sách kế toán – thông qua các biến dồn tích (Accruals-based Earnings Management-AEM); và (2) thông qua thực hiện các hoạt động kinh tế (Real Activities Manipulation hay Real Earning Management-REM)
- Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích)
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua lựa chọn chính sách kế toán là cách thức nhà quản lý lựa chọn áp dụng các chính sách kế toán khác nhau được cho phép bởi các chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP - General Accounting Accepted Principles) để ghi nhận hay trình bày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, từ đó tác động đến lợi nhuận kế toán
Do yêu cầu từ chuẩn mực kế toán là cần lập BCTC theo cơ sở dồn tích, nhà quản lý có thể tác động đến chính sách kế toán – thông qua các biến dồn tích như: lựa chọn phương pháp xuất kho hàng tồn kho, phương pháp tính khấu hao theo phương pháp nào có lợi nhất cho công ty; các khoản chi phí trích trước, phân bổ, lập
dự phòng… hay quyết định vốn hóa chi phí hay không… để thực hiện điều chỉnh thu nhập
- Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế là cách thức nhà quản lý sẽ thay đổi, chỉnh sữa, cấu trúc lại các hoạt động kinh tế nhằm tác động đến lợi nhuận trên báo cáo tài chính Một số phương pháp mà nhà quản lý có thể sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận như là: thay đổi chính sách bán chịu, áp dụng các chương trình khuyến mãi, chiết khấu bán hàng, nới lỏng chính sách tín dụng… để tăng doanh thu nhất là vào những ngày kết thúc niên độ; cắt giảm các chi phí như chi phí quảng cáo, nghiên cứu và phát triển (R&D), hay thậm chí các chi phí duy tu, bảo trì máy móc định kỳ…; hay tăng cường sản xuất sản phẩm để giảm giá thành sản phẩm và giá vốn hàng bán để làm tăng lợi nhuận…
Trang 30Tóm lại, hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích) và thông qua các hoạt động kinh tế Luận văn chỉ nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích), không nghiên cứu thông qua hoạt động kinh
tế
2.1.2 Giới tính và giới tính nữ
Theo điều 5 luật bình đẳng giới thì: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam
và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội Và Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học
của nam, nữ
Theo wikipedia6:
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn
bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho
là đã trưởng thành về mặt xã hội Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định Nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất là không xấu, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này
cơ sở thực tế phát sinh Do vậy, giữa dòng tiền trên BCLCTT và lợi nhuận trên
6
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BB%A5_n%E1%BB%AF
Trang 31BCKQHĐKD sẽ có một độ vênh, khoản chênh lệch này gọi là biến dồn tích total accruals) (Phạm Thị Bích Vân 2012)
(TA-Chính sách kế toán: Theo chuẩn mực kế toán số 29: (TA-Chính sách kế toán: Là
các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Thay đổi ước tính kế toán: Là việc điều chỉnh giá trị ghi sổ của tài sản, nợ phải trả hoặc giá trị tiêu hao định kỳ của tài sản được tạo ra từ việc đánh giá tình trạng hiện thời và lợi ích kinh tế trong tương lai cũng như nghĩa vụ liên quan đến tài sản và nợ phải trả đó Những thay đổi trong ước tính kế toán do có các thông tin mới không phải là sửa chữa các sai sót
2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG
2.2.1 Lý thuyết Ủy nhiệm (Agency theory)
Lý thuyết này được phát triển bởi Jensen và Meckling năm 1976 với giả định cho rằng một công ty được xem như một mối quan hệ bằng hợp đồng giữa các chủ thể cung cấp nguồn lực cho công ty Mối quan hệ ủy nhiệm – đại diện xuất hiện khi một hoặc nhiều cá nhân (gọi là bên ủy nhiệm – principals) thuê một hoặc nhiều cá nhân khác (bên đại diện – agents) để thực hiện một số công việc và do đó đã chuyển quyền ra quyết định kinh tế cho bên đại diện Ví dụ điển hình là mối quan hệ giữa
ủy nhiệm họ sẽ tốn các chi phí ủy nhiệm để giảm thiểu các hành động vì mục đích
cá nhân của nhà quản lý, ví dụ như chi phí giám sát, chi phí kiểm toán…
Như vậy, lý thuyết ủy nhiệm là cơ sở để giải thích cho hành động của nhà quản lý trong công ty cổ phần Nhà quản lý sẽ thực hiện tối đa hóa quy mô của công
Trang 32ty (ví dụ thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận) để tạo danh tiếng của bản thân,
để được hưởng các khoản lương, thưởng Và bên ủy nhiệm sẽ có những động thái
để bảo vệ, ví dụ như tăng cường giám sát, …
Dựa trên lý thuyết trên, các nhà nghiên cứu kế toán tìm kiếm bằng chứng về những nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý, ví dụ như nghiên cứu về các chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận và tác động đến giá trị của công ty cũng được nghiên cứu xem như đại diện như những yếu tố thể hiện sự cân nhắc của nhà quản lý khi lựa chọn chính sách kế toán (Leftwich (1981)) và việc lựa chọn chính sách kế toán sẽ dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý (Healy (1985), Jones (1991))
Để giảm sự xung đột lợi ích này, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát sẽ giám sát hoạt động của Ban giám đốc, trong đó có kiểm tra và giám sát báo cáo tài chính
có trình bày trung thực và hợp lý hay không nhằm tránh những hành vi tác động tới
sự lựa chọn chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận có thể xảy ra trên báo cáo tài chính
2.2.2 Lý thuyết các bên có liên quan (stakeholder theory)
Lý thuyết này được khởi xướng bởi Freeman (1984) Lý thuyết này cho rằng công ty cần xem xét và hoạt động dựa trên lợi ích, nhu cầu và mong đợi của các đối tượng khác (bên cạnh mối quan hệ giữa nhà quản lý và chủ sở hữu) như chủ nợ, nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, nhà nước…Các bên liên quan là bất kỳ cá nhân hoặc nhóm có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi những hành động và mục tiêu của tổ chức Tức là, có quyền lợi hoặc có liên quan tới tổ chức và họ được xác định bởi lợi ích của họ trong tổ chức
Người lao động có công việc và họ cung cấp kỹ năng và thời gian để cam kết với công ty, do đó họ kỳ vọng về tiền lương, điều kiện làm việc an toàn và phúc lợi
xã hội thích hợp Khách hàng tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của công ty đồng thời cung cấp doanh thu cho công ty; khách hàng cũng là người gián tiếp chi trả cho
sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ mới của công ty do đó, họ mong đợi để nhận được những giá trị tương ứng trong trao đổi Các nhà cung cấp đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của công ty đó là cung cấp các nguồn lực đầu vào
Trang 33mà sẽ quyết định đến chất lượng và giá cả của sản phẩm cuối cùng, công ty nên xem
họ như là các đối tác đáng tin cậy vì họ và công ty có thể cùng phát triển và thất bại cùng với nhau Cộng đồng địa phương (Local community) cung cấp cơ sở hạ tầng,
vị trí, đôi khi các ưu đãi về chính sách thuế Vì vậy, họ mong đợi các công ty tôn trọng chính sách và tránh các hành động gây ô nhiễm môi trường, nhiễm độc nguồn nước
Giám đốc công ty đóng một vai trò đặc biệt, một mặt giám đốc đóng vai trò như là người lao động, mặt khác, giám đốc lại có trách nhiệm bảo vệ phúc lợi cho đơn vị Đặc biệt, Tổng giám đốc phải quan tâm tới sức chị của tổ chức và điều đó liên quan tới sự cân bằng các xung đột trong các đòi hỏi khác nhau của các bên liên quan Người chủ sở hữu muốn kết quả tài chính cao hơn, trong khi khách hàng muốn nhiều tiền hơn cho nghiên cứu và phát triển Trong khi nhân viên mong muốn tiền lương và phúc lợi cao hơn… Vì vậy, nó thực sự là khó khăn để cân bằng tất cả các mục tiêu Nhà quản lý với tư cách là người đại diện cho cổ đông cần điều hành công ty và đưa ra các quyết định kinh tế đảm bảo sự tồn tại, phát triển của công ty, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của các bên có liên quan vì họ có tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, Ban Giám đốc có thể thực hiện các hành vi gian lận, điều chỉnh lợi nhuận trong mối quan hệ với các đối tượng có liên quan thông qua thông tin mà họ cung cấp Lý thuyết này có thể giải thích các đối tượng có liên quan mong muốn báo cáo tài chính trung thực để ra quyết định phù hợp nhưng do lợi ích, người quản lý có thể có xung đột lợi ích với các bên này,
do vậy sẽ ngụy tạo hình ảnh khác nhằm đạt được mục tiêu của họ
Trang 34Kết luận chương 2
Chương này tác giả đã trình bày các khái niệm có liên quan và các lý thuyết nền tảng giải thích ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận, do đó trong luận văn này chọn định nghĩa của Ronen và Yaari (2008) Và hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích) và thông qua các hoạt động kinh tế Trong luận văn này chỉ nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận có thể thực hiện thông qua lựa chọn chính sách kế toán (các biến dồn tích)
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Quy trình nghiên cứu của luận văn như sau:
Như vậy quy trình nghiên cứu của luận văn trải qua sáu bước như sơ đồ tổng hợp ở trên Đầu tiên Luận văn xác định vấn đề nghiên cứu là nghiên cứu về là tác động của giới tính nữ trong HĐQT và Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, bước hai, luận văn trình bày tổng quan các nghiên cứ trước đây gồm nghiên cứu nước ngoài và trong nước về giới tính nữ và hành vi điều chỉnh lợi nhuận Bước
ba, luận văn trình bày các cơ sở lý thuyết như các khái niệm liên quan về hành vi điều chỉnh lợi nhuận, Cơ sở dồn tích, Chính sách kế toán, Thay đổi ước tính kế toán
và các lý thuyết nền tảng giải thích hành vi điều chỉnh lợi nhuận gồm lý thuyết Ủy nhiệm và lý thuyết các bên liên quan Bước bốn, dựa vào các nghiên cứu trước đây, luận văn tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là hành vi điều chỉnh lợi nhuận (EM) với năm biến độc lập và năm biến kiểm soát, từ đó xây dựng
Xác định vấn đề nghiên cứu
Tổng quan về nghiên cứu trước đây
Cơ sở lý thuyết
Xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Trang 36năm giả thuyết tương ứng Bước sáu, Luận văn tiến hành kiểm định năm giả thuyết nghiên cứu bằng cách hồi quy mô hình OLS cho dữ liệu bảng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata Bước cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra kết quả nghiên cứu, kết luận và kiến nghị cho vấn đề nghiên cứu
3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa vào nghiên cứu trước đã trình bày ờ chương tổng quan, tác giả xây dựng
mô hình gồm năm biến độc lập ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận (EM-
Earnings Management):
- Ít nhất từ 3 thành viên trong Hội đồng quản trị trở lên là Nữ (ThBF)
- Số lượng thành viên nữ điều hành trong Hội đồng quản trị (EXFEM)
- Chủ tịch Hội đồng quản trị là Nữ (ChF)
- Giám đốc điều hành của công ty là Nữ (CEOF)
- Giám đốc tài chính của công ty là Nữ (CFOF)
Ngoài ra, tương tự như các nghiên cứu trước tác giả đưa vào mô hình một số biến kiểm soát, bao gồm:
- Quy mô Hội đồng quản trị (BSIZE)
Quy mô hội đồng quản trị là thể hiện số lượng các thành viên hội đồng quản trị của công ty Hội đồng quản trị lớn thường hoạt động kém hữu hiệu, và gây khó khăn trong giao tiếp và làm giảm việc giám sát (Jensen 1993 theo Chen et al 2006,
Hồ Mỹ Hòa 2013, Huỳnh Thị Ánh Tuyết 2013, Trương Thùy Dương 2015) Công
ty có HĐQT nhỏ thường mang lại hiệu quả hơn và sẽ phát huy vai trò giám sát tốt hơn (Yermack 1996 theo Chen et al 2006, Rahman & Ali 2006), đồng thời làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Bermig & Bernd 2010) Bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô hội đồng quản trị
và hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Chtourou et al 2001, Xie et al 2003, Chin et al
2006, theo Gonza´lez et al 2014) Do đó, luận văn đưa biến quy mô hội đồng quản trị vào mô hình với kỳ vọng Quy mô Hội đồng quản trị sẽ có tác động ngược chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành (NED)
Trang 37Khi thành viên HĐQT đồng thời cũng là Ban giám đốc thì vai trò giám sát của HĐQT sẽ mất tác dụng HĐQT càng có ít thành viên độc lập, thì hành vi sai phạm và không tuân thủ sẽ nhiều hơn (Smaili & Labelle 2013) Điều này là do các thành viên không kiêm nhiệm thì ít có động cơ để thực hiện gian lận và do đó càng nhiều thành viên độc lập thì càng có khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu gian lận (Chen et al 2006) Khi tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành thì làm tăng chất lượng của báo cáo tài chính và ít có khả năng dẫn đến sai sót số liệu trên BCTC (Qinghua et al 2007, Trương Thùy Dương 2015) và công ty càng có xu hướng giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Peasnell et al 2000, Iqbal & Strong 2012, Wang & Campbell 2012, Giáp Thị Liên 2014) Do đó, luận văn đưa biến tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị vào mô hình với kỳ vọngTỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị không điều hành sẽ có tác động ngược chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị (CEOD)
Nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm Tổng giám đốc thì vai trò giám sát Ban giám đốc và các hoạt động trong công ty của Hội đồng quản trị cũng sẽ mất
đi Hơn nữa, khi có sự kiêm nhiệm này, quyền lực tập trung quá lớn sẽ dẫn đến giảm thiếu sự giám sát và dễ dàng thực hiện các hành vi gian lận (Chen et al 2006) , giảm hiệu quả hoạt động, tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Đỗ Thị Như Quỳnh
2012, Hồ Mỹ Hòa 2013, Latif & Abdullah 2015) Ngược lại, khi tách biệt vai trò này thì sẽ giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Murhadi 2010, Gulzar & Wang 2011) Do
đó, luận văn đưa biến sự kiêm nhiệm giữa Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị vào mô hình với kỳ vọng khi có sự kiêm nhiệm này sẽ có tác động thuận chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Đòn bẩy tài chính (LEV)
Nghiên cứu của Leftwich (1981) đã chứng minh rằng đòn bẩy tài chính là biến quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán.Các nghiên cứu trước
Trang 38còn cho thấy có mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và hành vi điều chỉnh lợi nhuận như Jelinek (2007) cho rằng đòn bẩy tài chính cao thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận
sẽ giảm Ngược lại, theo Dechow et al (1996) và An et al (2016), thì các công ty có đòn bẩy tài chính cao thì ban giám đốc sẽ có động cơ để gia tăng thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do đó, trong nghiên cứu này đòn bẩy tài chính sẽ có thể tác động thuận chiều hay ngược chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)
Watts & Zimmerman (1990, theo Arun et al 2015) chỉ ra rằng các công ty có hiệu suất hoạt động (được thể hiện thông qua ROA) cao thì có xu hướng giảm hành
vi điều chỉnh lợi nhuận Ngược lại, Lee et al (2006) cho thấy có mối tương quan thận chiều giữa hiệu suất hoạt động (được thể hiện thông qua ROA) với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do đó, luận văn đưa biến ROA vào mô hình với kỳ vọng Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản sẽ có tác động cùng chiều với hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Kế thừa kết quả đã tổng hợp của các nghiên cứu trên, mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu
Trang 393.2.2 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày ở phần trên mô hình, các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
3.2.2.1 Ảnh hưởng của giới tính nữ trong HĐQT đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nữ giới trong HĐQT có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của HĐQT trong việc giám sát các CEO, cải thiện sự trao đổi thông tin, nâng cáo khả năng lãnh đạo cũng như sự chia sẽ thông tin từ Ban giám đốc và từ đó giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Bermig & Bernd, (2010), Srinidhi et al (2011, theo Man & Wong 2013), Gulzar & Wang (2011), Ismail & Abdullah (2013), Lakhal et all (2015), Arun et al (2015), Kyaw et al (2015))
Số lượng từ ba phụ nữ trở lên trong HĐQT có thể tạo ra sức mạnh lớn hơn và ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của hội đồng quản trị công ty (Kramer
et al 2006) làm tăng hiệu quả hoạt động của công ty (Hoàng Cẩm Trang & Võ Văn Nhị 2014), và sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Lakhal et all 2015) Dựa vào các nghiên cứu trên, tác giả xây dựng giả thuyết H1 như sau:
Giả thuyết H1: Công ty có ít nhất từ ba phụ nữ trong HĐQT trở lên thì làm
giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nghiên cứu của Arun et al (2015) tìm thấy rằng Số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT càng nhiều thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận Do đó, giả thuyết H2 được đưa ra như sau:
Giả thuyết H2: Số lượng thành viên nữ điều hành trong HĐQT càng nhiều thì
làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Phụ nữ không chỉ thận trọng hơn so với nam giới, mà còn ít bị chủ nghĩa cơ hội trong việc ra quyết định của họ, có một mức độ về nhận thức đạo đức cao hơn nam giới và khi chủ tịch HĐQT là nữ thì sẽ có mối tương nghịch chiều tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Lakhal et all 2015) Do đó, giả thuyết H3 được đưa ra như sau:
Giả thuyết H3: Có mối quan hệ nghịch chiều giữa chủ tịch HĐQT là nữ với
hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Trang 403.2.2.2 Ảnh hưởng của thành viên Nữ trong Ban giám đốc đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Nam giới thường được tìm thấy là sẵn sàng trong việc chấp nhận các hành vi trái đạo đức để đạt được mục tiêu của họ nhiều hơn là nữ giới Nam giới thường là thủ phạm chính của gian lận trong tổ chức (Zahra et al 2007)
Khi CEO là nữ thì mức độ rủi ro của công ty sẽ nhỏ hơn so với khi CEO là nam (Khan & Vieito 2013), và cũng sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Gavious, Segev & Yosef 2012, Arun et al 2015)
Khi CFO là nữ thì sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận (Peni & Vähämaa (2010) và Duong & Evans (2016) Giả thuyết H4, H5 như sau:
Giả thuyết H4: Có mối quan hệ nghịch chiều giữa CEO là nữ với hành vi điều
chỉnh lợi nhuận
Giả thuyết H5: Có mối quan hệ nghịch chiều giữa CFO là nữ với hành vi điều
chỉnh lợi nhuận