Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty.. Raheman và Nasr năm 2007 thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 94 cô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN ĐÀO PHƯƠNG LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN ĐÀO PHƯƠNG LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ VIỆT QUẢNG
TP Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn là TS Vũ Việt Quảng
Số liệu trong các bảng biểu và hình vẽ phụ vụ cho việc phân tích có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng, được chính tác giả thu thập và xử lý Các nội dung và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2015
Tác giả
Trần Đào Phương Linh
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
TÓM TẮT 5
1 GIỚI THIỆU 6
1.1 Tầm quan trọng 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.3 Kết cấu luận văn 11
2 NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 12
3 PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 33
3.1 Phương pháp nghiên cứu: 33
3.2 Mô tả dữ liệu: 38
3.2.1 Chọn mẫu: 38
3.2.2 Mô tả biến: 38
3.2.3 Thống kê mô tả 43
3.2.4 Phân tích hệ số tương quan 46
4 KẾT QUẢ HỒI QUY 50
5 KẾT LUẬN 67
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5CCC Chu kỳ luân chuyển tiền mặt
(Cash Conversion Cycle)
(Size of the firm)
(Corporate governance)
(The gross domestic product growth)
Trang 6Bảng 3.1: Bảng thống kê mô tả
Bảng 3.2: Kết quả hệ số tương quan tổng thể tại bốn quốc gia Bảng 3.3: Kết quả hệ số tương quan tại Việt Nam
Bảng 3.4: Kết quả hệ số tương quan tại Thái Lan
Bảng 3.5: Kết quả hệ số tương quan tại Malaysia
Bảng 3.6: Kết quả hệ số tương quan tại Singapore
Bảng 4.1: Kết quả hồi quy mô hình 1 tổng thể bốn quốc gia Bảng 4.2: Kết quả hồi quy mô hình 1 theo từng quốc gia
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy mô hình 2 tổng thể bốn quốc gia Bảng 4.4: Kết quả hồi quy mô hình 2 theo từng quốc gia
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy mô hình 3 tổng thể bốn quốc gia Bảng 4.6: Kết quả hồi quy mô hình 3 theo từng quốc gia
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy mô hình 4 tổng thể bốn quốc gia Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình 4 từng quốc gia
Trang 7TÓM TẮT
Trong xu thế hội nhập hiện nay, các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết tại nhiều quốc gia trong nhiều năm qua với mục tiêu truyền thống là dỡ bỏ các rào cản thương mại, nhiều thỏa thuận thương mại hiện nay đang hướng đến tự do hóa dịch vụ thương mại, đầu tư nước ngoài cũng như đơn giản hoá các thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại Đây là cơ hội và cũng là thách thức đối với tất cả các công ty Để có thể tận dụng các cơ hội và vượt qua các thách thức trong thời kỳ hội nhập hiện nay, nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Trong các cuộc khủng hoảng về tài chính những năm về trước, nguồn vốn của công ty không đủ mạnh do
đó các doanh nghiệp rất cần vốn để tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, tuy nhiên các công ty lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài dẫn đến việc nhiều công ty đã phải đi đến phá sản Vì vậy, việc quản trị vốn, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển hoạt động của mình
Mục tiêu của bài nghiên cứu là xem xét mối quan hệ thống kê giữa khả năng sinh lời của công ty và quản trị vốn luân chuyển qua 400 công ty phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh (HOSE), Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX), Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (SET) và Sở giao dịch chứng khoán Malaysia (BURSA) trong giai đoạn 2009 đến 2015
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty Hay nói cách khác là công ty cần xem xét giảm chu kỳ luân chuyển tiền về mức tối ưu sẽ giúp công ty gia tăng lợi nhuận của mình
Từ khóa: Quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lời của công ty, chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ luân chuyển hàng tồn kho tồn kho, kỳ thu tiền khách hàng, kỳ thanh toán tiền cho người bán, quy mô công ty
Trang 81 GIỚI THIỆU
1.1 Tầm quan trọng
Mục tiêu chính của các doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị của cổ đông Tuy nhiên sự bất ổn của kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đặt ra áp lực rất lớn lên vai các nhà quản trị trong việc tối đa hóa giá trị cổ đông, quản lý thu nhập hiệu quả và chèo kéo công ty thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đang diễn ra Các nhà quản lý luôn quan tâm đến những biến động của nền kinh tế bởi vì đó là một nhân tố quan trọng đển việc tối đa hóa tính thanh khoản của công ty và dòng tiền tự do Đặc biệt, trong hoàn cảnh nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay thì các doanh nghiệp khó có thể tìm được nguồn tài trợ từ bên ngoài, vì vậy, việc quản trị nguồn vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển là một vấn đề các nhà quản trị của doanh nghiệp đang rất quan tâm
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có nguồn vốn nhất định Chỉ khi nào có vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Một trong những nguồn vốn quan trọng đó là vốn luân chuyển của công
ty Vốn luân chuyển được coi là tài sản ngắn hạn của một công ty, chiếm một tỷ
lệ quan trọng trong nguồn lực tài chính của công ty và được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, thay đổi ngày qua ngày trong hoạt động sản xuất của công ty Do đó, vốn luân chuyển được xem là một thành phần quan trọng giúp duy trì hoạt động của một công ty Vốn luân chuyển thuần có thể được tính toán bằng cách lấy tài sản ngắn hạn của công ty (Tài sản ngắn hạn chủ yếu gồm có tiền mặt, chi phí trả trước, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả và các loại tài sản ngắn hạn khác) trừ đi nợ ngắn hạn của công ty Nếu giá trị của tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn thì vốn luân chuyển thuần sẽ có giá trị âm, thể hiện vốn luân chuyển bị thâm hụt
Trang 9Công ty cần vốn luân chuyển để duy trì tính thanh khoản, khả năng thanh toán nợ và khả năng sinh lợi của công ty Do đó, việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả đóng vai trò khá quan trọng trong quản lý công ty Khi một doanh nghiệp đưa ra quyết định đối với tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của mình thì được gọi là quản trị vốn luân chuyển Hay nói cách khác là: Quản trị vốn luân chuyển có thể được định nghĩa như một sự duy trì mức độ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phù hợp nhằm duy trì tốt hoạt động công ty, tận dụng tối đa nguồn vốn
và tối thiểu hóa chi phí, tạo ra đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như đầu tư thêm vào sản xuất kinh doanh Nếu một công ty dự định đầu tư nhiều vào vốn luân chuyển, tức là lợi nhuận có thể đầu tư vào tài sản cố định hoặc tài sản dài hạn sẽ bị cắt giảm Mặt khác, nếu một công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính vì không đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ trong ngắn hạn
Khả năng sinh lợi và khả năng thanh khoản là 2 mục tiêu chính để duy trì hoạt động của một công ty, do đó nhiệm vụ chính của các nhà quản trị là xem xét việc đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản ở một mức độ tối ưu nhất nhằm đem lại hiệu quả cho công ty Việc thiếu vốn luân chuyển là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới phá sản ở nhiều doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước khác nhau Quản trị hiệu quả vốn luân chuyển bao gồm 2 bước là chuẩn bị nguồn vốn và quản trị nguồn vốn đó nhằm hướng đến mục tiêu là công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như tránh lãng phí nguồn lực vì đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn (Eljelly, 2004) Quản trị hiệu quả sẽ làm giảm nhu cầu vay mượn bên ngoài cho công ty Có nhiều các tiếp cận khác nhau đối với quản trị vốn luân chuyển, 2 cách cơ bản tiếp cận chủ yếu đó là chính sách quản trị vốn luân chuyển cấp tiến và chính sách quản trị vốn luân chuyển bảo thủ.Chính sách quản trị cấp tiến với việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định và đầu tư ít vào tài sản ngắn hạn có thể tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên nó cũng đặt công ty vào nguy cơ thiếu vốn để duy trì hoạt động thường ngày và khoản trả
nợ ngắn hạn Ngược lại, chính sách bảo thủ đầu tư ít vào tài sản cố định để đổ
Trang 10vốn vào tài sản ngắn hạn, nó hàm ý rằng nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng hơn
so với nợ dài hạn, tỷ lệ nợ ngắn hạn nhiều sẽ cần nhiều vốn ở dạng thanh khoản cao để chi trả sớm nhằm hưởng được lãi vay thấp và tiết kiệm được nhiều hơn Tóm lại, với rất nhiều lý do ở trên, chúng ta đã thấy được mối quan hệ khăng khít giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của một công ty Do đó, bài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bài nghiên cứu gốc “The significance of working capital management in determining firm profitability: Evidence from developing countries in Africa” của tác giả Ben Ukaegbu nhằm khẳng định tác động của quản trị vốn luân chuyển lên lợi nhuận của các công ty ở các nước đang phát triển tại Đông Nam Á cụ thể là các nước Việt Nam, Thái Lan,
hơn về vốn luân chuyển, qua đó có những chính sách nhằm nâng cao thành quả của doanh nghiệp và tối đa hóa giá trị cổ đông
Tóm lại, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi công ty đều phải duy trì một lượng vốn nhất định Việc tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn
có hiệu quả hay không mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công
ty trong tương lai Vốn luân chuyển là nguồn vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra thường xuyên và liên tục Ngoài ra, vốn luân chuyển còn là yếu tố góp phần mang lại lợi nhuận trong kinh doanh Vấn đề đặt
ra cho công ty là phải nhận thức được tầm quan trọng của vốn luân chuyển và việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển để đảm bảo cho quá trình tuần hoàn vốn và tạo hiệu quả kinh tế cao Do đó, việc quản lý vốn luân chuyển thì rất quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, rủi ro cũng như giá trị của công ty
Trang 111.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của việc quản trị vốn luân chuyển là đảm bảo công ty có thể chi trả các khoản chi phí hoạt động và vẫn còn khả năng chi trả các nghĩa vụ trong ngắn hạn khi đến hạn Việc xao lãng việc quản trị vốn luân chuyển có thể mang đến rủi ro thanh khoản và giảm lợi nhuận của công ty, vì thế ảnh hưởng đến việc công ty
có thể tiếp tục hoạt động hay không
Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển đã được xem xét ở nhiều nghiên cứu trước đây Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các chỉ tiêu về thời gian lưu trữ hàng hóa tồn kho, thời gian thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng cũng như thời gian thanh toán các khoản phải trả cho người bán được thể hiện thông qua chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của công ty cũng như các biến kiểm soát khác để xem xét sự ảnh hưởng của các thành phần trong vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty
Các công ty thường quản trị vốn luân chuyển theo 3 cách sau: thận trọng/bảo thủ (conservative), cấp tiến (aggressive) và ôn hòa (moderate) Phương pháp bảo thủ là cách các công ty hướng tới việc sử dụng các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho hoạt động của công ty và sử dụng nguồn vốn ngắn hạn trong các trường hợp khẩn cấp Ngược lại với phương pháp trên là phương pháp cấp tiến thì các công ty có ít tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu thương mại hơn trong tổng tài sản Điều này dẫn đến làm giảm tính thanh khoản cho công ty (Van Horne
và Wachowicz, 2004) Theo phương pháp ôn hòa thì tách biệt giữa tài sản ngắn hạn biến động và tài sản ngắn hạn cố định với nhận định rằng nguồn tài chính ngắn hạn
sẽ được dùng tài trợ cho tài sản ngắn hạn biến động và nguồn tài chính dài hạn sẽ được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn cố định
Quản trị vốn luân chuyển có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chính sách quản trị vốn luân chuyển cần phải xem xét đến bản chất của công ty bởi vì các công ty khác nhau sẽ có yêu cầu về vốn luân chuyển
Trang 12khác nhau Ví dụ, công ty sản xuất cần đầu tư mạnh vào máy móc thiết bị, trong khi các nhà bán lẻ thực phẩm cần đầu tư nhiều vào hàng tồn kho hàng hóa để bán lại nhưng sẽ có ít khoản phải thu Tuy nhiên, công ty cũng có thể tập trung vào việc tăng trưởng doanh số bán hàng thông qua việc cấp các khoản tín dụng thương mại cho khách hàng Lúc này có thể công ty có thể tăng vòng quay hàng tồn kho nhưng
nó cũng mang đến vấn đề về dòng tiền bởi vì một vài khoản phải thu có thể sẽ chậm thanh toán trong thời gian dài Bên cạnh việc công ty gia tăng các khoản doanh số tín chấp thì công ty cũng có thể yêu cầu tài trợ cho hoạt động của công ty thông qua vay nợ hoặc tăng các khoản phải trả Lượng hàng tồn kho tối ưu đảm bảo cho công
ty tránh rơi vào thiếu hàng hóa cung ứng Tuy nhiên nó có thể làm tăng chi phí lưu trữ, cũng như việc hàng tồn khó giảm chất lượng hay bị đánh cắp
Quản trị vốn luân chuyển đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tối đa hóa giá trị cổ đông của công ty Theo nghiên cứu của Nwankwo và Osho năm 2010 thì việc tối đa hóa giá trị cổ đông bao gồm việc xác định thành phần và mức độ của tài sản ngắn hạn và mức độ và nguồn tà trợ ngắn hạn Bên cạnh đó thì theo nghiên cứu của Alshubiri năm 2011 cho rằng các công ty quản trị hiệu quả vốn luân chuyển của
họ thì dường như có thể phản ứng nhanh lại các thay đổi các thay đổi không kỳ vọng của nền kinh tế Điều này đòi hỏi các công ty phải xem xét thường xuyên mức
độ hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả
Đã có nhiều bài nghiên đã đưa ra kết luận rằng quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì thế mục tiêu của bài nghiên cứu này là xem xét tác động của thời gian thu hồi các khoản nợ, thời gian lưu kho, thời gian thanh toán cho người bán và chu kỳ luân chuyển tiền đến lợi nhuận của công ty Bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số về quy mô công ty, quy mô Hội đồng quản trị làm các biến kiểm soát
Trang 131.3 Kết cấu luận văn
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm các phần như sau:
Phần 2: Những nghiên cứu thực nghiệm: Trình bày những nghiên cứu trong và
ngoài nước trước đây về mối quan hện giữa khả năng sinh lợi và quản lý vốn luân chuyển của công ty
Phần 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày cách chọn mẫu, mô
hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Kết luận
Trang 142 NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Vốn luân chuyển là nguồn vốn quan trọng và quyết định sự sinh tồn của hầu hết các công ty Các chuyên gia cho rằng mục tiêu của việc quản trị vốn luân chuyển là vừa tối đa hóa lợi nhuận công ty vừa phải đảm bảo công ty có đủ khả năng chi trả các khoảng nợ ngắn hạn và các chi phí hoạt động trong tương lai, … đảm bảo tính thanh khoản của công ty Hiệu quả của việc quản trị vốn luân chuyển được xem xét thông qua việc đánh đổi giữa khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản của công ty Để làm sáng rõ nhận định trên, trong nhiều năm qua đã có nhiều bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty
Trong bài nghiên cứu của Shin và Soenen (1998) đã đưa ra kết quả là có mối quan hệ chặt chẽ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty Bài nghiên cứu được thực hiện trên mẫu gồm 58.985 công ty Mỹ trong giai đoạn
1975 – 1994 lấy từ nguồn Compustat và các tác giả đã sử dụng phân tích tương quan và hồi quy để nghiên cứu
Để xem xét mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty, Deloof (2003) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính tại Bỉ trong giai đoạn 1992 - 1996 Tác giả xem xét vốn luân chuyển thông qua chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) theo cách tính Thời gian thu hồi nợ (AR) + Thời gian lưu kho (INV) – Thời gian thanh toán tiền cho người bán hàng (AP) Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa lợi nhuận hoạt động gộp (thể hiện khả năng sinh lời) và kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đưa ra ý kiến rằng các nhà quản trị nên giảm kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho ở một mức phù hợp để tăng khả năng sinh lời của công ty
Nghiên cứu của Eljelly năm 2004 giải thích rằng việc quản lý khả năng thanh khoản hiệu quả, việc lập kế hoạch, kiểm soát tài sản ngắn hạn và nợ ngắn
Trang 15hạn hiệu quả để tránh rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn và tránh đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn Tác giả xem xét mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi thông qua tỷ số thanh toán hiện hành (Current ratio) và chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy và mối tương quan để phân tích các công ty ở Ả Rập Saudi Tác giả kết luận rằng khả năng sinh lợi của công ty có mối tương quan âm và có ý nghĩa thống kê với khả năng thanh khoản của công ty Mối quan
hệ này được thấy rõ trong các công ty có tỷ số thanh toán hiện hành cao và chu
kỳ luân chuyển tiền dài hơn Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm thấy quy mô của công ty có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty ở các mức công nghiệp khác nhau
Đến năm 2006, tác giả Lazaridis và Tryfonidis đã thực hiện nghiên cứu dựa trên 131 công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Athens (ASE) từ năm 2001 đến năm 2004 để xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của công ty Các tác giả đã quan sát thấy rằng các công ty
có lợi nhuận hoạt động gộp thấp gắn liền với việc gia tăng số ngày thanh toán các khoản phải trả Nói cách khác là các công ty có lợi nhuận thấp sẽ kéo dài thời gian thanh toán các khoản phải trả hơn Các nhà quản lý cũng có thể cải thiện kết quả hoạt động của công ty thông qua việc giảm thời gian cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Sau khi nghiên cứu, họ đã đưa ra kết luận rằng khi các nhà quản trị có thể quản trị chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) hiệu quả và giữ các thành phần khác nhau trong chu kỳ luân chuyển tiền ở các mức tối ưu thì họ
có thể gia tăng lợi nhuận cho công ty
Padachi (2006) cho rằng việc quản trị vốn luân chuyển được thiết lập và triển khai tốt được mong đợi sẽ đóng góp tích cực để tạo nên giá trị công ty Với nhận định trên, tác giả đã xem xét các xu hướng của việc quản trị vốn luân chuyển và tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động của công ty Tác giả thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ tại Mauritius trong
Trang 16giai đoạn 1998 – 2003 Kết quả của bài nghiên cứu cho rằng việc đầu tư nhiều vào hàng tồn kho và khoản phải thu sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của công ty Ngoài ra, các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống
kê giữa thời gian thanh toán cho người bán và kết quả hoạt động của công ty Điều này hàm ý rằng các công ty tạo ra ít lợi nhuận sẽ kéo dài thời gian thanh toán các khoản phải trả Vì khi doanh thu bán hàng sụt giảm thì nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh sẽ giảm do đó các công ty sẽ trì hoãn việc thanh toán này
để duy trì hoạt động của mình
Quản trị vốn luân chuyển là một phần quan trọng đối với các công ty vừa
và nhỏ Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ quan trọng trong tài sản của hầu hết các công ty Vì thế mục đích của bài nghiên cứu của Garcia-Teruel và Martinez-Solano năm 2007 nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty vừa và nhỏ tại Tây Ban Nha Với lý dó đó bài nghiên cứu đã thực hiện trên mẫu dữ liệu bảng với 8.872 các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha trong giai đoạn 1996 – 2002 theo phương pháp hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) và phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (GLS) Các tác giả đi đến kết luận rằng số ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày lưu trữ hàng tồn kho có mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lợi của công ty Bên cạnh bài nghiên cứu cho rằng các công ty vừa và nhỏ cần quan tâm đến việc quản trị vốn luân chuyển vì việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền sẽ giúp công ty gia tăng lợi nhuận của mình
Raheman và Nasr năm 2007 thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 94 công
ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Karachi tại Pakistan trong 6 năm (Từ năm 1999 đến năm 2004) để xem xét tác động của việc quản trị vốn luân chuyển thể hiện qua các biến thời gian thu hồi các khoản nợ từ khách hàng, thời gian lưu giữ hàng tồn kho, thời gian thanh toán cho nhà cung cấp, chu kỳ luân chuyển tiền
và tỷ số thanh toán hiện hành đến khả năng sinh lợi của công ty Pakistan Tỷ số
nợ, quy mô công ty (do lường bằng logarit tự nhiên của doanh số bán hàng) và tỷ
Trang 17số tài sản tài chính trên tổng tài sản làm biến kiểm soát Sau khi tiến hành phân tích hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy theo Pooled OLS, các tác giả tìm thấy mối tương quan âm giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi của công ty Điều này có nghĩa là chu kỳ luân chuyển tiền tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty và các nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cổ đông thông qua việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến một mức thấp nhất có thể Ngoài ra, các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quy mô công ty và khả năng sinh lợi của công ty Tại Pakistan năm 2008, Chakraborty cũng đã nghiên cứu và tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty dược phẩm tại Pakistan
Ganesan (2007) cũng quan tâm đến vấn đề quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty do đó họ đã thực hiện bài nghiên cứu “An analysis
of working capital management efficiency in telecommunication equipment industry” Tác giả xem xét mối quan hệ này tại các công ty thiết bị truyền thông tại Ấn Độ Vốn luân chuyển của công ty vẫn được tác giả tiếp tục sử dụng các biến số như số ngày thu hồi nợ, số ngày lưu kho, số ngày thanh toán cho người bán của công ty và số ngày của vốn luân chuyển Tác giả sử dụng hai tỷ số là tỷ
số lợi nhuận hoạt động cộng với khấu hao trên tổng số tài sản và trên tổng doanh thu làm biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty Sau khi thực hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 443 báo cáo tài chính của 349 công ty thiết bị truyền thông, tác giả tìm thấy được tác động ngược chiều của số ngày của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty tuy nhiên hệ số này lại không có ý nghĩa thống kê
Falope và Ajilore (2009) đã cung cấp bằng chứng về tác động của việc quản trị hiệu quả vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty sau khi sử dụng báo cáo tài chính của 50 công ty phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Nigeria từ năm 1995 đến năm 2005 Biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tổng tài sản
Trang 18được xác định bằng lợi nhuận ròng chia cho giá trị sổ sách trung bình của tài sản Biến độc lập bao gồm số ngày thu hồi các khoản phải thu, số ngày lưu trữ hàng hóa, số ngày thanh toán cho người bán và chu kỳ luân chuyển tiền, các biến này được sử dụng để đo lường việc quản trị vốn luân chuyển Các tác giả đã sử dụng
mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) để phân tích số liệu và tác giả đã đi kết luận rằng khả năng sinh lợi của công ty bị tác động bởi việc quản trị vốn luân chuyển Cụ thể hơn, các tác giả cho rằng các công ty có thể gia tăng lợi nhuận của mình bằng việc rút ngắn thời gian thanh toán cho người bán, số ngày thu hồi các khoản phải thu và thời gian lưu kho đến mức thấp nhất và phù hợp
Vốn luân chuyển là một thành phần quan trọng trong các quyết định quản trị tài chính của công ty Việc quản trị vốn luân chuyển tối ưu được mong đợi sẽ
có đóng góp tích cực tạo nên giá trị công ty Zariyawati và các đồng sự (2009) đã
sử dụng dữ liệu bảng của 148 công ty được niêm yết tại Bursa Malaysia từ năm
1996 đến năm 2006 Kết quả của các hệ số khi phân tích hồi quy theo phương pháp Pooled OLS cho thấy mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi của công ty Vì thế với mục đích gia tăng giá trị cổ đông, các nhà quản trị công ty nên quan tâm đến việc giảm chu
kỳ luân chuyển tiền đến một mức tối ưu
Haitham Nobanee và Maryam Al Hajjar (2009) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm 2123 công ty phi tài chính Nhật đã niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tokyo trong giai đoạn 1990 – 2004 nhằm xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty Kết quả bài nghiên cứu đưa ra kết luận rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận của công ty thông qua việc giảm số ngàty bán hàng trả chậm đối với khách hàng và giảm chu kỳ luân chuyển tiền của công ty Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng có thể gia tăng lợi nhuận của công ty thông qua việc tăng số ngày thanh toán cho người bán, tuy nhiên các nhà quản lý cân nhắc kỹ vấn đề này vì việc kéo dài thời gian thanh toán này có thể ảnh hưởng đến uy tín và tác động đến khả năng sinh
Trang 19lợi trong dài hạn của công ty Các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ số thanh toán nhanh và lợi nhuận của công ty, kết quả này một lần nữa chứng minh cho việc đánh đổi giữa khả năng sinh lợi và khà năng thanh khoản của công ty
Trong khi đó tại Mỹ, Gill và đồng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi tại 84 công ty ở Mỹ từ năm 2005 đên 2007 Các tác giả đo lường khả năng sinh lời thông qua lợi nhuận hoạt động để xem xét có mối quan hệ với việc quản lý vốn luân chuyển hay không Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất để nghiên cứu họ tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi của công ty Họ đã kết luận rằng những nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận của công ty thông qua việc rút ngắn thời gian thu hồi khoản phải thu Điều này đảm bảo công ty có đủ tiền để tài trợ cho các hoạt động của mình
Mathuva (2010) cũng đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa thời gian công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng với khả năng sinh lợi của công ty Tác giả giải thích rằng công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn thì có thời gian thu nợ ngắn nhất Bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận thời gian luân chuyển của hàng tồn kho có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lợi của công ty Mối tương quan dương này được giải thích rằng khi mức tồn kho được duy trì ở mức cao phù hợp sẽ giảm chi phí của việc quá trình sản xuất bị gián đoạn khi thiếu nguyên vật liệu đầu vào và tránh rủi ro của việc thua lỗ khi công
ty khan hiếm hàng Và bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan dương giữa thời gian thanh toán công nợ với khả năng sinh lợi của công ty Bài nghiên cứu thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và mô hình hồi quy các ảnh hưởng cố định (FEM) dựa trên mẫu dữ liệu gồm 30 công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi trong giai đoạn 1993 – 2008
Trang 20Bài nghiên cứu của Raheman và các đồng sự (2010) đã phân tích tác động của quản trị vốn luân chuyển đến kết quả hoạt động của 204 công ty sản xuất niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi tại Pakistan trong giai đoạn
1998 – 2007 Kết quả bài nghiên cứu đã cho thấy chu kỳ luân chuyển tiền và số ngày luân chuyển hàng tồn kho có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Và các tác giả cho rằng nhìn chung các công phải đối mặt với các vấn đề về các chính sách thu hồi nợ và trả nợ của công ty
Abera (2010) đã thực hiện nghiên cứu về hiệu quả của các chính sách đầu
tư vốn luân chuyển và chính sách tài chính đến lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán của của 11 công ty sản xuất tư nhân trong khu vực Tigray, Ethiopia trong giai đoạn 2005-2009 Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số biên lợi nhuận hoạt động là các biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty Thời gian thu hồi các khoản phải thu, thời gian lưu kho và thời gian thanh toán các khoản phải trả cho người bán, tỷ số tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và chu
kỳ luân chuyển tiền là các biến độc lập thể hiện cho việc quản trị vốn luân chuyển của công ty Ngoài ra, tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản được sử dụng
để đo lường chính sách tài trợ vốn luân chuyển của công ty Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng sử dụng biến về quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và tốc độ tăng trưởng GDP là các biến kiểm soát trong mô hình.Qua các phân tích hệ số phương sai và phân tích hồi quy dữ liệu bảng, tác giả đã đưa ra kết luận rằng thời gian thu hồi các khoản phải thu và thời gian lưu kho càng lâu sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty Mối quan hệ nghịch biến giữa ROA và ROE với thời gian thanh toán cho người bán của công ty cũng được tìm thấy trong bài nghiên cứu Bên cạnh đó, kết quả cũng thể hiện mối tương quan âm giữa chu kỳ luân chuyển tiền và các biến số thể hiện khả năng sinh lợi của công ty Không chỉ vậy, tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng thanh khoản và khả năng thanh toán của công ty Qua các kết quả tìm được trong bài nghiên cứu, tác giả đi đến kết luận rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách nâng cao
Trang 21hiệu quả quản trị vốn luân chuyển và luôn cân nhắc giữa vấn đề đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi của công ty
Lợi nhuận ròng của bất cứ công ty nào trong một giai đoạn nào đó cũng được xem như là kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư, tài trợ và sản xuất kinh doanh Những hoạt động này bởi các quyết định quản trị và các nhân tố môi trường bên trong và bên ngoài Zubairi (2010) nghiên cứu khả năng sinh lợi của công ty xe hơi tại Pakistan bị ảnh hưởng bởi quản trị vốn luân chuyển và cấu trúc vốn như thế nào Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa quản trị vốn luân chuyển và quy mô công ty
Chariton, Elfani và Lois (2010) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động của quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của công ty tại thị trường đang phát triển Mẫu dữ liệu bao gồm các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Cyprus trong giai đoạn 1998 – 2007 Sau khi tiến hành phân tích hồi quy, các tác giả đã kết luận rằng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) và các thành phần chính của CCC là khoản thời gian thu tiền khách hàng, thời gian lưu kho và thời gian trả người bán có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty
Mary, John và Laurine (2010) xem xét ảnh hưởng của hàng tồn kho đến khả năng sinh lợi của công ty trước và sau quá trình gián đoạn cung ứng từ sự kiện khủng bố 11/09/2001 và bão Katrina, với mục đích xác định các bằng chứng cho rằng hàng tồn kho được sử dụng như là phương tiện để phát triển chuỗi cung ứng bền vững Bài nghiên cứu quan sát tách biệt giai đoạn ba năm quanh các giai đoạn gián đoạn cung ứng trên Sử dụng Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mô hình hồi quy đã tách biệt tác động của hàng tồn kho đến khả năng sinh lợi của công ty và bài nghiên cứu cũng kiểm tra xem có hay không sự thay đổi trong mối quan hệ giữa hàng tồn kho và hiệu quả hoạt động của công ty Kết quả bài nghiên cứu cho thấy hàng hóa tồn kho có tác động đến khả năng sinh lợi của công ty trong quá trình xảy ra cuộc khủng bố 11/09/2001
Trang 22nhưng lại không tìm thấy mối quan hệ này có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn xảy ra bào Katrina
Tại Nigeria, Abdulrasheed, Khadijat, Sulu và Olanrewaju (2011) đã xem xét việc quản trị hàng tồn kho trong các công ty nhỏ ở Kwara, Nigeria Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy để giải thích tác động của hàng tồn kho đến hiệu quả hoạt động của công ty trong giai đoạn 10 năm Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa quản trị hàng tồn kho và khả năng sinh lợi của các công ty nhỏ tại Kwara, Nigeria Các tác giả kết luận rằng các công ty nhỏ có khả năng gia tăng lợi nhuận nếu quản trị hiệu quả hàng tồn kho
Cũng trong năm 2011, tác giả Mohammad cũng đã thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển và lợi nhuận của công ty tại các công ty công nghiệp tại Iran từ năm 2001 đến 2006 Tác giả sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) là biến độc lập và lợi nhuận hoạt động ròng là biến phụ thuộc, tác giả thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳ thu nợ bình quân và khả năng sinh lợi Tương tự như vậy chu kỳ vòng quay hàng tồn kho cũng có mối quan hệ với khả năng sinh lợi Tác giả muốn đưa ra kết luận rằng công ty nên giảm chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) để tăng lợi nhuận bởi vì chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) càng lâu thì công ty càng phải tìm các nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của công ty
Lifland (2011) đã xem xét giả định vốn luân chuyển có tác động đến giá trị của các công ty năng lượng với mẫu dữ liệu nghiên cứu gồm 222 công ty được lấy từ GICS (Global Industry Classification Standard) được xây dựng bởi Morgan Stanley và Standard & Poor's Trong 222 công ty quan sát có 72 công ty large - cap (Vốn hóa thị trường trên 5 tỷ USD), 65 công ty mid – cap (Vốn hóa thị trường từ 1 tỷ đến 5 tỷ USD) và 85 công ty small – cap (Vốn hóa thị trường dưới 1 tỷ USD) Tác giả tiếp tục sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền và các thành phần trong nó để thể hiện cho việc quản trị vốn luân chuyển của công ty Sau khi
Trang 23nghiên cứu tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa hiệu quả quản trị vốn luân chuyển với giá trị của các công ty có giá trị vốn hóa thị trường cao (large-cap) và các công ty có giá trị vốn hóa thị trường trung bình (mid-cap)
Cùng thời điểm này thì bài nghiên cứu của Sharma và Kumar cũng đã xem xét tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi tại các công ty ở Ấn Độ với mẫu nghiên cứu gồm 263 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bombay – BSE từ năm 2000 đến năm 2008 Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và tác giả này cũng đã đưa ra kết luận rằng số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán các khoản phải trả có mối tương quan âm còn số ngày thu hồi nợ của công ty lại có mối tương quan dương với khả năng sinh lợi của công ty Và các tác giả cũng đưa đến kết quả cuối cùng việc tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty hay nói cách khác là quản trị vốn luân chuyển có tác động đến kết quả hoạt động của công ty
Hasan, Halid, Arzu và Salih (2011) nghiên cứu mẫu dữ liệu bao gồm các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Istanbul giai đoạn 2005 – 2009 để làm sang tỏ mối quan hệ thực nghiệm giữa quản trị vốn luân chuyển (thông qua biến chu kỳ luân chuyển tiền – CCC) và hiệu quả hoạt động của công ty Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền có thể giúp công
ty gia tăng lợi nhuận của mình
Ngàng công nghiệp dệt may đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội của Bangladesh Tuy nhiên lợi nhuận từ ngành công nghiệp này chưa tương xứng với vai trò của nó Nên Rahman (2011) đã thực hiện bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi và quản trị vốn luân chuyển trên mẫu dữ liệu gồm 9 công ty dệt may tại Bangladesh trong giai đoạn từ 2005 –
2006 đến 2007 – 2008 và đã tìm thấy tác động cùng chiều giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợ của công ty
Trang 24Vida, Seyed và Rezvan (2011) cũng xem xét mối quan hệ thực nghiệm giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty dựa trên mẫu gồm 101 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran (TSE) trong suốt giai đoạn 2004 – 2008 Các tác giả tìm thấy chu kỳ luân chuyển tiền – thước
đo chủ yếu của quản tri vốn luân chuyển – có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô công ty và khả năng sinh lợi của công ty
Quản trị vốn luân chuyển được xem có tác động quan trọng đến lợi nhuận hoạt động của công ty Tuy nhiên, tác giả Afeef – Giảng viên tại tại Iqra National University – cho rằng việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả có thể tác động sâu rộng đến các công ty nhỏ hơn các công ty lớn bởi vì tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản và tổng nợ của các công ty vừa và nhỏ Vì thế nhằm mục đích xác định sự ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận của các công ty vừa và nhỏ tại Pakistan, tác giả Afeef đã hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 40 công ty vừa và nhỏ được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi trong giai đoạn 2003 – 2008 Bài nghiên cứu chỉ tìm thấy mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của công
ty với số ngày lưu kho và số ngày thu tiền khách hàng
Mona (2012) xem xét tác động của chính sách quản trị vốn luân chuyển tấn công (aggressive) và thận trọng (conservative) tác động thế nào đến lợi nhuận của 57 công ty Jordan năm 2001 đến 2009 Đo lường chính sách thận trọng thông qua tỷ số của tài sản ngắn hạn với tổng tài sản, tỷ số là 0,49 và kết quả của phương pháp hồi quy cho thấy rằng mối quan hệ cùng chiều giữa khả năng sinh lời và với tỷ số tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và giá trị đó mang dấu dương Ngược lại, những công ty theo đuổi chính sách tấn công sử dụng các khoảng đầu tư dài hạn lại có mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lợi Mặc
dù mẫu nghiên cứu nhỏ nhưng có các kết luận tương tự trong nghiên cứu của Afza và Nazir Các tác giả xem xét mối quan hệ giữa các chính sách quản lý vốn
Trang 25luân chuyển theo phương pháp tấn công (aggressive) và thận trọng (conservative) đối với 17 nhóm công nghiệp và mẫu lớn gồm 263 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) sử dụng dữ liệu chéo từ năm
1998 đến 2005 Sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) và phương pháp LSD, kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt rất lớn giữa việc đầu tư vốn luân chuyển và chính sách tài trợ giữa các ngành khác nhau Hơn nữa, rank order correlation xác nhận rằng có những khác biệt không lớn đáng chú ý suốt khoảng thời gian nghiên cứu Cuối cùng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi mức độ đầu tư vốn luân chuyển và các chính sách tài trợ Cả hai bài nghiên cứu đều muốn nói rằng các công ty sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng thanh khoản của họ Điều đó có nghĩa công ty phải có đủ tiền mặt bởi vì việc quản trị tiền mặt của công ty yếu kém có thể khiến công ty rơi vào tình trạng khó khăn tài chính khi đó công ty không thể chi trả các khoản chi phí ngắn hạn và thậm chí công ty có thể đối mặt với vấn đề kỹ thuật trong ngắn hạn Trong dài hạn việc quản lý tiền mặt yếu kém có thể khiến công ty đi đến phá sản
Vahid và các đồng sự (2012) nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran (TSE) Mối tương quan âm giữa số ngày thu tiền khách hàng, số ngày luân chuyển hàng hóa, số ngày thanh toán cho người bán đến khả năng sinh lợi của công ty được tìm thấy trong bài nghiên cứu
Tại Thái Lan, Napompech (2012) cũng đã xem xét ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của 255 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan từ năm 2007 đến năm 2009 Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa số ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày lưu giữ hàng tồn kho với lợi nhuận hoạt động gộp của công ty Tác giả đã đưa ra nhận xét là các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận thông qua việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền, số ngày thu hồi nợ từ khách hàng và số ngày lưu giữ hàng tồn
Trang 26kho với lợi nhuận hoạt động gộp của công ty Tuy nhiên, bài nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của công ty với
số ngày thanh toán cho người bán
Tối đa hóa giá trị cổ đông là mục tiêu chính của quản trị tài chính và điều này chỉ khả thi khi công ty tạo ra đủ lợi nhuận để thực hiện chính sách phân phối như chi trả cổ tức Lợi nhuận của công ty phụ thuộc rất nhiều vào doanh thu, nhưng doanh thu không thể chuyển thành tiền mặt ngay lập tức vì thế sẽ có độ trễ từ khi bán hàng đến khi nhận được tiền Nguồn tiền của công ty cũng có thể
bị ngâm giữ dưới dạng vốn luân chuyển để mua nguyên vật liệu dầu vào, trả lương người lao động và các chi phí hoạt động khác nhàm duy trì hoạt động của công ty Vì thế các nhà quản lý cần xem xét những gì cần cho hoạt động công ty, quy mô và phạm vi như thế nào số lượng bao nhiêu là các yêu cầu cần thiết khi quản trị vốn luân chuyển của công ty Xét thấy tầm quan trọng của việc quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận của công ty như vậy, Chatterjee năm 2012 đã thực hiện nghiên cứu xem xét mối quan hệ này dựa trên mẫu gồm 100 công ty
Ấn Độ niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bombay trong giai đoạn 2010 –
2011 Các thành phần khác nhau để đo lường quản trị vốn luân chuyển trong bài nghiên cứu này bao gồm số ngày phải thu, số ngày phải trả, số ngày lưu kho, chu
lỳ luân chuyển tiền, tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh trên lợi nhuận hoạt động ròng của các công ty Ấn Độ trong mẫu Sauk hi nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết luận rằng có mối tương quan âm giữa các thành phần của quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của các công ty Hay nói cách khác là các nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cổ đông khi giảm chu kỳ luân chuyển tiền tới mức thất nhất
Các công ty sẽ không thể tồn tại và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày nếu không có vốn luân chuyển.Vì thế việc quản trị vốn luân chuyển được các nhà quản trị quan tâm Do đó Manoori và Muhammad đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố quan trọng tác động đến quản trị vốn luân chuyển của
Trang 27công ty Bài nghiên cứu đã thực hiện phân tích hồi quy theo Pooled OLS, Fixed Effects Model và Random Effects Model dựa trên mẫu dữ liệu bảng từ 94 công
ty trên Sở giao dịch chứng khoán Singapore từ năm 2003 đến năm 2010 Kết quả bài nghiên cứu cho thấy vốn luân chuyển có mối tương quan đồng biến với khả năng sinh lợi của công ty
Gakure, Cheluget, Onyango và Keraro (2012) đã thực hiện nghiên cứu trên 15 công ty sản xuất niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi từ năm
2006 đến năm 2010 với phân tích tương quan và phân tích hồi quy, các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa thời gian thu hồi nợ và thời gian lưu giữ hàng tồn kho Các tác giả cũng tìm thấy mối tương quan dương giữa chu kỳ chuyển đổi tiền và khả năng sinh lợi của công ty và kết luận rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa kết quả hoạt động của công ty và tính thanh khoản của công ty
Palombini và Nakamura (2012) đã tìm thấy tác động của quy mô công ty đến khả năng sinh lợi của công ty khi thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi tại các công
ty với mẫu dữ liệu gồm 2.976 công ty Brazil từ năm 2001 – 2008
Nhận thấy việc quản trị vốn luân chuyển có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty, Vural, Sokmen and Centenak (2012) đã tiến hành xem xét mối quan hệ này dựa trên mẫu dữ liệu gồm 75 công ty sản xuất niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Istanbul trong giai đoạn 9 năm từ năm 2002 đến năm 2009 Bài nghiên cứu đã sử dụng hệ số Tobin Q và lợi nhuận hoạt động gộp là các đại diện đo lường giá trị và khả năng sinh lợi của công ty Dựa trên các kết quả đã tìm được trong bài nghiên cứu, tác giả đã kết luận ngắn gọn rằng quản trị vốn luân chuyển có tác động đến lợi nhuận của công ty Cụ thể là thời gian thu hồi các khoản nợ từ khách hàng và chu kỳ luân chuyển tiền của công ty có mối quan
hệ nghịch biến với khả năng sinh lợi của công ty Điều này có nghĩa là khi giảm
Trang 28số ngày thu tiền từ khách hàng và chu kỳ luân chuyển tiền thì có thể gia tăng lợi nhuận của công ty
Mosa và các đồng sự (2012) cũng đã sử dụng tỷ số nợ và quy mô là biến kiểm soát để xem xét mối quan hệ giữa việc quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi tại các công ty thực phẩm tại Tehran Họ sử dụng các biến vốn luân chuyển khác nhau đã được sử dụng ở các nghiên cứu trước và thêm khoản phải trả trong trung hạn để xem xét 33 công ty từ năm 2006 đến 2011 Sử dụng tỷ số
nợ và log doanh thu (như là đại diện của quy mô công ty) như là biến kiểm soát, các tác giả thấy rằng việc tăng chu kỳ khoản phải trả, chu kỳ khoản phải thu, chu kỳ hàng tồn kho và chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) dẫn đến việc giảm khả năng sinh lợi của công ty Điều này nói lên rằng các nhà quản lý phải giảm chu
kỳ khoản phải trả, chu kỳ khoản phải thu, chu kỳ hàng tồn kho và chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) đến mức thấp nhất để gia tăng giá trị của cổ đông
Ani, Okwo và Ugwunta (2012) đã xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển thông qua chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) và các thành phần của nó bao gồm số ngày thu nợ, số ngày lưu trữ hàng tồn kho và số ngày thanh toán nợ cho người bán đối với năm công ty bia hàng đầu của thế giới Bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa CCC và khả năng sinh lợi của các công ty quan sát Hàm ý chính sách của nghiên cứu này là các công ty bia cố gắng để giữ nguyên liệu, sản xuất, tiêu thụ, phân phối, chi phí chung và chi phí hành chính thấp, họ cần nỗ lực để giảm số ngày lưu trữ hàng hóa và thời gian thu hồi nợ từ khách hàng Bài nghiên cứu cũng đưa ra số ngày lưu trữ hàng hóa tối
đa là 30 ngày và số ngày thu hồi nợ tối đa là 15 ngày Điều này sẽ làm gia tăng lợi nhuận của công ty và hướng đến mục tiêu là tối đa hóa giá trị cổ đông
Chariton, Lois, Santoso thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản
lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi tại các công ty xem xét trên các quốc gia đang phát triển tại Châu Á Tác giả lấy dữ liệu từ 728 công ty niêm yết trên Sở
Trang 29giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 1998 – 2010 Bằng phương pháp hồi quy đa biến, tác giả đã đưa ra các kết luận việc quản lý vốn luân chuyển có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty và các công ty nên giữ hàng tồn kho ở mức phù hợp để đáp ứng nhu cầu của họ cũng như tránh rủi ro thiếu thụt hàng hóa dẫn đến việc mất thị phần trên thị trường
Võ Xuân Hinh (2013) đã thực hiện bài nghiên cứu “Quản trị vốn lưu động
và khả năng sinh lợi- Thực tiễn các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh” để đánh giá ảnh hưởng quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệp ngành công nghiệp Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 80 doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh giai đoạn 2007– 2011 Kết quả cho thấy có sự tác động có ý nghĩa của thời gian thu tiền, thời gian tồn kho, chu kỳ luân chuyển tiền đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp ngành công nghiệp Do đó, nhà quản trị có thể tăng khả năng sinh lợi bằng việc kiểm soát các thành phần quản trị vốn lưu động ở mức thích hợp
Omesa, Maniagi, Musiega và Makori (2013) đã nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 20 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi (NSE) trong giai đoạn 2007 – 2011 để xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận của công ty như thế nào Bài nghiên cứu cũng đã đi đến kết luận rằng số ngày thu hồi nợ từ khách hàng (Average Collection Period – ACP) có mối quan
hệ nghịch biến trong khi chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lợi của công ty
Akoto, Awunyo – Vitor và Angmor (2013) đã thực hiện phân tích hồi quy
dữ liệu bảng lấy từ báo cáo tài chính của 13 công ty tại Ghana từ năm 2005 –
2009 đã tìm thấy mối tương quan âm giữa số ngày thu hồi nợ từ khách hàng với khả năng sinh lợi của công ty và các tác giả cũng cho rằng việc cố gắng giảm số ngày thu nợ xuống 30 ngày các công ty có thể gia trị cổ đông Bên cạnh đó, bài
Trang 30nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng chu kỳ luân chuyển tiền và quy mô của công ty có tương quan dương với kết quả hoạt động của công ty
Makori và Jagongo (2013) phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các công ty ở Kenya thông qua mẫu dữ liệu gồm
5 công ty xây dựng và sản xuất niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi Các tác giả sử dụng phân tích tương quan và phân tích hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) Bài nghiên đã tìm thấy khả năng sinh lợi có mối tương quâm âm giữa và số ngày thu hồi các khoản phải thu và chu kỳ luân chuyển tiền và có mối tương quan dương với số ngày lưu trữ hàng tồn kho
và số ngày thanh toán các khoản phải trả của công ty Bên cạnh các biến đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, tỷ số thanh toán hiện hành và quy mô công ty cũng có tác động đến lợi nhuận của công ty Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả rút ra kết luận rằng các nhà quản lý có thể làm gia tăng giá trị cổ đông thông qua việc giảm số ngày thu hồi nợ, tăng mức tồn kho hợp lý hay kéo dài thời gian thanh toán
Gul, Khan, Rehman, Khan, Khan and Khan (2013) xem xét ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến kết quả hoạt động của các công ty nhỏ và vừa tại Pakistan từ năm 2006 – 2012 Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ nhiều nguồn như SMEDA, Sở giao dịch chứng khoán Karachi, cơ quan thuế, từ các công ty trong mẫu Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa số ngày trả nợ
và quy mô công ty với khả năng sinh lợi của công ty Trong khi đó, khả năng sinh lợi của công ty có mối tương quan âm với số ngày thu hồi nợ, số ngày luân chuyển hàng tồn kho và chu kỳ chuyển đổi tiền
Almazari (2013) xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty sản xuất xi măng tại Saudi từ năm 2008 – 2012 đã cho rằng quản trị vốn luân chuyển có tác động đến khả năng sinh lợi của công ty
Trang 31Tác giả cũng cho rằng quy mô của công ty tăng cũng làm khả năng sinh lợi của công ty gia tăng
Enqvist và các đồng sự (2013) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu gồm các công ty Phần Lan từ năm 1990 – 2008 và đã đưa ra kết luận rằng việc quản trị vốn lưu động có tác động đến lợi nhuận của công ty Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng việc quản lý hàng tồn kho và số ngày thu nợ khách hàng hiệu quả sẽ tác động đến công ty khi nền kinh tế đi xuống
Tharshiga (2013) lưu ý rằng quản trị vốn luân chuyển là thành phần quan trọng của tài chính doanh nghiệp bởi vì nó tác động trực tiếp đến thanh khoản và khả năng sinh lợi của công ty Marco (2014) cho rằng chu kỳ luân chuyển tiền là công cụ hiệu quả để xác định hiệu quả của việc quản trị vốn luân chuyển Chu kỳ luân chuyển tiền thể hiện thời gian từ khi hàng hóa tồn kho được bán, nhận được thanh toán từ khách hàng và trả nợ người bán Tuy nhiên tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi của công ty Kết quả này giống với kết quả nghiên cứu của Senthilmani năm
2013
Tác giả Chu Thị Thu Thủy (2014) đã thực hiện bài nghiên cứu “Quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời: Nghiên cứu điển hình các công ty cổ phần ngành công nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp
Hồ Chí Minh Mục đích của nghiên cứu là kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của công ty cổ phần ngành công nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên HOSE Nghiên cứu đã sử dụng mẫu 97 quan sát của
97 công ty ngành chế biến, chế tạo niêm yết trên HOSE trong năm 2012 Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy OLS Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra có mối tương quan giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của công ty Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan mạnh giữa tỷ lệ đầu tư vào tài sản tài chính, quy mô công ty, đòn bẩy
Trang 32tài chính và khả năng sinh lời Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ ra được mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của công ty
Iqbal và các đồng sự (2014) cũng đã tìm thấy mối tương quan nghịch biến giữa số ngày thu tiền khách hàng, số ngày luân chuyển hàng hóa và chu kỳ luân chuyển tiền của các công ty Pakistan niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi
Với mục tiêu chính là xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lợi của công ty, Awan, Shahid, Hassan và Ahmad (2014) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ này dựa trên mẫu gồm 10 công ty xi măng
đã niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) tại Pakistan từ năm
2009 đến năm 2013 Sau khi thực hiện phân tích hệ số tương quan và phân tích hồi quy đa biến, với các kết quả hồi quy được xem xét dựa trên mức ý nghĩa α = 1% và α = 5%, các tác giả đã kết luận rằng tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) – là biến thể hiện cho quản trị vốn luân chuyển có mối tương quan âm với chu kỳ luân chuyển tiền và thời gian lưu kho của công ty và ROE có mối tương quan dương với thời gian thanh toán cho người bán của công ty và quy mô của công ty
Bài nghiên cứu của hai tác giả Angahar và Alematu đã xem xét tác động thực tế của quản trị vốn luân chuyển (Đo lường thông qua: số ngày thu hồi nợ từ khách hàng – DAR, số ngày lưu giữ hàng tồn kho – DINV và chu kỳ luân chuyển tiền – CCC) đến lợi nhuận của các công ty xi măng tại Nigeria trong giai đoạn
2002 – 2009 Bài nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi của công ty với số ngày thu hồi nợ của khách hàng Tuy nhiên lại tìm thấy khả năng sinh lợi của các công ty có mối quan hệ nghịch biến với số ngày lưu giữ hàng hóa và mối quan hệ đồng biến với chu kỳ luân chuyển tiền của công ty Các tác giả kết luận rằng khả năng sinh lợi của các công ty xi măng niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Nigeria trong giai đoạn nghiên cứu
Trang 33bị ảnh hưởng bởi số ngày lưu giữ hàng hóa và chu kỳ luân chuyển tiền của công
ty
Cũng trong năm 2014, các tác giả Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông đã thực hiện bài nghiên cứu “Tác động của quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam” Kết quả các tác giả tìm thấy mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê giữa quy mô công ty
và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của Moss và Stine năm 1993 chỉ ra rằng quy mô của công ty là nhân tố quan trọng để xác định chu kỳ luân chuyển tiền, và kết luận rằng các công ty lớn có chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn các công ty nhỏ Theo một nghiên cứu khác của Chatterjee (2010) thì đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và khả năng sinh lợi tại các công ty ở Anh
Vấn đề quản trị doanh nghiệp nhận được nhiều sự quan tâm Thực tế cho thấy rằng việc quản trị công ty tốt không chỉ quan trọng trong việc gia tăng kết quả của công ty mà còn quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư Có 2 phương pháp quản trị doanh nghiệp chính của được là thuyết về đại diên (Agency theory)
và thuyết về nguời quản gia (Stewardship theory) Thuyết về đại diện xem xét sự tách bạch về vấn đề kiểm sóat của chủ sở hữu Thuyết này cho rằng các nhà quản
lý chuyên nghiệp quản lý công ty là đại diện của cổ đông công ty Vấn đề quan trọng ở đây là để giảm chi phí đại diện thì nhà quản lý cấp cao của công ty nên
có cổ phần đáng kể tại công ty Ngược lại, thuyết về nguời quản gia được xem như là thuyết về những nguời liên quan (stakeholder’s theory) có ảnh huờng đến các thành viên hội đồng quản trị và CEO của công ty Các chỉ tiêu để thể hiện quy mô của quản trị công ty là quy mô của hội đồng quản trị, những ủy ban và số luợng hội nghị của công ty Theo nghiên cứu của Lipton và Lorsch (1992) cho rằng số luợng thành viên tối ưu trong hội đồng quản trị là khoảng tám đến chín
Trang 34thành viên Trong khi Jensen (1993) lại cho rằng số luợng bảy đến tám thành viên là tối ưu
Đa phần các bài nghiên cứu thực hiện dựa trên các công ty được niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán tại các nước quan sát, tuy nhiên Muturi (2015) đã thực hiện xem xét tác động của chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) đối với khả năng sinh lợi của công ty dựa trên các công ty trà không niêm yết tại Meru, Kenya từ năm 2009 – 2013 Bài nghiên cứu kết luận rằng chu kỳ luân chuyển ròng có mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của các công
ty trà tại Meru Vì thế khoảng thời gian sản xuất nguyên vật liệu đầu vào và thời gian nhận được khoản thanh toán của khách hàng sau khi mua hàng đóng một vai trò quan trọng đối với khả với khả sinh lợi của công ty
Tóm lại, thông qua các nghiên cứu trước đây ta có thể thấy đa phần các kết quả cho thấy rằng quản trị vốn luân chuyển có tác động lên khả năng sinh lời của công ty
Trang 353 PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Phần này trình bày về mô hình nghiên cứu, cách định lượng các biến và mô hình kinh tế lượng mà nghiên cứu sử dụng để xử lý dữ liệu Đầu tiên, bài nghiên cứu dung thống kê mô tả để mô tả biến đối với mẫu quan sát Việc thực hiện thống
kê mô tả là điều cần thiết để có cái nhìn tổng quan về đặc điểm của mẫu quan sát trước khi tiến hành phần phân tích chính Tiếp theo phần thống kê mô tả là phần phân tích tương quan để xem xét quản trị vốn lưu động có tác động đến khả năng sinh lợi của công ty hay không Sau đó, bài nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu sâu hơn
về tác động của quản trị vốn lưu động có tác động đến khả năng sinh lợi của công ty bằng cách sử dụng các mô hình đa biến Cuối cùng, để củng có các kết quả hồi quy, bài nghiên cứu thực hiện các kiểm định vè hiện tượng tự tương quan, đa cộng tuyến
và phương sai thay đổi trong các mô hình hồi quy
Mô hình hồi quy dữ liệu bảng
Biểu thức cho các mô hình trên được khái quát như sau:
Y it = β1 + β2X 2it + β3X 3it + µit
Việc ước lượng biểu thức trên phụ thuộc vào các giả định về tung độ
Trường hợp 1: Giả định rằng tung độ gốc và các hệ số dốc không đổi
theo thời gian và không gian Đây là trường hợp đơn giản nhất Trong trường hợp này ta không kể đến kích thước dữ liệu gộp theo không gian và thời gian
và chỉ ước lượng hồi quy đơn thuần theo phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) Hay phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS – Generalized least squares) Đối với phương pháp này các biến được biến đổi để thỏa mãn các giả thuyết bình phương tối thiểu tiêu chuẩn Các ước lượng tính
Trang 36được như vậy được gọi là các ước lượng GLS và các ước lượng này có các tính chất như tính tuyến tính, không chệch và hiệu quả (Gọi tắt là tính chất BLUE – Best Linear Unbiased Estimators)
Trường hợp 2: Giả định các hệ số dốc không đổi nhưng tung độ gốc
thay đổi theo các công ty Đối với giả định này, các đặc tính của mỗi công ty được thể thông qua sự khác biệt về hệ số trục tung Mô hình được thể hiện như sau:
Y it = β 1i + β2X 2it + β3X 3it + βkX kit + µit
Mô hình trên được biết đến với tên gọi là mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effect Model – FEM) Thuật ngữ tác động cố định được sử dụng là
do thực tế là tuy tung độ gốc có thể khác nhau giữa các công ty, nhưng mỗi tung độ gốc của các công ty không thay đổi theo thời gian, hay nói cách khác là tung độ gốc của các công ty bất biến với thời gian Sự khác biệt giữa tung độ gốc giữa các công ty được thể hiện thông qua các biến giả được đưa vào mô hình Khi đó mô hình được viết lại như sau:
Y it = a1 + a2D 2i + a3D 3i + ……+ β2X 2it + β3X 3it + βkX kit + µit
Mô hình trên được gọi là mô hình biến giả bình phương bé nhất (LSDV)
Trường hợp 3: Giả định các hệ số dốc không đổi nhưng tung độ gốc
thay đổi theo các công ty và thời gian Trường hợp này thêm giả định tung độ gốc thay đổi không chỉ theo các công ty mà còn thay đổi theo thời gian Mô hình được ước lượng bằng cách thêm các biến giả về thời gian vào mô hình biến giả bình phương bé nhất (LSDV), cụ thể mô hình như sau:
Yit = a1 + a2D 2i + a3D 3i + …+0 + 1 Dum 1 + 2 Dum 2 + 3 Dum 3 + …
+ 2X 2i + 3X 3i + βkX kit + µit
Trang 37Trường hợp 4: Giả định tất cả các hệ số (tung độ gốc cũng như các hệ số
dốc) thay đổi theo các công ty Hay nói cách khác là tất cả các hệ số khác nhau theo các công ty Mô hình như sau:
Yit = D 2i + 3 D 3i + … + 2X 2it + 3X 3it + βkX kit + 1 (D 2i X 2it)
+ 2(D 2i X 3it) + 3 (D 3i X 2it) + 4 (D 3i X 3it) + … + µit
Hệ sốlà các hệ số độ dốc chênh lệch (differential slope coefficients),
hệ số 4, … là các tung độ gốc chênh lệch (differential intercepts) Nếu
với các biến còn lại Ví dụ: 2 và 1 có ý nghĩa thống kê, thì (1 + 2) là giá trị
ty B)
Trường hợp 5: Giả định tất cả các hệ số (tung độ gốc cũng như các hệ số
dốc) thay đổi theo các công ty và thời gian
Giới hạn của việc sử dụng mô hình LSDV là có quá nhiều biến giả gây phức tạp mô hình vầ nguy cơ xảy ra hiện tượng đa công tuyến
Dữ liệu của bài nghiên cứu là dữ liệu bảng với kích thước thời gian ngắn
từ năm 2009 – 2015 không thể ước lượng mô hình mà tất cả các hệ số thay đổi
giữa các công ty Phương pháp Pooled OLS là một trong các phương pháp
được nhiều nghiên cứu trước đã sử dụng để phân tích để xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty như: nghiên cứu của Zariyawati, Annuar, Taufiq và Rahim (2009), Zubairi (2010), Vahid, Elham,
(2013), Enqvist, Graham, Nikkinen (2013), Monsoori và Muhammad (2014)
Trang 38Bên cạnh đó, các bài nghiên cứu trước đây của Deloof năm 2003, Padachi (2006), Muthava (2010), Manoori và Muhammad (2012) đã sử dụng
phương pháp Pooled OLS và FEM để phân tích hồi quy dữ liệu bảng để xem
xét tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty
Ngoài ra, để thực hiện hồi quy dữ liệu bảng khi xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển đối với khả năng sinh lợi của công ty thì một số
nghiên cứu cũng đã thực hiện bằng phương pháp Pooled OLS và GLS như:
nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis năm 2006, Raheman và Nasr năm
2007, Garcia – Teruel và Martinez – Solano năm 2007, Chatterjee (2012),
Do đó, bài nghiên cứu này cũng sẽ tiến hành hồi quy theo cả phương pháp OLS, GLS và FEM (có tùy chọn robust để xử lý phương sai của sai số thay đổi) để phân tích dữ liệu nghiên cứu
Theo như các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty, để phân tích tác động của chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) và các thành phần của CCC lên khả năng sinh lợi của công
ty, bài nghiên cứu sử dụng biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi thuần (GOP) Sau
đó tiến hành hồi quy các biến độc lập gồm: kỳ thu tiền khách hàng (AR), kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (INV), kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (AP), chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) Ngoài ra tác giả còn đưa ra các biến kiểm soát như: Quy mô công ty (LOS), số lượng thành viên ban quản trị (CG) Mô hình hồi quy cụ thể như sau:
Xem xét có mối quan hệ giữa kỳ thu tiền khách hàng (AR) và khả năng sinh lợi của công ty thông qua mô hình sau:
Mô hình 1:
GOPit = β1i + β2AR2it +β3SIZE3it + β4CGit + β5GDPit + µitGOPit = β1 + β2AR2it +β3SIZE3it + β4CGit + β5GDPit + w it
Trang 39 Xem xét có mối quan hệ giữa kỳ chuyển đổi hàng hóa (INV) và khả năng sinh lợi của công ty thông qua mô hình sau:
Mô hình 2:
GOPit = β1i + β2AP2it + β3SIZE3it + β4CGit + β5GDPit + µitGOPit = β1 + β2AP2it + β3SIZE3it + β4CGit + β5GDPit + w it
và khả năng sinh lợi của công ty thông qua mô hình sau:
Trang 403.2 Mô tả dữ liệu:
3.2.1 Chọn mẫu:
Mẫu nghiên cứu gồm 400 công ty phi tài chính bao gồm: 100 công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh (HOSE), 100 công ty niêm yết trên Sàn chính trên Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SGX Mainboard), 100 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (SET) và 100 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Malaysia trong giai đoạn từ năm 2009 -
2015
3.2.2 Mô tả biến:
Để xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty, bài nghiên cứu đã đưa các biến độc lập, biến phụ thuộc và biến kiểm soát sau vào mô hình nghiên cứu như sau:
Để đo lường khả năng sinh lợi của công ty, bài nghiên cứu sử dụng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GOP) làm biến phụ thuộc Biến này được tính bằng cách lấy doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán rồi chia cho tổng tài sản trừ đi tài sản tài chính Tỷ lợi lợi nhuận hoạt động gộp được dùng thay cho thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) hay lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế vì bài nghiên cứu xem xét kết quả thành công hay thất bại của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua một tỷ số hoạt động và xem xét mối quan hệ giữa biến hoạt động này với các các biến hoạt động khác như chu kỳ luân chuyển tiền của công ty Ngoài ra bài nghiên cứu cũng muốn loại phần hoạt động tài chính ra khỏi hoạt động của công ty vì các hoạt động tài chính sẽ có thể làm khuếch đại lợi nhuận của công ty nên phần tài sản tài chính
sẽ được loại khỏi phần tổng tài sản (Lazaridis và Tryfonidis, 2006)