MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Ở Việt Nam, các điều kiện khách quan và chủ quan gần như đã chín muồi cho việc triển khai mô hình tập đoàn báo chí. Sau 20 năm đổi mới, báo chí Việt Nam đã lớn mạnh về mọi mặt và đang có nhu cầu vươn cao, vươn xa hơn nữa. Trên thế giới, từ hơn 100 năm nay, đã có việc các cơ quan báo chí sáp nhập thành tập đoàn, hướng đến mục tiêu lợi nhuận kinh tế, mở ra một huớng làm kinh tế cho ngành công nghiệp báo chí – truyền thông, biến ngành này trở thành một ngành kinh doanh nhiều lợi nhuận. Xu hướng của các tập đoàn truyền thông hiện nay là vươn ra ngoài lãnh thổ, bởi sự phát triển của các tập đoàn trong nước đã đến hồi tới hạn. Trong khi đó, châu Á, trong đó có Việt Nam ta, lại là một thị trường giàu tiềm năng và mới bước đầu được khai phá. Cùng với đợt sóng này là đợt sóng toàn cầu hoá, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO, như vậy, việc có một tập đoàn làm đối tác của các tập đoàn truyền thông khác, nắm giữ thế chủ động được xem như là một việc làm cần kíp. Trên cơ sở nhận định tình hình trong và ngoài nước, nhà nước đã đưa ra chủ trương cho phép hình thành các tập đoàn báo chí, và trước mắt, tạo một số điều kiện nền tảng để báo chí gia tăng tiềm lực kinh tế. Đề tài NCKH SV “Tìm hiểu một số mô hình tập đoàn báo chí trên thế giới và vấn đề xây dựng tập đoàn báo chí ở Việt Nam” muốn dự phần vào công việc mà Thứ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Đỗ Quý Doãn đã chỉ ra: “Trên thế giới có nhiều tập đoàn báo chí. Mỗi mô hình có những ưu điểm, đặc trưng riêng của từng nước. Chúng ta nên lựa chọn, học tập để xây dựng một mô hình cho phù hợp. Đây là một vấn đề rất mới. Chúng ta phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm”. 2. Tình hình nghiên cứu: Tập đoàn báo chí là một mô hình kinh tế báo chí đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, và chủ yếu được các nhà nghiên cứu báo chí – truyền thông trên thế giới tiếp cận dưới hai góc độ: lịch sử báo chí và xã hội học truyền thông. Do việc hình thành các tập đoàn báo chí ở các nước tư bản phương Tây tuân theo quy luật phát triển kinh tế, các nghiên cứu phương Tây không nghiên cứu mô hình kinh tế, mà chủ yếu nghiên cứu về vai trò của các tập đoàn truyền thông trong đời sống xã hộivà đặc biệt là về tác động của chúng đối với chất lượng báo chí. Riêng đối với các quốc gia đang phát triển có đặc điểm tương đồng với Việt Nam, công tác nghiên cứu lại chú trọng đến mô hình kinh tế, bởi thị trường truyền thông ở các quốc gia này hoặc là chưa hình thành hoặc là đang cần tìm một hướng phát triển. Chính do động cơ “đi tắt đón đầu”, các quốc gia này đã thực hiện các nghiên cứu về lý thuyết và triển khai ứng dụng mô hình tập đoàn báo chí từ hơn chục năm trước đây. Ở Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam nhất, công tác nghiên cứu cũng đã được triển khai từ trước năm 1996 – năm mà tập đoàn báo chí đầu tiên (tập đoàn báo chí Quảng Châu) tuyên bố thành lập. Tuy nhiên, do đặc thù về mặt chính trị, nhu cầu nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của các tập đoàn báo chí mới chỉ trở nên bức thiết ở xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây. Có thể nói, Quyết định 219 của Chính phủ tháng 92005 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 đã chính thức khởi động cho các công trình nghiên cứu về mảng đề tài này. Kể từ sau khi có chủ trương thành lập tập đoàn, giới làm báo đã công khai bàn luận về vấn đề “tập đoàn báo chí”: làm thế nào? Như thế nào? Triển vọng ra sao? Một số báo cũng bày tỏ tham vọng vươn mình thành tập đoàn, như Tiền Phong, Viet Nam Net, Tuổi Trẻ,… Họ cũng tự mình tìm hiểu các mô hình tập đoàn báo chí trên thế giới để áp dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc làm này chủ yếu mang tính nội bộ.
Trang 1Mục lục
Mở đầu.
Nội dung.
Chương I: Tập đoàn báo chí
1 Khái niệm về tập đoàn báo chí
2 Nguyên nhân và dạng thức hình thành các tập đoàn báo chí
3 Những tập đoàn báo chí nổi tiếng trên thế giới
3.1 Rupert Murdoch – huyền thoại của truyền thông thế giới
1 Những tiền đề để ra đời tập đoàn báo chí ở VN
2 Những động thái cởi mở của nhà nước đối với việc thành lập tậpđoàn báo chí ở VN
3 Các bước chuẩn bị của các tờ báo có triển vọng trở thành tập đoànbáo chí ở VN
Kết luận
Tài liệu tham khảo.
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ở Việt Nam, các điều kiện khách quan và chủ quan gần như đã chín muồi cho việctriển khai mô hình tập đoàn báo chí Sau 20 năm đổi mới, báo chí Việt Nam đã lớn mạnh
về mọi mặt và đang có nhu cầu vươn cao, vươn xa hơn nữa Trên thế giới, từ hơn 100năm nay, đã có việc các cơ quan báo chí sáp nhập thành tập đoàn, hướng đến mục tiêulợi nhuận kinh tế, mở ra một huớng làm kinh tế cho ngành công nghiệp báo chí – truyềnthông, biến ngành này trở thành một ngành kinh doanh nhiều lợi nhuận Xu hướng củacác tập đoàn truyền thông hiện nay là vươn ra ngoài lãnh thổ, bởi sự phát triển của cáctập đoàn trong nước đã đến hồi tới hạn Trong khi đó, châu Á, trong đó có Việt Nam ta,lại là một thị trường giàu tiềm năng và mới bước đầu được khai phá Cùng với đợt sóngnày là đợt sóng toàn cầu hoá, khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập vào WTO, như vậy, việc
có một tập đoàn làm đối tác của các tập đoàn truyền thông khác, nắm giữ thế chủ độngđược xem như là một việc làm cần kíp Trên cơ sở nhận định tình hình trong và ngoàinước, nhà nước đã đưa ra chủ trương cho phép hình thành các tập đoàn báo chí, và trướcmắt, tạo một số điều kiện nền tảng để báo chí gia tăng tiềm lực kinh tế Đề tài NCKH
SV “Tìm hiểu một số mô hình tập đoàn báo chí trên thế giới và vấn đề xây dựng tậpđoàn báo chí ở Việt Nam” muốn dự phần vào công việc mà Thứ trưởng Bộ Văn hóa –Thông tin Đỗ Quý Doãn đã chỉ ra: “Trên thế giới có nhiều tập đoàn báo chí Mỗi môhình có những ưu điểm, đặc trưng riêng của từng nước Chúng ta nên lựa chọn, học tập
để xây dựng một mô hình cho phù hợp Đây là một vấn đề rất mới Chúng ta phải vừalàm, vừa rút kinh nghiệm”
2 Tình hình nghiên cứu:
Tập đoàn báo chí là một mô hình kinh tế báo chí đã xuất hiện từ rất lâu trênthế giới, và chủ yếu được các nhà nghiên cứu báo chí – truyền thông trên thế giới tiếpcận dưới hai góc độ: lịch sử báo chí và xã hội học truyền thông Do việc hình thành cáctập đoàn báo chí ở các nước tư bản phương Tây tuân theo quy luật phát triển kinh tế, cácnghiên cứu phương Tây không nghiên cứu mô hình kinh tế, mà chủ yếu nghiên cứu vềvai trò của các tập đoàn truyền thông trong đời sống xã hộivà đặc biệt là về tác động của
Trang 3chúng đối với chất lượng báo chí Riêng đối với các quốc gia đang phát triển có đặcđiểm tương đồng với Việt Nam, công tác nghiên cứu lại chú trọng đến mô hình kinh tế,bởi thị trường truyền thông ở các quốc gia này hoặc là chưa hình thành hoặc là đang cầntìm một hướng phát triển Chính do động cơ “đi tắt đón đầu”, các quốc gia này đã thựchiện các nghiên cứu về lý thuyết và triển khai ứng dụng mô hình tập đoàn báo chí từ hơnchục năm trước đây Ở Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với ViệtNam nhất, công tác nghiên cứu cũng đã được triển khai từ trước năm 1996 – năm mà tậpđoàn báo chí đầu tiên (tập đoàn báo chí Quảng Châu) tuyên bố thành lập Tuy nhiên, dođặc thù về mặt chính trị, nhu cầu nghiên cứu về mô hình tổ chức và hoạt động của cáctập đoàn báo chí mới chỉ trở nên bức thiết ở xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây Cóthể nói, Quyết định 219 của Chính phủ tháng 9/2005 về việc phê duyệt Chiến lược pháttriển thông tin đến năm 2010 đã chính thức khởi động cho các công trình nghiên cứu vềmảng đề tài này Kể từ sau khi có chủ trương thành lập tập đoàn, giới làm báo đã côngkhai bàn luận về vấn đề “tập đoàn báo chí”: làm thế nào? Như thế nào? Triển vọng rasao? Một số báo cũng bày tỏ tham vọng vươn mình thành tập đoàn, như Tiền Phong,Viet Nam Net, Tuổi Trẻ,… Họ cũng tự mình tìm hiểu các mô hình tập đoàn báo chí trênthế giới để áp dụng ở Việt Nam Tuy nhiên, việc làm này chủ yếu mang tính nội bộ
Trang 4NỘI DUNG
I Tập đoàn báo chí
1 Khái niệm về tập đoàn báo chí:
Đối với báo chí thế giới, các thuật ngữ như ngành báo chí newspaper industry, ngành truyền thông media industry và kinh tế báo chí media economics từ lâu đã trở
thành quen thuộc Đó là vì tiến trình lịch sử của báo chí thế giới đến khoảng giữa thế kỉ
19 đã có một bước ngoặt lớn, những người làm báo bắt đầu chú ý đến mục tiêu kinh tếtrong hoạt động báo chí và biết cách tổ chức điều hành hoạt động báo chí (Mặc dù vậy, ởthời buổi quảng cáo chưa phát triển, phương cách hữu hiệu để đạt được mục tiêu kinh tếmới chỉ là cải tiến nội dung để tăng doanh số phát hành.)
Có thể thấy rõ bước ngoặt nêu trên khi nghiên cứu nền báo chí Mĩ – một trongnhững nền báo chí mạnh nhất thế giới, đặc biệt là ở giai đoạn sau cuộc nội chiến 1865 –
1867
Thật vậy, đứng trên quan điểm lịch sử, chúng tôi nhận thấy thực trạng báo chíngày nay ở một số quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có nhiều điểm tươngđồng với thực trạng báo chí nước Mĩ hơn 100 năm về trước, nổi bật là khuynh hướngbáo chí làm kinh tế
Bối cảnh đó cho phép chúng tôi nhận diện cái nôi hình thành các tập đoàn báo chí– truyền thông ở Mĩ (nơi xuất phát của các tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới hiện
nay) thông qua ba hiện tượng: sự ra đời của nghề làm báo mới new journalism (phân biệt với thuật ngữ new media trong thời đại Internet), sự giàu có của nghề làm báo vàng yellow journalism, và sự hình thành các hệ thống báo dây chuyền newspapers chains.
Nghề làm báo mới ở Mĩ ra đời đưa đến sự phát triển rầm rộ của báo chí Mĩ Vào
thời kì đó, báo chí trở thành “những công ty hùng mạnh, giàu có, tự đảm bảo được vềphương diện kinh tế và nhờ đó, phát huy tốt hoạt động làm báo” Đến cuối thế kỉ 19,báo chí Mĩ đã trở thành một nền kinh doanh lớn, có tính độc lập tương đối trong đờisống xã hội Những nhận định trên cho thấy xuất phát điểm của các tập đoàn báo chítruyền thông phải là những công ty hùng mạnh, tự chủ được về tài chính
Trang 5Nghề làm báo vàng đánh dấu sự xuất hiện của những “Citizen Kane” trong làng
báo thế giới, những con người biết cách đem lại sự hùng mạnh cho các tờ báo trênphương diện làm kinh tế Báo chí Mĩ thời kì này đã “mấp mé”, “manh nha” hoạt độngtheo mô hình tập đoàn Bằng những tờ báo mạnh, W.Randolph Hearst – ông vua củanghề làm báo vàng, đã “thật sự thành công, đem lại gia tài đồ sộ” Hearst không “dừnglại ở lĩnh vực làm báo, ông ta còn chuyển sang lĩnh vực xuất bản, lĩnh vực tạp chí và ởbất kì lĩnh vực nào cũng thành công”, đặc biệt là với các tờ hướng đến nhóm đối tượngriêng biệt như Beautiful House (Nhà Đẹp), Good House Keeping (Nội Trợ Giỏi), …Những nhận định trên cho thấy hướng phát triển của các “công ty hùng mạnh” chính là
từ việc gia tăng số lượng các ấn phẩm làm ăn hiệu quả, đồng thời mở rộng kinh doanhsang các lĩnh vực có liên quan đến báo chí
Bước sang thế kỉ 20, một bước tiến gần hơn với mô hình tập đoàn báo chí, đóchính là hiện tượng báo dây chuyền, nổi bật với tên tuổi của hai nhân vật E.W.Scripps vàHearst Hiện tượng báo dây chuyền ra đời nhằm “khai thác mối liên kết, mối quan hệgiữa nhiều tờ báo để hỗ trợ nhau về phương diện nghề nghiệp” Điều đó có thể coi làmột nhu cầu tất yếu Sự liên kết này diễn ra trên cơ sở các tờ báo có chung một chủ sởhữu (ông trùm), hoặc thuộc về một liên minh báo chí nào đó (vương triều báo chí).Scripps cũng chính là người đưa ra công thức để thành lập hệ thống báo chí:
- Người điều hành những tờ báo của dây chuyền phải là những người trẻ tuổi và đứng tên đồng sở hữu (có chân trong liên minh báo chí), ở vai trò làm chủ bút, hoặc chủ
báo
- Phối hợp hài hoà giữa hai hành vi sáp nhập (mua lại các tờ báo) và sáng lập Chỉnên sáng lập và mua báo ở những thành phố hạng trung, để tránh tình trạng cạnh tranhthua lỗ
- Bán báo giá rẻ, phải trả tiền cho hệ thống phát hành (Vào thời của Scripps, báo
có giá đồng loạt 1 xu.)
- Vận động cho những mục đích, những lợi ích chung của xã hội, đặc biệt là tầnglớp người nghèo
Trang 6Đây chính là những điều căn bản mà các tập đoàn báo chí lớn trên thế giới hiệnnay vẫn thường ứng dụng trong chiến lược kinh doanh của mình
Giả thuyết “ba hiện tượng” được kiểm nghiệm qua lịch sử (tự soạn thảo và đăngtải trên Internet) của một số tập đoàn báo chí lớn trên thế giới Cho đến nay, theo quyluật phát triển của nền kinh tế báo chí, hai hệ thống báo dây chuyền của E.W.Scripps vàHearst đã phát triển lên thành các tập đoàn The E.W.Scripps Company và HearstCorporation tiếng tăm trên đất Mĩ
Như vậy, con đường phát triển tất yếu của ngành công nghiệp báo chí – truyềnthông là từng bước chuẩn bị những yếu tố cần thiết để trở nên lớn mạnh: đầu tiên là đổimới tư duy theo hướng chú trọng mục tiêu kinh tế (nghề làm báo mới), mở rộng hoạtđộng kinh doanh sang các lĩnh vực truyền thông khác (nghề làm báo vàng), mở rộngnăng lực quản lý, điều hành đối nội và đối ngoại ở hàng loạt tờ báo (hiện tượng báo dâychuyền), tham gia năng động vào nên kinh tế như những doanh nghiệp thực thụ (các tậpđoàn báo chí hùng mạnh) Nền báo chí Mĩ đã tuân theo quy luật phát triển đó, được đánhgiá là một trong những nền báo chí mạnh nhất thế giới, sở hữu nhiều tập đoàn báo chí –truyền thông hàng đầu nhất thế giới Đối với Mĩ, ngay từ buổi đầu rẽ vào bước ngoặtkinh tế, người ta đã coi báo chí – truyền thông là một trong những ngành công nghiệpnặng và cho phép nó phát triển đến mức tối đa
Hiện nay, báo chí xuất bản bằng tiếng Anh của Việt Nam dịch cụm từ “tập đoànbáo chí” là “press group” Tuy nhiên, thông qua một số trang web khác, đặc biệt là trangweb của Hiệp hội báo chí thế giới (World Association of Newspapers - WAN), có thểthấy “press groups” được sử dụng để chỉ “các nhóm báo in”, không tính đến các loạihình báo khác Trong phần giới thiệu các thành viên của mình, WAN đã đề cập đến “nineregional and world-wide press groups”, nghĩa là “chín nhóm báo in có quy mô toàn cầu
và quy mô khu vực” Trang web nghiên cứu thị trường MarketResearch.com có phạm vinghiên cứu trải rộng trên toàn cầu, đặc biệt là ở Mĩ, Anh, châu Âu và châu Á cho thấy rõhơn ý nghĩa của thuật ngữ này Trong báo cáo về “Báo chí Trung Quốc” (ChinaNewspaper Industry) xuất bản vào 08/04/2005, MarketResearch.com dùng thuật ngữ
“press group” để chỉ Guangzchou Daily Press Group, mà Việt Nam vẫn quen gọi là tập
Trang 7đoàn báo chí Quảng Châu Như vậy, “press group” thông thường được sử dụng để gọicác tổ chức có hạt nhân là một cơ quan báo in nổi tiếng lâu đời, và cơ quan này có thamgia các hoạt động kinh doanh bổ trợ khác.
Tuy nhiên, về mức độ phổ biến trong việc chỉ các tập đoàn báo chí – truyền thông,
“press group” phải nhường bước cho một số thuật ngữ khác Trong buổi đến thăm vàlàm việc ở Khoa Ngữ văn & Báo chí (ĐH KHXH & NV TP.HCM) vào ngày 22/02/2006,Giáo sư Richard Shafer (ĐH North Dakota, Mĩ) có lời khuyên nên sử dụng các thuật ngữ
“media conglomerate”, “media convergence” để có thể tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu
Theo wikipedia, “media conglomerate” dùng để chỉ các tổng công ty sở hữu mộtcon số lớn các công ty con hoạt động trong những loại hình truyền thông khác nhau nhưtruyền hình, phát thanh, xuất bản, điện ảnh, và Internet Xét trên khía cạnh thuật ngữkinh tế, “conglomerate” chỉ một công ty lớn (tổng công ty) bao gồm nhiều công ty con
có vẻ ngoài là các doanh nghiệp không liên quan gì đến nó Cuốn từ điển bách khoa trênmạng này cũng cho biết: “Một vấn đề được đặt ra, kể từ năm 2006, là liệu các công tytruyền thông (media companies) có thật không liên quan nhau hay không.” Và theowikipedia, người ta còn sử dụng thêm thuật ngữ “media group” (theo lối hiểu như pressgroup nhưng bao trùm trên tất cả các loại hình truyền thông, không riêng gì loại hình báoin)
Trang web wikipedia đưa ra một số “media conglomerate” lớn trên thế giới như:AT&T, Berlusconi Group, Bertelsmann, Canwest Global, General Electric, HearstCorporation, Lagardère Media, Liberty Media, News Corporation, Sony, Time Warner,The Times Group (phân biệt với Nhóm báo Times của tập đoàn News Corporation),Viacom, Vivendi Universal, Walt Disney Company, … Tác giả Robert W McChesneytrong bài viết “The New Global Media: It’s a Small World of Big Conglomerate” (1999) cũng cho biết thị trường truyền thông toàn cầu nằm dưới quyền thống trị của 8 tập đoànxuyên quốc gia cai trị thị trường truyền thông Mĩ: General Electric (GE), AT &T/Liberty Media, Disney, Time Warner, Sony, News Corporation, Viacom và Seagram,cộng với Bertelsmann, một tập đoàn của Đức Tuy lĩnh vực kinh doanh chính của GE vàAT&T không phải là lĩnh vực truyền thông nhưng GE sở hữu tập đoàn truyền thông nổi
Trang 8tiếng NBC, AT & T có công ty con Liberty Media, và cả hai tập đoàn này đang có dựđịnh thu nạp các tài sản truyền thông nếu thấy cần thiết
Thuật ngữ “media convergence” (hội tụ truyền thông) có những thuật ngữ tươngđồng như “media consolidation” (tập hợp truyền thông) và “concentration of mediaownership” (sự tập trung trong lĩnh vực sở hữu truyền thông) Đây là một thuật ngữ phổbiến trong giới phê bình truyền thông cũng như các nhà làm luật khi đề cập đến phươngthức sở hữu các phương tiện truyền thông của các doanh nghiệp
Thuật ngữ “media convergence” có sự liên hệ mật thiết với thuật ngữ “mediaconglomerate” ở chỗ sự tập trung sở hữu trong lĩnh vực truyền thông thường kéo theo sựhình thành các “media conglomerate” Khi một doanh nghiệp sở hữu nhiều loại hìnhtruyền thông khác nhau, nó được xem như là một “media conglomerate” Sáu “mediaconglomerate” hiện thời là Disney, Viacom, Time Warner, News Corp, Bertelsmann, vàGeneral Electric sở hữu hơn 90% thị trường truyền thông toàn cầu
Như vậy, hiện tượng “media convergence” hay “concentration of mediaownership” chính là khởi điểm để hình thành các “media conglomerate” (các tập đoàntruyền thông) ở các nước phương Tây Một lần nữa, giả thuyết về con đường hình thànhcác tập đoàn truyền thông trên thế giới được khẳng định thông qua chính bản thân cácthuật ngữ
Ngoài ra, trên thế giới còn sử dụng một số thuật ngữ khác dùng để chỉ “tập đoànbáo chí” như: media organization, media group, media mega-group, media empires,media giants, media corporations … Nhưng đó là thuật ngữ dành cho các nhà nghiêncứu Đối với bản thân các “tập đoàn báo chí”, tên gọi của tập đoàn phụ thuộc vào hìnhthức đăng ký kinh doanh Có nơi gọi mình là company, có nơi lại gọi là group, có nơi gọi
là corporation, có nơi gọi là holdings, … Do đó, việc có hay không có để danh xưng “tậpđoàn báo chí” không quan trọng bằng nội lực thực sự của mỗi doanh nghiệp truyềnthông
Ở nước ta vẫn sử dụng lẫn lộn hai thuật ngữ “báo chí” và “truyền thông”, đôi khiđánh đồng chúng với nhau Do đó, để hiểu cho đúng, phải xem “tập đoàn báo chí” là một
Trang 9thuật ngữ kinh tế, thuộc về kinh tế truyền thông, có nghĩa hẹp tương đương với thuật ngữ
“press group” và nghĩa rộng tương đương với thuật ngữ “media conglomerate”
Theo đó, “tập đoàn báo chí” là một tập đoàn kinh tế hoạt động đa dạng trong lĩnh
vực truyền thông, có thể có hạt nhân là một cơ quan báo in, báo hình, hoặc bất cứ loại hình báo chí nào khác, và cũng có thể tham gia vào một số lĩnh vực kinh doanh ngoài truyền thông.”
2 Nguyên nhân và dạng thức hình thành tập đoàn báo chí:
Thực chất, tập đoàn báo chí chính là tập đoàn kinh tế mà báo chí, truyền thông đại
chúng là lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính, chủ yếu hoặc là một bộ phận tạo thành có ýnghĩa quan trọng, có vai trò độc lập tương đối Trên thực tế, rất hiếm thấy tập đoàntruyền thông hay báo chí nào không có hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài lĩnh vựcbáo chí, truyền thông đại chúng
Tập đoàn kinh tế có thể hiểu là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay
những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một “công
ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các “công ty con” về mặt tài chính
và chiến lược phát triển Tập đoàn là một cơ cấu có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăngcường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận Về mặt tổchức, với hình thức liên kết của nhiều công ty hoạt động trong cùng một ngành, haynhững ngành khác nhau trong một nước hay nhiều nước, thông qua sự điều hành chung
Sự hình thành của các tập đoàn báo chí cũng xuất phát từ chính những nguyênnhân đã hình thành các tập đoàn kinh tế:
Thứ nhất, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là dưới tác động của
cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cho phép hình thành việc tổ chức sảnxuất mới trên cơ sở vừa chuyên môn hoá vừa tăng cường liên kết giữa các nhà máy,doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Thứ hai, sự cạnh tranh tất yếu dẫn đến việc liên kết dưới nhiều hình thức khác
nhau để tạo ra sức mạnh to lớn hơn, các nguồn lực mạnh mẽ hơn cho các doanh nghiệp,tạo nên khả năng cạnh tranh lớn hơn và tránh rủi ro
Trang 10Thứ ba, do sự phát triển và tính chất của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự
đầu tư lớn vào nghiên cứu, dự báo, hoạch định chính sách phát triển để đảm bảo sản xuấtkinh doanh có hiệu quả Công việc này đòi hỏi nguồn lực to lớn mà chỉ có những đơn vịkinh tế có quy mô lớn mới có khả năng thực hiện
Theo tác giả Robert W McChesney, có hai dạng thức tập đoàn báo chí truyềnthông Có thể thấy các tập đoàn báo chí ngày nay phát triển theo hai xu hướng chủ đạosau:
+ Xu hướng thứ nhất là phát triển theo chiều dọc Đó là sự phát triển nhằm đảm
bảo sự bao quát đầy đủ các công đoạn sản xuất một loại hình sản phẩm truyền thông (lậpchương trình, sản xuất, phát hành hoặc phân phối), hoặc sự bành trướng, liên kết trong
“nội bộ” các loại hình báo chí truyền thông nhằm tăng cường ưu thế, sức mạnh trongcạnh tranh Ví dụ như BBC chỉ tập trung vào phát triển tất cả các công đoạn của 3 loạihình dịch vụ chính của mình là phát thanh, truyền hình và trang web trên khắp toàn cầu
Ở Mỹ, có thể nói Gannett Co Inc là tập đoàn báo chí truyền thông có số lượng đầu báo lớn nhất Tập đoàn này đang sở hữu 90 tờ nhật báo (trong đó có USA today - một trong hai tờ có quy mô toàn quốc và Wall street Journal - tờ báo hàng đầu về tài chính, kinh tế
ở Mỹ), 36 tờ báo định kỳ khác, kiểm soát 10 đài truyền hình, 16 đài phát thanh và mộtcông ty quảng cáo lớn nhất nước Mỹ
Hãng Turner Broadcasting System do Robert Edward Turner sáng lập năm 1963
lại thành công và nổi tiếng chủ yếu do sự nổi tiếng và phát đạt của kênh truyền hìnhCNN Được thành lập và đi vào hoạt động từ 1-6-1960, đến nay CNN đã phủ sóng toàncầu thông qua vệ tinh, cung cấp dịch vụ tin tức truyền hình cho hơn 55 triệu gia đình ở
Mỹ và hàng tỷ dân của 92 nước trên thế giới Năm 1995, CNN đã sát nhập vào Tập đoàn
Time Warner - một đế chế truyền thông có tài sản trị giá 18 tỷ USD.
+ Xu hướng thứ hai là liên kết và bành trướng theo hàng ngang, đầu tư vào những
ngành khác nhau, tạo sự liên kết những ngành báo chí truyền thông, công nghiệp, tàichính, dịch vụ rất xa nhau để hỗ trợ lẫn nhau, hạn chế rủi ro, tăng cường sức mạnh Theo
xu hướng đó, năm 1986, Công ty General Electric đã mua mạng truyền hình Mỹ NBC;
Công ty Viễn thông khổng lồ Mỹ AT&T năm 1999 đã nắm quyền kiểm soát hệ thống
Trang 11truyền hình “cáp” TCI, rồi đến năm 2004 thôn tính tiếp mạng MediaOne Từ năm 1995, Tập đoàn Viacom đã thôn tính Công ty Điện ảnh Paramount và Hãng Truyền hình CBS Năm 2000, Tập đoàn AOL tuyên bố hợp nhất với Time Warner Còn Vivendi và Canal Plus, một tập đoàn tư bản Pháp đã hợp nhất với Seagram, hay việc Rupert Murdoch đã
len chân vào ngành truyền hình phải trả tiền theo yêu cầu tại Italia, Đức và đang chuẩn
bị thực hiện hợp đồng sáp nhập với tập đoàn NewsCorp có trị giá vài tỷ USD.
Về phương diện này, hai tác giả Johannes von Dohnanyi và Christian Moller củanghiên cứu “The Impact of Media Concentration on Professional Journalism” (Tác động
của sự tập trung truyền thông đối với nghề báo) cũng khái quát: “Sự tập trung có thể diễn ra theo chiều dọc, tức là tập trung các thể chế kinh tế độc lập với các công đoạn sản xuất khác nhau lại làm một tập đoàn, hoặc diễn ra theo chiều ngang, tức là sáp nhập các công ty giống nhau về công đoạn sản xuất.”
3 Một số tập đoàn báo chí nổi tiếng trên thế giới:
Trước khi tìm hiểu về các tập đoàn báo chí nổi tiếng trên thế giới, chúng tôi tìmhiểu về Rupert Murdoch – một trong những người có đầu óc kinh doanh tài tình và nhạybén với những chiến lược tuyệt vời Tập đoàn truyền thông News Corporation củaRupert Murdoch chính là ví dụ điển hình về con đường hình thành các tập đoàn báo chílớn trên thế giới
3.1 Rupert Murdoch – huyền thoại của nền truyền thông thế giới – ông trùm của tập đoàn báo chí lớn trên thế giới.
Cái tên Rupert Murdoch đã trở thành một huyền thoại của nền công nghiệp truyền thông thế giới Ông là một doanh nhân tài ba đã biến một tờ báo tỉnh lẻ thành một hãng truyền thông phục vụ một nửa dân số trên thế giới Hiện nay, Murdoch có tài sản trị giá 5,1 tỷ USD, sở hữu những tên tuổi truyền thông lớn như 20 th Century Fox, The Fox Network, HarperCollins, tờ The New York Post
Trưởng thành từ một môi trường giáo dục nghiêm khắc
Trang 12Rupert Murdoch sinh ngày 11/3/1931 tạiMelbourne, Australia, trong một gia đình có bố
là doanh nhân khá thành đạt hoạt động tronglĩnh vực báo chí Được sống trong một môitrường có điều kiện vật chất khá thuận lợi, từnhỏ, Rupert Murdoch đã được gia đình chosang Anh học tập
Do đó, mặc dù được sinh ra tại Australianhưng tuổi thơ và học tập của Rupert Murdoch lại gắn liền với đất nước Anh Bố củaRupert Murdoch là một người rất nghiêm khắc trong những vấn đề giáo dục con, ông hyvọng Rupert Murdoch được một ý thức làm việc độc lập, nghiêm túc ngay từ nhỏ
Với hy vọng con trai sẽ đi theo nghề làm báo nên để có được một nền tảng kiếnthức vững chắc, bố của Rupert Murdoch đã không tiếc tiền và công sức mời nhữngngười có kinh nghiệm lâu năm trong nghề báo về chỉ bảo cho con Đặc biệt, ông cònluôn chứng tỏ cho Rupert Murdoch thấy cậu không thể ỷ lại vào thế mạnh của gia đình
Có lẽ chính vì cách giáo dục có phần hà khắc của bố mà từ khi còn nhỏ, RupertMurdoch đã có được một quyết tâm lớn trong học tập Sau khi kết thúc chương trình họcphổ thông với kết quả khá cao tại trường Worcester College, Rupert Murdoch đã tiếp tụcthi đỗ vào khoa kinh tế của trường Đại học Oxford
Trong thời gian học tập tại trường, ngoài việc duy trì tốt các nội dung trongchương trình học, Rupert Murdoch đã tham gia viết cho tờ báo của trường và nhiều tờtạp chí dành cho sinh viên tại Oxford Một trong những tờ tạp chí danh tiếng mà RupertMurdoch đã từng là cộng tác viên khi còn là sinh viên chính là tờ Daily Express
Những công việc ban đầu này đã giúp Rupert Murdoch có thêm những khoản thunhập và tích luỹ được nhiều kiến thức thực tế đồng thời tạo cho Rupert Murdoch cóđược tình cảm, niềm say mê đối với nghề làm báo
Khi đang học tập tại Anh, bố của Rupert Murdoch - ông Keith Arthur Murdoch đã
là một doanh nhân có tiếng trong vùng Là một người có học thức sâu về lĩnh vực kinh
tế, ngay trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Rupert Murdoch đã có những bài viết sắc
Trang 13sảo về chiến tranh và ông đã từng được coi là một trong những “nhà sử học của chiếntranh thế giới thứ I” tại Australia
Thế chiến kết thúc, Rupert Murdoch đã bắt đầu nghiệp viết báo, bằng chính tàinăng và vốn hiểu biết của mình, sau một thời gian làm việc, ông đã được bầu vào vị trítổng biên tập tại chi nhánh Sydney Sun và Melbourne Herald thuộc quyền quản lý của tờTimes tại Luân Đôn
Cũng bắt đầu từ thời điểm này, Keith Arthur Murdoch đã bắt đầu có những hoạtđộng đầu tư và sở hữu một số tờ báo địa phương Một trong những số đó là Công tyNews Limited với tờ tạp chí buổi chiều The News Tuy nhiên, trong những năm cuốiđời, do nhiều nguyên nhân, công việc của Keith Arthur Murdoch đã gặp nhiều khó khăn,bản thân ông đã phải chịu nhiều khoản thua lỗ và News Limited cũng phải đương đầuvới những khoản nợ trầm trọng
Năm 1952, khi đó vẫn đang học tại Oxford, Rupert Murdoch đã phải quay vềAustralia chịu tang bố và đảm nhiệm công việc phụ trách News Limited Từ thời điểmnày, Rupert Murdoch đã phải cùng một lúc làm hai công việc, vừa tiếp tục chương trìnhhọc tập, vừa điều hành hoạt động của News Limited
Hồi sinh News Limited
Mặc dù đã có những hiểu biết nhất định về nghề báo, nhưng việc điều hành mộtdoanh nghiệp đang phải chịu những khoản nợ đã trở thành rào cản rất lớn đối với RupertMurdoch
Phần lớn nhân viên đang làm việc tại tờ báo đều có chung một mối lo về sự sụp đổcủa News Limited và không khí làm việc đã bắt đầu nguội dần Do đó, Rupert Murdoch
đã nhanh chóng bắt tay vào nghiên cứu chương trình khôi phục News Limited
Để làm được điều này, Rupert Murdoch đã triệt để tận dụng khả năng thuyết phục
và động viên nhân viên của mình tạo nhằm ra một luồng sinh khí làm việc mới cho toànchi nhánh Chỉ một thời gian không lâu sau đó, không khí làm việc hăng hái chưa từngthấy trước đó đã được đẩy mạnh và tạo được bước chuyển biến đến kinh ngạc tại tờ báo
Nhiều người khi nhớ lại thời điểm đó đã phải thốt lên rằng “không hiểu tại saoRupert Murdoch lại có thể thổi một sức sống mới cho News Limited” Từ bước khởi đầu
Trang 14đầy ấn tượng đó, Rupert Murdoch đã bước đầu ổn định được hoạt động của NewsLimited, lượng phát hành và tiêu thụ các số báo của The News đã bắt đầu tăng
Bước vào giai đoạn ngành sản xuất hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh, các doanhnghiệp đều có nhu cầu lớn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để quảng bácho các sản phẩm của mình, chính điều này đã tạo ra những cơ hội thuận lợi cho RupertMurdoch
Không bỏ qua dịp may đó, Rupert Murdoch đã tìm cách thiết lập quan hệ với cácdoanh nghiệp có nhu cầu quảng cáo sau đó là tập trung vào xây dựng chuyên mục quảngcáo đi vào chiều sâu cho tờ tạp chí The News Quyết tâm biến chuyên mục này thànhnguồn phát triển, với nguồn vốn không phải là mạnh của mình, Rupert Murdoch vẫnquyết định mua lại tờ Sunday Newspaper đang trước nguy cơ phải đóng cửa để khôiphục hoạt động
Song song với đó, Rupert Murdoch còn tiếp tục đầu tư một lượng vốn khá lớn vàonhập dây truyền kỹ thuật in báo khổ nhỏ tiên tiến trong thời điểm đó Sau một loạtchương trình đầu tư đó, doanh thu từ các chuyên mục quảng cáo đã tăng lên rất nhanh,News Limited đã có được những khoản lãi và thanh toán được những khoản nợ trước đóđồng thời bắt đầu khuyếch trương hoạt động ra các khu vực lân cận
Hướng tới mục tiêu chiếm lĩnh thị trường báo chí trong nước, trên cơ sở những thành công đã đạt được, Rupert Murdoch còn tiếp tục mua lại và thiết lập thêm nhiều tờ báo mới như TV Week, New Idea, The Australian, The Daily Telegraph Một trong số
đó là tờ TV Week đã từng được tổ chức Southdown Press tại Melbourne bầu chọn là tờ tạp chí truyền hình thành công nhất
Nếu như bước khởi đầu chồng chất những khó khăn thì chỉ sau đúng 4 năm, trêncương vị là người đứng đầu công ty, Rupert Murdoch đã đưa News Limited trở thànhmột trong những doanh nghiệp báo chí truyền thông có tầm ảnh hưởng lớn nhất tạiAustralia Hầu hết các khu vực từ thành thị tới các vùng nông thôn đều có sự xuất hiệncác tờ báo của News Limited
Trang 15Hoàn tất chương trình chiếm lĩnh thị trường nội địa cùng một nguồn lực hùngmạnh, Rupert Murdoch tiếp tục khởi động chiến lược khuyếch trương hoạt động ra thịtrường báo chí của các quốc gia trong và ngoài khu vực
Xây dựng thành công Tập đoàn News Corporation
Chiến dịch lan toả ra thị trường ngoài nước đầu tiên đượcRupert Murdoch thực hiện chính là Anh Quốc Đây là một thịtrường có tiềm năng khai thác rất lớn và hơn thế nữa là mộtthị trường Rupert Murdoch đã có nhiều năm gắn bó, có nhiều
hiểu biết
Để có thể đi vào hoạt động ngay khi tiến vào thị trường mới,Rupert Murdoch đã tìm cách mua lại tờ The News of theWorld, một trong những tờ tạp chí có tầm ảnh hưởng lớn tạiAnh và nhiều khu vực trên thế giới Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với Rupert Murdochtrong thời điểm này chính là việc đối thủ “nặng ký” Robert Maxwell đã có thâm niênhoạt động tại Anh cũng đang tìm cách mua lại The News of the World
Quyết dành phần thắng trong cuộc đua này, Rupert Murdoch đã phải bán đi nhiều
cổ phần đầu tư tại nhiều doanh nghiệp và thậm chí là thế chấp nhiều tài sản tại Australia
để vay thêm vốn của ngân hàng Nhờ chiến lược tổng lực đó, Rupert Murdoch đã thànhcông với bản hợp đồng dành quyền sở hữu The News of the World Tổng số lượng pháthành lên tới 6 triệu ấn phẩm tính riêng trong năm 1968, The News of the World đã trởthành một công cụ hữu hiệu không thể thiếu để Rupert Murdoch khuyếch trương hoạtđộng tại thị trường Anh Quốc
Không dừng lại ở đó, nhờ biết triệt để khai thác ưu thế của The News of the Worldnên chỉ sau một thời gian không lâu sau đó, cùng với mức tăng trưởng mạnh của TheNews of the World, Rupert Murdoch đã không những tạo được chỗ đứng vững chắc tạithị trường Anh mà còn trả được những khoản vay thế chấp tài sản tại Australia
Trong những năm tiếp theo, Rupert Murdoch còn thực hiện thành công bản hợpđồng mua lại tờ The Sun và tờ The Times danh tiếng và vươn lên trở thành một thế lựchùng mạnh trong lĩnh vực báo chí truyền thông tại Anh
Trang 16Có được những kinh nghiệm quý báu từ thị trường Anh, năm 1973, bắt đầu tiếnvào thị trường Mỹ, ngay trong thời gian đầu tiên, Rupert Murdoch đã ngay lập tức mualại tờ San Antonio Express-News Thêm vào đó, nhằm giải toả sức ép cạnh tranh rất lớn
từ các đối thủ mạnh tại thị trường Mỹ, một lần nữa, Rupert Murdoch sử dụng chiến lượcđầu tư tổng lực vào thành lập tờ Star và liên tiếp thâu tóm nhiều tờ báo danh tiếng khácnhư New York Post, The Herald and Weekly Times Ltd., Fox Network, Fox NewsChannel
Chưa thị trường nào Rupert Murdoch lại thực hiện nhiều thương vụ mua đi và bánlại như tại thị trường Mỹ Mới đây, với sức mạnh tài chính của mình, Rupert Murdochcòn tiếp tục đầu tư 34% cổ phần tương đương với 6 tỷ USD vào hệ thống HughesElectronics và mua lại Công ty Intermix Media Inc với mức giá 580 triệu USD Quanhững thương vụ kinh doanh dày đặc và nhanh đến chóng mặt đó, Rupert Murdoch đãchính thức đưa tên mình vào vị trí một trong những ông trùm báo chí truyền thông tại
Mỹ
Cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ đó, Rupert Murdoch đã biến News Limitedthành tập đoàn báo chí truyền thông quốc tế News Corporation Hiện nay, tính cả kênhtruyền hình qua vệ tinh STAR TV (Asia) hoạt động tại các quốc gia thuộc khu vực châu
Á bao gồm Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam, News Corporation đãthiết lập được một mạng lưới tổng cộng hơn 175 chi nhánh trên 3 châu lục của thế giới
Sau gần cả cuộc đời gắn bó với thương trường, Rupert Murdoch đã tạo dựng đượckhối tài sản cá nhân khổng lồ, trị giá 7,7 tỷ USD
Tuy nhiên, tháng 7/2011, 1 vụ bê bối đã xảy ra với tập đoàn này khi sau khi tờ The Guardian đăng một loạt bài cáo buộc các hành vi xâm nhập điện thoại trái phép của New
of the world Sự việc này được coi là vụ bê bối thông tin lớn nhất kể từ sau thế chiến thứ
2 ở xứ sở sương mù Nó gây ra thiệt hại to lớn cho tập đoàn News Corporation, cổ phiếucủa tập News Corporation bị giảm tới 3,2% khi vụ việc được báo chí đăng tải Ngoài ra,tập đoàn News Corporation còn phải đối mặt với việc bồi thường cho những nạn nhân
vụ nghe lén điện thoại Hiện diễn viên điện ảnh Sienna Miller, là người đầu tiên được bồithường với khoản tiền 160.000 USD và hơn 200 đơn kiện khác có thể khiến News Corp
Trang 17mất thêm 32 triệu USD nữa Cái lo nhất của tỷ phú Rupert Murdoch hiện nay là NewsCorporation còn có thể bị nhà chức trách Anh thu hồi giấy phép và đối mặt với cuộcchiến pháp lý kéo dài hàng tháng xung quanh bê bối này.
Tờ báo New of the world đã phải đóng cửa sau 168 năm tồn tại.
Bí quyết thành công
Giới báo chí được coi như là một cơ quan quyền lực thứ tư của mỗi đất nước (sau
ba cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp), bởi vậy các ông trùm truyền thông là nhữngngười không mấy ai thích Rupert Murdoch là ông trùm báo chí đầu tiên trở thành “conquỷ” của cả thế giới Ông là đối tượng của nhiều lời chỉ trích, về những tư tưởng chínhtrị hữu khuynh của ông, hay về thái độ ''ve vãn'' của ông đối với Trung Quốc bởi vì ôngđang triển khai kế hoạch kinh doanh ở đất nước này Tuy nhiên, trước búa rìu dư luận,Murdoch vẫn không hề nao núng, một trong những sức mạnh của ông là ông không quantâm đến những lời chỉ trích này
Trưởng thành trong thời đại toàn cầu hoá, Murdoch là người nhạy bén hơn ai hếtkhi sớm nhận ra những cơ hội mà kỷ nguyên khoa học công nghệ mang lại, đó là máytính, vệ tinh, công nghệ truyền tín hiệu không dây Nhờ đó, ông là người đầu tiên tạo rahãng truyền thông quốc tế, và thống trị các kênh truyền hình Ông đã đầu tư nhữngkhoản tiền khổng lồ để xây dựng hệ thống truyền hình vệ tinh BSkyB ở Anh Sau đócũng chính ông phát triển hệ thống vệ tinh truyền hình trên khắp châu Á Năm1998, dịch
vụ LineOne của Murdoch đã trở thành AOL của châu Âu
Murdoch có một phong cách làm việc khá độc đáo Ông không phải là ngườithích nói ra những gì mình làm, tự thể hiện mình thông qua cách xử lý công việc hiệuquả và các mối quan hệ chính trị - kinh doanh đầy quyền lực Đầu thập niên 1990, sựthống trị của News Corp bị lung lay do Murdoch đã đầu tư quá nhiều tiền vào kế hoạchtruyền hình vệ tinh ở Anh, thêm vào đó là sự suy thoái của News Corp Lần đầu tiên, tậpđoàn truyền thông này rơi vào khủng hoảng Tuy nhiên, Murdoch có điểm thuận lợi làcác ngân hàng lớn của thế giới đều rất tin tưởng vào tài năng kinh doanh của ông, vì thế
họ đã đồng ý quay vòng nợ cho News Corp Cuối cùng tập đoàn này đã thoát khỏi khủnghoảng và phục hồi Kể từ đó, News Corp lại giành lại vị trí ưu thế số một của nó
Trang 18Trong số các hãng mà Murdoch sở hữu, Star Television ở châu Á - mua năm 1993– là hãng gặp nhiều khó khăn nhất Hãng này rất có tiềm năng phát triển: các vệ tinhtruyền hình của nó phủ sóng từ Nhật Bản cho đến Trung Đông, qua Trung Á, và phục vụ2/3 dân số thế giới Tuy nhiên, Murdoch sớm nhận ra rằng hãng này không có thị trườngtoàn thể thống nhất mà chỉ có những thị trường theo kiểu khu vực địa phương mà thôi.Hiện, với kế hoạch xâm nhập thị trường Trung Quốc, ông hi vọng sẽ có thể khắc phụcđược khó khăn này.
Ở tuổi thập cổ lai hy, với bảng thành tích phong phú hơn ai hết, Murdoch vẫnkhông ngừng cố gắng làm việc và vươn lên Ông gọi những thành công là một loạt cáctrận chiến trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển Cuộc đẩu tranh ấy không bao giờ kếtthúc Điều đó làm cho News Corp không ngừng lớn mạnh
Tới năm 2007, bước sang tuổi 76, Rupert Murdoch đã vươn lên vị trí thứ 32 trongdanh sách những doanh nhân thành đạt nhất thế giới Mới đây, ông chủ của NewsCorporation lại vừa hoàn tất thương vụ mua lại Dow Jones với khoản tiền hơn 5 tỷ USD
3.2 Tập đoàn báo chí của Mỹ:
Tiền thân của Viacom là CBS Films,
một nhánh truyền hình của CBS, đến năm
1971 mới đổi tên thành VIACOM
(Video&Audio Communication)
Năm 1985, Viacom mua hãng
Warner-Amex Satellite Entertainment (hay MTV
Networks) Cùng năm Viacom cũng mua tập
đoàn Showtime Networks (Bao gồm có
Showtime và Kênh chiếu phim -Movie Channel)
Năm 1986, ông chủ của National Amusements (Giải trí quốc gia) mua lại Viacom
và “mua” lại cả Sumner Restone - Giám đốc Viacom bấy giờ
Tòa nhà của tập đoàn viacom
Trang 19Từ đó, Restone tiến hành chiến dịch bành trướng, mua lại Paramout Pictures(1993) và Blockbuster Video (1994), tạo đà cho Viacom mua lại gã khổng lồ SpellingEntertainment (kiểm soát hãng ABC và NBC).
Sau đó, đội quân truyền hình đông đảo này sát nhập với Paramount Pictures tạo ramột Paramout Pictures hùng mạnh như ngày nay
Năm 1999, Viacom mua BET(Black Entertainment Television) với giá 3 tỉ đô.
Black Entertainment Television (BET) là hệ thống truyền hình cáp đàu tiên tập trung ởBắc Phi được Robert L.Johnson tạo lập Vào năm 1979 Hệ thống này được khai trươngvào tháng 1 năm 1980, lúc đầu phát sóng 2 tiếng một tuần Sau 11 năm, BET trở thànhcông ty điều khiển đầu tiên được đưa vào danh sách trong thị trường chứng khoánNewYork Năm 2007, BET đạt được lợi nhuận 65 triệu đôla và ngày càng mở rộng hơnthành những kênh truyền hình có liên quan đến BET và tạo thành một mạng lưới BETnhư : BET, các kênh truyền hình kĩ thuật số BET HipHop và BET Gospel
Không dừng lại ở đó, năm 1999 Viacom tiến hành chiến dịch mua lại lớn chưa
từng có: mua lại chính “phụ thân” CBS với giá khổng lồ là 34,5 tỉ USD Từ đây Viacom
là chủ sở hữu của mạng truyền hình cáp đồ sộ: TNN, Country Music Television,Eyemark, King World
Lịch sử của CBS:
CBS là hệ thống truyền hình đầu tiên rađời vào buổi bình minh của kỷ nguyên truyềnhình Nó thống trị lĩnh vực truyền hình trongnhững năm đầu kỷ nguyên và cho ra các tácphẩm đặc sắc như I Love Lucy, Dragnet, TheJack Benny Show, Gunsmoke (thập niên1950), The Ed Sullivan Show, The AndyGriffith Show, Candid Camera (thập niên1960) và các bộ phim truyền hình nhiều tậpnổi tiếng như All In The Family, MASH, The Mary Tyler Moore Show (thập niên 1970)
Trang 20CBS cũng đem đến cho khán giả Dallas, The Beverly Hillbillies, The Waltons,Hawaii Five O Ngày 28/1/1983 CBS phát hành tập cuối cùng của bộ phim MASH, phá
kỷ lục về số khán giả theo dõi trong lịch sử điện ảnh: 60 triệu người Gần đây hơn là các
bộ phim truyền hình nhiều tập Murphy Brown, Cybill, Medicine Woman, Chicago Hope
và The Nanny Hôm nay, CBS không còn có sự ưu thế như xưa nhưng bộ phim truyềnhình nhiều tập 60 minutes của nó vẫn rất ăn khách và các chương trình tạp kỹ nhưEverybody Love Raymond, Becker vẫn có nhiều người xem CBS cũng giữ chân đượcDavid Letterman, một tổ sư trong lãnh vực phỏng vấn đối thoại truyền hình trước sựmua chuộc của đối thủ ABC
CBS TV City được xây năm 1952 tại địa điểm cũ của sân vận động Gilmore Đây
là nơi CBS ghi hình nhiều chương trình truyền hình được yêu thích nhất nước Mỹ, các
bộ phim truyền hình nhiều tập và cả các chương trình phỏng vấn như Late Late Show(do Craig Kilborn chủ trì), Dennis Miller Live Ngoài ra còn hai chương trình trò chơithi đấu: Hollywood Squares và The Price Is Right Các nghệ sĩ Jack Benny, Bing Crosby,Krank Sinatra, Doris Day, Steve Martin, George Burns, Elton John, Bob Hope đều cócác chương trình đặc biệt được ghi hình tại CBS TV City
Ngày 17/10/1951, khi CBS công bố logo mới CBS Eye có hình con mắt của hãng,CBS cũng không ngờ logo này sẽ trở thành một biểu tượng của kỹ thuật giải trí Mỹ vàđược đánh giá là một trong các logo công ty ấn tượng nhất trong lịch sử thế giới Ngày20/10/1951, logo mới chính thức xuất hiện trên kênh TH của CBS và nó vẫn giữ nguyênhình dạng từ bao năm nay dù đã được thay đổi về màu sắc nhiều lần Ngày 11/11/2001,CBS kỷ niệm 50 năm ngày phát hành chương trình TH hài I Love Lucy (bộ phim phátsóng ngày 15/10/1951, 5 ngày trước khi logo mới ra mắt khán giả TH) Nhân dịp nàyhãng sẽ giới thiệu lại quá trình tiến hoá của logo CBS Eye
Trước những năm 1970, Viacom là “con” của CBS, năm 2000 CBS bị Viacom
thôn tính và trở thành “con” của Viacom Chỉ 6 năm sau, Viacom và CBS tách ra vàhoàn toàn đứng độc lập: CBS - đứng đầu là Leslie Moonves - hãng phát thanh truyềnhình; và Viacom – chủ tịch là Sumner Redstone - tập trung vào mạng lưới truyền hìnhcáp
Trang 21Có thể nói quan hệ giữa Viacom và CBS là mối “nhân duyên tiền định”, là biểuhiện cụ thể và rõ ràng nhất về chuỗi liên hoàn: nhập-tách; tách-nhập của gã khổng lồtruyền thông nói riêng và cả thế giới truyền thông nói chung.
Vậy mối lương duyên tiền định này mang được lợi gì cho Viacom? Để hiểu đượccăn nguyên của vấn đề chúng ta hãy quay trở lại cuộc chia tách lịch sử giữa Viacom vàCBS năm 2006
Cuộc chia tách lịch sử: Viacom và CBS
Tháng 7/2000, cổ phần Viacom ở mức kỷ lục: 75,88 đô la nhưng đến 6/2005, mức
giá ở phiên giao dịch giảm hơn 1 nửa
Chính vì thế Viacom quyết định chia tách với CBS Mục đích để có được cú lộingược dòng thành công khi giá cổ phiếu Viacom đang sụt thê thảm
Hơn nữa, cuộc chia tách này góp phần củng cố quyền lực của Sumner Restone khi
vị trí của ông đang bị các ứng viên Freston và Moonves dòm ngó
“Sumner rất khôn ngoan khi tăng giá trị cổ phần nhờ thu hẹp phạm vi hoạt động,
vì sau một loạt cuộc sát nhập giá cổ phiếu của Viacom vẫn sụt giảm”, RichardGreenfield, nhà phân tích truyền thông của tổ chức Fulcrum Global Partners nhận định
Khi Viacom tuyên bố chính thức tách khỏi CBS vào 17/3/2006, cổ phiếu củaViacom ở mức 36,72 đô la ở phiên đóng cửa Sau đó giá cổ phiếu có xu hướng giảm.Nhiều nhà đầu tư bắt đầu lo ngại liệu Restone có thể tạo ra kỳ tích hay không?
Đáp lại, Restone chỉ nói, “Viacom và CBS là hai công ty khác nhau, kinh doanh ởlĩnh vực khác nhau Khi chúng tách ra, sẽ tối đa hóa lợi nhuận vì mỗi hãng sẽ thu hútnhững nhà đầu tư riêng”
Quả đúng như thế, quý ba năm 2007, Viacom tuyên bố doanh thu tăng 24%(doanh thu CBS cũng tăng 8%)
Năm 2007, bộ phim phiêu lưu viễn tưởng “Indiana Jones” và series phim truyền
hình “Star Trek” đã hốt bạc về cho Paramount Pictures Doanh thu Viacom tăng lên27%, lợi nhuận ròng tăng 80%, cố phiếu tăng thêm 65 cent/1 cổ phiếu, truyền thôngchiếm 60% doanh thu và 92% lãi doanh thu
Trang 22“Đó là do nhu cầu quảng cáo tăng vọt do truyền thông giờ đây không còn lệ thuộcnhiều vào bất động sản và dịch vụ tài chính như trước nữa”, Frederick W Moran, thànhviên của tập đoàn Stanford cho biết.
CBS cũng đạt được thành công tương tự sau khi tách khỏi Viacom.
Giới phân tích nhận định truyền hình cáp sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốcliệt với Internet nhưng Viacom tuyên bố sẽ tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho truyền hình cáp.Giới đầu tư cũng bị kích thích vì Viacom tiếp tục mua lại cổ phần trong suốt quý 3 nămnay: chi 1,7 tỉ đô la để mua lại cổ phần đã bán ra
Mua lại cổ phần được coi là cái mốt đang thịnh hành trong giới truyền thông.Viacom đã kiếm được hơn hàng nghìn triệu đô la từ việc mua bán cổ phần từ trước tớinay Vậy bản chất của mua lại cổ phần là gì?
“Mua lại cổ phần - chiến lược đầu tư dài hơi”
"Summer luôn biết làm gì với túi tiền và túi của ông ta luôn đầy tiền": Đó là phátbiểu hùng hồn của ngài chủ tịch quyền năng Sumner Redstone Chỉ mới đầu năm 2006,dưới sự lãnh đạo của ông, công ty National Amusements (Công ty Giải trí quốc gia, sởhữu một chuỗi nhà hát, trực thuộc tập đoàn Viacom) đã bán 184 triệu đô la cổ phầnViacom với mức giá hết sức “khuyến mại” Tất cả được tiến hành dưới sự dàn xếp củaông trùm Sumner
Khi các nhà đầu tư thấy tình trạng bán ồ ạt của các cổ đông sẽ dự đoán giá cổphiếu ngày càng giảm Khi giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn nhiều so với lúc bán ra,Viacom lại ào ạt mua về Lợi nhuận kiếm được từ khoản chênh lệch trong những thương
vụ này không hề nhỏ
Phát biểu trong cuộc họp báo, Redstone nói: “Viacom là nhà đầu tư chiến lược tài
ba nhất trong ngành truyền thông”
Tất nhiên bản thân National Amusements muốn bán cổ phần với mức giá cao nhấtnhưng phải tuân theo kế hoạch cũng như sự dàn xếp của Hội đồng quản trị Viacom.Trước khi tách khỏi CBS, National Amusements bán được 640 triệu đô la cổ phần (năm
2004 và 9 tháng đầu năm 2005) cũng theo sự dàn xếp tương tự
Trang 23Khi tách khỏi CBS, Viacom càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình mua lại cổphần Theo đó, giá cổ phiếu liên tục giảm Vào tháng hai, National Amsuements bán 59triệu đô la cổ phiếu loại B đều đặn Sau đó, National Amusements tiếp tục bán cổ phiếuvới mức giá thấp hơn và càng ngày càng giảm.
Cổ phần của ông Restone chiếm một tỉ lệ nhỏ nhưng rất quan trọng trong số cổphần bán ra từ trước tới nay củaViacom Sau khi tách khỏi CBS, cổ phiếu Viacom caogiá hơn CBS và mức cổ tức cũng cao hơn
Nhiều hãng truyền thông lớn khác như Hãng Time Warner, Tập đoàn News vàcông ty Tribune đang tiến hành chiến dịch mua lại để tăng giá cổ phần Mua lại cổ phiếucủa chính công ty mình với mức giá thấp hơn (lần bán ra) là một cách đầu tư tốt, và tăng
số lượng cổ đông sẽ tăng giá cổ phần Đó là nguyên tắc kinh tế cơ bản
Với danh nghĩa chủ tịch Viacom, sau khi buộc phải bán cổ phần của một cổ đônglớn như National Amusements với mức giá quá thấp, Redstone mới xác nhận Viacomđang thực hiện kế hoạch mua lại cổ phần
Tháng 2 năm 2004: Viacom thành công trong thương vụ mua lại hãng phim
DreamWorks SKG với giá 1,6 tỉ đô la Mỹ
Tháng 4.2006, Viacom đã mua Xfire với giá 102 triệu USD Xfire là “sàn thi đấu”
cấp thời dành cho các gamer đã ngày càng nổi tiếng hơn sau khi được Dennis Fong, biệtdanh “Thresh”, thành lập vào năm 2001 Trung bình mỗi tháng, một gamer “sống” 91giờ đồng hồ trên địa chỉ này
Viacom là chủ sở hữu của:
* Các hãng phim lớn: Viacom International, Paramount Pictures, DreamWorks,Republic Pictures, MTV Films, Nickelodeon Movies, Go Fish Pictures
* Các đài truyền hình: Comedy Central, Logo, BET, Spike, TV Land, Nick atNite, Nickelodeon, Noggin, The N, Nick Jr., TEENick, MTV, VH1, MTV2, CMT, MHD
*Hãng sản xuất truyền hình: DreamWorks Television
*Hãng sản xuất trò chơi video: Xfire, Harmonix, GameTrailers, Neopets
* Internet Sites: Screwattack