MỞ ĐẦU Luật dân sự với vai trò là “luật gốc”, “luật mẹ” có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật. Một trong những quy định cơ bản và quan trọng của Bộ luật dân sự là phần về năng lực chủ thể, đặc biệt là năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Bộ luật dân sự năm 2005 đã có những điều khoản quy định về vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này , em xin chọn tìm hiểu đề bài: “ Đánh giá quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong Bộ luật dân sự 2005 và định hướng hoàn thiện”
Trang 1MỞ ĐẦU
Luật dân sự với vai trò là “luật gốc”, “luật mẹ” có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong hệ thống pháp luật Một trong những quy định cơ bản và quan trọng của Bộ luật dân sự là phần về năng lực chủ thể, đặc biệt là năng lực hành vi dân
sự của cá nhân Bộ luật dân sự năm 2005 đã có những điều khoản quy định về vấn đề này, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định Để hiểu rõ hơn
về vấn đề này , em xin chọn tìm hiểu đề bài: “ Đánh giá quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong Bộ luật dân sự 2005 và định hướng hoàn thiện”
1
Trang 2NỘI DUNG I.Khái quát về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong BLDS năm 2005 1.Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Cá nhân là chủ thể của mọi quan hệ xã hội Trong quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân do Bộ luật dân sự Việt Nam điều chỉnh thì cá nhân là chủ thể đầu tiên và cũng là chủ thể quan trọng nhất Để tham gia vào quan hệ dân sự, cá nhân phải có năng lực chủ thể bao gồm: năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật dân sự Việt Nam: “ Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” Cùng với năng lưc pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự là điều kiện hợp thành để phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể “Nếu như năng lực pháp luật dân sự là “khả năng” mà pháp luật cho phép cá nhân có thể hưởng quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự thì năng lực pháp luật dân sự lại là sự “ hiện thực hóa” khả năng này Do đó, nếu không có năng lực hành vi dân sự của
cá nhân thì năng lực pháp luật dân sự cũng chỉ là khả năng mà không thể trở thành hiện thực.” 1
Theo Điều 17: “ Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Xét về
phương diện tâm lý và sinh lý của con người thì gồm hai yếu tố: lý trí và mong
muốn chủ quan và “ năng lực hành vi dân sự của cá nhân là sự phù hợp giữa lý trí với mong muốn chủ quan của cá nhân đó” hay nói cách khác là ‘ khả năng của cá nhân thực hiện các hành vi dân sự và khả năng nhận thức bằng suy luận
1 Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 1, Ts Lê Đình Nghị chủ biên, trang65, NXB Giáo dục Việt Nam
2
Trang 3của cá nhân trong việc làm chủ, kiểm soát các hành vi đó”2 Như vậy thì nội dung của năng lực hành vi dân sự bao gồm 2 yếu tố: Năng lực thực hiện các giao dịch hoặc các hành vi pháp lý khác và năng lực chịu trách nhiệm cho hành vi trái pháp luật Vì vậy, không giống với năng lực pháp luật dân sự phát sinh khi chủ thể sinh ra, chấm dứt khi chủ thể chết đi; năng lực hành vi dân sự được pháp luật quy định phụ thuộc vào khả năng nhận thức( trí tuệ) và khả năng thực hiện( thể lực)
2 Các mức độ của năng lực hành vi dân sự
Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đã đạt mức hoàn thiện về thể lực và trí lực Theo các ngành khoa học y học, tâm lý học, sinh lý học…đã chứng minh có thể căn cứ vào độ tuổi để xác định mức độ năng lực hành vi dân
sự của cá nhân
Thứ nhất, năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Người từ đủ 18 tuổi được suy
đoán là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và được xác định ở khái niệm người thành niên Theo Điều 18,người thành niên là người có độ tuổi từ đủ 18
tuổi trở lên và người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi “ Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Bộ luật này” Như vậy, người thành niên không rơi vào trường hợp
mất năng lực hành vi dân sự - tức mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi hay người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự -“ người nghiện ma túy các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình” Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có thể tham gia vào
mọi giao dịch dân sự
Thứ hai, không có năng lực hành vi dân sự: Người chưa đủ 6 tuổi là
người không có năng lực hành vi dân sự (Điều 21) Dưới sáu tuổi, khả năng
2 Tạp chí: Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự, tạp chí Luật họa số2/2004, trang 56
3
Trang 4nhận thức cũng như thực hiện hành vi liên quan đến thể lực và trí lực không được đảm bảo Do vậy, họ chỉ có năng lực pháp luật dân sự - có quyền và nghĩa
vụ dân sự mà không được tự mình tham gia xác lập các giao dịch dân sự Các giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi phải được xác lập và thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật
Thứ ba, chưa đủ năng lực hành vi dân sự ( Điều 20) Người đủ 6 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi được xem là người có năng lực hành vi dân sự hạn chế Người ở
độ tuổi này đã bắt đầu có sự nhận thức về hành vi của mình tuy nhiên sự nhận thức này vẫn ở mức hạn chế Họ được quyền tham gia các giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi: giao dịch có giá trị nhỏ và độ phức tạp của giao dịch được xác lập theo lứa tuổi với mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, là trường hợp ngoại lệ có thể tự
mình xác lập giao dịch mà “ không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Điều này xuất phát
từ nhu cầu thực tế cuộc sống: người từ đủ 15 tuổi đã có quyền tham gia các hợp đồng lao động, có thu nhập riêng, nguồn tài sản hợp pháp Vì vậy có thể trở thành chủ thể độc lập trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nó không được
áp dụng với trường hợp pháp luật có quy định khác, ví dụ như khoản 2 Điều 652
của Bộ luật này: “Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”
Thứ tư, mất năng lực hành vi dân sự ( Điều 22) Theo điều khoản này,
một người được đánh giá là mất năng lực hành vi dân sự khi có đầy đủ các yếu tố:
4
Trang 5Một là mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến hậu quả không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình
Hai là có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
Ba là có kết luận của tổ chức giám định và quyết định của Tòa án
Đối với những trường hợp này thì giao dịch của họ “ phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện”- Điều 22, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của
những người mất năng lực hành vi dân sự khi họ thực hiện giao dịch mà không bảo đảm về yếu tố nhận thức
Thứ năm, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ( Điều 23) Cần phân biệt
với người có năng lực hành vi dân sự hạn chế, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ( được quy định tại Điều 23) là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ những bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là hạn chế Đó là những người có đầy đủ các yếu tố sau:
Một là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến hậu quả phá tán tài sản của gia đình
Hai là có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan
Ba là quyết định của Tòa án
Mục đích của việc hạn chế năng lực hành vi dân sự đối với những đối
tượng trên “không chỉ là bảo vệ, bảo đảm sử dụng hợp lý tài sản của người đó, của gia đình mà còn có ý nghĩa xã hội nhằm hạn chế các tệ nạn này” 3
3 Giáo trình Luật dân sự, Trường đại học luật Hà Nội, TS Lê Đình Nghị (chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam, trang 67
5
Trang 6Hậu quả pháp lý đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là giao dịch liên quan đến tài sản của họ phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật ngoại trừ giao dịch phục vụ nhu cầu hằng ngày
II Đánh giá và định hướng hoàn thiện năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong BLDS năm 2005.
Điều 19 Năng lực hành vi dân sự của người thành niên
“ Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Bộ luật này”
Xét theo Điều 19, người thành niên là người đủ mười tám tuổi trở lên mà không thuộc các trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự ( Điều 22) và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23) thì có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ tức có thể tham gia mọi giao dịch dân sự Như vậy, quy định này chỉ mới quy định về một yếu tố của năng lực hành vi dân sự của cá nhân mà bỏ qua yếu tố về thể lực – khả năng bằng hành vi thực hiện quyền và nghĩa vụ Nó đồng nghĩa với việc một người bình thường về nhận thức nhưng khuyết tật vẫn có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Ví dụ, ông A bị lãng tai và khiếm thị vì vậy ông gặp khó khăn trong việc tham gia vào hợp đồng mua bán nhà
Khác với pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới, Bộ luật dân sự năm 2005 của Việt Nam không quy định về việc hạn chế năng lực hành vi dân
sự đối với người khuyêt tật, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi [1] Tuy nhiên trong Dự thảo Bộ luật dân sự lấy ý kiến nhân dân đã có sự bổ
sung về điều này được quy định tại Điều 29 Người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi :
6
Trang 7“1 Người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của họ, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận người đó là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
2 Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự theo quy định của luật hoặc theo
quyết định của Tòa án phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật”.
Quy định như vậy là để khắc phục bất cập của Bộ luật hiện hành là chưa
có cơ chế pháp lý để thực hiện, bảo vệ quyền dân sự đối với người do bị khuyết tật hoặc do tình trạng thể chất, tinh thần dẫn tới tình trạng sức khỏe tâm thần không tốt, khả năng nhận thức không đầy đủ, thiếu chính xác, không rõ ràng về hành vi của mình nhưng chưa ở mức mất năng lực hành vi dân sự dẫn tới không
tiếp cận được các quyền dân sự của mình “ Tuy nhiên việc xác định như thế nào
là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi cũng như hậu quả pháp lý của các giao dịch mà họ tham gia lại chưa được làm rõ trong Dự thảo”4
Điều 20 Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
“1.Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật
có quy định khác.
2.Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực
4 Ts Vương Thanh Thúy, Góp ý dự thảo BLDS 2005 sửa đổi.
7
Trang 8hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luât trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Xét khoản 1Điều 20 có đặt ra vấn đề: các giao dịch dân sự của người từ
đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Về việc “có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật” làm cho quy định “ không rõ ràng và sẽ có thể dẫn tới những cách áp dụng pháp luật không đồng nhất”:5
Thứ nhất, nếu hiểu là người đại diện theo pháp luật đồng ý cho phép chủ thể trong trường hợp này tự mình xác lập, thực hiện giao dịch thì hình thức “ đồng ý” là như thế nào? Chỉ cần bằng lời nói hay thông qua hành động để bộc lộ
sự chấp thuận? Và sự đồng ý này được thể hiện khi xác lập giao dịch hay trong
trường hợp sau khi giao dịch đã được hoàn thành Ví dụ, theo Điều 130 “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của ngưởi đại diện của người đó”- người đại diện chấp nhận giao dịch đó thì giao định có hiệu lực Đây có phải là trường hợp “đồng ý” sau khi giao dịch
đã được hoàn thành?
Thứ hai, nếu quy định như vậy cũng có thể đem lại cách hiểu: người đại
diện theo pháp luật sẽ đại diện cho cá nhân từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi xác lập, thực hiện giao dịch Điều này là không trái pháp luật bởi Điều 17
có quy định về năng lực hành vi dân sự - khả năng bằng hành vi xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự ,tuy nhiên trong trường hợp này cá nhân chỉ có năng lực hành vi dân sự hạn chế vì vậy người đại diện – người có đủ điều kiện về năng lực hành
vi dân sự có thể thực hiện thay thế Tuy nhiên xét trong thực tế người đại diện
5 Bình luận khoa học Bộ luật dân sự của nước CHXHCN Việt Nam, NXB Tư pháp, TS Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, trang 45
8
Trang 9theo pháp luật của các chủ thể bị hạn chế năng lực hành vi dân sự này thường là
bố mẹ mà người từ đủ sáu đến chưa đủ mười tám tuổi tham gia những giao dịch trong thời gian đến trường, cho nên cha mẹ khó có thể xác lập giao dịch thay cho con được Điều này đã bộc lộ sự thiếu hợp lý trong thực tế
Định hướng: Như vậy, để đảm bảo cách hiểu thống nhất, phù hợp thì
BLDS có thể quy định rõ ràng hơn về hình thức đồng ý của người đại diện theo pháp luật Hình thức này có thể căn cứ vào giao dịch được xác lập.Ví dụ, đối với giao dịch là lời nói thì hình thức đồng ý cũng có thể bằng lời nói của người đại diện theo pháp luật Tương tự, nếu giao dich được xác lập bằng văn bản thì sự đồng ý phải được thể hiện bằng văn bản
Điều 21.Người không có năng lực hành vi dân sự
“Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”
Người chưa đủ sáu tuổi sẽ không đảm bảo đầy đủ về trí lực và thể lực để bảo đảm tự mình thực hiện các giao dịch dân sự Vì vậy mọi giao dịch dân sự của chủ thể này phải do đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Tuy không có năng lực hành vi dân sự nhưng người chưa đủ sáu tuổi đã có năng lực pháp luật dân sự
Theo Điều 13 về căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự
“Quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:
1.Giao dịch dân sự hợp pháp
2.Quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thâm rquyền khác;
9
Trang 103.Sự kiện pháp lý do pháp luật quy định;
4.Sáng tạo giá trị tinh thần là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ;
5.Chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật;… ”
Như vậy, “giao dịch dân sự” là một trong chín căn cứ để xác lập quyền
và nghĩa vụ dân sự
Như đã nói ở trên, Điều 17 năng lực hành vi dân sự gắn với khả năng xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên trong Điều 21khi không có năng lực hành vi dân sự - không có khả năng tự mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự thì chỉ quy định về vấn đề giao dịch( giao cho người đại diện theo pháp luật thực hiện, xác lập) Một vấn đề đặt ra về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân
sự cho người dưới sáu tuổi xuất phát từ những căn cứ khác ngoài giao dịch dân
sự như “Quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền” hay “sự kiện pháp lý do pháp luật quy định”? Phải chăng chỉ có “ giao dịch dân sự” mới làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự? Điều này tạo ra sự mâu thuẫn giữa Điều 13 với Điều 17 và Điều 21 Vậy từ những căn cứ khác( Điều 13) thì không phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự đối với người chưa đủ sáu tuổi ngay cả khi có người đại diện thực hiện thay thế? Ví dụ: trong trường hợp em bé 5 tuổi phát hiện và nắm giữ tài sản vô chủ Nó sẽ phát sinh quyền chiếm hữu dựa trên căn
cứ “ chiếm hữu có căn cứ pháp luật” Vậy, chủ thể nào sẽ là người xác lập
quyền sở hữu trong trường hợp này? Như vậy, để phù hợp với các quy định khác về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân, Điều
21 cần được sửa đổi
Định hướng : Để tránh sự mâu thuẫn giữa Điều 13 về Căn cứ xác lập
quyền, nghĩa vụ dân sự và Điều 21 về người không có năng lực hành vi dân sự thì Bộ luật dân sự cần có sự điều chỉnh cho phù hợp Có thể bổ sung Điều 21 để
10