Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc thiểu số. Dân số 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 14,3% dân số của cả nước. Hầu hết các dân tộc thiểu số ở nước ta sinh sống ở miền núi, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh có miền núi30. Đây là khu vực rộng lớn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt, thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt, kinh tế còn nhiều khó khăn, kém phát triển. Đồng thời đây cũng là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các quốc gia khác. Do đó, việc phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ mang lại những ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn cả về chính trị,quốc phòng an ninh của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc là “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”1. Trong những chính sách mà Nhà nước đang thực hiện thì phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một chủ trương lớn và được thực hiện thông qua hàng loạt chính sách. Trong những năm qua, việc đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đã tạo cho các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số trong cả nước có sự chuyển biến nhất định về nhiều mặt. Kinh tế vùng dân tộc và miền núi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao. Nền kinh tế nhiều thành phần bước đầu hình thành và phát triển, chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn. Hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc và miền núi giảm từ 3 4%. Đời sống của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Mặt bằng dân trí được nâng cao. Khánh Sơn là huyện miền núi và bán sơn địa nằm ở cực Tây tỉnh Khánh Hòa với 15 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số là 25.058 người, chiếm tỉ lệ 73,7%16,tr.1. Hiện nay, Khánh Sơn là một trong hai huyện nghèo nhất của tỉnh Khánh Hòa, kinh tế còn nhiều khó khăn, chậm phát triển. Trong những năm qua, Khánh Sơn luôn cố gắng thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của địa phương nhằm phát triển kinh tế xã hội nói chung và kinh tế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn nói riêng và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được nâng cao, kinh tế đã bước đầu phát triển.Tuy nhiên những kết quả ấy vẫn chưa thực sự xứng đáng với với những tiềm năng, lợi thế sẵn có của Khánh Sơn. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc các chính sách trên địa bàn chưa đạt được hiệu quả cao mà những khó khăn, bất cập trong công tác tổ chức thực hiện chính sách có thể xem là một trong những nguyên nhân lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới tính hiệu quả của các chính sách. Từ các lý do kể trên, tác giả chọn đề tài “ Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống,trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số, 53 dân tộc thiểu số Dân số 53 dân tộcthiểu số chiếm tỷ lệ 14,3% dân số của cả nước Hầu hết các dân tộc thiểu số ởnước ta sinh sống ở miền núi, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao, 23 tỉnh cómiền núi[30] Đây là khu vực rộng lớn có địa hình hiểm trở, bị chia cắt, thườngxuyên bị thiên tai, lũ lụt, kinh tế còn nhiều khó khăn, kém phát triển Đồng thờiđây cũng là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các quốc gia khác Do
đó, việc phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉmang lại những ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn cả về chính trị,quốcphòng an ninh của đất nước
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, quanđiểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo thực hiện công tác dântộc và chính sách dân tộc là “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”[1] Trong những chínhsách mà Nhà nước đang thực hiện thì phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộcthiểu số là một chủ trương lớn và được thực hiện thông qua hàng loạt chínhsách Trong những năm qua, việc đề ra và tổ chức thực hiện nhiều chính sách hỗtrợ, ưu đãi của Nhà nước đã tạo cho các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số trong
cả nước có sự chuyển biến nhất định về nhiều mặt Kinh tế vùng dân tộc và miềnnúi có bước phát triển đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao Nềnkinh tế nhiều thành phần bước đầu hình thành và phát triển, chuyển dịch theohướng sản xuất hàng hoá Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn.Hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc và miền núi giảm từ 3 - 4% Đời sốngcủa đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể Mặt bằng dân trí được nângcao
Trang 2Khánh Sơn là huyện miền núi và bán sơn địa nằm ở cực Tây tỉnh KhánhHòa với 15 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số là25.058 người, chiếm tỉ lệ 73,7%[16,tr.1] Hiện nay, Khánh Sơn là một trong haihuyện nghèo nhất của tỉnh Khánh Hòa, kinh tế còn nhiều khó khăn, chậm pháttriển Trong những năm qua, Khánh Sơn luôn cố gắng thực hiện tốt các chínhsách của Đảng và Nhà nước cũng như của địa phương nhằm phát triển kinh tế
xã hội nói chung và kinh tế cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn nóiriêng và đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Đời sống của đồng bào cácdân tộc thiểu số đã được nâng cao, kinh tế đã bước đầu phát triển.Tuy nhiênnhững kết quả ấy vẫn chưa thực sự xứng đáng với với những tiềm năng, lợi thếsẵn có của Khánh Sơn Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc các chính sáchtrên địa bàn chưa đạt được hiệu quả cao mà những khó khăn, bất cập trong côngtác tổ chức thực hiện chính sách có thể xem là một trong những nguyên nhânlớn, ảnh hưởng trực tiếp tới tính hiệu quả của các chính sách
Từ các lý do kể trên, tác giả chọn đề tài “ Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp để nghiên cứu, tìm hiểu
sâu hơn về vấn đề này Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảcông tác tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộcthiểu số trên địa bàn huyện
2 Tình hình nghiên cứu
Từ lâu, dân tộc là một đề tài lớn và trở thành đối tượng nghiên cứu của rấtnhiều ngành khoa học như Sử học, Văn hóa học, Triết học, Nhân chủng học vàtrong đó có cả quản lý nhà nước Bởi thế,có rất nhiều nghiên cứu, công trìnhxung quanh đề tài về dân tộc
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước thì dân tộc và quản lý nhà nước về dân tộc
là một vấn đề mang tính chiến lược bởi nó không chỉ góp phần quan trọng trongviệc giữ vững ổn định trật tự thực hiện mục tiêu chung về phát triển kinh tế - xãhội Chính vì thế, vấn đề dân tộc là một vấn đề không mới, đã có nhiều học giả,
Trang 3nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này Có thể khái lược một số công trìnhsau:
- Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và Miền núi (2002), Vấn đề dân tộc
và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Ngọc Thắng (2005), Một số vấn đề về dân tộc và phát triển, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Viện dân tộc (2006), Giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Ủy ban dân tộc (2006), Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội
- Nguyễn Thị Thúy ( 2012), Luận văn Thạc sỹ Thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Trung tâm đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên lý luận chính trị
- Nguyễn Lâm Thành (2014), Luận án Tiến sĩ Chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam, Học viện Hành chính.
Các các nghiên cứu này đã đề cập, tập trung phân tích, đánh giá tới hệthống chính sách của nhà nước ta đối vấn đề dân tộc với các kết quả thực hiệncác chương trình nói chung, nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu lựccủa hệ thống chính sách đồng thời cũng nghiên cứu tới vấn đề phát triển kinh tếcho vùng DTTS
Như vậy có thể nói lĩnh vực chính sách phát triển kinh tế cho vùng đồngbào dân tộc thiểu số đã được nghiên cứu Tuy nhiên hiện nay chưa có một côngtrình nào nghiên cứu tới khía cạnh tổ chức thực hiện chính sách này trong thực
tế trên địa bàn cụ thể Và tại huyện Khánh Sơn cũng chưa có đề tài nào nghiên
Trang 4cứu về vấn đề này Do đó đề tài “Nghiên cứu việc thực hiện chính sách pháttriển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh KhánhHòa” là một đề tài có tính chất mới và không trùng lắp.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộcthiểu số, từ đó nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức thực hiện chính sách nàytrên địa bàn huyện Khánh Sơn nhằm đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệuquả việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận thực hiện các nhiệm vụ dướiđây:
- Nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách phát triển kinh tếvùng đồng bào dân tộc thiểu số;
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùngđồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, nêulên những mặt đã làm được, chưa làm được cùng các nguyên nhân của công tácnày;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiệnchính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyệnKhánh Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộcthiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 5- Về thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2013.
- Về không gian: Huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc nói chung, cụ thể vềcác chính sách phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số nói riêng làm phươngpháp luận nghiên cứu
Trong quá trình triển khai nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phươngpháp cụ thể sau:
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích tài liệu: Trên cơ sở các văn bản của Trungương và địa phương đã ban hành liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã thuthập và tiến hành phân tích, sử dụng những thông tin cần thiết làm cơ sở cho đềtài;
- Phân tích – tổng hợp là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong quátrình nghiên cứu để tìm hiểu, xem xét những nghiên cứu trước đây về nội dung
đề tài Qua đó, rút ra những nội dung cần bổ sung, làm sáng tỏ mà những nghiêncứu trước chưa đề cập;
- Phương pháp quan sát, được vận dụng thường xuyên trong quá trìnhnghiên cứu đề tài
6 Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu trên một lĩnh vực rộng bên cạnh rất nhiều đề tài về côngtác dân tộc và quản lý nhà nước về dân tộc Khóa luận hướng đến mục tiêuchung là nghiên cứu lý luận chung về chính sách phát triên kinh tế vùng đồngbào dân tộc thiểu số, tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức thực hiện chính sáchnày trên địa bàn huyện Khánh Sơn, đánh giá những mặt đã làm được, chưa làmđược đồng thời đưa ra nguyên nhân của những hạn chế đó và đề xuất những giải
Trang 6pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chính sách Bởi vậy, khóa luậnhoàn thành sẽ có những ý nghĩa ứng dụng sau:
Thứ nhất, khóa luận nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện chính sách do
đó đóng góp trực tiếp đầu tiên là nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sáchphát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Khánh Sơn
Thứ hai, khóa luận nghiên cứu lý luận về chính sách dân tộc nói chung và
chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng bởi vậykhi khóa luận hoàn thành sẽ góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước vềdân tộc
Thứ ba, khóa luận hoàn thành sẽ là tư liệu tham khảo trong công tác nghiên
cứu quản lý nhà nước về dân tộc và nghiên cứu chính sách nói chung, thực thichính sách trong khoa học Hành chính nói riêng, đồng thời cũng là nguồn tàiliệu cho các nghiên cứu về công tác tổ chức thực hiện chính sách dân tộc trênđịa bàn huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa sau này
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phần chínhcủa đề tài được bố cục thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý của chính sách phát triển kinh tế vùng đồng
bào dân tộc thiểu số
Chương 2 Thực trạng công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng
đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chính sách phát triển
kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn, tỉnhKhánh Hòa
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 71.1 Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm
Trong hệ thống công cụ quản lý được nhà nước dùng để điều hành hoạtđộng kinh tế xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định hướng chocác công cụ khác Trên phạm vi vĩ mô, chính sách công là công cụ quản lý quantrọng Thông qua việc ban hành và tổ chức thực thi các chính sách công, nhữngmục tiêu phát triển kinh tế xã hội được hiện thực hóa… Vậy chính sách công làgì?
Trong Đại cương về chính sách công (2014), Nguyễn Hữu Hải cho rằng:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định [23,tr.21].
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là một chính sách trong
hệ thống chính sách công nói chung và hệ thống chính sách dân tộc nói riêng.Đối tượng của chính sách hướng tới là đồng bào DTTS, vùng DTTS Theo điều
4, Nghị định số 05/ NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công
tác dân tộc thì DTTS là “những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “dân tộc
đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia” [2,tr.4]
Đồng bào DTTS cư trú thành những cộng đồng, những vùng dân tộc gọi là
vùng DTTS “Vùng DTTS là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[2,tr.4]
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS ra đời trên cơ sở cácchính sách về dân tộc và chính sách phát triển của Đảng và nhà nước ta Trong
đó, “chính sách dân tộc là những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp nhằm quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn
Trang 8hoá, xã hội đối với các dân tộc và vùng dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hoà nhập phát triển, củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc” [24 ].
Chính sách phát triển là “tổng thể các nguyên tắc hoạt động, cách thức thực hiện và phương pháp quản lý hành chính và ngân sách nhà nước làm cơ sở
và tạo lập môi trường cho sự phát triển” [24].
Ở đây, chúng ta có thể hiểu “ phát triển là kết quả của những thay đổi về giá trị, gắn liền với các thay đổi trong các hoạt động kinh tế và xã hội liên quan đến tăng cường sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống Phát triển dựa trên
4 trụ cột là: nhân lực, kinh tế, thể chế chính trị và xã hội” [24]
Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm về các chính sách liên quan, trong nộidung khóa luận tác giả xin đưa ra khái niệm chính sách phát triển kinh tế vùngđồng bào dân tộc thiểu số như sau:
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là chính sách công do Nhà nước ban hành, bao gồm tổ hợp những chính sách hướng tới mục tiêu phát triển về kinh tế cho vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống, thường gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS hướng tới vai trò tạodựng nền tảng phát triển cho các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết,tôn trọng cùng phát triển, phát huy năng lực nội sinh, hài hòa quan hệ các dântộc Bốn cách thức nhà nước trợ giúp phát triển qua chính sách gồm: Cung cấpcác nguồn lực, cơ sở vật chất cho các vùng, hộ gia đình Cách thức tổ chức đểtăng cường hoạt động của các tổ chức kinh tế, xã hội, tổ chức nghề nghiệp hoặcnăng lực tự tổ chức của cá nhân trong quá trình phát triển Giáo dục giúp ngườidân nâng cao dân trí, có thêm kiến thức, thông tin, kinh nghiệm cần thiết Bảođảm thực thi tốt các chính sách y tế và các chính sách an sinh xã hội khác
Mục tiêu chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là tạo ra sựbền vững về phát triển kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hóa và về môi
Trang 9trường Đẩy nhanh tốc độ tăng tưởng kinh tế, tăng cường ứng dụng, chuyển giaocác tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu,tạo sự chuyển biến mạnh về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tăng cường cảithiện sinh kế, nâng cao đời sống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo vệ tốtcác nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, nhất là tài nguyên rừng
và khoáng sản[24]
Thực tiễn tình hình nước ta hiện nay cho thấy, phần lớn đồng bào DTTS cóđời sống gặp nhiều khó khăn, kinh tế tại các vùng DTTS còn nghèo nàn, chậmphát triển do đó ban hành và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùngđồng bào DTTS là điều vô cùng cần thiết và cấp bách
1.1.2 Sự cần thiết phải thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có đặc điểm tiềmnăng kinh tế, bản sắc văn hoá, ngôn ngữ riêng nhưng cùng có chung truyềnthống đoàn kết xây đắp ngay từ thủa dựng nước và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa ngày nay
Các dân tộc thiểu số ở nước ta hầu hết cư trú và sinh sống ở vùng miền núi,một số ít ở đồng bằng, trải rộng trên 3/4 diện tích cả nước Đây là nơi đầu nguồncủa nhiều sông suối, có tiềm năng lớn về thuỷ lợi, thuỷ điện, là vùng có nhiều tàinguyên khoáng sản, là nơi có điều kiện đất đai phát triển nhiều loại cây côngnghiệp, cây ăn quả, đặc sản, chăn nuôi và phát triển nghề rừng, là nơi cung cấplâm thổ sản cho miền xuôi và xuất khẩu, các dân tộc vững vàng dũng cảm bảo
vệ dải biên giới đất liền với 3 nước Trung Quốc, Lào và Campuchia
Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, các văn kiện, Nghị quyết đã xácđịnh vị trí quan trọng của vùng đồng bào dân tộc và miền núi trong chiến lượcgiải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những chủ trương, chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng từng bước hoàn chỉnh
và dần dần được thể chế vào Hiến pháp của nước ta Nhà nước đã đầu tư mở
Trang 10mang vùng miền núi và cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là từ sauNghị quyết 22 -TW của Bộ Chính trị khoá 6 (tháng 11/1989) và quyết định 72-HĐBT năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủtrương, chính sách lớn phát triển kinh tế -xã hội miền núi, nên việc đầu tư chomiền núi và vùng dân tộc đã có bước chuyển biến căn bản cả về lượng và chất.Đến nay, bộ mặt miền núi và vùng dân tộc đã có những thay đổi đáng kể : Đờisống vật chất, tinh thần đồng bào các dân tộc được cải thiện, nhiều vùng đồngbào đã thoát cảnh đói như trước đây, tình trạng du canh du cư của đông bào một
số vùng nay đã từng bước ổn định, nhiều hộ đồng bào đã trở nên giàu có
Tuy nhiên, trên thực tế sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu
số thời gian qua vẫn trong nhịp độ chậm, chưa đồng đều ở mọi vùng, nhất làđồng bào ở vùng cao, biên giới, vùng sâu xa, tình trạng khó khăn, nghèo đói vẫncòn chiếm tỷ lệ cao, vẫn còn khoảng cách chênh lệch về đời sống giữa các vùng
và các dân tộc Hiện nay phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta có mức sốngthấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số Một số dântộc vẫn còn trong tình trạng tự cung tự cấp, du canh du cư Đời sống của đồngbào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăntrong quá trình phát triển kinh tế Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất lànhững nguyên nhân lịch sử để lại và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ởđịa bàn cư trú của đồng bào dân tộc, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội củacác dân tộc không đồng đều Một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tươngđối cao, nhưng còn nhiều dân tộc vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, chậm pháttriển
Chính vì thế, việc phát triển kinh tế, chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộcthiểu số là một trong những nhiệm vụ cấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra.Yêu cầu lúc này là phải nhanh chóng phát triển kinh tế, nâng cao đời sốngvậtchất cho đồng bào dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo đặc biệt là ở vùng sâu,vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn Đặc biệt cần phải xây dựng chính sáchphát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng
Trang 11cuộc sống cho bà con, rút hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữacác dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu sốkhông chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước đối với đồng bào dân tộcthiểu số mà còn là một trong những yếu tố quan trọng đóng góp to lớn trong tiếntrình phát triển nói chung của đất nước
1.1.3 Vai trò của chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trongnhững chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta Thực hiện chính sách này cóhiệu quả trong thực tế sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đối tượng thụ hưởng trựctiếp là đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng khác trong xã hội
Thứ nhất, chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần ổn định xã hội Thông qua việc thực
hiện chính sách và cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế sẽ làm giảm nhanh tỷ
lệ nghèo đói, nâng cao thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặcbiệt là khu vực miền núi, vùng còn nhiều khó khăn thúc đẩy tăng trưởng kinh tếbền vững, góp phần ổn định xã hội
Thứ hai, thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ từng bước thực hiện công bằng xã hội và nâng cao vị thế của đồng bào Nếu các chỉ tiêu cần đạt được thành công sẽ hạn chế được tốc độ gia tăng
khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân cư;cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận của đồng bào DTTS về các dịch vụ pháttriển sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản và nâng cao vị thế của đồng bào DTTS
Thứ ba, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS góp phần không nhỏ bảo vệ môi trường sống Chúng ta đều biết, nghèo đói,
kinh tế chậm phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường, một khinghèo đói được giải quyết, kinh tế phát triển thì môi trường cũng được bảo vệ và
Trang 12phát triển tốt hơn, đặc biệt là khu vực có có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sốngthường là khu vực miền núi, nơi có diện tích rừng lớn.
Thứ tư,chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tạo điều kiện nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ Thông qua thực hiện
chính sách với hàng loạt cơ chế, dự án và cách tiếp cận đa ngành để giải quyếtvấn đề phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp với các hoạtđộng đào tạo cán bộ theo phương pháp mới, chắc chắn năng lực của đội ngũ cán
bộ các cấp sẽ được nâng cao đặc biệt là cán bộ làm công tác phát triển kinh tế ởcấp cơ sở
Có thể thấy khi các chính sách này được đưa vào thực hiện trong đời sống
xã hội nó sẽ mang lại lợi ích không nhỏ không chỉ về kinh tế, mà còn mang lạinhững ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, quốc phòng, an ninh bởi đa số đồngbào DTTS cư trú tại miền núi, vùng sâu, biên giới, hải đảo Thực hiện tốt chínhsách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là góp phần thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng và nhànước ta đang theo đuổi
1.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm
Theo nguyên lý triết học, xung quanh chúng ta là các dạng vật chất tồn tạikhách quan với những chức năng nhất định Chức năng là lý do tồn tại của cácdạng thức vật chất nhất định Chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên
nó cũng cần thực hiện các chức năng để tồn tại Muốn thực hiện chức năng,chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các dạng thức vật chấtkhác Nghĩa là sau khi ban hành chính sách phải được đem vào thực hiện trongthực tế đời sống xã hội Do đó, tổ chức thực hiện (thực thi) chính sách là tất yếukhách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của
Trang 13Nhà nước và cũng là để đạt được mục tiêu đề ra của chính sách[21,tr.76] Từcách tư duy này có thể hiểu khái niệm tổ chức thực hiện chính sách như sau:
Tổ chức thực hiện (thực thi) chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng [21,tr.77].
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một chínhsách nằm trong hệ thống các chính sách của Nhà nước Nó muốn tồn tại, muốnphát huy tác dụng của mình thì cũng phải được đem vào thực thi, thực hiện trongthực tế đời sống
Tổ chức thực thi chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu
số là toàn bộ quá trình biến ý chí của Nhà nước thành hiện thực bao gồm các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu chỉnh cùng các biện pháp tổ chức thực thi nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Như vậy có thể thấy tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chínhsách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là một tất yếukhách quan, đáp ứng yêu cầu của thực tế đời sống xã hội
1.2.2 Vị trí, ý nghĩa của thực hiện chính sách
Chúng ta đều biết, tổ chức thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chutrình chính sách Nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách khôngthể tồn tại vì nó là bước trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sáchthành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách.Chúng ta đều biết hoạchđịnh một chính sách tốt là hết sức khó khăn và trải qua nhiều giai đoạn nhưngcho dù chính sách có tốt đến mấy nhưng nếu không được được tổ chức thực hiệnhay thực thi kém thì nó cũng không mang lại hiệu quả, không đạt được mục tiêu
mà uy tín của nhà nước cũng bị ảnh hưởng So với các khâu khác trong chu trìnhchính sách, tổ chức thực hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước thực
Trang 14hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội Chính sách có hiệu quả hay khôngphụ thuộc rất nhiều vào quá trình thực hiện chính sách [21,tr.77].
Tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện mục tiêu chính sách vàmục tiêu chung Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiềulĩnh vực nên không thể cùng giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt, và việc thựcthi chính sách giải quyết mối quan hệ biện chứng với mục tiêu chung do đó nó
có thể giải quyết các vấn đề đặt ra.Trong thực tế,mục tiêu chính sách chỉ có thểđạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời các mục tiêu của chính sách
có quan hệ và ảnh hưởng đến mục tiêu chung
Thực hiện chính sách cũng góp phần thể hiện sự đúng đắn của chínhsách.Qua thực thi giúp chính sách ngày càng hoàn chỉnh bởi trong quá trình thựchiện sẽ khắc phục những hạn chế của chính sách do quá trình hoạch định
Những luận giải đó cho ta thấy vị trí quan trọng của thực thi chính sách, từ
đó có ý thức tự giác trong thực thi chính sách Có thể thấy vai trò, vị trí của thựchiện chính sách qua sơ đồ [21,tr.32]:
Trang 15Chú thích: Chỉ sự luân chuyển trong chu trình chính sách Chỉ mối liên hệ trực tiếp
Từ vị trí của thực thi chính sách chúng ta đã nắm rõ được vị trí của nó trongchu trình chính sách cũng như tầm quan trọng của thực hiện chính sách tới hiệuquả của chính sách Vậy quy trình tổ chức thực hiện chinh sách bao gồm cácbước nào?
1.2.3 Các bước tổ chức thực hiện
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách, nên các cơ quannhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát saocông tác tổ chức thực hiện Để tổ chức điều hành có hiệu quả công tác thực thichính sách, cán bộ công chức nhà nước cần thực hiện nhiều nội dung quản lýkhác nhau, nhưng trước hết cần tuân thủ các bước thực hiện chính sách bao gồm
07 bước Chúng ta có thể khái quát quy trình qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2 Các bước tổ chức thực hiện chính sách
(1) (2) (3)
(4)
(7) (6) (5)
Chú giải: Chỉ sự luân chuyển trong thực hiện chính sách
Tổ chức thực hiện chính sách là một chuỗi các bước từ xây dựng kế hoạchcho tới đánh giá, tổng kết Theo đó, bước đầu tiên – lập kế hoạch thực hiệnchính sách chính là bước quan trọng nhất, bởi đó là bước đầu tiên làm cơ sở cho
Theo dõi, KT, đôn đốc TH
Phổ biến, tuyên truyền CS
Phân công, phối hợp thực hiện
Đánh giá, tổng
kết
Trang 16các bước tiếp theo Bước này cũng đã dự kiến cả việc triển khai thực hiện kếhoạch phân công thực hiện, tuyên truyền, kiểm tra…Tuy nhiên điều này không
có nghĩa là các bước còn lại trong thực hiện chính sách không quan trọng Mỗibước đóng vai trò nhất định trong quy trình và đều có ảnh hưởng tới kết quả vàhiệu quả của chính sách Về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa là trong quá trình
tổ chức thực hiện chính sách, bắt buộc phải thực hiện đầy đủ các bước, khôngđược bỏ qua một bước nào hay chỉ chú trọng một bước mà không làm tốt cácbước còn lại Giữa các bước có mối quan hệ khăng khít, gắn bó với nhau, thựchiện tốt bước này là tiền đề để bước sau hoàn thành tốt Do đó, một yêu cầutrong thực hiện chính sách đó chính là thực hiện đủ và đúng trình tự các bước
Tuy nhiên, do thực hiện chính sách là một quá trình thực tiễn nên trongquá trình triển khai tất yếu sẽ có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực
tế Nghĩa là trong thực tiễn, quá trình triển khai chính sách vẫn thực hiện đầy đủcác bước trong quy trình nhưng thứ tự một số bước có thể sẽ được thay đổi hoặcthực hiện xem kẽ nhau,
Các bước trong thực hiện chính sách được tiến hành thường xuyên, muốn thựchiện có hiệu quả cần phải nắm rõ nội dung cụ thể từng bước trong quá trình, nộidung cụ thể của 07 bước thực hiện chính sách như sau [21,tr.81]
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Đây là bước đầu tiên trong quá trình thực hiện Các cơ quan nhà nước từtrung ương tới địa phương phải tiến hành lập kế hoạch để có thể tiến hành mộtcách chủ động hoàn toàn Kế hoạch được xây dựng bao gồm:
- Kế hoạch về tổ chức, điều hành
- Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực
- Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách
- Dự kiến những nội dung, quy chế về tổ chức, điều hành…
Trang 17Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi chính sách có giá trịpháp lý, được mọi người chấp hành.
1.2.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Tuyên truyền phổ biến chính sách là khâu tiếp theo trong quy trình tổ chứcthực hiện chính sách Đây là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa đối với cả cơquan nhà nước và đối tượng chính sách
- Tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách,hiểu rõmục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách để họ tự giácthực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước
- Muốn tuyên truyền tốt chúng ta phải được đầu tư về trình độ chuyên môn,phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật…
- Tuyên truyền, vận dụng thực thi chính sách được thực hiện thường xuyên,liên tục bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với đối tượng tiếpnhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng… ngay cả khi chínhsách đang được thi hành nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất cho kết quả thực hiện
1.2.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Sau khi đã thông qua kế hoạch thực hiện chính sách và phổ biến, tuyêntruyền chính sách tới đối tượng, cần tiến hành phân công, phối hợp việc thựchiện Chính sách được thực hiện trên phạm vi lớn, vì thế số lượng các nhân vàcác cơ quan tham gia thực thi là rất lớn, các hoạt động cũng rất phong phú, phứctạp theo không gian và thời gian Do đó, muốn tổ chức thực thi chính sách cóhiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành,các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và cácquá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách
Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sáchmột cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phầnnâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
Trang 18Đối với người chấp hành chính sách có trách nhiệm tham gia thực hiện theoyêu cầu của Nhà nước và vận động lẫn nhau tích cực chấp hành chính sách củaNhà nước.
1.2.3.5 Điều chỉnh chính sách
Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyêntrong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Nó được thực hiện bởi cơ quanNhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản
lý và tình hình thực tế.Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì cóquyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc thực hiện điềuchỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, miễn là không làthay đổi mục tiêu chính sách
Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý nếu không sẽlàm biến dạng chính sách, làm cho chính sách kém hiệu quả thậm chí không tồn tạiđược Muốn đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng trên đây, cơ quan Nhà nước,các cấp, các ngành phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra đôn đốc việc thực thi thìmới kịp thời phát hiện ra những chênh lệch, sai sót để điều chỉnh,bổ sung
1.2.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Thực thi chính sách diễn ra trên địa bàn rộng và do nhiều tổ chức, cơ quantham gia Các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường ở mỗi địa phương cũngkhông giống nhau,năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ công chức cũng không
Trang 19đồng đều do đó các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành theo dõi kiểm tra việcthực thi chính sách Việc theo dõi, kiểm tra sẽ giúp nhà quản lý nắm được tìnhhình thực hiện chính sách từ đó đưa ra được những đánh giá chính xác, giúpphát hiện những sai sót trong quá trình hoạch định cũng như thực thi, tiến hành
bổ sung, điều chỉnh kịp thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách
1.2.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Tổ chức thực thi chính sách được tiến hành liên tục trong quá trình duy trìchính sách Đánh giá, tổng kết là quá trình xem xét về chỉ đạo – điều hành vàchấp hành của các đối tượng chính sách
Đối tượng được xem xét về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơquan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Ngoài ra còn xem xét vai trò của các tổchức chính trị - xã hội trong việc thực thi chính sách.Bên cạnh đó còn đánh giá
sự tham gia của các đối tượng chính sách vào quá trình thực thi chính sách baogồm các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và thụ hưởng gián tiếp từ chính sách,nghĩa là toàn bộ thành viên xã hội với tư cách là công dân
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách diễn ra trong thời gian dài và liênquan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng
sẽ chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố Nắm chắc được các yếu tố tác động,người chỉ đạo điều hành có thể thúc đẩy những yếu tố tác động tích cực, ngănchặn hay hạn chế các yếu tố tiêu cực đến việc tổ chức thực thi chính sách Đồngthời có thể tạo lập môi trường thuận lợi cho các yếu tố đó vận động phù hợp vớiyêu cầu định hướng Chúng ta có thể phân loại các yếu tố ảnh hưởng tới quátrình thực thi chính sách như sau[ 21,tr.90]:
1.2.4.1 Yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thựcthi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý Các yếu tốnày tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, ít tạo ra những biến đổi thất
Trang 20thường, do đó không gây được sự chú ý của các chủ thể quản lý.Nhưng tác độngcủa chúng đến quá trình thực thi chính sách lại rất lớn, vì cơ chế tác động giữachúng với các vấn đề chính sách được hình thành trên cơ sở của quy luật
[14.tr 91].Những yếu tố khách quan có thể kể ra đó là:
Tính chất của vấn đề chính sách
Yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính sách Có tác động đến việc giải quyếtvấn đề bằng chính sách và tổ chức thực thi chính sách Nếu vấn đề chính sách làđơn giản, liên quan đến ít đối tượng chính sách thì công tác tổ chức thực thi sẽthuận lợi hơn nhiều so với các vấn đề có tính phức tạp và có quan hệ lợi ích vớinhiều đối tượng trong xã hội[21,tr.91]
Chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là một chính sách lớn,vấn đề chính sách tương đối phức tạp bởi liên quan đến nhiều dân tộc, nhóm dântộc cũng như phạm vi thực hiện rộng lớn Bởi thế, công tác tổ chức thực hiệnchính sách này sẽ gặp không ít khó khăn Tính chất cấp bách của vấn đề chínhsách Phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS cũng tác động rất lớn đến kết quả
tổ chức thực thi chính sách Đây không phải là vấn đề bức xúc, nhưng là vấn đềmang tính chiến lược quan trọng, cần được giải quyết ngay Do đó nhà nước sẽ
ưu tiên các nguồn lực để thực hiện chính sách này trong thời gian sớm nhất.Trong điều kiện hiện nay Nhà nước ta đang ưu tiên cho chính sách phát triểnkinh tế cho bà con DTTS để nhanh chóng đáp ứng nhu cầu về chất lượng củađời sống của đồng bào, nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa , vùng đặcbiệt khó khăn Qua đó có thể thấy, tính chất của vấn đề chính sách là yếu tốkhách quan có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanhhay chậm, thuận lợi hay khó khăn…
Môi trường thực thi chính sách
Môi trường thực thi chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốctế…các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể nên nó
Trang 21độc lập với quá trình thực thi chính sách Theo nghĩa rộng, môi trường thực thichính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham giathực thi chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội, cácđiều kiện kinh tế kỹ thuật trong nền kinh tế, bầu không khí chính trị, xã hội trật
tự, quan hệ quốc tế rộng mở[21,tr.92]
Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xã hội ổn định,không biến đổi về mặt chính trị đưa đến sự ổn định trong hệ thống hệ thốngchính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực hiện chính sách phát triển kinh tếvùng đồng bào DTTS Mặt khác, trình độ tổ chức điều hành của các cơ quanNhà nước, với cơ chế chính sách đang tồn tại thì có tác dụng thúc đẩy các hoạtđộng tổ chức thực thi chính sách
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách thể hiện sự thống nhấthay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chínhsách[21,tr.93] Mục tiêu chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS làphát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất do đó đáp ứng được nguyện vọngcủa đồng bào DTTS Do không có mâu thuẫn về lợi ích nên khi chính sách nàyđược tổ chức thực hiện các đối tượng của chính sách mà cụ thể là DTTS thì bàcon hết sức ủng hộ, tham gia thực hiện chính sách nghiêm túc và tự giác Khôngchỉ mâu thuẫn lợi ích giữa các đối tượng chính sách làm ảnh hưởng đến côngtác tổ chức thực hiện, mà còn sự không đồng nhất giữa các cơ quan chỉ đạo, điềuhành thực thi chính sách
Tiềm lực của các đối tượng chính sách
Tiềm lực được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trongmối quan hệ so sánh với cá nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi íchđược thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội…cả về quy mô lẫntrình độ[21,tr.93]
Trang 22Đồng bào DTTS hầu hết đều đang sống trong tình trạng nghèo đói, đờisống còn nhiều khó khăn, tiềm lực kinh tế chưa thực sự mạnh, trình độ dân trícòn thấp Họ chưa có nguồn vốn để tự phát triển sản xuất mà phải phụ thuộc vàocác chính sách của Nhà nước Bên cạnh đó, do xuất phát điểm thấp cộng vớiviệc chưa nắm vững khoa học kỹ thuật nên năng suất sản xuất còn thấp… Đây
là một trong những tác nhân gây cản trở tới quá trình thực hiện chính sách pháttriển kinh tế vùng đồng bào DTTS
Đặc tính của đối tượng chính sách
Là những tính chất đặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữuhoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trình vận động mang tính lịch sử.Những đặc tính này thường có liên quan đến tính tự giác, tính kỷ luật, tính sángtạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống Đặc tính gắn liền với mỗi đối tượngthực thi chính sách nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợi haykiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá tình thực thi chínhsách[21,tr.94]
Thực tế ở nước ta cho thấy trong quá trình thực hiện các chính sách dântộc, những người làm quản lý phải am hiểu về đối tượng của họ Đồng bàoDTTS có tính cộng đồng rất cao, già làng là những người có uy tín, được đồngbào tôn trọng Bởi vậy, việc tranh thủ uy tín của những người này với đồng bào
sẽ tạo nên hiệu quả không nhỏ trong quá trình thực thi chính sách
1.2.4.2 Yếu tố chủ quan
Các yếu tố khách quan có tác động rất lớn đến quá trình tổ chức thực hiệnchính sách công nói chung và chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTSnói riêng, nên Nhà nước luôn quan tâm nghiên cứu ứng phó với các tác động củacác yếu tố này Đối với các yếu tố này chúng ta không thể cải biến tính kháchquan của nó, mà chỉ tìm cách điều chỉnh các hoạt động quản lý điều hành chophù hợp với quy luật vận động trong mỗi điều kiện không gian và thời gian.Những hoạt động như vậy hoàn toàn mang tính chủ ý của người tổ chức thực thi
Trang 23chính sách Các yếu tố thuộc về công quyền, do cán bộ - công chức chủ động chiphối đến quá trình thực thi chính sách được coi là những yếu tố chủ quan Dướiđây là một số những yếu tố chủ quan chi phối đến quá trình tổ chức thực thichính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS [21,tr.94].
Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách
Quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên ý khoa học đượcđúc rút từ thực tế cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một trong nhữngnguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước trong quy trình đều có vịtrí, ý nghĩa to lớn đối với quá trình thực thi chính sách Điều này có nghĩa là quátrình thực hiện chính sách sẽ bị ảnh hưởng nếu chúng ta không tuân thủ đúngquy trình tổ chức thực hiện chính sách, không thực hiện đầy đủ các bước trongquy trình hay làm sai thứ tự các bước [21,tr.95]
Với chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS cũng vậy, nếuchúng ta không tuyên truyền, phổ biến vận động chính sách tới đồng bào DTTSthì họ sẽ không nhận thức được đầy đủ mục tiêu chính sách, đồng thời cũngkhông thấy được lợi ích mang lại từ chính sách Nếu chúng ta tuyên truyền sâurộng về chính sách này cho bà con thì sẽ củng cố thêm niềm tin của mình vàochính sách của nhà nước
Sau khi làm rõ lợi ích của chính sách đối với đời sống của bà con, các cơquan nhà nước tiếp tục vận động đồng bào DTTS tích cực thực hiện Kết hợpvới các hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách với vận động thực thi sẽgiúp bà con nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác trong thực hiện chính sách.Đồng thời họ còn vận động lẫn nhau chấp hành chính sách, tạo thành nhữngphong trào thi đua thực hiện chính sách.Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động tổ chức thực thi chính sách
Trang 24 Năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước là yếu tố chủ quan cóvai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách Năng lực thực thicủa đội ngũ cán bộ công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh vềđạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phântích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh trongtương lai… Các cán bộ, công chức trong cơ quan công quyền khi được giaonhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấphành kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực thi Tinh thầntrách nhiệm và ý thức chấp hành được biểu hiện thành năng lực thực tế Đây làyêu cầu quan trọng đối với mỗi cán bộ công chức để thực hiện việc chuyển tải ý
đồ chính sách của Nhà nước vào cuộc sống Nếu thiếu năng lực thực tế, các cơquan có thẩm quyền tổ chức thực thi chính sách sẽ đưa ra những kế hoạch dựkiến không sát với thực tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực,hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trìnhthực hiện…năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ công chức còn thểhiện ở thủ tục giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nướcvới các cá nhân và tổ chức trong xã hội Nhìn chung, cán bộ , công chức có nănglực thực thi chính sách tốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủquan tác động theo định hướng, mà còn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cựccủa các yếu tố khách quan để công tác tổ chức thực thi mang lại hiệu quả thực
sự [21,tr.96]
Điều kiện vất chất cần cho quá trình thực thi chính sách
Chúng ta đều biết, điều kiện vất chất cần cho quá trình thực thi chính sách
là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thựchiện thắng lợi chính sách của Nhà nước Theo quy luật phát triển, các hoạt độngkinh tế xã hội ngày càng được tăng cường về quy mô và trình độ để thỏa mãnnhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội Quy mô các hoạt động trên không
Trang 25chỉ tăng về lượng mà còn lan tỏa trên một không gian rộng, vượt ra khỏi phạm
vi biên giới quốc gia đồng thời đa dạng, phức tạp hơn[21,tr.97]
Điều đó nghĩa là trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tếvùng đồng bào DTTS Nhà nước phải tăng cường nguồn lực vật chất và nhân sự,trong đó nguồn lực vật chất cần tăng nhanh về số lượng và chất lượng Chínhsách này sẽ không thể thực hiện nếu thiếu vốn đầu tư, hoặc quá trình giải ngânvốn chậm, điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chính sáchđồng thời tăng chi phí phát sinh, ảnh hưởng tới hiệu quả chung của chính sách Bên cạnh đó, nếu trong quá trình thực hiện các điều kiện kinh tế kỹ thuật,máy móc không đáp ứng yêu cầu cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chính sáchnói chung.Ví dụ như đầu tư hệ thống loa phát thanh sẽ giúp quá trình tuyêntruyền, phổ biến chính sách tới đồng bào DTTS một cách thường xuyên hơn,giúp họ nắm rõ chính sách hơn và tự giác thi hành chính sách hơn
Trong thực tế, chỉ cần thiếu các điều kiện vật chất kỹ thuật cho công táctuyên truyền, phổ biến chính sách thì cơ quan nhà nước khó chuyển tải nội dungchính sách đến đối tượng một cách thường xuyên, quá trình thực hiện chính sáchcũng vì thế mà bị ảnh hưởng rất lớn
Trang 26tình của nhân dân đặc biệt là đồng bào DTTS Còn nếu nó không thiết thực,không phù hợp với trình độ hiện có của nhân dân thì sẽ bị “ tẩy chay ” hoặc bị
“bỏ rơi” không thực hiện.Tóm lại, một chính sách muốn được triển khai thựchiện tốt và đạt hiệu quả thì cần có sự tham gia, ủng hộ của người dân như bác
Hồ đã từng nói : “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũngxong”[21,tr.98]
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Các dân tộc thiểu số ở nước ta cứ trú trên địa bàn rộng, hầu hết đời sốngcòn nhiều khó khăn do đó việc thực hiện các chính sách để phát triển kinh tế chođồng bào là điều không chỉ Đảng, nhà nước mà chính quyền các địa phươngcũng rất quan tâm.Trong nội dung khóa luận, tác giả xin đưa ra kinh nghiệm củamột số địa phương trong công tác phát triển kinh tế vùng DTTS như sau:
“ Thứ nhất, thường xuyên quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mọi cán bộ, đảng viên và toàn thểquần chúng nhân dân để cán bộ, và quần chúng nhận thức sâu sắc quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhất là các chính sách về dân tộc, từ
đó đồng tình với chính sách trong quá trình thực hiện rất quan trọng, nâng cao ýthức trách nhiệm của người dân, góp phần lớn trong thực hiện hiệu quả cácchương trình, chính sách
Thứ hai, tạo sự thống nhất đoàn kết cao trong cấp uỷ và chính quyền địa
phương từ tỉnh đến cơ sở Đội ngũ cán bộ thường xuyên theo dõi tìm hiểu tâm tưnguyện vọng của đồng bào trên mọi lĩnh vực như về sản xuất và đời sống, laođộng và việc làm, về tình hình an ninh trật tự xã hội trong vùng đồng bào dântộc thiểu số Qua đó kịp thời tham mưu, đề xuất với các cấp uỷ đảng và chínhquyền địa phương giải quyết nhằm tháo gỡ những bức xúc khó khăn, ổn địnhđời sống và an ninh trật tự
Trang 27Thứ ba, trong công tác vận động đồng bào dân tộc đã chú trọng tư tưởng
đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “các dân tộc thiểu số đều là anh em”.Khi tiến hành công tác vận động đã chú trọng đổi mới cả về nội dung và hìnhthức do đó cán bộ làm công tác ở vùng dân tộc phải nắm vững phương châm
“chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách
“trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân”
Thứ tư, thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở, các chương trình dự án cụ thể
triển khai ở khu dân cư đều được công khai để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”
Thứ sáu, do đặc thù là tỉnh có nhiều thành phần đồng bào dân tộc thiểu số
nên việc phát huy vai trò, người có uy tín trong đồng bào để cùng tham gia xâydựng hệ thống chính trị ở cơ sở, tham gia công tác xoá đói giảm nghèo và theodõi giám sát việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế đã mang lại hiệu quảtích cực
Thứ bảy, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ làm công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc và cộng đồng rất cần thiết,nhất là cán bộ cấp xã, thôn, bon Đây là cấp trực tiếp trong việc bình xét đốitượng chính sách, đề xuất nhu cầu thực hiện chính sách sát thực tế
Thứ tám, công tác kiểm tra, giám sát luôn giữ vị trí quan trọng và được
thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện, qua đó phát hiện kịp thờinhững sai phạm để điều chỉnh, xử lý; những khó khăn vướng mắc được tháo gỡkịp thời; có biện pháp ngăn chặn thất thoát trong đầu tư, uốn nắn kịp thời, không
để xảy ra hậu quả nghiêm trọng
Thứ chín, phải xây dựng lộ trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào
dân tộc thiểu số để làm cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện tổng thể cho giaiđoạn và từng năm Phải lồng ghép được nguồn vốn của các chương trình, chínhsách trên cùng một địa bàn để đảm bảo các nguồn vốn thực hiện đầu tư mang lạihiệu quả”[26]
Trang 28TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một chủ trương lớn củaĐảng và nhà nước ta Sự ra đời của chính sách này không chỉ đáp ứng yêu cầucấp thiết hiện nay là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bà con DTTS; rútngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, miền và giữadân tộc đa số và dân tộc thiểu số… mà còn góp phần giải quyết những vấn đềmang tính lâu dài và chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng…
Để đảm bảo hiệu quả thực hiện, các cơ quan nhà nước cần phải cần xácđịnh rõ trình tự các bước khi tiến hành thực hiện chính sách, tìm hiểu những yếu
tố nào có thể gây ảnh hưởng tới quá trình thực thi ,từ đó đưa ra các biện pháptác động phù hợp, đồng thời không ngừng tham khảo, học tập kinh nghiệm củacác địa phương khác trong việc triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tếvùng DTTS nhằm hướng tới kết quả cao nhất
Nắm được lý luận về chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS vàquá trình tổ chức thực hiện chính sách này là cơ sở, tiền đề để tác giả nghiêncứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác này trong chương tiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN KHÁNH SƠN, TỈNH KHÁNH HÒA
2.1 Khái quát chung về huyện Khánh Sơn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Khánh Sơn là huyện miền núi cực tây của tỉnh Khánh Hòa, phía Bắc giáphuyện Ninh Hoà và tỉnh Đắk Lắk, phía Đông giáp huyện Diên Khánh, phíaNam giáp huyện Khánh Sơn, phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Lâm Đồng Địa phận huyện nằm ở đầu nguồn của sông Cái Nha Trang với diện tíchrừng chiếm 90% diện tích tự nhiên
Khánh Sơn có địa hình chủ yếu là đồi núi và phân thành 2 khu vực chính.Khu vực phía Đông, dọc theo lưu vực các phụ lưu của sông Cái chủ yếu là cácđồi thấp, khu vực phía tây và phía Nam chủ yếu là các núi cao với nhiều đỉnhnúi cao từ 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062 m) làđỉnh núi cao nhất tỉnh Khánh Hòa Do nằm ở thượng nguồn của sông Cái NhaTrang, huyện Khánh Sơn có mật độ sông suối cao hơn so với các huyện kháctrong tỉnh Mật độ sông suối bình quân là 0,65 km/km² Hầu hết sông suối đềuxuất phát từ các dãy núi cao ở phía Nam, Tây và Bắc rồi tập trung về sông ThácNgựa và sông Chò chảy về sông Cái Nha Trang [29]
Khí hậu, thời tiết không thuận hòa, khắc nghiệt, mưa nắng không đều,thường xảy ra hạn hán và lũ lụt đã ảnh hưởng xấu đến thời vụ gieo trồng và đilại của người dân
Tài nguyên khoáng sản của Khánh Sơn chủ yếu gồm thiếc, cao lanh vàcác loại gỗ quí hiếm Khánh Sơn có 87.198,99 ha đất rừng Độ che phủ thườngxuyên chiếm 75% diện tích tự nhiên của huyện với tổng trữ lượng gỗ lên đến 10triệu m3, trong đó khoảng 9 triệu m3 tập trung ở rừng rậm và rừng trung bình
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Trang 30Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 1.165km2 Trong đó, diện tích đấtlâm nghiệp chiếm 72,2%, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 9,5% các diện tích đấtkhác chiếm 18,3% Do địa hình tự nhiên có nhiều đồi núi và sông suối có độ dốclớn nên việc khai thác tiềm năng đất đai chủ yếu là phục vụ sản xuất lâm nghiệp,trồng rừng, riêng đối với sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếukhai thác các diện tích đất sản xuất nông nghiệp có độ dốc dưới 15%.
Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý của huyện có tiềm năng lớn để phát triểnkinh tế lâm - nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông -lâm sản, dịch vụ dulịch sinh thái Đồng thời, có tầm quan trọng rất lớn về môi trường sinh thái và
an ninh - quốc phòng đối với tỉnh Khánh Hòa
Dân số toàn huyện có 33.991 người Nhờ thực hiện chính sách định canhđịnh cư nên dân cư ở các xã hiện nay phân bố tập trung thành các khu, điểm dân
cư lớn và khá tập trung ven các trục đường giao thông, gần nguồn nước, thuậnlợi cho việc phục vụ các yêu cầu về điện, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và sảnxuất
Nhân lực lao động dồi dào, chiếm 52,3% nhưng do mặt bằng dân trí vàđiều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế nên chủ yếu là lao động trong lĩnh vực sảnxuất nông-lâm nghiệp, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỉ lệ rấtthấp trong tổng nguồn lao động của huyện và chủ yếu làm việc trong các cơquan nhà nước, doanh nghiệp Đến cuối năm 2009, tổng giá trị nền kinh tế theogiá hiện hành đạt 279 tỷ đồng, trong đó ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản đạt
96 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 34,6% trong cơ cấu kinh tế, ngành công nghiệp - xâydựng đạt 63,8 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 22,9% trong cơ cấu kinh tế và ngànhThương mại - Dịch vụ đạt 118,6 tỷ đồng, chiếm tỉ trọng 42,5% trong cơ cấu cácngành kinh tế Thu nhập bình quân đầu người đạt 8,7 triệu đồng/người/năm;lương thực bình quân đầu người đạt 166,8kg/người/năm Tốc độ tăng trưởng đạt9,6%[17,tr.3]
2.1.3 Đặc điểm dân tộc và vùng dân tộc thiểu số
Trang 31“Huyện Khánh Sơn có 15 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó: dân tộcKinh là 8.933 người, chiếm tỉ lệ 26,3% và các dân tộc thiểu số là 25.058 người,chiếm tỉ lệ 73,7%, gồm: dân tộc Raglai 16.618 người, T’Rin 4.796 người, ÊĐê1.541 người, Tày 1.165 người, Nùng 658 người, Mường 180 người và các dântộc: Dao, M’Nông, Thái, Hoa, Chăm, Thổ, H’Rê, Khơ Me là 100 người Các dântộc trên địa bàn huyện mặc dù có khác nhau về phong tục, văn hóa truyền thốngnhưng thắm tình đoàn kết, giao lưu, gắn bó nhau thành một khối thống nhất,cùng nhau xây dựng huyện miền núi Khánh Sơn vươn lên xóa đói giảm nghèo,đẩy lùi các tập tục lạc hậu, tiến tới cuộc sống văn minh, ấm no, hạnhphúc”[17,tr.4]
Huyện Khánh Sơn có nhiều địa bàn còn khó khăn về điều kiện và tiềmnăng phát triển kinh tế xã hội, đời sống bà con dân tộc còn khó khăn, nhưng về
cơ bản hệ thống cơ sở hạ tầng về điện, đường, trường, trạm, nước sinh hoạt đãđáp ứng phục vụ đời sống cho bà con
Chúng ta có thể thấy, Khánh Sơn là một huyện nghèo, kinh tế chưa phát triển với những đặc điểm đặc thù về tự nhiên, kinh tế xã hội và dân tộc Quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn bởi chịu sự ác động của các đặc điểm ấy, đó là:
- Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và địa hình hết sức phức tạp, địa hình bịchia cắt mạnh bởi đồi núi, sông suối, địa hình hiểm trở nên giao thông đi lại vàtrao đổi hàng hoá, tư liệu sản xuất gặp nhiều khó khăn
- Địa bàn thuộc vùng gò đồi miền núi, vùng sâu, vùng xa diện tích đất tựnhiên rộng lớn nhưng chủ yếu là đồi núi, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít,địa hình dốc rất khó khăn cho trong sản xuất nông nghiệp Mùa mưa rửa trôimạnh, mùa khô thiếu nước sản xuất, độ màu mỡ của đất thấp nên năng suất câytrồng không cao, đặc biệt là lương thực Đảm bảo an ninh lương thực là vấn đềquan trọng cho đồng bào DTTS
Trang 32- Địa bàn rộng lớn nhưng dân cư sống thưa thớt, phân bố rải rác dẫn đếnkhó khăn trong triển khai thực hiện các chương trình chính sách Có nhiều chínhsách hỗ trợ đầu tư nhưng kinh phí bình quân/xã, thôn ở một số chương trình,chính sách là quá thấp trong khi địa phương quá khó khăn, yêu cầu đầu tư quálớn, cộng với địa hình phức tạp nên công tác lựa chọn và phê duyệt đầu tư rấtkhó khăn, đặc biệt các công trình giao thông, nước sạch, thuỷ lợi, nhà sinh hoạtcộng đồng
- Đa số đồng bào DTTS có trình độ dân trí khá thấp, trình độ sản xuất lạchậu, tập quán truyền thống và hủ tục còn nhiều gây ra nhiều khó khăn cho việcthực hiện các chương trình chính sách, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đầu tưphát triển sản xuất, nâng cao năng lực cộng đồng, cán bộ để xã làm chủ đầu tư,công tác duy tu bảo dưỡng công trình sau khi đưa vào sử dụng
- Trình độ quản lý, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ xã rất hạn chế.Cán bộ kỹ thuật về giao thông, thủy lợi, xây dựng, nông – lâm nghiệp còn thiếu
và yếu; đa phần cán bộ tăng cường cho xã thiếu trình độ chuyên môn, kỹ thuật;ban giám sát xã hoạt động không hiệu quả; cơ chế quản lý còn mang nặng tínhđịa phương và di chứng của cơ chế kế hoạch hoá trước đây còn mạnh, hiệntượng “quan liêu, ỷ lại và chờ bao cấp” còn nhiều nên nhiều nơi công tác côngkhai, dân chủ còn hình thức; triển khai kế hoạch chậm, khó khăn trong lựa chọnhoạt động, công trình và vì thế một số hoạt động hoặc công trình chưa đáp ứngnguyện vọng của người dân
- Do trình độ dân trí, trình độ sản xuất thấp, trong khi phong tục tập quánsinh hoạt, sản xuất lại ăn quá sâu vào máu huyết của người dân thôn, bản nên kếtquả và hiệu quả của nhiều chương trình chính sách hỗ trợ đầu tư đặc biệt cácchính sách cho vay vốn phát triển sản xuất, chính sách hỗ trợ phát triển sảnxuất khá thấp Người dân gặp rất nhiều khó khăn trong làm ăn, tính toán xácđịnh cây trồng sản xuất, sản phẩm hàng hoá xuất bán để có lợi cao hơn, ngườidân chưa biết cách phòng tránh rủi ro trong sản xuất, trong thị trường chưa có
Trang 33kiến thức quản lý kinh tế hộ, cân đối tài chính thu chi nên khả năng xoá đóigiảm nghèo và vươn lên làm giàu là rất khó.
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn
2.2.1 Các chính sách đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Khánh Sơn trong thời gian qua
Phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS là một chủ trương lớn của đảng vànhà nước, do đó trong thời gian qua đã có rất nhiều văn bản từ Trung ương tớiđịa phương được ban hành nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hộivùng miền núi và vùng DTTS Trong nội dung khóa luận, tác giả chỉ xin đề cậptới một số chính sách được ban hành trong thời gian gần đây về đầu tư phát triểnkinh tế - xã hội đối với khu vực đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang được thựchiện trên phạm vi cả nước nói chung và huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa nóiriêng
Văn bản do Trung ương ban hành
- Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các
xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135)
- Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủtướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nướcsinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chươngtrình 134)
- Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặcbiệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi - Giai đoạn 2006-2010
- Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặcbiệt khó khăn(quyết định 32)
Trang 34- Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Về việc sửa đổi một số điều của Quyết định số 32/2007/QĐ-TTgngày 05 tháng 3 năm 2007 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộdân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn (quyết định 126).
- Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ Vềviệc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở vànước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sốngkhó khăn
- Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về việc ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dântộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015
- Chỉ thị số 16/2003/CT-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướngChính phủ về việc tăng cường quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trìnhPhát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miềnnúi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135)
- Thông tư số 01/2006/TT-BXD ngày 17 tháng 5 năm 2006 của Bộ Xâydựng hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầngthuộc chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùngđồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010
Văn bản do tỉnh Khánh Hòa ban hành
- Nghị quyết số 12/2011/NQ-HĐND ngày 21/7/2011 của HĐND tỉnhKhánh Hòa về chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộcthiểu số nghèo ở vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011 –2015
- Nghị quyết số 29/NQ-HĐND ngày 08/12/2011 của HĐND tỉnh KhánhHòa về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miềnnúi giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020
Trang 35- Quyết định số 77/2006/QĐ-UBND ngày 15 tháng 09 năm 2006 củaUBND tỉnh Khánh Hòa về việc ban hành Chương trình phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, hải đảo tỉnh KhánhHoà, giai đoạn 2006 – 2010.
- Quyết định số 678/QĐ-UBND ngày 16/3/2010 của UBND tỉnh KhánhHòa về việc giao bổ sung kế hoạch vốn năm 2010 để thực hiện gồm: hỗ trợ muasắm nông cụ, máy móc; hỗ trợ lao động học nghề và hỗ trợ lao động mua sắmnông cụ, máy móc
- Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 08/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnhKhánh Hòa về việc quy định hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ởmiền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Khánh Hoà, giai đoạn
2011 - 2015
Văn bản do huyện Khánh Sơn ban hành
- Nghị quyết số 18/NQ-HĐND ngày 27/12/2012 của Hội đồng nhân dânhuyện Khánh Sơn về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dântộc thiểu số và miền núi huyện Khánh Sơn giai đoạn 2012-2015 và năm 2012
- Chương trình số 66/CTr-UBND ngày 17/01/2013 của UBND huyệnKhánh Sơn về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miềnnúi huyện Khánh Sơn giai đoạn 2012-2015 (chương trình 66)
Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Trung ương và địa phương, huyệnKhánh Sơn đã và đang tiến hành tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tếvùng đồng bào DTTS
2.2.2 Tình hình triển khai thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn
2.2.2.1 Chương trình 134
Tình hình triển khai
Trang 36Chương trình 134 đầu tư trên địa bàn huyện từ năm 2006 đến năm 2009 vànăm 2010 tiếp tục thực hiện theo Quyết định 1592/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ bằng nguồn vốn ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh, hỗ trợ cho
hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
Triển khai thực hiện chương trình 134, UBND tỉnh Khánh Hòa đã chỉ đạoBan Dân tộc tỉnh chủ trì, phối hợp với các huyện xây dựng đề án hỗ trợ đất sảnxuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, đờisống khó khăn Căn cứ nội dung đề án và chỉ tiêu ngân sách Trung ương phân bổhàng năm, UBND tỉnh phân bổ cho các huyện thực hiện và hướng dẫn tổ chứckhai thác gỗ hỗ trợ làm nhà Căn cứ vào nội dung đề án và chỉ tiêu ngân sáchtỉnh phân bổ, UBND huyện Khánh Sơn đã tổ chức hội nghị triển khai, điều tra,bình xét đối tượng thụ hưởng chính sách, rà soát quy hoạch các công trình cấpnước sinh hoạt để xây dựng Cụ thể:
Đối với nhà ở, có 3 hình thức thực hiện là hộ dân tự làm nhà (hộ nhận tiền
hỗ trợ trực tiếp), xã nhận làm cho dân và Ban quản lý chương trình hợp đồng
XD nhà cho dân (trường hợp hộ không tự làm, xã không nhận làm)
Đối với đất sản xuất, có 2 hình thức thực hiện là hộ đăng ký tự khai hoang,UBND xã lập danh sách và sơ đồ thửa đất (hộ nhận tiền hỗ trợ trực tiếp) vàtrường hợp khai hoang tập trung, địa phương hợp đồng đơn vị nhận thầu thicông bằng cơ giới, sau đó chia cho hộ thụ hưởng
Đối với đất ở, trên cơ sở quy hoạch bố trí đất ở của các xã, UBND huyệnkiểm tra, lập danh sách cấp đất cho hộ nghèo
Kết quả thực hiện
Chương trình 134 bao gồm các nội dung: hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở
và nước sinh hoạt Tuy nhiên, do một số nguyên nhân khách quan nên vấn đề hỗtrợ đất ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc không thực hiện được mà chỉ đầu
tư hỗ trợ 02 nội dung là nhà ở và nước sinh hoạt
Trang 37Riêng Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề theo Quyết định số 678/QĐ-UBNDngày 16/3/2010 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc giao bổ sung kế hoạch vốnnăm 2010 để thực hiện Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủtướng Chính phủ gồm: hỗ trợ mua sắm nông cụ, máy móc; hỗ trợ lao động họcnghề và hỗ trợ lao động mua sắm nông cụ, máy móc do nguồn vốn thuộc ngânsách TW chưa phân bổ (chỉ mới phân bổ nguồn vốn ngân sách tỉnh) nên chưathực hiện được[16].
- Hỗ trợ nhà ở
Hỗ trợ nhà ở là mục tiêu được địa phương quan tâm ưu tiên thực hiện trongsuốt quá trình triển khai thực hiện chính sách 134 Tính đến cuối năm 2009, vớinguồn Ngân sách phân bổ và nguồn vốn huy động, Khánh Sơn đã đầu tư hỗ trợ1.501 nhà cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo khó khăn về nhà ở - kinh phí15.936,74 triệu đồng[16] Nhà được xây bảo đảm về chất lượng, đủ các tiêu
chuẩn 3 cứng: nền cứng, vách cứng và mái cứng, cấu trúc, diện tích của căn nhà
phù hợp với điều kiện sinh hoạt và phù hợp với phong tục tập quán của đồng
bào DTTS (xem phụ lục ).
Việc đầu tư hỗ trợ nhà ở cho bà con các dân tộc theo Chương trình 134 đãtạo điều kiện cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ổn định cuộc sống, xóanhà tranh tre tạm bợ, từng bước vươn lên thoát nghèo Bà con các dân tộc rấthưởng ứng và phối hợp tốt với chính quyền trong việc bình chọn đối tượng hộnghèo khó khăn về nhà ở để đề nghị nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà, đồng thờitrong quá trình thi công xây dựng đã làm tốt công tác giám sát, quản lý vật tư.-
- Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất
Mức hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số theochương trình 134 là tối thiểu 0,5ha/hộ đối với đất nương rẫy hoặc 0,25ha/ hộ đốivới đất ruộng lúa nước 01 vụ hoặc 0,15ha/hộ đối với đất ruộng lúa nước 02 vụ;tối thiểu 200m2/hộ đối với đất ở Nội dung này không thực hiện được trên địa