Vì vậy để đưa ra phương thức trồng xen hợp lý đạt hiệu quả năng xuất cao nhất tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Hiện trạng sản xuất ngô trên đất bằng tại phường Chiềng Sinh và nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SÙNG THỊ DỢ
HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NGÔ TRÊN ĐẤT BẰNG TẠI PHƯỜNG CHIỀNG SINH VÀ NGHIÊN CỨU THỜI GIAN TRỒNG XEN ĐẬU NHO NHE VỚI GIỐNG NGÔ CP888
TRÊN ĐẤT BẰNG TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SÙNG THỊ DỢ
HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NGÔ TRÊN ĐẤT BẰNG TẠI PHƯỜNG CHIỀNG SINH VÀ NGHIÊN CỨU THỜI GIAN TRỒNG XEN ĐẬU NHO NHE VỚI GIỐNG NGÔ CP888
TRÊN ĐẤT BẰNG TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA
Chuyên ngành: Nông học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn : Ths Nguyễn Hoàng Phương
SƠN LA, NĂM 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Nguyễn Hoàng Phương, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm đã giúp đỡ Tôi trong quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên an ủi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thời gian thực tâp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Sùng Thị Dợ
Trang 4
Danh mục các từ viết tắt
NSTT : Năng suất thực thu
NSLT : Năng suất lý thuyết NPK : Phân tổng hợp: Đạm, lâm, kali
L : là Động thái ra lá của các công thức thí nghiệm
Vl : là tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm
P0.05 : Giá trị xác suất sai khác có ý nghĩa tại mức ý nghĩa 0,05
Ttb : Nhiệt độ trung bình/tháng
Tmax : Nhiệt độ cao nhất/tháng
Tmin : Nhiệt độ thấp nhất /tháng
Rtb : Lượng mưa trung bình/tháng
Rmax : Lượng mưa lớn nhất/tháng
Số ngày : Số ngày có mưa trong tháng
Utb : Độ ẩm trung bình/tháng
Umin : Độ ẩm thấp nhất trong tháng NNPTNT : Nông nghiệp phát triển nông thôn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích, yêu cầu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Tình hình sản xuất ngô 3
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 4
2.1.3 Tình hình sản xuất ngô tại Sơn La 5
2.1.4 Tình hình sản xuất ngô tại xã Chiềng Sinh thành phố Sơn La 7
2.2 Một số đặc điểm về cây ngô 8
2.2.1 Nguồn gốc, phân loại và lịch sử phát triển 8
2.2.2 Đặc điểm thực vật học 9
2.2.3 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây ngô 10
2.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh 12
2.3 Cơ sở khoa học và thực tiễn của trồng xen 15
2.3.1 Cơ sở khoa học 15
2.3.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.4 Một số đặc điểm cây trồng xen 18
2.4.1 Phân bố ở nước ta 18
2.4.2 Đặc điểm thực vật học 18
2.4.3 Giá trị 18
2.4.4 Một số kết quả nghiên cứu về trồng xen với ngô 19
2.5 Đặc điểm khí hậu vụ Hè-Thu năm 2017 tại Chiềng Sinh- Sơn La 20
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
Trang 63.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.2.1 Hiện trạng sản xuất ngô tại Phường Chiềng Sinh 24
3.2.2 Thí nghiệm về thời gian trồng xen đậu nho nhe với ngô 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp điều tra thực địa 24
3.3.2 Thiết kế và công thức thí nghiệm 25
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 26
3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
3.5 Quy trình kỹ thuật canh tác 29
3.5.1 Thời vụ gieo 29
3.5.2 Kỹ thuật bón phân 29
3.5.3 Kỹ thuật trồng 29
3.5.4 Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh 29
3.5.5 Thu hoạch 29
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Thực trạng sản xuất ngô tại Xã Chiềng Sinh Thành phố Sơn La 30
4.1.1 Diện tích, năng suất lúa 30
4.1.2 Cơ cấu giống và thời vụ 31
4.1.3 Tình hình dịch hại tại các bản điều tra 32
4.1.4 Quy trình kỹ thuật canh tác 32
4.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất ngô 34
4.1.6 Phân tích SOWT hệ thống sản xuất ngô 35
4.1.7 Hướng phát triển sản xuất ngô trong tương lai 35
4.2 Quá trình sinh trưởng và phát triển của ngô 36
4.2.1 Giai đoạn nảy mâm (từ trồng đến khi ngô có 3 lá) 38
4.2.2 Giai đoạn ngô đạt 7-9 lá 38
4.2.3 Giai đoạn trỗ cờ 39
4.2.4 Giai đoạn tung phấn, phun râu 39
Trang 74.2.5 Giai đoạn chín hoàn toàn 40
4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây ngô 40
4.4 Động thái tăng trưởng số lá 44
4.5 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của cây ngô 47
4.6 Mức độ nhiễm sâu bệnh, chuột hại 48
4.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 52
4.7.1 Năng suất và hiệu quả kinh tế 54
4.8 Một số chỉ tiêu về cây trồng xen 56
4.8.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của cây đậu nho nhe 56
4.9 Hiệu quả kinh tế 57
Bảng 4.13: hiệu quả kinh tế của thí nghiệm 58
PHẦN V: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.1.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 60
5.1.2 Mức độ nhiễm sâu bệnh và chuột hại 60
5.1.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng của đậu nho nhe 61
5.1.4 Hiệu quả kinh tế 61
5.1.5 Tình hình sản xuất ngô tại Xã Chiềng Sinh Thành phố Sơn La 61
5.2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 Phụ Lục
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô trên thế giới 3
giai đoạn 1992 - 2014 3
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ 2010 – 2016 4
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô ở Sơn La từ 2003– 2016 7
Bảng 2.4 Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Hè-Thu năm 2017 tại Chiềng Sinh - Sơn La 21
Bảng 4.1: Quy trình kỹ thuật canh tác 32
Bảng 4.2: Phân tích SOWT hệ thống sản xuất ngô 35
Bảng 4.3: Thời gian sinh trưởng và thời gian các giai đoạn sinh trưởng 37
Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều cao của cây ngô 41
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tuần) 43
Bảng 4.6 Động thái ra lá của các công thức thí nghiệm 45
Bảng 4.7: Bảng tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm 46
Bảng 4.8 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô CP888 48
Bảng 4.9 Mức độ nhiễm sâu bệnh và chuột hại của thí nghiệm 49
Bảng 4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất 53
Bảng 4.11: Năng suất thực thu và năng suất lý thuyết của cây ngô 55
Bảng 4.12 Đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của cây trồng xen 56
Bảng 4.13: hiệu quả kinh tế của thí nghiệm 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Nhiệt độ không khí tại thành phố Sơn La năm 2017 21
Hình 2.2 Đặc điểm mưa tại thành phố Sơn La năm 2017 22
Hình 2.3 Đặc điểm độ ẩm tại thành phố Sơn La năm 2017 23
Hình 4.1 Diện tích ngô của hộ gia đình tại các bản điều tra 30
Hình 4.2 Năng suất ngô của hộ gia đình tại các bản điều tra 30
Hình 4.3 Cơ cấu giống tại các bản điều tra 31
Hình 4.4 Tình hình dịch hại tại các bản điều tra 32
Hình 4.5 Các vấn đề sản xuất ngô tại các bản điều tra 34
Hình 4.6 Kế hoạch sản xuất của người dân trong tương lai tại cácbản điều tra 36
Hình 4.7 Động thái tăng trưởng chiều cao của cây ngô 41
Hình 4.8 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tuần) 43
Hình 4.9 Động thái ra lá của các công thức thí nghiệm 45
Hình 4.10 Tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm 46
Hình 4.11 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của thí nghiệm 49
Hình 4.12 Năng suất thực thu và năng suất lý thuyết của cây ngô 56
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea may L.) thuộc họ hòa thảo Gramineae, có nguồn gốc từ
Trung Mỹ, là một trong những cây ngũ cốc chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống [12]
Ngô là cây nông nghiệp có diện tích thu hoạch lớn thứ hai tại Việt Nam sau lúa gạo Tuy nhiên trong quá trình canh tác bên cạnh những dịch hại thường gặp như: sâu đục thân, rệp muội, bệnh đốn lá, bệnh gỉ sắt… thì cỏ dại cũng là một đối tượng thường gây hại nhiều cho ruộng ngô Cỏ dại không chỉ tranh chấp dinh dưỡng, nước và phần nào ánh sáng (khi cây ngô còn nhỏ) mà còn là nơi trú ngụ cho nhiều loại dịch hại khác như sâu bệnh, chuột hại… để từ đó chúng lây lan sang phá hại cây ngô gây thất thu năng suất nghiên trọng Vì vậy để hạn chế tác hại của cỏ dại người dân có thể sử dụng một số loại thuốc trừ cỏ như: Maizine 80WP, phun trước khi cỏ mọc 2-3 lá, dùng với liều lượng 1,0-2,0 kg thuốc thành phần cho một ha hoặc dùng Saicoba 800EC, phun thuốc ngai sau khi làm đất lần cuối hay sau khi gieo hạt từ 0-3 ngày với liều lượng 1,0 lít thuốc/ha để hạn chế cỏ dại [27]
Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2016 của Tổng cục thống kê cho thấy năng suất ngô trung bình ở Việt Nam đạt 44,8 tấn/ha, diện tích đạt 1.179,3 nghìn
ha Tại Sơn La, cây ngô đã được canh tác từ lâu đời và là cây trồng đóng vai trò quan trọng Năm 2015 diện tích canh tác ngô toàn tỉnh đạt 159,9 nghìn ha năng suất trung bình đạt 36,8 tấn/ha
Cây Đậu Nho Nhe (Vigna Umbelata) là cây bản địa đã được các dân tộc tại
Sơn La canh tác từ lâu đời Đây là loài cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, được người dân tộc Thái ưa chuộng Mặt khác, do đặc tính leo bò mạnh, khả năng tạo sinh khối lớn và cố định đạm cao nên trồng Đậu Nho Nhe xen với ngô là biện pháp giúp cải tạo đất rất hiệu quả
Thành phố Sơn La là vùng đồi núi có truyền thống canh tác ngô từ lâu đời
Từ trước đến nay việc áp dụng các biện pháp canh tác như trồng xen, trồng gối cũng đã được bà con áp dụng, tuy nhiên người dân thường trồng xen đậu cùng
Trang 11ngô nên năng suất đậu không cao do bị che khuất ánh sáng Mặc khác hiện nay thuốc trừ cỏ đang được người dân sử dụng nhiều trong canh tác ngô gây khó khăn trong việc trồng xen cây 2 lá mầm với ngô Vì vậy khi thay đổi thời gian trồng đậu có thể tăng năng suất đậu đồng thời có thể sử dụng thuốc trừ cỏ cho ngô là vấn đề mà người dân rất quan tâm Vì vậy để đưa ra phương thức trồng xen hợp lý đạt hiệu quả năng xuất cao nhất tôi đã quyết định thực hiện đề tài:
“Hiện trạng sản xuất ngô trên đất bằng tại phường Chiềng Sinh và nghiên cứu thời gian trồng xen đậu nho nhe với giống ngô CP888 trên đất bằng tại thành phố Sơn La.”
2 Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
Xác định thời gian trồng xen Đậu Nho Nhe không ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây ngô
Xác định hiện trạng canh tác ngô trên đất bằng tại phường Chiềng Sinh thành phố Sơn La
2.2 Yêu cầu
Điều tra hiện trạng sản xuất ngô trên đất bằng tại Phường Chiềng Sinh Thành Phố Sơn La
Thiết kế thí nghiệm, thu thập số liệu
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển
Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế
Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất và hiệu quả kinh tế của cây trồng xen
Trang 12
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình sản xuất ngô
2.1.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Nhờ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mà cây ngô ngày càng được quan tâm và phát triển Ngô là một trong ba cây lương thực lấy hạt quan trọng nhất trong nền nông nghiệp toàn cầu và được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới đem lại năng suất và sản lượng cao nhất trong các loại ngũ cốc
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng ngô trên thế giới
giai đoạn 1992 - 2014
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (triệu
ha)
Năng suất (tấn/ha)
Trang 132.1.2 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam
Ngô là cây nông nghiệp có diện tích thu hoạch lớn thứ hai tại Việt Nam sau lúa gạo Tuy nhiên ngô lại chỉ được trồng ở những khu vực không có lợi cho việc trồng cây công nghiệp, ví dụ như các khu vực miền núi đất đai cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng hay những vùng đất khô hạn, thiếu nước tưới tiêu hoặc trồng xen canh với những cây trồng giá trị cao khác Do ngô chủ yếu được gieo trồng trong điều kiện không thuận lợi nên sản lượng mặt hàng này của Việt Nam đang rất thấp Hơn nữa côn trùng và các loài gây hại cho ngô cũng là một trong những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sản lượng [28]
Cùng với khoai mì, gạo vỡ, cám gạo, ngô là một trong những cây trồng chính cho ngành nông nghiệp thức ăn chăm nuôi phát triển Tuy nhiên các sản phẩn
từ ngô trong nước lại không đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong những năm gần đây khiến kim ngạch nhập khẩu ngô nước ta hàng năm luôn ở mức hai triệu tấn.Vì thế các nhà chế biến ngô lại phải chịu áp lực lớn trong việc tăng sản lượng nhằm đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chống của thị trường Tăng năng suất trung bình bằng việc sử dụng các giống cây trồng năng suất cao được xem là phương án phù hợp nhất để đạt được mục tiêu của chính phủ trong việc tăng sản lượng ngô đáp ứng nhu cầu ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi [ 28]
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ 2010 – 2016
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Sơ bộ
2016 Diện tích
(nghìn/ha) 1.125,7 1.121,3 1.118,3 1.170,4 1.179,0 1.164,8 1.152,4 Năng suất
(tấn/ha) 4.11 4.31 4.30 4.02 4.41 4.54 4.53 Sản lượng
Trang 14Diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Việt Nam tăng giảm không đồng đều Năm 2011 diện tích ngô là 1.121,3 nghìn ha, năng suất đạt 4.31 tấn/ha, sản lượng là 4.835,6 nghìn tấn Nhưng đến năm 2012 tình hình sản xuất ngô có xu hướng giảm, diện tích ngô là 1.118,3 nghìn ha, năng suất là 4.30tấn/ha, sản lượng đạt 4.803,6 nghìn tấn Đến năm 2014 diện tích ngô lại tăng lên đạt 1.179,0 ngìn ha, năng suất đạt 4.41 tấn/ha, sản lượng là 5.202,3 nghìn tấn Từ năm 2015 đến năm 2016 tuy diện tích ngô có xu hướng giảm nhưng năng suất và sản lượng ngô lại tăng do sử dụng những giống ngô lai cho năng suất cao
2.1.3 Tình hình sản xuất ngô tại Sơn La
2.1.3.1 Điều kiện tự nhiên ở Sơn La
* Vị trí địa lý
Lê Thông, Lê Huỳnh [20] nói rằng: Tỉnh Sơn La nằm ở vùng Tây Bắc, diện tích đất tự nhiên là 1403.8 km2, diện tích đất canh tác chỉ có 9.3 nghìn ha, đa phần diện tích đất có độ dốc >25o Toàn bộ tỉnh có độ cao trên 500 m nên có những điểm đặc trưng về thổ nhưỡng và khí hậu Cụ thể như sau:
Về khí hậu: Sơn La mang tính chất á nhiệt đới rõ rệt Tháng nóng nhất nhiệt
độ trung bình chỉ đạt 24,90C, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống tới 140
C Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt mạnh nên có những tiểu khí hậu được hình thành, tại một số thung lũng nhiệt độ tối cao có thể đạt tới là 420C, nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới 00C Biên độ dao động nhiệt độ lớn: Mùa hè 8-9o
Về thổ nhưỡng: Phấn lớn đất đai của tỉnh phát triển trên đá vôi, một số ít phát triển trên đá sa thạch và phiến thạch Đặc điểm chung của thổ nhưỡng đó là: Tầng đất khá dày, thấm nước tốt, tỉ lệ đạm và lân trong đất tương đối cao Các loại đất chính của Sơn La là: Đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá mẹ
Trang 15khác nhau, đất mùn phát triển ở các vùng núi phía Nam, Ngoài ra còn có đất phù
sa ven sông Mã, sông Đà Nhìn chung đất Sơn La thuộc loại trung bình đến nặng, độ pH biến động: 5-6,5 Như vậy có thể thấy việc phát triển sản xuất ngô ở Sơn La là khá phù hợp
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ngô tại Sơn La
Việt Nam là đất nước có nhiều ưu thế để phát triển cây ngô Hiện nay, Việt Nam là một trong 17 quốc gia sản xuất ngô nhiều nhất thế giới Trong đó, Sơn
La là tỉnh có diện tích và sản lượng ngô hàng đầu cả nước [26]
Ngô là cây trồng chủ lực mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân tỉnh Sơn
La, trong đó sản xuất ngô lấy hạt sử dụng chế biến thức ăn chăm nuôi chiến tới hơn 85% Cải thiện năng suất và chất lượng ngô hạt giúp nâng cao giá trị ngô thương phẩm, cạng tranh được với sản phẩm nhập ngoại là một trong những hướng đi quan trọng hàng đầu đối với sản xuất ngô tại Sơn La nói riêng và Việt Nam nói chung [26]
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sơn La, so với năm 2015, diện tích trồng ngô giảm khoảng 4% nhưng năng suất tăng tới 4,8% tương đương với khoảng 1,78 tạ/ha, sản lượng tăng 0,6% (3,642 tấn) trong năm 2016
Có được những thay đổi đáng kể về mặt sản lượng và năng suất ngô là nhờ những nỗ lực của chính quyền, doanh nghiệp và nông dân địa phương, từ khâu chon giống tới cải thiện kỹ thuật canh tác, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất [26]
Số liệu thống kê về tình hình sản xuất ngô được trình bày tại bảng 2.3
Trang 16Bảng 2.3: Tình hình sản xuất ngô ở Sơn La từ 2003– 2016
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (nghìn/ha)
Năng suất (tấn/ha)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, sơ bộ năm 2016)
Diện tích ngô ở Sơn La liên tục tăng từ năm 2003 (64,6 nghìn ha) đến năm 2013 là (168,7 nghìn ha); như vậy trong 11 năm diện tích ngô tăng lên 104,1 nghìn ha Tuy nhiên từ năm 2014 đến năm 2016 thì diện tích ngô có xu hướng giảm xuống còn 152,4 nghìn ha năm 2016 Năng suất ngô tương đối ổn định qua các năm và đạt từ 2.82- 4.05 tấn/ha Về sản lượng ngô tại Sơn La liên tục tăng qua các năm, tăng từ 200,9 nghìn tấn năm 2003 đến 657,7 nghìn tấn năm 2014; nhưng năm 2015 sản lượng ngô giảm còn 588,7 nghìn tấn, tuy nhiên đến năm 2016 thì sản lượng ngô đã bắt đầu tăng (593,2 nghìn tấn)
Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội, quốc phòng – an ninh năm 2017 và
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2018 của xã Chiềng Sinh thành phố Sơn
Trang 17La ngày 08 tháng 12 năm 2017 cho biết: giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 154,6 tỷ đồng, đạt 135%, tăng 14% so với năm 2016 Ủy Ban nhân dân phường
đã chỉ đạo các tổ chức gieo trồng đảm bảo đúng thời vụ, chăm sóc các cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất tương đối cao Trong đó ngô xuân hè là
165 ha Duy trì ổn định các loại cây công nghiệp chủ lực như: ngô, cà phê, nhãn Công tắc bảo vệ thực vật được triển khai thực hiện kịp thời không để lây lan trên diện rộng, các loại cây trồng sinh trưởng phát triển tốt
2.2 Một số đặc điểm về cây ngô
2.2.1 Nguồn gốc, phân loại và lịch sử phát triển
Ngô là cây hằng niên, thân thảo, đặc lõi, thẳng và ít đâm nhánh Theo Đinh Thế Lộc và CS (1997) [12] cho rằng: Ngô có tên khoa học là (Zea mays L), được Linaeus đặt tên vào băn 1737, là loài duy nhất của giống Zea “Zea” có nghĩa là loài hòa thảo có hoa đơn tính, “May” có nguồn gốc từ người da đỏ
Ngô đã được con người trồng hàng nghìn năm nay Tác giả Đinh thế Lộc
và CS [12] cho rằng: các kết quả khảo cổ ở Meehicô đã tìm thấy những dấu vết hạt ngô và lá bi, ước tính tuổi của các bộ phận cổ này khoảng 4.500 năm Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thế Hùng [8] cho rằng: Cây ngô đã xuất hiện khoảng
5000 năm TCN
Khi nói về nguồn gốc cây ngô đã có rất nhiều ý kiến và giả thuyết khác nhau Tuy nhiên, các tác giả Đinh Thế Lộc và CS [12], Ngô Hữu Tình [22], Nguyễn Thế Hùng [8] đều thống nhất ý kiến về nguồn gốc di truyền của cây ngô
và được tóm lược như sau:
Là con lai giữa Teosinte và thành viên không rõ thuộc chi Andropgoneae
Là con lai nhị bội tự nhiên giữa các loại Á châu thuộc chi Maydeae và
Andropgoneae
Là con lai của ngô bọc Mỹ và Tripsacum Trung MỸ tới Teosinte
Là con lai giữa ngô bọc, Teosinte và Tripsacum
Ngô, Teosinte và Tripsacum bắt nguồn riêng rẽ từ một dạng tổ tiên chung
Teosinte là nguồn gốc của ngô sau một hoặc nhiều đột biến
Trang 18Ngô trồng hiện đại có nguồn gốc ngô bọc, dạng dại của nó đã phát sinh ở Mexico, ngô bọc nguyên thủy đã lai tự nhiên với Teosinte và Tripsacum thành nhiều dạng cây, một trong những dạng đó đã trở thành ngô trồng hiện nay
Theo Đinh Thế Lộc và cộng sự [12] Từ thời Khang Hy (1663-1723) Trần Thế Vinh sang sứ nhà Thanh và đã lấy được giống ngô mang về trồng tại Việt Nam Tuy nhiên Trần Văn Minh [15] lại cho rằng: Cây ngô được du nhập vào nước ta theo hai con đường: con đường thứ nhất từ Trung Quốc sang (phía Bắc), con đường thứ hai từ Indonesia sang (phía Nam)
Cây ngô đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình tại Việt Nam Diện tích, năng suất, sản lượng ngô liên tục tăng qua các năm cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất Cuối năm 1985 kỹ thuật trồng ngô đông trên đất ướt sau vụ lúa được áp dụng thành công ở miền bắc mở ra một vụ ngô mới nâng cao năng suất ngô của Việt Nam [3]
Theo tác giả Trần Văn Minh [15] Hiện nay trên 80% diện tích trồng ngô trên thế giới sử dụng các giống ngô cải tiến, trong đó 2/3 là các giống ngô lai 1/3
là các giống thụ phấn tự do còn lại là các giống biến đổi gene
2.2.2 Đặc điểm thực vật học
2.2.2.1 Hệ rễ ngô
Rễ ngô thuộc lọi rễ chùm, có ba loại [1]:
- Rễ mầm: Xuất hiện khi cây nảy mầm Đầu tiên là rễ mầm chính (rễ mầm
sơ sinh, tiếp đến rễ mầm nhánh(rễ mầm thứ sinh)
- Rễ đốt: Phát triển từ các đốt thân nằm dưới mặt đất, có 4-5 lớp rễ đốt Đây là loại rễ chính cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây trong suốt thời gian sinh trưởng
- Rễ chân kiềng: Mọc ra từ các đốt thân trên mặt đất và gần sát mặt đất, có tác dụng chính là chống đổ cho cây, hút nước và dinh dưỡng
2.2.2.2 Thân cây ngô
Thân ngô đặc, khá chác, có đường kính từ 2-4 cm tùy thuộc vào giống, điều kiện sinh thái và chăm sóc Chiều cao cây ngô khoảng từ 1,5 – 4 m Thân chính của ngô có nguồn gốc từ chồi mầm [24]
Trang 192.2.2.3 Bộ lá cây ngô
Theo Ngô Hữu Tình [22]: Lá ngô có 4 loại là:
- Lá mầm: Là lá đầu tên khi cây còn nhỏ, chưa phân biệt được phiến lá với
2.2.2.4 Cơ quan sinh sản cây ngô
Cây ngô không giống những cây hoà thảo khác, ngô có hoa đực và hoa cái tách biệt trên cùng 1 cây Hoa đực ở đỉnh ngọn thường gọi là cờ ngô, hoa cái sinh ra ở trong những mầm phụ gọi là bắp(Hoàng Minh Tấn [17])
Tác giả Hoàng Minh Tấn [17] đã nhận định : Hoa tự đực (bông cờ) bao gồm các hoa đực sắp sếp theo kiểu chùm bông được gọi là bông cờ gồm một trục chính có nhiều gié Các gié mọc đối nhau, mỗi gié có 2 chùm hoa, mỗi chùm 2 hoa, mỗi hoa có 2 vỏ trấu trong, mỏng, màu trắng Bắp ngô được tạo ra
từ các mầm nách ở phần giữa thân trên 1 cây ngô có thể tạo ra(phân hoá) được nhiều bắp ngô nhưng do quá trình phân hoá không đều lượng chất dinh dưỡng cung cấp không đầy đủ nên trên mỗi cây ngô chỉ có từ 1-2 bắp có hạt cho thu hoặc gọi là bắp hữu hiệu Một bắp ngô gồm có: cuống bắp, bắp ngô hoa cái cấu tạo gồm 3 bộ phận: Râu ngô (Vòi nhị cái), bầu nhị cái và 2 mày hoa nằm dưới chân nhuỵ cái
2.2.3 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây ngô
Chu kì sinh trưởng của cây ngô bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi hạt chín hoàn toàn.Chu kì thay đổi từ 50 – 350 ngày ( trung bình 75 – 100 ngày ở miền tây ) tùy giống , điều kiện canh tác và môi trường Sự sinh trưởng của cây ngô được tiến hành qua nhiều thời kì nối tiếp nhau một cách liên tục [14]
Trang 202.2.3.1 Thời kì mọc mầm
Hạt trương đầy nước khoảng 24 giờ sau khi gieo Khi đó đỉnh sinh trưởng hãy còn là một khối u rộng, nhưng bên trong đã phân hóa từ 5 – 7 lá mầm và đốt thân Các chất dinh dưỡng trong hột cũng phân hóa , tinh bột tạo thành đường [14]
2.2.3.2 Thời kì cây con (từ 1 – 5 lá )
Khi cây có 3 lá, cây ngô bắt đầu sống nhờ quang hợp và hấp thụ dinh dưỡng từ rễ Thời kì này quyết định số mắt và lóng của cây, gặp điều kiện bất lợi, cây sẽ cho ít mắt ở cuối thời kì này, đỉnh dinh dưỡng của chồi nách hình thành.vào thời kì này, thân cây thật chỉ cao 1 – 3 cm, nhưng toàn bộ chiều cao cây ngô từ 20 – 30 cm và ở khoảng 12 – 15 ngày sau khi gieo trong điều kiện miền tây, Nam bộ [14]
2.2.3.3 Thời kì tăng trưởng chậm
Khi cây được 5 - 9 lá.cây bắp phát triển chậm, chỉ vài mm/ ngày, tuy nhiên các đỉnh sinh trưởng đã bắt đầu phát triển tạo mầm hoa đực Thời kì này cây ngô chịu ảnh hưởng quang kì rất mạnh, nhất là những giống nhiệt đới [14]
2.2.3.4 Thời kì tăng trưởng tích cực
Cây phát triển rất nhanh trong thời kì này Mỗi ngày thân có thể mọc thêm
2 – 5 cm, nhất là lúc gần trổ Hệ thống rễ và lượng chất khô trong cây cũng tăng rất nhanh Số lượng và sức sống của hoa cũng được quyết định trong giai đoạn này, do đó cây ngô cũng cần nhiệt độ thích hợp, ở 18 – 200
C và độ ẩm khoảng 80% [14]
2.2.3.5 Thời kì trổ hoa
Kéo dài trong 10 - 15 ngày, từ khi cây trố gié, tung phấn,phun râu đến khi hạt đã thụ phấn Toàn thể cây ngô hoạt động tích cực, hấp thụ nhiều nước ( 2 lít / cây/ ngày) và dinh dưỡng Nhiệt độ thích hợp là 22 – 25 0C và độ ẩm đất khoảng 80% [14]
2.2.3.6 Thời kì tạo hạt đến chín
Kéo dài 25 – 35 ngày, tùy theo giống và thời vụ Trong đông xuân, giai đoạn này kéo dài làm hạt to và năng suất ổn định hơn hè thu ở ôn đới, giai đoạn
Trang 21tạo hạt kéo dài từ 30 – 60 ngày Giai đoạn tạo hạt dài và tuổi thọ lá được duy trì
ở mức độ cao và lâu là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất của bắp [14]
Thời kì tạo hạt của ngô được chia ra là 3 thời kì nhỏ [14]:
- Chín sữa: hạt ngô tích trữ dinh dưỡng nhưng còn chứa nhiều nước, kéo dài từ khi phun râu đến 15 – 20 ngày sau khi phun râu
- Chín sáp : hạt tương đối hơi khô ở phần ngoài nhưng bên trong vẫn còn nhiều nước
- Chín hoàn toàn: hạt khô cứng hết, hạt có màu đen, nhiệt độ cao và khô
làm hạt chín nhanh
2.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh
2.2.4.1 Yêu cầu về nhiệt độ, nước, ánh sáng và đất trồng ngô
* Nhu cầu nước và độ ẩm
Cây ngô đòi hỏi một lượng nước khá lớn để sinh trưởng, phát triển và quang hợp tạo vật chất xây dựng cơ thể Một ha ngô cần 3000-4000m3 tương đương với lượng mưa 300-400mm được phân bố đều suốt vụ Ngô là loại cây sử dụng nước hiệu quả cao: để tạo ra một đơn vị chất khô cây ngô cần 350 đơn vị nước Ngô là cây yêu cầu đất ẩm, nhưng khả năng chịu úng kém không đủ ôxy, khả năng hút chất dinh dưỡng kém Nhu cầu nước trong các thời kỳ sinh trưởng phát triển [1]:
- Giai đoạn gieo hạt ngô: độ ẩm đất 70-80%
- Giai đoạn cây con: ngô chịu hạn tốt, ẩm đất 65-70%
- Giai đoạn ngô có 7-9 lá đến lúc trỗ cờ, nhu cầu nước của ngô tăng nhanh,
độ ẩm đất thích hợp từ 75-80%
- Giai đoạn ngô trỗ cờ tung phấn đến lúc chín sữa Đây là giai đoạn khủng hoảng nước của cây ngô Nếu gặp hạn, quá trình thụ phấn, thụ tinh gặp khó khăn, năng suất giảm rõ rệt Độ ẩm đất thích hợp từ 75-80%
- Giai đoạn chín sáp đến lúc thu hoạch nhu cầu nước giảm dần Độ ẩm đất yêu cầu 70-60%
Trang 22* Nhu cầu ánh sáng
Cường độ ánh sáng (chất lượng ánh sáng) Cây ngô quang hợp theo chu trình C4, thích hợp với cường độ ánh sáng mạnh: quang hợp và cho năng suất cao phẩm chất tốt Ánh sáng có ảnh hưởng quyết định đến năng suất vào thời kỳ cây ngô trỗ cờ và thời kỳ chín (khoảng 80% chất khô của hạt là sản phấm quang hợp sau trỗ được vận chuyển về hạt ) [1]
Cây ngô có phản ứng với ngày ngắn, cây cần ngày ngắn để ra hoa và tạo hạt Tuy nhiên các giống ngô mới hiện nay đa số thuộc nhóm giống ngắn ngày
và trung ngày, có phản ứng trung tính với ngày ngắn nên cây ra hoa không phụ thuộc vào độ dài ngày Nhóm giống dài ngày có xu hướng phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, xuất hiện ở một số giống ngô có xuất xứ ở vùng nguyên bản của cây ngô [1]
* Nhiệt độ
Cây ngô là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, yêu cầu nhiệt
độ cao trên 20oC trong suốt qúa trình sống Nhiệt độ thích hợp : 25-30oC Nhiệt
độ tối thấp > 13oC Nhiệt độ tối đa : > 35o
C Yêu cầu nhiệt độ của từng thời kỳ sinh trưởng cụ thể như sau [1]
- Giai đoạn gieo hạt: Nếu gặp nhiệt độ cao thời gian nảy mầm kéo dài Cây con STPT kém, độ đồng đều của quần thể kém, dưới 13oC phần lớn các giống không nảy mầm,
- Lúc ngô trỗ cờ, tung phấn, phun râu và thụ tinh: Nhiệt độ thích hợp 22 –
28oC Nhiệt độ thấp khả năng thụ phấn thụ tinh kém, nhiệt độ cao làm giảm sức sống của hạt phấn, nhiệt độ cao trên 350
Trang 23cầu dinh dưỡng của cây ngô cũng lớn Cây ngô cần ít nhất 13 nguyên tố dinh dưỡng từ đất [1]
2.2.4.2 Đặc điểm sử dụng chất dinh dưỡng, phân bón
Nguyễn Thế Hùng [9] kết luận rằng: Ngô là loại cây có khả năng tạo ra một khối lượng vật chất rất lớn trong một vụ trồng, vì vậy ngô hút từ đất một lượng chất dinh dưỡng lớn trong quá trình sống Tùy theo lượng hút và vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng, các nhà nghiên cứu phân chia các nguyên tố dinh dưỡng thành hai nhóm chất:
+ Nhóm nguyên tố đa lượng gồm: đạm (N), lân (P2O2), kali (K2O), can xi (Ca), manhê (Mg), lưu huỳnh (S) Đây là những chất rất quan trọng được cây ngô hút nhiều trong quá trình sống
+ Nhóm các nguyên tố vi lượng gồm rất nhiều chất như: sắt (Fe), Môlípđen) Mo), Bo (B), đồng (Cu), kẽm (Zn), Mang gan (Mn) Đây là các chất được hút với lượng rất nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây ngô vì các nguyên tố vi lượng tham gia vào thành phần các enzim, các chất có hoạt tính
sinh lý cao, đóng vai trò điều tiết quá trình sống của cây
* Nhu cầu Đạm
Đạm là nguyên tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sinh trưởng và năng suất của cây ngô Đầy đủ đạm cây ngô mọc nhanh, thân lá phát triển tốt, cờ to nhiều phấn, trái nhiều hạt năng suất cao[12]
Cây ngô khi mọc cao khoảng 30 – 40 cm thì tốc độ tăng trưởng giảm, do đó nhu cầu đạm của cây cũng tăng nhanh Cây ngô thông thường cần khoảng 3,5 kg/ha/ngày và có thể tăng gấp đôi ở các giai đoạn cây cần nhiều đạm Thiếu đạm
sẽ làm chết cây con, trái nhỏ, hạt lép [12]
* Nhu cầu Lân
- Vai trò của lân đối với cây ngô: Lân tham gia vào thành phân của các hợp chất Nuleotit: AND và ARN, các hợp chất cao năng ATP, ADP; làm tăng sức sống và phẩm chất của hạt ngô, kết quả nêu ở bảng cho thấy phần lớn lân tập trung trong hạt ngô và Lân có tác dụng giúp cho cây ngô chống chịu tốt với điều
Trang 24kiện ngoại cảnh không thuận lợi đặc biệt là nhiệt độ thấp và khả năng chịu hạn [8] Biểu hiện của việc thiếu lân:
Biểu hiện trên lá: Khi cây ngô thiếu lân biểu hiện rất rõ trên lá, các lá thường có mầu đỏ tím (huyết dụ), nhất là các lá non
Biểu hiện bộ rễ: Rễ kém phát triển, phân bố hẹp và nông
Biểu hiện ở cơ quan sinh sản: Bông cờ bé, ít hoa đực, khả năng thụ phấn thụ tính kém, quá trình tích lũy tinh bộ về hạt bị giảm Bắp ngô nhỏ, méo mó, hạt nhỏ
- Đặc điểm dinh dưỡng lân: Với giống ngô có thời gian sinh trưởng khoảng
125 ngày, cây ngô cần khoảng 30% lượng trong 50 ngày đầu, 65% trong 50 ngày tiếp theo và 5% trong 25 ngày cuối [8]
* Nhu cầu Kali
Kali là nguyên tố cần thiết cho quá trình chuyển hóa đường và tinh bột
Kali có mặt trong tất cả các mô bào của cây ngô Trong trường hợp chất dinh dưỡng đầy đủ, độ ẩm đất phù hợp, nếu tăng lượng kali thì có thể làm tăng số bắp trên cây ngô [1]
Ngô cần kali trong suốt thời gian sinh trưởng, cần nhất vào thời kì 6 lá trở
đi Ngô hấp thụ kali nhiều nhất là thời kì làm đốt, ở thời kỳ này cây ngô cần đến 36% tổng lượng kali cây hấp thụ được trong suốt thời gian sinh trưởng Ở thời kì này mỗi ngày một cây ngô có thể hấp thụ 658mg kali Nếu thiếu kali cây ngô sinh trưởng chậm, lá vàng, thường bị héo khô từ mép lá vào, rễ phát triển yếu, cây dễ đổ, chống chịu sâu bệnh kém [1]
2.3 Cơ sở khoa học và thực tiễn của trồng xen
2.3.1 Cơ sở khoa học
Hiện nay, người sản xuất đã biết kết hợp rất nhiều loại cây trồng, cây cao
và cây thấp, cây thân gỗ với cây thân bụi, cây lấy nhiều chất dinh dưỡng từ đất với cây bồi dưỡng đất (tiêu biểu là cây họ đậu có khả năng cố định Nitơ trong đất) để đảm bảo được các sản phẩm thu hoạch khác nhau [21]
Các loại cây trồng xen gần đây được các nhà nghiên cứu trồng thí nghiệm
và một phần đã được đưa ra sản xuất đại trà, trồng xen các cây trồng có tác dụng
Trang 25cải tạo đất: các cây họ đậu, cây phân xanh, giữa các hàng cây ăn quả và cây họ đậu trồng các hàng dứa ăn quả để hạn chế xói mòn Tất cả các loài cây trồng, các loài cây ăn quả, cây công nghiệp, cây rừng đều có thể xen canh luân canh với các loài cây che phủ cải tạo đất và các loài cây ngắn ngày khác để tăng thu nhập [21]
Trồng xen các cây họ đậu với ngô là một biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững và hiệu quả cao Biện pháp này cho phép tăng hiệu quả kinh tế, duy trì
và cải thiện độ phì của đất Bên cạnh đó Đậu Nho Nhe trồng xen với ngô, ngoài tác dụng cải tạo đất, hạn chế cỏ dại, tăng độ che phủ, hoa màu vụ sau sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao hơn còn cho thu hoạch hạt đậu làm thực phẩm Trồng xen ngô với đậu nho nhe có thể làm tăng hiệu quả sản xuất lên
15 - 20%, làm tăng hiệu quả cải tạo đất Trồng xen như vậy có rất nhiều tác dụng: Đậu Nho Nhe phát triển nhanh, cùng với cây ngô tạo thành lớp thực vật che phủ dày đặc trên bề mặt đất, chống được xói mòn trong đầu mùa mưa Cây
họ đậu cũng cạnh tranh và hạn chế được cỏ dại Khi thu hoạch Đậu Nho Nhe, toàn bộ thân lá, rễ phủ lại bề mặt nương ngô vừa có tác dụng che phủ vừa là nguồn hữu cơ giàu đạm cải tạo đất và năng suất ở vụ sau sẽ được cải thiện [21] Một số căn cứ quan trọng trong phương thức trồng xen so với trồng thuần:
* Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên tốt hơn:
- Lợi dụng sự khác nhau về đặc điểm hình thái: Cây ngô có đặc điểm hình
thái cao hơn hẳn so với cây đậu nho nhe, cây không phân cành, lá dài mọc đối xứng nhau theo hướng xiên, việc trồng xen giữa hai loại cây này sẽ tận dụng được khoảng không tốt hơn mà không bị che lấp nhau [21]
- Lợi dụng sự khác nhau về thời gian sinh trưởng giữa các loài cây trồng:
Trong sản xuất người ta thường bố trí sao cho đỉnh cao sinh trưởng không trùng nhau để giảm bớt được sự cạnh tranh giữa hai loại cây, năng suất của mỗi cây được đảm bảo hơn [21]
- Lợi dụng sự khác nhau về nhu cầu ánh sáng và nâng cao hiệu suất sử
dụng ánh sáng: Ánh sáng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới quá trình cấu
Trang 26không nắng sẽ ảnh hưởng đến việc thu tinh của hạt ngô, ảnh hưởng đến năng suất của ngô Trồng cây có cường độ ánh sáng mạnh hơn (ngô) với cây sử dụng cường độ ánh sáng yếu hơn (cây họ đậu) sẽ giảm bớt sự cạnh tranh về nguồn sáng [21]
- Lợi dụng nguồn dinh dưỡng mà cây trồng xen tổng hợp được trong quá
trình sinh trưởng: Do hoạt động của các vi sinh vật có trong nốt sần của cây họ
đậu tổng hợp nên nguồn nitơ đã hỗ trợ về dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng của ngô, ngô cần nhiều dinh dưỡng nên khi hút dinh dưỡng trong đất sẽ kích thích vi khuẩn nốt sần hoạt động sinh ra đạm vô cơ làm giàu cho đất [21]
* Trồng xen làm tăng năng suất và tăng thu nhập:
- Với sự ổn định về năng suất:Theo Lò Văn Thương (2014) dẫn theo tác giả Willey R.W (1979) [21] nói rằng: cơ sở sinh lý chủ yếu của tính ổn định lớn hơn về năng suất của trồng xen là nếu một cây thất bại hoặc sinh trưởng nghèo, cây khác có thể đền bù và như thế không thể xảy ra nếu những cây trồng không tách biệt Như vậy khi trồng từ hai loại cây trồng trở lên năng suất
- Với sự tăng thu nhập Theo Lò Văn Thương (2014) dẫn theo tác giả Quazi M.H and Khalip P (1993) [21] đã cho biết: Nhiều thí nghiệm trồng xen Đậu Nho Nhe hoặc lạc với ngô hoạc mía ở Pakistan đã làm tăng thu nhập lên 56% so với trồng thuần
Theo Lò Văn Thương (2014) dẫn theo tác giả Willey R.W (1979) đã đưa ra khái niệm về trồng xen như sau: “Khi hai hay nhiều hơn những cây trồng cùng nhau trên cùng một mảnh đất, những cây trồng này có thể cùng gieo, cùng thu hoạch hoặc khác thời gian” [21]
2.3.2 Cơ sở thực tiễn
Từ thời xa xưa, ở nhiều nơi người dân đã biết kết hợp rất nhiều loại cây trồng, cây cao và cây thấp, cây thân gỗ với cây thân bụi, cây lấy nhiều chất dinh dưỡng từ đất với cây bồi dưỡng đất (tiêu biểu là cây họ đậu có khả năng cố định Nitơ trong đất) như: Trồng xen ngô - đậu, ngô - bí, đậu - mía, ngô - bông, sắn – khoai lang, ngô – rau,…Tuy nhiên, lúc đó việc trồng xen chưa hề theo một khoảng cách hay mật độ nhất định nào, mà người dân chỉ trồng theo cảm tính
Trang 27Với công cụ lao động thô sơ, canh tác theo kiểu chọc lỗ tra hạt, khi trồng người dân thường trộn các giống với nhau và khi bốc phải hạt nào thì tra hạt đấy Nhiều năm sau khi trồng như vậy người dân thấy đất tốt hơn, cây trồng ít bị sâu bệnh hơn và sản phẩm thu hoạch đa dạng, góp phần tăng thêm thu nhập cải thiện đời sống [3]
2.4 Một số đặc điểm cây trồng xen
2.4.1 Phân bố ở nước ta
Đậu Nho Nhe (Vigna Umbelata) được thu thập và trồng nhiều ở các tỉnh
miền Núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn Điện Biên, Sơn La,… Hiện nay, Đậu Nho Nhe đang được lưu gữu tại Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa – Cơ quan mạng lưới của Hệ thống bảo tồn Tài nguyên di truyền thực vật quốc gia [25]
2.4.2 Đặc điểm thực vật học
Cây Đậu Nho Nhe có đặc điểm thực vật học như sau [25]:
- Rễ: Gồm 1 rễ cái và các rễ phụ, bộ rễ phát triển mạnh, có nhiều nốt sần
Rễ đậu nho nhe có khả năng chịu hạn nhưng chịu úng rất kém, nhất là cây còn nhỏ ( 0 – 25 ngày sau gieo)
- Thân: Đậu nho nhe thuộc dạng thân bò leo Trên thân có nhiều lông tơ
nhám, phân nhiều nhánh
- lá: Khi mới mọc, cây có 2 lá đơn nhỏ, sau đó là các lá kép Mỗi lá kép
có 3 lá đơn, hình quả tim, có lông tơ nhám
- Hoa: Hoa màu vàng, hoa tự nở ở nách lá, mang nhiều hoa Thường ra
hoa vào tháng 9 – tháng 10
- Quả: Quả cong, hình kiếm, dài 6- 8cm
- Hạt: Hạt có vỏ màu đen, đỏ thẫm hoặc nâu, nhân hạt trắng hoặc xanh
- Cây sống 1 năm, có khả năng chịu hạn, thân lá phát triển nhanh, 3 tháng phủ kín đất
2.4.3 Giá trị
- Hàm lượng dinh dưỡng trong thân lá cao, làm phân bón rất tốt Năng suất chất xanh đạt 25-30 tấn/ha [21]
Trang 282.4.4 Một số kết quả nghiên cứu về trồng xen với ngô
Theo tác giả Ngần Quỳnh Giang (2010) [6] khi nghiên cứu về trồng xen đã kết luận rằng: Trồng xen mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với chỉ trồng đơn thuần một loại cây ngô sản xuất Hiệu quả kinh tế của các giống ngô dao động từ
11 - 14 triệu đồng/ ha Nên đưa phương thức trồng xen vào sản xuất đại trà Bên cạnh đó nếu biết kết hợp quy trình kỹ thuật một cách hợp lý thì không những đem lại hiệu quả kinh tế mà góp phần cải tạo đất rất lớn, nhất là với những vùng đất đang bị thoái hoá như tỉnh Sơn La
Tác giả Bùi Văn Tùng (2011) [cứu một số biện pháp canh tác ngô bền
vững tại xã Mường Sang huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La trong vụ hè thu 2011”]
cho biết: Việc trồng xen đậu nho nhe với ngô mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn đối với đối chứng trong đó công thức trồng ngô có che phủ đất kết hợp làm đất tối thiểu có hiệu quả cao nhất đạt 135% so với đối chứng, công thức trồng ngô theo cách trồng thường và có che phủ chỉ đạt 125% so với đối chứng [23]
Theo tác giả Nguyễn Hoàng Phương (2012) [báo cáo kết quả dự án
AGB2008/002 “Nghiên Cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác ngô bền vững
tại Sơn La”] Khi trồng xen đậu nho nhe với ngô đã khẳng định [16]:
- Khả năng sinh trưởng phát triển của các công thức thí nghiệm không có
sự khác biệt rõ rệt với các công thức đối chứng về chều cao cây, chiều cao đóng bắp và thời gian sinh trưởng
Tác giả Bùi Văn Chính (2014) [báo cáo kết quả chuyên đề “ Nghiên cứu
ảnh hưởng của mật độ trồng xen đậu nho nhe đối với cây ngô tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Nông lâm nghiệp – thị trấn Thuận Chuâu – Sơn La ”]
đã khẳng định: Trồng xen đậu nho nhe với cây ngô là biện pháp canh đêm hiệu quả cao, tăng thu nhập cho người dân từ 13,82 – 28,32 triệu đồng/ha [2]
Theo tác giả Lò Văn Thương (2014) [21] cho biết: Công thức trồng xen ngô với đậu kiểu trồng đậu trước khi gieo ngô 2 tuần là cho năng suất cao nhất Năng suất ngô ở công thức trồng trồng đậu trước trồng ngô 2 tuần cao hơn với công thức đối chứng Tổng thu ở công thức trồng cây trồng xen trước khi gieo ngô 2 tuần cao nhất đạt 55,08 triệu đồng cao hơn công thức đối chứng 15,84
Trang 29triệu đồng, công thức trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 1 tuần thấp nhất đạt 36,98 triệu đồng thấp hơn công thức đối chứng 2,26 triệu đồng Như vậy công thức trồng cây trồng xen trước khi gieo ngô 2 tuần mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các công thức khác, ngoài ngô còn thu nhập thêm nguồn đậu với hiệu quả sinh khối lớn cho đất và năng suất cao ở công thức trồng cây trồng xen trước khi gieo ngô 2 tuần
Theo tác giả Ngần Văn Khay (2015) [9] khi nghiên cứu về cây trồng xen
đã khẳng định: giữa các công thức không có sự sai khác ở mức ý nghĩa 0.05, năng suất bắp tươi giữa các công thức dao động từ 4.45 – 7.02 tấn/ha, trong các công thức thì công thức trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 2 tuần có năng suất cao nhất đạt 7,02 tấn/ha và công thức trồng cây trồng xen cùng với ngô có năng suất thấp nhất đạt 4.45 tấn/ha
Theo tác giả Lý a Chua (2016) [4] kết luận rằng: Khi trồng xen đậu nho nhe với cây ngô làm tăng tổng thu nhập từ 48,88 – 64,65 triệu đồng Lợi nhuận tăng từ 29,48 – 45,25 triệu đồng Tăng giá trị gia tăng từ 40,28 – 56,05 triệu đồng Hiệu suất vốn tăng từ 4,68 – 6,52 triệu đồng Hiệu quả kinh tế tuyệt đối so với đối chứng tăng từ 30,93 – 46,70 triệu đồng Hiệu quả kinh tế tương đối so với H1 tăng từ 4,31 – 5,99 Giá trị 1 công lao động tăng từ 335,69 – 467,08 nghìn đồng Như vậy công thức trồng xen cây đậu nho nhe Yên Châu với ngô mang hiệu quả kinh tế cao nhất so với các công thức trồng xen khác
2.5 Đặc điểm khí hậu vụ Hè-Thu năm 2017 tại Chiềng Sinh- Sơn La
Cây ngô có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới nên ưa khí hậu ấm áp Bộ rễ ngô phát triển mạnh nên khả năng hút nước khỏe hơn nhiều cây khác và sử dụng nước tiết kiệm hơn để hình thành một đơn vị chất khô Tuy nhiên, cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo ra khối lượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn Do đó điều kiện thời tiết khí hậu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây ngô [12]
Để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây ngô, chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu về nhiệt độ, lượng mưa
Trang 30khí hậu được chúng tôi trình bài trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Hè-Thu năm 2017 tại Chiềng Sinh -
Sơn La Khí hậu
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C) Lƣợng mƣa (mm) Độ ẩm (%)
T tb T max T min R tb R max
Số ngày U tb U min
Hình 2.1: Nhiệt độ không khí tại thành phố Sơn La năm 2017
Nhiệt độ trung bình tại Sơn La dao động từ 21.1-26.170C Trong đó nhiệt
độ trung bình cao nhất vào tháng 6 với 26.170C và nhiệt độ trung bình thấp nhất
là tháng 3 với 21.10
C Nhiệt độ trung bình cao từ 34-
300C, mà nhiệt độ lại có sự tăng giảm không
ổn định, tháng 9 nhiệt độ vẫn tăng lên 330C và sang tháng 10 nhiệt độ mới giảm
Trang 31xuống 300C Mà đến cuối tháng 7 ngô đã kết thúc giai đoạn thụ phấn phun râu
và chuyển sang giai đoạn hình thành hạt Do vậy nhiệt độ không có lợi cho quá trình sinh trưởng, thụ phấn thụ tinh của cây ngô
Nhiệt độ tối thấp từ 14.67- 21.67 0C, và tăng dần từ tháng 4 đến tháng 8 Từ tháng 9 đến tháng 10 nhiệt độ giảm dần, trong đó giản mạnh nhất vào tháng 10 với nhiệt độ là 16.330C Nhiệt độ trung bình thấp trong thời gian nghiên cứu từ 14.67 – 21.670C vẫn đảm bảo yêu cầu sinh thái cho cây ngô ra hoa, đậu quả Đối với cây ngô giai đoạn vươn cao và phân hóa cơ quan sinh sản là giai đoạn quyết định số hoa đực và hoa cái, cũng như quyết định khối lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong thân lá, nhiệt độ cần cho giai đoạn này là 24-250
C, mà trong thí nghiệm của chúng tôi thì thời kỳ này là vào tháng 5 và tháng 6 với nhiệt độ trung bình từ 24.6-26.170C, như vậy nhiệt độ của tháng 5 là rất phù hợp cho cây ngô sinh trưởng phát triển Tuy nhiên nhiệt độ của tháng 6 tương đối cao không có lợi cho sinh trưởng của cây ngô
Trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây ngô thì nhiệt độ thích hợp là 25 – 300C, trong thời gian thí nghiệm nhiệt độ trung bình các tháng từ 23.2 – 25.5 0C, như vậy nhiệt độ không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cảu cây ngô
Hình 2.2 Đặc điểm mƣa tại thành phố Sơn La năm 2017
Từ bảng 2.4 và hình 2.2: tôi thấy Lượng mưa tăng dần từ tháng 4 đến
Trang 32lượng mưa giảm dần từ tháng 9 đến tháng 10, tháng 9 lượng mưa là (105mm/tháng), lượng mưa của tháng 10 là 77 (mm/tháng) Tháng 5 và tháng 6
là giai đoạn vươn cao và phân hóa cơ quan sinh sản của cây ngô, vì vậy cây ngô cần lượng nước nhiều Tuy lượng mưa của tháng 5 không cao chỉ đạt 81mm/tháng, nhưng đến tháng 6 lượng mưa lại tăng lên là 136 mm/tháng Do vậy lượng mưa không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây ngô Tuy nhiên tháng 8 là thời kỳ chín của cây ngô, đây là thời kỳ cây ngô cần ít nước Nhưng lượng mưa lại nhiều với 319 mm/tháng, do đó làm kéo dài thời gian chín của ngô
Hình 2.3 Đặc điểm độ ẩm tại thành phố Sơn La năm 2017
Độ ẩm trung bình cao nhất vào tháng 8 (84.67%) và thấp nhất vào tháng 3 (71%)
Độ ẩm tối thấp dao động từ 38.67-60.33% Trong đó độ ẩm thấp nhất vào tháng 4 với 38.67%, độ ẩm tối thấp cao nhất vào tháng 7 là 60.33%
Vào tháng 7 của thí nghiệm là thời kỳ cây ngô tung phấn phun râu, yêu cầu ngoại cảnh trong giai đoạn này hết sức khắt khe, độ ẩm thích hợp cho cây ngô tung phấn phun râu từ 75-80%, nhưng độ ẩm của tháng 7 là 84% nên tương đối cao do đó độ ẩm không thuận lợi cho quá trình tung phấn phun râu của cây ngô làm ảnh hưởng đến năng suất ngô
Trang 33PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống Ngô CP888
Mẫu giống Đậu Nho Nhe thu thập tại Sơn La
Hiện trạng sản xuất ngô tại Phường Chiềng Sinh – TP Sơn La – Sơn La
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại Phường Chiềng Sinh - Thành phố Sơn La - Tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 04 năm 2017- tháng 4 năm 2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Hiện trạng sản xuất ngô tại Phường Chiềng Sinh
- Kỹ thuật canh tác ngô trên đất bằng
- Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất ngô
- Hướng phát triển sản xuát của người dân trong tương lai
3.2.2 Thí nghiệm về thời gian trồng xen đậu nho nhe với ngô
Đối với cây ngô:
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển
+ Đánh giá mức độ nhiễm sâu bênh hại
+ Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế
Đối với cây trồng xen:
+ Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển
+ Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra thực địa
Sử dụng phiếu điều tra thực địa tiến hành điều tra các hộ tại 2 bản đang sản xuất ngô trên đất bằng tại Phường Chiềng Sinh Thành Phố Sơn La theo các nội
dung sau:
- Diện tích sản xuất ngô trên đất bằng: Tính trung bình các hộ điều tra (m2)
- Cơ cấu giống và mùa vụ: Tính tỉ lệ % các giống đang sử dụng
Trang 34- Kỹ thuật bón phân và lượng phân bón: Xác định các kỹ thuật bón phân và tính lượng phân bón quy đổi ra ha
- Kỹ thuật chăm sóc khác: Xác định các kỹ thuật chăm sóc đang được sử dụng và tính tỉ lệ % áp dụng
- Phòng trừ sâu bệnh hại: Xác định các loài sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ
- Kỹ thuật thu hoạch, sơ chế và bảo quản: Xác định các kỹ thuật áp dụng và tính tỉ lệ % số hộ dân áp dụng
- Thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất: Phân tích SOWT hệ thống sản xuất ngô tại Phường Chiềng Sinh
- Hướng phát triển sản xuất ngô trong tương lai: Xác định các hướng được người dân đề xuất để phát triển hệ thống sản xuất ngô
3.3.2 Thiết kế và công thức thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 5 công thức và 3 lần nhắc lại Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 14m2 Diện tích cả khu thí nghiệm là 270m2
+ CT1: Trồng cây trồng xen cùng với ngô
+ CT2: Trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 2 tuần
+ CT3: Trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 4 tuần
+ CT4: Trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 6 tuần
+ CT5: Trồng cây trồng xen sau khi gieo ngô 8 tuần
Trang 353.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.3.3.1 Đối với cây ngô (Các chỉ tiêu theo dõi dựa theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống ngô Ký hiệu: QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT)
* Thời gian sinh trưởng và thời gian các giai đoạn sinh trưởng (ngày)
Phương pháp: Quan sát toàn bộ ô thí nghiệm và đánh giá:
- Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch (khi chân hạt
có chấm đen hoặc 75% số cây có lá bị khô)
- Thời gian một giai đoạn sinh trưởng của cây ngô được tính từ gieo đến khi 50% số cây của ô thí nghiệm chuyển sang giai đoạn sinh trưởng khác, gồm những giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 3 lá
+ Giai đoạn 7 - 9 lá
+ Giai đoạn trỗ cờ
+ Giai đoạn tung phấn
+ Giai đoạn phun râu
+ Giai đoạn thu hoạch
* Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/ tuần)
Phương pháp: Cây theo dõi được xác định khi ngô 7 – 9 lá Theo dõi 10 cây/ 1 ô thí nghiệm, lấy ở 2 hàng giữa ô, mỗi hàng chọn ngẫu nhiên 5 cây sau đó đánh dấu cây để đo Đo từ gốc sát mặt đất cho tới chỗ cao nhất của cây trên các cây Theo dõi cho đến khi tung phấn, 7 ngày theo dõi 1 lần
* Động thái ra lá và số lá
Phương pháp: Đếm tổng số lá trên các cây đo chiều cao cho đến khi cây trỗ
*Mức độ nhiễm sâu bệnh hại
Trang 36- Phương pháp và các đối tượng sâu, bệnh cần theo dõi
+ Sâu đục thân, đục bắp, Rệp cờ, bệnh đốm lá, Bệnh khô vằn:
Phương pháp: Theo dõi tổng số lá bị hại trên 30 cây vào giai đoạn mẫn cảm của cây, tính tỉ lệ lá bị bệnh
* Các yếu tố cấu thành năng suất
Chọn bắp ngô đo đếm: Mỗi ô thí nghiệm chọn 10 bắp thứ nhất ở 2 hàng giữa theo tiêu chuẩn 3 bắp tốt, 3 bắp xấu và 4 bắp trung bình để đo đếm các chỉ tiêu
- Chiều dài bắp (cm)
Phương pháp: Đo từ đáy bắp tới mút bắp của các bắp ngô được chọn
- Chiều dài đoạn không có hạt (cm)
Phương pháp: Đo chiều dài đoạn không có hạt của các bắp ngô được chọn
+ Năng suất lý thuyết (tấn/ ha)
Phương pháp: Tính theo công thức:
NSLT= (Năng suất cá thể (g)* Mật độ trồng(cây/m2
)/100
+ Năng suất thực thu (tấn/ ha)
Năng suất thực thu (tấn/ha): Thu riêng từng ô rồi tính theo công thức:
NSTT = (Năng suất OTN (kg)/Diện tích ô(m2)*10
* Hiệu quả kinh tế (triệu đồng/ ha)
Cách tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
+ Chỉ tiêu kết quả, chi phí
a Tổng giá trị sản xuất thu được (GO): Là tổng thu nhập của một loại mô hình (gồm các loại sản phẩm) hoặc một đơn vị diện tích; công thức tính là: GO=ΣQi*Pi, trong đó Qi là khối lượng sản phẩm thứ i, Pi là giá sản phẩm thứ i
Trang 37(Thu nhập thuần: Được tính bằng cách lấy sản lượng (kg) nhân với đơn giá (đồng/kg): GO = Ql*Pl)
b Chi phí lao động (CL): Chi phí số ngày công lao động cho một chu kỳ sản xuất hoặc một thời gian cụ thể
+ Chỉ tiêu hiệu quả:
a Giá trị gia tăng (VA ) (nghìn đồng): Là giá trị tăng thêm so với chi phí sản xuất bỏ ra Công thức: VA= GO-IC
b Hiệu suất đồng vốn (HS)(đồng): Do sản xuất nông nghiệp có chu kỳ ngắn nên
có thể gọi là "Hiệu quả sử dụng đồng vốn"; Công thức tính là: HS=VA/IC
c Lợi nhuận (Pr)(nghìn đồng): Pr = GO-TC
3.3.3.2 Đối với cây trồng xen (đậu nho nhe)
* Khả năng sinh trưởng và phát triển
- Ngày gieo: Ghi ngày gieo thí nghiệm
- Ngày mọc: Ngày có khoảng 50% số cây/ ô mọc 2 lá mầm
- Ngày ra hoa: Ngày có khoảng 50% số cây/ ô có đợt hoa đầu
- Thời gian sinh trưởng (ngày): Tính từ ngày gieo đến ngày thu hoạch đợt cuối cùng
- Số nhánh cấp 1: Đếm tổng số nhánh cấp 1 của 5 cây mẫu/ô Tính trung bình
* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Số quả/ chùm: Đếm tổng số quả ở 30 chùm ngẫu nhiên/ ô Tính trung bình
- Số hạt/quả: Đếm tổng số hạt trên quả của 5 cây mẫu/ô Tính trung bình
- Mỗi ô thí nghiệm chọn lấy 30 cây, đánh dấu và thu hoạch, tính năng suất thực thu : Phơi khô toàn bộ số hạt thu được/OTN rồi cân và quy đổi theo công thức : NSTT = (NSOTN(kg)/Diện tích ô(m2) *100 (Tạ/ha)
3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh hoc và phân
tích phương sai bằng phấn mềm Microsoft Excel 2003 và phần mềm Minitab 16.2.0
Trang 383.5 Quy trình kỹ thuật canh tác
Phương pháp bón cho ngô:
Bón lót toàn bộ phân NPK; Bón thúc khi cây ngô 7 – 9 lá: Toàn bộ lượng phân còn lại (sau gieo 40 – 45 ngày)
3.5.3 Kỹ thuật trồng
1 Đối với ngô
Trồng ngô: Rạch hàng sâu 10 – 15cm, khoảng cách cây là 30cm, gieo so le
1 hạt/ hốc – 2 hạt/ hốc bón phân lót rồi vùi phân đảm bảo độ sâu rạch còn 5 – 7cm rồi mới gieo ngô
2 Đối với cây trồng xen
Trồng đậu nho nhe: Bổ hốc gieo hạt, mỗi hốc gieo từ 3-4 hạt khoảng cách cây là 100cm, khoảng cách hàng là 70 cm
Thường xuyên theo dõi tình hình sinh trưởng phát triển và sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ kịp thời và hiệu qủa
Trang 39PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng sản xuất ngô tại Xã Chiềng Sinh Thành phố Sơn La
4.1.1 Diện tích, năng suất lúa
Kết quả điều tra về diện tích năng suất ngô tại các bản điều tra được chúng tôi trình bày tại hình 4.1 và 4.2
Hình 4.1 Diện tích ngô của hộ gia đình tại các bản điều tra
Hình 4.2 Năng suất ngô của hộ gia đình tại các bản điều tra
Từ hình 4.1 và 4.2 cho thấy: năng suất và diện tích ngô của bản Pắc Ma cao nhất và bản Quỳnh Sơn thấp nhất so với diện tích và năng suất trung bình của cả hai bản Trong đó vụ ngô Xuân-Hè có diện tích và năng suất đều cao hơn
Trang 40thuận lợi thường khô hạn nên người dân trồng với diện tích ít hơn nên năng suất cũng thấp hơn Diện tích ngô Xuân-Hè của bản Pắc Ma cao hơn bản Quỳnh Sơn, chiến 1.2 ha và bản Quỳnh Sơn là 0.48 ha.
Năng suất ngô trung bình của 2 bản từ 7.86-5.67 tấn/ha, bản Pắc Ma có năng suất ngô Xuân-Hè và ngô thu đông cao hơn bản Quỳnh Sơn Về năng suất ngô Thu-Đông bản Pắc ma chiến 7.6 tấn/ha, Quỳnh Sơn là 4.34 tấn/ha; và năng suất ngô Xuân-Hè của bản Quỳnh Sơn là 5.6 tấn/ha, bản Pắc Ma là 9.2 tấn/ha
4.1.2 Cơ cấu giống và thời vụ
Qua kết quả điều tra cho thấy cơ cấu giống tại 2 bản khá phong phú, chủ yếu là trồng những giống ngô chịu hạn cho năng suất cao Các giống ngô phổ biến tại 3 bản gồm NK67, NK7328, NK6253 Tuy nhiên, cơ cấu giống giữa các
bản có sự khác biệt
Kết quả điều tra được trình bày tại hình 4.3
Hình 4.3 Cơ cấu giống tại các bản điều tra
Tại bản Pắc Ma giống NK67được trồng nhiều nhất chiếm 26.67% cơ cấu giống, tiếp đến là giống NK7328 chiến tới 20% cơ cấu giống, còn giống NV88, DK9955,NV99 chiếm tỉ lệ ít nhất chỉ có 6.67% so với tổng số hộ trồng ở cả 2 bản Tại bản Quỳnh Sơn giống NK67 được trồng nhiều nhất với 26.67% số hộ gieo, các giống ngô còn lại đều được trồng rất ít chỉ chiến 6.67% so với tổng số
hộ trồng của cả 2 bản