Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, an ninh quốc phòng được giữ vững. Tuy nhiên, những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Kinh tế phát triển chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, công tác quy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp có đến 60,9 triệu người sống ở khu vực nông thôn chiếm 69,4% dân số cả nước 1. Với một nguồn lao động dồi dào khi mỗi năm nước ta có thêm gần 1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, đây là những nhân tố then chốt đóng vai trò quan trọng cho mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn lao động vẫn làm việc bằng kinh nghiệm không qua đào tạo bài bản, thiếu tổ chức, thiếu quy hoạch, việc tiếp cận và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến của người lao động còn nhiều hạn chế dẫn đến năng suất lao động và hiệu quả sản xuất thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của nền kinh tế và sự phát triển của xã hội. Niên giám thống kê năm 2012, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo của cả nước khoảng 30%, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 12,8%. Chính vì vậy, nhiệm vụ đặt ra ngay lúc này là cần phải chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực hiện có. Nhận thức vấn đề này, ngày 19 tháng 4 năm 2011 Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020. Mục tiêu của chiến lược là tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, tạo điều kiện cho mọi người dân đều có cơ hội được làm việc, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề. Đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực nông thôn với chỉ số ước đạt 55% lao động có tay nghề cao, có khả năng đáp ứng những thách thức của nền kinh tế thị trường trong hiện tại và tương lai. Một trong những giải pháp quan trọng được chiến lược hướng đến là tiến hành đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Trên những cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn về đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng. Tuy nhiên, để chính sách mang lại hiệu quả cao, hoàn thành những mục tiêu đề ra thì việc tổ chức thực thi chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thành công của sự nghiệp CNH HĐH đất nước. Vĩnh Linh là huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Trị. Cùng với sự phát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế xã hội của huyện dần đi vào ổn định và có chiều hướng tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng và cơ bản của huyện, thu hút nhiều lao động nông thôn. Trong thời gian qua, trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận, bước đầu đã hoàn thành kế hoạch đặt ra, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, doanh nghiệp. Bên cạnh những kết quả đã thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, thiếu hợp lý. Nhiều nội dung thực hiện chính sách còn lúng túng, bị động dẫn đến hiệu quả mang lại không cao. Chính vì vậy, trong thời gian tới để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nền sản xuất thuần nông sang sản xuất đa ngành nghề và đẩy mạnh phát triển công nghiệp dịch vụ thì việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện cần phải được đổi mới, chú trọng hơn nữa. Từ thực tiễn đặt ra đó nên tác giả tiến hành lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã tranh thủ thời
cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để đạt được những thành tựu to lớn
và rất quan trọng Đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, anninh quốc phòng được giữ vững Tuy nhiên, những thành tựu đó vẫn chưa tương xứngvới tiềm năng của đất nước Kinh tế phát triển chưa bền vững Chất lượng tăng trưởng,năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, công tác quy hoạch, kế hoạch
và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả, đầu tư còn dàntrải Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậmchuyển sang phát triển theo chiều sâu Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếukém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trongmột bộ phận xã hội xuống cấp Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tàinguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sáchđất đai có mặt chưa phù hợp Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực,kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển Nền tảng đểViệt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy
đủ, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp có đến 60,9 triệu người sống ở khu vực nôngthôn chiếm 69,4% dân số cả nước [1]
Với một nguồn lao động dồi dào khi mỗi năm nước ta có thêm gần 1 triệu người
bổ sung vào lực lượng lao động, đây là những nhân tố then chốt đóng vai trò quantrọng cho mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Tuynhiên, phần lớn lao động vẫn làm việc bằng kinh nghiệm không qua đào tạo bài bản,thiếu tổ chức, thiếu quy hoạch, việc tiếp cận và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiếncủa người lao động còn nhiều hạn chế dẫn đến năng suất lao động và hiệu quả sản xuấtthấp, ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của nền kinh tế và sự phát triển của xãhội Niên giám thống kê năm 2012, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo của cảnước khoảng 30%, trong đó lao động qua đào tạo nghề chiếm 12,8% Chính vì vậy,nhiệm vụ đặt ra ngay lúc này là cần phải chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiệnđại, nâng cao chất lượng và trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực hiện có Nhậnthức vấn đề này, ngày 19 tháng 4 năm 2011 Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược phát
Trang 2triển nguồn nhân lực đến năm 2020" Mục tiêu của chiến lược là tập trung phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao, đa ngành, đa lĩnh vực, tạo điều kiện cho mọi ngườidân đều có cơ hội được làm việc, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề.Đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực nông thôn với chỉ số ước đạt 55% lao động cótay nghề cao, có khả năng đáp ứng những thách thức của nền kinh tế thị trường tronghiện tại và tương lai Một trong những giải pháp quan trọng được chiến lược hướngđến là tiến hành đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Trên những cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chínhsách lớn về đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng Tuynhiên, để chính sách mang lại hiệu quả cao, hoàn thành những mục tiêu đề ra thì việc
tổ chức thực thi chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến sự thànhcông của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Vĩnh Linh là huyện vùng cao nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Trị Cùng với sựphát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội của huyện dần đi vào ổn định
và có chiều hướng tăng trưởng tốt Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sản xuất vậtchất quan trọng và cơ bản của huyện, thu hút nhiều lao động nông thôn Trong thờigian qua, trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, việc tổ chứcthực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện đã có nhiềuchuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng ghi nhận, bước đầu đã hoànthành kế hoạch đặt ra, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, doanh nghiệp Bên cạnh những kết quả đã thì vẫn còn tồn tại nhiều hạnchế, chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, thiếu hợp lý Nhiều nộidung thực hiện chính sách còn lúng túng, bị động dẫn đến hiệu quả mang lại khôngcao Chính vì vậy, trong thời gian tới để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàlao động từ nền sản xuất thuần nông sang sản xuất đa ngành nghề và đẩy mạnh pháttriển công nghiệp dịch vụ thì việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nôngthôn trên địa bàn huyện cần phải được đổi mới, chú trọng hơn nữa
Từ thực tiễn đặt ra đó và được sự phân công thực tập tốt nghiệp của Khoa Hànhchính học - Học viện hành chính Quốc gia cơ sở TP Hồ Chí Minh nên tác giả tiến
hành lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến đào tạo nghề
Trang 3cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng:
- Luận văn: “Thực trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay” (2008) của ThS Phan Minh Hiền - Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam, nghiên cứu thực trạng các khía cạnh về cơ cấu trình độ đào tạo, số lượng, chất
lượng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của đào tạo nghề đáp ứng nhu cầudoanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay
- Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề tại Việt Nam”(2008) của tác giả Bùi Tô Hiến, nghiên cứu về thực trạng và tình hình sử dụng
lao động đã qua đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả sử dụng lực lượnglao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam trong thờigian tới
- Đề tài nghiên cứu “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn con đường ngắn nhất đưa khoa học kỹ thuật về nông thôn” (2009) của tác giả Phan Tuấn Minh -
Trường Cao đẳng NN&PTNT Bắc Bộ, nghiên cứu về vai trò của quan trọng của đào
tạo nghề cho LĐNT trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỷ thuật vào sản xuấtnông nghiệp theo hướng hiện đại ở khu vực nông thôn
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học của các hình thức dạy nghề nâng cao kiến thức cho lao động nông thôn” (2009) của tác giả
Phạm Thanh Hải, đề tài tập trung vào nghiên cứu những lý do, căn cứ mang tính khoa
học của việc sử dụng các hình thức dạy nghề cho người LĐNT phù hợp với tình hìnhthực tiễn của địa phương
- Khóa luận tốt nghiệp“Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” (2009) của tác
giả Phạm Thị Khánh Quỳnh - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đề tài tập trung
phân tích thực trạng của công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên cơ sở tình hình kinh tế,
xã hội của huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiếnnghị nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề cho huyện Thanh Liêm trongnhững năm tiếp theo
- Luận văn “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” (2012) của tác giả Phan Văn Bình - Trường Đại học Đà Nẵng, nghiên
cứu về thực trạng đào tạo nghề cho LĐNT tại huyện Điện Bàn, trên cở sở phân tíchthực trạng đó nhằm đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho
Trang 4Cùng nghiên cứu về vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT nhưng mỗi đề tài tiếp cậndưới góc độ khác nhau Các kết quả nghiên cứu trên về cơ bản đã có đóng góp nhấtđịnh trong việc nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho lao động nói chung và LĐNT nóiriêng cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghềcho LĐNT trong thời gian tới ở nước ta
Ngoài ra, theo thống kê tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở Tp HồChí Minh, trong số hơn 600 luận văn cao học và gần 400 khoá luận cử nhân từ KS1-KS10 chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên đề trên Riêng đối với công tác đào tạonghề cho LĐNT tại huyện Vĩnh Linh, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
về vấn đề này Việc nghiên cứu chỉ có một số bài báo, báo cáo của huyện nhằm đánhgiá những kết quả đạt được qua các năm triển khai thực hiện Đề án 1956 của Thủtướng Chính phủ về đào tạo nghề cho LĐNT
Từ tình hình nghiên cứu như trên,việc nghiên cứu đề tài dưới góc nhìn của chínhsách là một đề tài mới, không trùng lắp, đòi hỏi việc nghiên cứu phải trên cơ sở chínhsách của nhà nước gắn với tình hình đặc thù của huyện để hoạt động thực thi chínhsách đào tạo nghề cho LĐNT có hiệu quả cao hơn trong thời gian tới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT huyệnVĩnh Linh - tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua; phân tích, đánh giá những yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT của huyện, từ đó đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người LĐNT của huyện trong thờigian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa về cơ lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
- Nghiên cứu thực tiễn quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho laođộng nông thôn trên địa bàn huyện
- Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyệnVĩnh Linh trong thời gian qua
Trang 5- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của tổ chức thực thichính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao độngnông thôn trên địa bàn huyện trong thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu đối tượng có liên quan đến việc thực thi chính sách đào tạo nghềcho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh như: người học nghề, cán bộ quản lý, giáoviên dạy nghề; doanh nghiệp tham gia dạy nghề hoặc sử dụng lao động sau khi đào tạonghề trên địa bàn và một số đối tượng có liên quan
- Nghiên cứu những vấn đề có liên đến việc tổ chức thực thi chính sách đào tạonghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh như các đề án, chương trình, chínhsách, tình hình triển khai thực hiên và một số kết quả đạt được
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu về thực trạng triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNTtrên địa bàn huyện Vĩnh Linh theo Quyết định 1956 ngày 27 tháng 11 năm 2009 củaThủ tướng Chính phủ về “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, trong
đó tập trung nghiên cứu và đánh giá các kết quả đạt được theo các nội dung của Đề ánnhư mô hình, hình thức, nghành nghề đào tạo…
6 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin (chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT Ngoài ra, đề tài sử dụng các
Trang 6phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu
Thu thập, tìm hiểu những tài liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, có liên quan đếnvấn đề đào tạo nghề, các vấn đề liên quan nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề nóichung và chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng; trong đó bao gồmcác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các kết quả nghiên cứu trong vàngoài nước và các tài liệu thống kê các cấp
Nguồn số liệu: nguồn số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được thu thập từhai nguồn sơ cấp và thứ cấp
Nguồn số liệu thứ cấp: đây là những nguồn số liệu được thu thập từ các cơ quan
ban ngành, đã quan xử lý và tính toán Số liệu được thu thập tại phòng LĐ-XH huyện,các phòng, ban ngành có liên quan, … trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Nguồn số liệu sơ cấp: đây là những số liệu thu thập được chưa qua xử lý, tác giả tiến
hành xử lý và tính toán để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan đến việc tổ chức thựchiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện bao gồm: cán bộ quản lýcông tác đào tạo nghề, giáo viên dạy nghề cho LĐNT, các đối tượng tham gia họcnghề, các doanh nghiệp tham gia đào tạo và sử dụng lao động sau khi đào tạo trên địabàn huyện Việc điều tra phỏng vấn có thể tiến hành bằng bảng hỏi hoặc phỏng vấntrực tiếp
Phương pháp nghiên cứu thực địa
Nghiên cứu, khảo sát quá trình tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho LĐNT trênđịa bàn huyện, khảo sát nhu cầu học nghề, công tác tuyên truyền chính sách, mô hìnhđào tạo nghề tại một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện
Phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu
Từ những kết quả đạt được trong quá trình chức thực hiện chính sách, thông quanhững số liệu tổng hợp, tiến hành phân tích, đánh giá các kết quả Liên hệ, đối chiếukết quả với một số địa phương khác hoặc giữa các xã, thị trấn trong địa bàn huyện, sosánh những kết quả đạt được với mục tiêu đề ra
Trang 7Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung chính củakhoá luận được tổ chức làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề
cho lao động nông thôn tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
CHƯƠNG 1: LUẬN CHUNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm nghề
Cho đến nay, khái niệm “Nghề” được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Ở Pháp: Nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của conngười để từ đó tìm được phương tiện sống
Còn ở Đức, nghề được định nghĩa: Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở mộtlĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ, chuyên mônnhất định
Trang 8Như vậy, có thể hiểu nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử phổ biến, gắnchặt với sự phân công lao động của xã hội, với tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và vănminh của nhân loại.
Tại Việt Nam, “Nghề” là một tập hợp những kỹ năng, kỹ xảo do sự phân cônglao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối,
nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ phát triển của nền sản xuất hay do sựthay đổi nhu cầu của xã hội
Mặc dù khái niệm “Nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song có thểthấy một số nét đặc trưng nhất định:
Một là, nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại Hai là, nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
Ba là, nghề là phương tiện để sinh sống.
Bốn là, nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã
hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định
1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hìnhthành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ,…để hoàn thiệnnhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách cónăng suất và hiệu quả
Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên mônnghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định Hay nóicách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết đểngười lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai
Đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về
lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định ngườihọc có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tậpnâng cao tay nghề nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội
Luật Dạy nghề năm 2006 định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằmtrang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để cóthể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” Có thể thấy,
Trang 9về cơ bản khái niệm đào tạo nghề và dạy nghề không có sự khác biệt nhiều về nộidung.
Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội, trước hết là thực hiện phâncông và chuyên môn hoá lao động, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghềnghiệp để dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc nâng cao trình độ tay nghề của bản thân
1.1.3 Khái niệm lao động
Xét về mặt từ ngữ, có thể hiểu khái niệm “Lao động” theo hai cách sau:
Theo nghĩa động từ, lao động là hoạt động quan trọng nhất con người để tạo ra
của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội
Theo nghĩa danh từ, theo khái niệm của Liên hợp quốc thì: “Lao động là tổng thể
sức lực dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác độngcủa con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội
Trong từng thời kỳ, và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao độngkhác nhau Ở nước ta, theo bộ Luật Lao động, độ tuổi lao động được quy định đối vớinam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi Xét về khía cạnh việclàm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp
1.1.4 Khái niệm lao động nông thôn
1.1.4.1 Khái niệm
LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động sản xuấttrong hệ thống kinh tế nông thôn
LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống
ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn Trong đóbao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao độngtheo quy định của bộ Luật Lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khảnăng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kếtquả đạt được một cách tốt nhất
1.1.4.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
Do LĐNT sống chủ yếu ở khu vực nông thôn và tham gia sản xuất trong cácngành nông, lâm, ngư nghiệp Với những tính chất riêng của ngành nông nghiệp nênLĐNT có một số đặc điểm như sau:
Trang 10Một là: LĐNT tham gia sản xuất mang tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có
thời kỳ nhàn rỗi Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng lao động trong từng thời
kỳ, đời sống sản xuất và thu nhập của người lao động nông nghiệp
Hai là: do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên
tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu tính kỷ luật cao, thiếusáng tạo của LĐNT
Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất
nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động, việc tiếp cận với các tiến bộ
KH - KT còn nhiều hạn chế
Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp, không đồng nhất theo từng vùng, miền, có
năng lực và trình độ sản xuất rất khác nhau Hoạt động sản xuất nông nghiệp đượctham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau, trong đó có cả những người ởngoài độ tuổi lao động
Năm là: thu nhập của người LĐNT còn thấp, không ổn định tuỳ thuộc vào từng
thời vụ, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng
xa, đồng bào dân tộc thiểu số
Sáu là: trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả
những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong cácngành kinh tế khác
1.1.6 Chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
1.1.6.1 Khái niệm
Nhà nước là chủ thể quyền lực cao nhất trong xã hội, đồng thời cũng là chủ thể
để điều hòa và giải quyết mâu thuẫn, phân phối lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội
Để thực hiện được điều đó, Nhà nước sử dụng các chính sách như là một công cụ hữuhiệu để thực hiện chức năng quản lý xã hội và cung cấp các dịch vụ công cho ngườidân Như vậy, chính sách công thể hiện sự lựa chọn và định hướng của Nhà nước trướccác vấn đề nảy sinh trong đời sống của xã hội
T.S Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách công là thái độ ứng xử của Nhà nước trướcnhững vấn đề phát sinh trong cuộc sống hằng ngày, được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”[2]
Trang 11Từ khái niệm chính sách công, có thể hiểu chính sách đào tạo nghề cho LĐNT làmột bộ phận của chính sách công, là sự lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằmtruyền đạt những kiến thức, kỹ năng của một nghề nào đó cho người lao động ở khuvực nông thôn Từ đó tạo ra năng lực, những kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động, giúp
họ có thể thực hiện thành công ngành nghề đã được đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xãhội trong khuôn khổ Hiến pháp và bộ Luật Lao động
1.1.6.2 Vai trò của chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
Trong quá trình thực hiện CNH - HĐH đất nước, việc ban hành chính sách đàotạo nghề cho LĐNT có vai trò cơ bản sau:
Một là, đào tạo nghề cho LĐNT nhằm tạo lực lượng lao động có trí tuệ có trình
độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao
Trong nền kinh tế hiện đại, yếu tố về trí lực của người lao động luôn đóng vai tròthen chốt cho sự phát triển xã hội Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng lao động trítuệ tăng nhanh, tầng lớp trí thức, nhân viên và công nhân có trí thức ngày càng đôngđảo Phương thức hoạt động của con người đã chuyển từ nguồn lực tự nhiên, lao động
cơ bắp sang khai thác phổ biến nguồn lao động trí tuệ Chính vì vậy, đào tạo nghề choLĐNT là con đường hiệu quả nhất trong việc tạo ra một lực lượng lao động trí tuệ cótrình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề cao
Hai là, đào tạo nghề cho LĐNT giúp lực lượng lao động có lối sống lành mạnh
và bản lĩnh nghề nghiệp vững
Với trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ sẽdẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội: ma túy, cờbạc, rượu chè ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản thân họ nói riêng Vìvậy, đào tạo nghề giúp cho người lao động biết sống cao đẹp, lành mạnh, văn minh.Sống có ý nghĩa, tránh xa các tệ nạn xã hội, biết hướng tới cái đúng, có văn hóa nghềnghiệp chân chính, cần cù, tiết kiệm, đoàn kết hợp tác trong lao động để nhân thêmsức mạnh của con người và dân tộc Việt Nam trong thời đại mới
Ba là, đào tạo nghề cho LĐNT hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hiện đại là một quy luật tất yếu, điều này đòi hỏi cần có một lực lượng lao động
đủ năng lực và trình độ Chính vì vậy, đào tạo nghề sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có
Trang 12tay nghề và trình độ chuyên môn giỏi, nhạy bén, thích ứng với xu thế mới của nền kinh
tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Bốn là, đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và phát triển các ngành nghề mới ở nông thôn.
Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụcho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, vấn đề giảiquyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao động hiện nay có kiếnthức và chuyên môn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm Để tháo gỡ vấn đề này,phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũlao động giúp họ có thể tham gia thị trường lao động Đối với bộ phận LĐNT, thôngqua các lớp đào tạo nghề, họ có thể tự thân lập nghiệp ngay trên quê hương mình Đâykhông chỉ là vấn đề giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để pháttriển ngành nghề mới ở nông thôn
1.1.7 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
1.1.7.1 Khái niệm
Tổ chức thực thi chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thểtrong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêuđịnh hướng [3]
Cũng như việc tổ chức thực hiện các chính sách công khác, tổ chức thực thichính sách đào tạo nghề cho LĐNT là quá trình triển khai thực hiện các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT thông qua việc sử dụngtổng hợp các biện pháp, nhằm chuyển hóa những mục tiêu, mong đợi của Nhà nướcthành hiện thực
1.1.7.2 Ý nghĩa của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
Triển khai và thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT mang lại những ýnghĩa quan trọng cả về khía cạnh kinh tế và xã hội:
Một là, ý nghĩa về phát triển kinh tế
Đào tạo nghề cho LĐNT sẽ huy động được tối đa lực lượng lao động của xã hộivào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Phát triển lực lượng lao động thông quađào tạo nghề sẽ phát huy được năng lực, sở trường của từng người lao động và nhờ
Trang 13vậy hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh ngày một nâng cao Không những thế,đào tạo nghề cho LĐNT sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác có hiệu quả hơn các nguồnlực về tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, làm cho kinh tế nông thônhoạt động có hiệu quả hơn.
Đào tạo nghề cho LĐNT đáp ứng được những đòi hỏi về kỹ năng, công nghệ vềquản lý trong thời đại bước sang nền kinh tế tri thức, đáp ứng được nhu cầu hội nhậpđược kinh tế thế giới và toàn cầu hóa góp phần quan trọng vào qúa trình tăng trưởngcủa nền kinh tế quốc dân
Khoảng trên 90% hộ nghèo của nước ta sinh sống ở các khu vực nông thôn, vìvậy đào tạo nghề cho LĐNT quyết định sự thành công của các chương trình xóa đói,giảm nghèo
Hai là, ý nghĩa về chính trị - xã hội
Đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu “Dângiàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” của Đảng và Nhà nước ta.Dân muốn giàu, trước hết phải có đầy đủ việc làm, sau đó là chất lượng việc làm ngàyngày một nâng cao, ổn định đời sống của người dân, thu nhập của người lao động ngàymột tăng Đào tạo nghề cho LĐNT góp phần nâng cao trí tuệ, chất lượng của nguồnlao động, làm giảm bớt tội phạm, tệ nạn xã hội An ninh quốc gia được giữ vững, tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 Trách nhiệm của nhà nước trong việc đào tạo nghề cho LĐNT
1.2.1 Trách nhiệm của nhà nước trong việc ban hành các chính sách về đào tạo nghề cho LĐNT
Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trongHiến pháp Chính vì vậy, công dân có quyền học tập, nghiên cứu nhằm nâng cao trình
độ, năng lực, tay nghề của mình trong quá trình lao động sản xuất nhằm đáp ứng nhucầu của xã hội và nâng cao cuộc sống của bản thân, góp phần xây dựng xã hội, thựchiện các nghĩa vụ của họ đối với gia đình và cộng đồng Đào tạo nghề, nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và củatoàn xã hội
Nhà nước định ra các chỉ tiêu về đào tạo nghề trong các kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội trong dài hạn, trung hạn và hằng năm Nhà nước tạo điều kiện cần thiết vàban hành các chính sách về đào tạo nghề cho LĐNT, hỗ trợ về tài chính, sử dụng các
Trang 14biện pháp khuyến khích và động viên cho các địa phương, đơn vị cá nhân thuộc mọithành phần tế phát triển các ngành nghề đào tạo mới đáp ứng nhu cầu học nghề củangười lao động và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Nhà nước có chính sách ưu đãi về đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thônnhằm thu hút lao động tham gia học nghề và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thamgia đào tạo nghề cho LĐNT và giải quyết việc làm để hoàn thành mục tiêu quốc gia vềxóa đói giảm nghèo
Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề,nhất là các nghề cho lao động nông thôn trong các lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóacác loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”
1.2.2 Chủ thể hoạch định và thực thi chính sách đào tạo nghề
Chính phủ: lập chương trình quốc gia về đào tạo nghề, lập các dự án đầu tư về
phát triển kinh tế - xã hội gắn với việc đào tạo nghề tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu vềlao động trong và ngoài nước; lập các quỹ quốc gia về đào tạo nghề và các nguồnkhác; phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ đào tạo nghề Hằng năm Chính phủ trìnhQuốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về đào tạo nghề cho LĐNT
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: lập chương trình, Đề án về đào
tạo nghề cho LĐNT trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố, xây dựng các kế hoạch triểnkhai thực hiện chính sách và dự trù kinh phí phục vụ cho công tác đào tạo nghề choLĐNT của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định
Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức
xã hội: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình được phân công có nhiệm tham
gia tổ chức, phối hợp xây dựng và thực hiện các chương trình, Đề án về đào tạo nghềcho LĐNT phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương Giải quyết các vấn đề nảysinh, liên quan đến đào tạo nghề cho LĐNT trong quá trình tổ chức, triển khai thựchiện chính sách
1.2.3 Những chính sách đào tạo nghề cho LĐNT ở nước ta
Trong giai đoạn hiện nay đào tạo nghề cho người lao động nói chung và đào tạonghề cho LĐNT nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước.Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của ban chấp hành Trungương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thể hiện rõ quan điểm vàđịnh hướng của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội đối với nông thôn Việt Nam trong
Trang 15chiến lược tổng thể phát triển đất nước Một trong những nhiệm vụ và giải pháp đượcnêu trong Nghị quyết là giải quyết việc làm cho người nông dân là nhiệm vụ xuyênsuốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước, bảo đảm hài hòagiữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn và thànhthị.
Thực hiện Nghị quyết của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, ngày 28tháng 10 năm 2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 24/2008/NĐ-CP ban hành chươngtrình hành động của Chính phủ Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chươngtrình hành động của Chính phủ là xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạonguồn nhân lực nông thôn, trong đó đề ra mục tiêu “tập trung đào tạo nguồn nhân lựcnông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ,giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so vớihiện nay” Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con emnông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, TTCN, dịch vụ
và chuyển nghề; bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được đào tạo vềkiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại, đồng thời tập trungđào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở
Trước đó, ngày 02 tháng 10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và
xã hội đã ra Quyết định số 07/2006/QĐ - BLĐTBXH về phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” Theo đó cần phải phát triển mạng lưới
cơ sở dạy nghề rộng khắp cả nước, đa dạng các hình thức dạy nghề, tạo điều kiện chongười lao động, thanh niên, nông dân, người dân tộc thiểu số học nghề, lập nghiệp; mởrộng quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng dạy nghề, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề,
cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và những tiến bộ về
kỹ thuật, công nghệ; đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích mọi tổ chức, cánhân đầu tư cho dạy nghề, phát triển các cơ sở dạy nghề tư thục và cơ sở dạy nghề cóvốn đầu tư của nước ngoài, mở rộng hội nhập quốc tế về dạy nghề
Cụ thể hóa chương trình hành động, ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt “ Đề án đào tạo nghề cholao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) Đề án nêu rõ quan điểm
“Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của cáccấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu
Trang 16cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triểnđào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách đảm bảo thực hiện công bằng xãhội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện đểtoàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT” Đây là cơ sở tạo hành lang pháp lý đểhoạt động đào tạo nghề cho LĐNT phát triển nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhânlực nông thôn theo mục tiêu đã đề ra.
Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: bình quân hằng năm đào tạo nghề chokhoảng 1 triệu LĐNT, trong đó đào tạo, bồi dưỡng cho 100.000 lượt cán bộ, công chức
xã Đề án có 3 chính sách gồm: chính sách đối với người học nghề trình độ sơ cấpnghề và dạy nghề dưới 3 tháng, (chia thành 3 nhóm đối tượng, mức hỗ trợ tùy theonhóm đối tượng, tối đa từ 2 đến 3 triệu đồng/người/khóa học); chính sách đối với giáoviên, giảng viên; chính sách đối với cơ sở đào tạo nghề cho LĐNT (hỗ trợ đầu tư cơ sởvật chất, thiết bị dạy nghề, chương trình giáo trình, học liệu và bồi dưỡng giáo viêndạy nghề) Đề án đề ra 5 giải pháp và 2 hoạt động chính để thực hiện các chính sáchtrên Tổng kinh phí thực hiện Đề án từ ngân sách nhà nước dự kiến là 25.980 tỷ đồng,
để thực hiện hai hoạt động gồm: đào tạo nghề cho LĐNT là 24.694 tỷ đồng; đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: 1.286 tỷ đồng
Đồng thời với Đề án 1956, ngày 04 tháng 6 năm 2010, Chính phủ có Quyếtđịnh số 800/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010 - 2020” Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế -
xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng ở nông thôn Để đạt tiêu chí về nông thôn mới,một xã phải đạt được 19 tiêu chí, trong đó có nội dung đẩy mạnh đào tạo nghề, giảiquyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu LĐNT Đó là những chính sách, giải phápđồng bộ để phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
1.3 Đào tạo nghề cho LĐNT tại một số địa phương ở nước ta và một số bài học kinh nghiệm
1.3.1 Đào tạo nghề cho LĐNT tại một số địa phương ở nước ta
1.3.1.1 Đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Hà Giang
Do điều kiện địa hình bị chia cắt mạnh, thiếu đất, thiếu nước sản xuất, trình độdân trí của đồng bào còn hạn chế nên tỷ lệ đói nghèo cao Thời gian qua, nhằm trang bị
và nâng cao kiến thức làm ăn cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, Hà Giang
đã triển khai nhiều chương trình, dự án thiết thực tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 17Trong số đó phải kể đến chương trình đào tạo nghề cho LĐNT Quan điểm của tỉnh làkhi đồng bào “đói” kiến thức làm ăn thì phải bù lấp khoảng trống hẫng hụt đó Vớiphương châm “Các cơ sở dạy nghề là đào tạo những nghề mà người nông dân cần chứkhông phải đào tạo những nghề mà trung tâm có” Yêu cầu đặt ra là tất cả các ngànhnghề đang đào tạo tại các cơ sở dạy nghề đều phải có chương trình, giáo trình chi tiếtcho từng nghề theo quy định chung và thường xuyên được bổ sung nội dung cho phùhợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và nhận thức của người học Căn cứtheo nhu cầu thực tiễn của bà con, các trung tâm phải kiện toàn đội ngũ giáo viên cóchuyên môn để đào tạo những ngành nghề truyền thống, những ngành nghề theo nhucầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và thị trường lao động.
Trên cơ sở đó, Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hà Giang đã tập trung tham mưu choUBDN tỉnh phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề cho đồng bào, tích cực tranhthủ các nguồn lực tập trung cho công tác dạy nghề Ngoài đầu tư từ ngân sách Trungương, còn có thêm kinh phí của dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”, kinh phíchương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, kinh phí từ Nghị quyết 30a/CP của Chínhphủ về đào tạo nghề cho các huyện nghèo Đến nay, mạng lưới cơ sở dạy nghề được
mở rộng xuống đến tận các huyện, thị xã Toàn tỉnh đã xây dựng xong 15 cơ sở dạynghề, bao gồm 1 trường Trung cấp nghề, 12 Trung tâm dạy nghề và 2 cơ sở khác códạy nghề Nhờ đó, mỗi năm tỉnh Hà Giang đã đào tạo cho nghề cho hàng chục ngànlao động, giúp người dân ổn định đời sống, tăng thu nhập cho người lao động, gópphần chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
1.3.1.2 Đào tạo nghề cho LĐNT tại tỉnh Thanh Hóa
Thực hiện Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Thanh Hóa đã sớm thành lậpBan chỉ đạo cấp tỉnh, xây dựng kế hoạch triển khai Đề án “Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đến năm 2020”, lựa chọn huyện triển khai thí điểm, chỉ đạo việc tổ chứcđiều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của LĐNT, xử lý cung, cầu lao động và dạy nghề.Đến nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố đã và đang tích cực triển khai thực hiện
đề án của tỉnh Trong đó có 4 mô hình dạy nghề hiệu quả có thể nhân rộng, đó là: môhình dạy nghề kỹ thuật sản xuất lúa F1 tại huyện Yên Định, kỹ thuật trồng lúa cao sảntại xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân; mô hình dạy nghề thêu ren - đính cườm tại xãXuân Quang, huyện Thọ Xuân; mô hình dạy nghề dệt chiếu cải tại Khu làng nghề thịtrấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn
Trang 18Theo đánh giá, sau khi được triển khai, các mô hình này đã mang lại hiệu quảkinh tế - xã hội to lớn, thu nhập của người nông dân được nâng lên rõ rệt, bình quânngười lao động thu nhập từ 40.000 đồng đến 90.000 đồng/người/ngày Thanh Hóa là
1 trong 2 tỉnh thực hiện thí điểm dạy nghề cho LĐNT theo hình thức cấp thẻ họcnghề nông nghiệp do Bộ NN&PTNT làm chủ dự án Tính đến hết tháng 11/2011 toàntỉnh đã có 9.280 LĐNT được hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định 1956, trong đó tổ chứcđược 197 lớp đào tạo nghề cho 6.283 LĐNT theo đề án của tỉnh
1.3.1.3 Đào tạo nghề tại thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang
Thị xã Tân Châu - tỉnh An Giang hiện có gần 113.407 người trong độ tuổi laođộng, trong đó lao động thành thị 42.237 người chiếm 37,25%; LĐNT 71.170 ngườichiếm 62,75% Trước tình hình đó Thị ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đề ra nhiệm vụtrong 5 năm tới cần giải quyết việc làm cho 27.000 lao động và lao động qua đào tạophải đạt 47%, bình quân hàng năm là 10% Do vậy để nâng cao hiệu quả đào tạo nghềcho LĐNT, đòi hỏi các cấp các ngành trong toàn thị xã phải có nhiều chương trình, kếhoạch thực hiện nghiêm túc, thực tế, khách quan; có đề ra chỉ tiêu cụ thể, đồng thờiphải có sơ kết, tổng kết, kịp thời rút ra kinh nghiệm để thực hiện công tác đào tạo nghề
ở địa phương, đơn vị ngày càng hiệu quả, chất lượng
Với sự quan tâm của cấp ủy, sự chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ củacác cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, HộiCựu chiến binh và Đoàn thanh niên… công tác đào tạo nghề cho lao động ở thị xã đãtừng bước được triển khai đồng bộ, đúng hướng, mạng lưới dạy nghề phát triển và đạtđược kết quả bước đầu, đã lan tỏa tới từng khóm, ấp, từng khu dân cư, đến mọi đốitượng lao động chưa có công ăn việc làm
Một trong những hướng đào tạo của trường trong thời gian qua, cũng như trongnăm 2011 đã và đang phát huy hiệu quả, đó là: Trường phối hợp các đoàn thể tổ chứccác buổi thông tin tư vấn về dạy nghề và giải quyết việc làm đến tận xã, phường Cónơi lồng ghép với các phong trào, kế hoạch vận động gia đình văn hóa, giữ gìn an ninhtrật tự xã hội, xây dựng nông thôn mới, phòng chống tệ nạn xã hội… tuyên truyền vậnđộng nhân dân từng bước nâng cao nhận thức về học nghề, gắn với tạo việc làm vàgiảm nghèo Những lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanhcủa từng nhóm đối tượng, từng địa phương, giúp người dân ngày càng nâng cao kiếnthức trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình như: ương cá tra giống, nuôilươn, nuôi cá tra thịt, cá lóc; trồng nấm các loại, hoa kiểng, làm vườn Hoặc các nhóm
Trang 19nghề phi nông nghiệp: lái xe hạng B2, may công nghiệp, xây dựng, điện dân dụng, đanghế giả mây xuất khẩu, kỹ thuật phục vụ quán ăn nông thôn, kỹ thuật phục vụ nhàhàng, khách sạn, bảo mẫu, quản gia…
Thực tế cho thấy, người lao động sau khi học nghề năng suất và hiệu quả sảnxuất tăng lên rõ rệt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh tại chỗ, cũng như yêucầu sử dụng lao động của một số DN trong và ngoài thị xã Năm 2011, toàn thị xã đã
tổ chức dạy nghề cho 780 lao động; giải quyết việc làm cho 5.130 lao động, trong đólao động ngoài tỉnh 41 người, có 02 lao động đi làm việc nước ngoài, giải quyết việclàm mới cho 95 lao động
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Trên cơ sở các những kết quả về đào tạo nghề cho LĐNT tại một số đia phương ởnước ta trong thời gian qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là: cần tổ chức thực hiện theo sát đề án mà các cấp chính quyền từ Trung
ương đến địa phương đã đề ra, đồng thời phải có các chính sách phát triển công tácđào tạo nghề phù hợp với thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địaphương
Hai là: tăng cường công tác tuyên truyền sâu, rộng hơn nữa về công tác đào tạo
nghề cho người lao động đến toàn thể lực lượng lao động của địa phương
Ba là: tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở, trang thiết bị dạy nghề, cũng như tăng
cường nâng cao năng lực của cán bộ, giáo viên tham gia công tác đào tạo nghề
Bốn là: tập trung đào tạo nghề theo nhu cầu của người học và nhu cầu của các
doanh nghiệp, đồng thời cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạonghề với các doanh nghiệp sử dụng lao động
Năm là: cần có chính sách tạo việc làm cho người lao động sau khi tham gia học
nghề để có thể vận dụng các nghề mà học viên đã học được trong việc tìm kiếm việclàm cho bản thân và đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội
Sáu là: cần phân cấp rõ vai trò của việc quản lý đào tạo nghề theo ngành dọc, bảo
đảm tính chủ động trong việc triển khai công tác dạy nghề gắn với nhu cầu người họcđồng thời tạo việc làm cho người LĐNT sau khi ra trường Đồng thời, việc xây dựngcác chương trình đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực cần có sự cân đối giữa sốlượng dạy nghề với việc sử dụng lao động tạo ra sự cân đối cung - cầu trong đàotạo nghề cho LĐNT
Trang 20TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Để có thể phân tích thực trạng và đề xuất những giải pháp trong việc thực thichính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, cần đưa ra hệthống cơ sở lý luận khoa học, phù hợp và mang tính thực tiễn trong nghiên cứu, đánhgiá các nội dung liên quan đến đề tài Xác định nội dung trọng tâm của vấn đề, chương
1 đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết các khái niệm cơ bản về nghề và đào tạonghề, lao động và lao động nông thôn, đặc điểm của LĐNT, chính sách và vai trò củachính sách đào tạo nghề cho LĐNT, các vấn đề liên quan đến việc tổ chức thực thi và ýnghĩa của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT Bên cạnh đó, chương 1cũng chỉ ra trách nhiệm của nhà nước trong vấn đề đào tạo nghề cho LĐNT, trên cơ sở
đó để đưa ra các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề choLĐNT ở nước ta trong thời gian qua Với nhiệm vụ làm cơ sở lý luận cho các chươngtiếp theo, trong chương 1 còn giới thiệu một số mô hình về đào tạo nghề cho LĐNT cóhiệu quả ở nước ta trong thời gian qua, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý
Trang 21báu có thể xem xét áp dụng trong việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tạihuyện
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN
VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 2.1 Tổng quan về huyện Vĩnh Linh
2.1.1 Khái quát chung
Vĩnh Linh là huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía Tây của tỉnhQuảng Trị, là một trong 10 đơn vị hành chính của tỉnh Tổng diện tích toàn huyện là1150,86 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam và Tây giáp Cộng hoà dân chủnhân dân Lào, phía Đông giáp với huyện Gio Linh, Vĩnh Linh và Đakrông Toànhuyện có 22 đơn vị hành chính trong đó 20 xã và 02 thị trấn là Khe Sanh và Lao Bảo.Toàn huyện có 13 xã đặc biệt khó khăn, 11 xã giáp biên với Lào, có cửa khẩu Quốc tếLao Bảo nằm trên trục đường Quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào,Thái Lan, Mianma và Khu vực Miền Trung Việt Nam tạo ra hành lang kinh tế Đông-Tây, là vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng của nước ta Cóđường biên giới dài 156 km tiếp giáp với 3 huyện nước bạn Lào Với vị trí địa lý thuậnlợi, đây là điều kiện quan trọng cho việc giao lưu, buôn bán với các nước trong khuvực, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện ngày càng phát triển
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Trang 22Địa thế núi rừng Vĩnh Linh rất đa dạng, phong phú Núi và sông xen kẻ nhau, tạothành địa hình chia cắt, sông suối đều bắt nguồn từ núi cao Khí hậu mang những nétđiển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, bao gồm nhiều tiểu khíhậu khác nhau, tạo ra những nét đặc sắc về khí hậu cho từng vùng, làm cho Vĩnh Linh
có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, là một trong những thế mạnh để phát triển nội lực
và thu hút đầu tư vào địa bàn
Đất đai chủ yếu có hai loại: cát pha và đất đỏ bazan, thuận lợi cho việc phát triểnnông - lâm nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, hồ tiêu, caosu…Tài nguyên rừng và khoáng sản phong phú, có tiềm năng khai thác lâu dài Nguồnnước dồi dào từ những con sông: Sê Păng Hiêng, Sê Pôn, Rào Quán và hệ thống ao hồ,hàng trăm con suối, khe nhỏ, nước ngầm, thuận lợi cho phát triển thuỷ điện và đáp ứngnhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân
2.1.3 Dân cư
Tính đến cuối năm 2012, dân số toàn huyện là: 78.845.000 người, 16.706 hộ,bình quân 4,72 nhân khẩu/hộ Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,78% Dân cư trongkhu vực nông thôn là 57.884 người, chiếm 73,41%, tỷ lệ hộ nghèo là 23,8%, tỷ lệngười dân chưa biết chữ là 14,6% trong đó tập trung lớn vào khu vực đồng bào DTTS.Trên địa bàn huyện hiện có 3 dân tộc sinh sống là Kinh, Vân Kiều và Pa Cô, đồng bàoVân Kiều, Pa Cô chiếm gần 50%
2.1.4 Kinh tế - văn hoá - xã hội
Vĩnh Linh- mãnh đất với truyền thống dựng nước và giữ nước, bảo vệ biêncương, là ngọn cờ nêu cao lòng kiên cường, khuất phục trước kẻ thù nào đã ghi vàotrang sử chói chang, vẻ vang muôn thuở với những chiến thắng lẫy lừng của dân tộcnhư: chiến thắng Khe Sanh, đường 9 Nam – Lào, Tà Cơn… Cùng với đó là những nétđặc sắc văn hoá riêng với cuộc sống cộng đồng và phong tục, tập quán độc đáo như:
Lễ đâm trâu, tục mừng mùa lúa mới, độc đáo hơn là tục đi sim của người Pa Kô, VânKiều mà hiếm địa phương nào có được Kết hợp với những mùa lễ hội, các phong tục,những nhạc cụ cồng chiêng với những vũ điệu làm say đắm lòng người hoà lẫn với khíthiêng sông núi tạo nên một Vĩnh Linh có một không hai
Nhờ biết khai thác và phát triển phù hợp với tiềm năng kinh tế - văn hoá, đến nayhuyện đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quânhàng năm đạt trên 8% Riêng năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,7% Cơ cấu
Trang 23kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người khoảng
18 triệu đồng/năm
Những năm qua, Vĩnh Linh rất chú trọng trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển và có ý nghĩaquyết định trong việc thực hiện từng bước mục tiêu CNH - HĐH nông nghiệp nôngthôn Mạng lưới điện, đường, trường, trạm không ngừng hoàn thiện, nhiều công trìnhđược đầu tư xây dựng và đã vào sử dụng đem lại hiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụđời sống dân sinh Tổng số vốn xây đầu tư xây dựng thực hiện trên địa bàn năm 2013đạt 477,7 tỷ đồng Đến nay, 22/22 xã , thị trấn đã có điện lưới quốc gia vào đến trungtâm xã; đường giao thông vào trung tâm 22/22 xã, thị trấn; 01 bệnh viện đa khoa vớiquy mô trên 100 giường bệnh Chất lượng dạy và học được quan tâm, cơ sở hạ tầngtrường lớp học không còn tạm bợ tranh, tre, nứa lá mà được xây dựng kiên cố, khangtrang Bưa chính, viễn thông ngày càng được đầu tư, mở rộng và hoàn thiện, 16/22 xã,thị trấn đã có nước sạch sử dụng tại các thôn bản, làng xóm Nhờ đó, đời sống củangười dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, việc tiếp cận của người dân với cácdịch vụ công cộng ngày càng được đẩy mạnh, tỉ lệ hộ nghèo ngày càng giảm, an ninhquốc phòng được giữ vững
Với những thế mạnh về điều kiện tự nhiên, xã hội, những nét văn hoá phong phú
và đặc sắc cùng với đó là sự quan tâm, chú trọng đầu tư của Đảng và Nhà nước lànhững điều kiện thuận lợi để Vĩnh Linh phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp vàdịch vụ thu hút đông đảo lực lượng lao động tham gia vào nhiều ngành nghề khácnhau Tạo ra nhiều cơ hội trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho người lao động, đặcbiệt là LĐNT trên địa bàn huyện
Bên cạnh đó, với những khó khăn về điều kiện tự nhiên, trình độ dân trí và nhậnthức của người dân còn nhiều hạn chế, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên, hộ nghèo còncao Phần lớn LĐNT chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất canh tác còn lạchậu, việc tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiềukhó khăn Chính vì vây, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là chấtlượng của LĐNT là một vấn đề cấp thiết mà chính quyền huyện Vĩnh Linh cần tậptrung giải quyết trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở những năm tiếp theo
2.1.5 Tình hình về nguồn lao động nông thôn của huyện Vĩnh Linh
2.1.5.1 Tình hình về nguồn nhân lực
Trang 24Theo thống kê, cuối năm 2012 toàn huyện Vĩnh Linh có 40.435 người trong độtuổi lao động, trong đó lao động nữ là 19.861 người, chiếm 49,1% tổng số lao độngcủa toàn huyện Số lao động tham gia kinh tế là 39.324 người, lao động chủ yếu làhoạt động trong khu vực nông - lâm nghiệp Số lượng LĐNT là 33.937 người, chiếm86,3% tổng số lao động của toàn huyện Mỗi năm toàn huyện có thêm gần 2.000 laođộng từ 15 tuổi trở lên, trong đó số LĐNT bổ sung vào lực lượng lao động chiếm gần80% Với một nguồn lao động dồi dào, đây là một nhân tố quan trọng cho quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Linh theo hướng hiện trong những năm tiếptheo.
2.1.5.2 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành nghề
Những năm qua, cơ cấu lao động theo ngành nghề trên địa bàn huyện có nhữngchuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp Trong đó, tỉ lệ LĐNT tham gia hoạtđộng kinh tế trong các ngành nông - lâm nghiệp có xu hướng giảm từ 2-3%/năm.LĐNT tham gia kinh tế trong khu vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ đều tăng từ 1-2%/năm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đươc nhu cầu về pháttriển kinh tế - xã hội của huyện
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành nghề kinh tế của huyện Vĩnh
Linh giai đoạn 2010 – 2012.
KHU VỰC
Số lượng (người)
CC (%)
Số lượng (người)
CC (%)
Số lượng (người)
CC (%)
( Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh)
Dự báo đến năm 2015, số lượng LĐNT tham gia các hoạt động kinh tế trên địabàn huyện Vĩnh Linh là 36.500 người Cơ cấu lao động phân theo các ngành kinh tếnhư sau: Nông, lâm nghiệp 21.900 người chiếm 60%, CN-TTCN-XD là 6.570 người,chiếm 18%; Thương mại - dịch vụ 8.030 người, chiếm 22%
2.1.5.3 Cơ cấu lao động nông thôn theo trình độ chuyên môn
Trong thời gian qua, mặt dù đã được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, đầu
tư Tuy nhiên phần lớn lao động của huyện Vĩnh Linh đều chưa qua đào tạo Đặc biệt
Trang 25là LĐNT chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất cao trên 80% Bên cạnh đó, đa số con emđồng bào DTTS sống tại khu vực nông thôn có trình độ học vấn còn thấp, tỉ lệ chưabiết chữ còn cao, việc tiếp cận với các tiến bộ, khoa học – kỹ thuật còn nhiều hạn chếchính vì vậy cơ hội tìm kiếm việc làm còn gặp khó khăn.
Bảng 2.2 Cơ cấu lao động nông thôn phân theo trình độ chuyên môn của
huyện Vĩnh Linh trong năm 2010 và 2012.
Trình độ chuyên môn
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh)
Người LĐNT với đức tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi, thật thà, tiết kiệm, cóvốn kinh nghiệm sản xuất lâu năm phong phú là một điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển kinh tế - xã hội của huyện Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng, phần lớn LĐNTvẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp Điều này phùhợp với thuận lợi về điều kiện tự nhiên, trình độ lao động của người dân trên địa bànhuyện Là huyện có diện tích đất nông - lâm nghiệp chiếm phần lớn là điều kiện thuậnlợi cho việc sản xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ ngày càng thu hút đông đảo lực lượng LĐNT tham gia vào sản xuất, tuy nhiên sốlượng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển dịch kinh tế củahuyện Lao động nông thôn trên địa bàn huyện chủ yếu là sản xuất theo thời vụ, tậpquán du canh du cư, thời gian nông nhàn còn lớn Bên cạnh đó, phần lớn là chưa quađào tạo, trình độ chuyên môn, tay nghề còn nhiều hạn chế, trình độ nhận thưc và nănglực sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, tư tưởng trông chờ, ỷlại vào sự hỗ trợ của nhà nước còn khá phổ biến Điều này ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình phát triển kinh tế-xã hội của huyện Chính vì vậy, trong những năm tới,huyện Vĩnh Linh cần đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo
Trang 26hướng công nghiệp và dịch vụ Để thực hiện mục tiêu này, thì việc nâng cao chấtlượng nguồn lao động là một vấn đề trọng tâm cần giải quyết Căn cứ vào đặc điểmcủa nguồn LĐNT, khi phần lớn lao động đều chưa qua đào tạo, trình độ dân trí và nhậnthức của lao động còn nhiều hạn chế, thì tổ chức đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt làLĐNT là một giải pháp phù hợp nhất
2.2 Thực trạng của việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT huyện Vĩnh Linh
2.2.1 Ban hành văn bản pháp lý về việc tổ chức thực thực thi chính sách đào tạo nghề LĐNT
2.1.1.1 Hệ thống các chính sách, văn bản pháp lý định hướng cho việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT của Trung ương và cấp tỉnh
Trong thời gian qua, việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên cảnước nói chung và huyện Vĩnh Linh nói riêng chủ yếu được thực hiện theo Quyết định
1956 ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Đào tạo nghề cho laođộng nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 1956) Căn cứ vào các nội dung của
Đề án, tỉnh Quảng Trị đã ban hành một số văn bản định hướng tổ chức thực thi chínhsách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn toàn tỉnh:
Chỉ thị số 04-CT/TU ngày 17 tháng 08 năm 2011 của Tỉnh uỷ về tăng cườnglãnh đạo công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2020;Quyết định số 1379/QĐ-UBND ngày 02 tháng 08 năm 2010 của UBND tỉnhQuảng Trị về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động Ban chỉ đạo thực hiện Đề
án và phân công nhiệm vụ thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”;Quyết định số 931/QĐ-UBND ngày 01 tháng 06 năm 2010 của UBND tỉnhQuảng Trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNTđến năm 2020”;
Quyết định số 1080/ĐA-UBND ngày 11 tháng 05 năm 2011 của UBND tỉnhQuảng Trị về việc ban hành Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT tỉnh Quảng Trị giai đoạn2011-2020” (gọi tắt là Đề án 1080);
Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 28 tháng 06 năm 2011 của UBND tỉnhQuảng Trị về việc quy định danh mục, mức chi đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề, dạynghề dưới 3 tháng áp dụng tại các cơ sở dạy nghề (thay cho Quyết định số11/2011/QĐ-UBND);
Trang 27Công văn số 1088/SLĐTBXH-ĐTN ngày 04 tháng 10 năm 2011 của Sở Laođộng Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Trị hướng dẫn UBND các huyện, phường, thịtrấn triển khai thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 củaThủ tướng Chính phủ về “ Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”;
Công văn 1468/SLĐTBXH-DN ngày 19 tháng 12 năm 2011 của Sở LĐ-TB&XH
về việc hướng dẫn thực hiện công tác giám sát, kiểm tra, tổng hợp báo cáo thực hiện
Đề án đào tạo nghề cho LĐNT theo Quyết định 1582/QĐ-BLĐTBXH ngày 02 tháng
12 năm 2011 của Bộ LĐ-TB&XH;
Liên Sở LĐ-TB&XH và Sở NN&PTNT đã ban hành văn bản số NNPTNT-DN ngày 12 tháng 06 năm 2012 về hướng dẫn xây dựng kế hoạch, tổ chứcdạy nghề cho LĐNT đến năm 2020;
665/SLĐTBXH-Và một số văn bản liên quan khác
Mục tiêu cụ thể của việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT theo Quyếtđịnh 1080 trên toàn tỉnh Quảng Trị là “Nâng cao hiệu quả và chất lượng của dạy nghềcho LĐNT, phấn đấu đến năm 2020, tổng quy mô tuyển sinh của các cơ sở dạy nghềđịa bàn tỉnh phấn đấu đạt 75.000 người Trong đó dạy nghề cho trên 42.000 LĐNT, tỷ
lệ có việc làm sau khi học nghề đạt 75% trở lên”
2.1.1.2 Các văn bản triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh
Trên cơ sở các văn bản của TW và UBND tỉnh Quảng Trị, trong quá trình triểnkhai thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, UBND huyện Vĩnh Linh đã banhành một số văn bản pháp lý sau:
Năm 2010: Quyết định số 1723/QĐ-UBND ngày 17 tháng 03 năm 2010 của
UBND huyện Vĩnh Linh về việc thành lập Trung tâm dạy nghề tổng hợp huyện VĩnhLinh;
Năm 2011: Quyết định số 2390/QĐ-UBND ngày 07 tháng 05 năm 2011 của
UBND huyện Vĩnh Linh về việc triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNTtrên địa bàn huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2010 - 2013”;
Năm 2012: Quyết định số 3203/QĐ-UBND ngày 08 tháng 11 năm 2012 của
UBND huyện Vĩnh Linh về việc thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác thực hiện Đề ánđào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện;
Trang 28Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 10 năm 2012, Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linhban hành Công văn số 245/CV-LĐTBXH về việc hướng dẫn thành lập ban chỉ đạo, tổcông tác thục hiên Đề án đào tạo nghề cho LĐNT;
Năm 2013: Quyết định số 310/UBND-VP ngày 08 tháng 08 năm 2013 của
UBND huyện Vĩnh Linh về việc góp ý dự thảo Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT trênđịa bàn huyện giai đoạn 2013 - 2020”;
Quyết định 1378/QĐ-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2013 của UBND huyện VĩnhLinh về việc thực hiện kiểm tra, giám sát, báo cáo việc thực hiện Đề án “Đào tạo nghềcho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh”
Có thể nhận thấy rằng, trong những năm qua việc tổ chức thực thi chính sách đàotạo nghề cho LĐNT đã được chính quyền huyện Vĩnh Linh quan tâm và chú trọng.Việc ban hành các văn bản pháp lý làm cơ sở, căn cứ nhằm đảm bảo cho hoạt độngtriển khai thực hiện chính sách đi đúng hướng, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra Tuynhiên, số lượng các văn bản ban hành còn nhiều hạn chế, còn mang tính chung chung,chưa có các văn bản quy định rõ về trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan hay cácvăn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách cho từng xã, thị trấn cụ thể
2.2.2 Tổ chức bộ máy thực hiện
Việc thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nói chung và LĐNT nói riêng
là một vấn đề rộng lớn và phức tạp luôn có sự phối hợp của nhiều cơ quan Trên cơ sởcác văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, Thường trực Huyện ủy đã chỉ đạo UBNDhuyện Vĩnh Linh xây dựng Đề án về đào tạo nghề cho LĐNT huyện Vĩnh Linh theotừng giai đoạn cụ thể Trong đó, Đề án giao cho phòng LĐTB&XH huyện là cơ quanthường trực và chủ trì thực hiện, phối hợp với các phòng ban, hội, đoàn thể, UBNDcác xã, thị trấn quy hoạch và xây dựng các kế hoạch, chương trình về thực thi chínhsách nhằm đảm bảo cho công tác đào tạo nghề trong địa bàn huyện phát triển đúnghướng, hoàn thành mục tiêu đề ra
Các cơ quan tham gia vào quá trình triển khai thực thi chính sách đào tạo nghềcho LĐNT trên địa bàn huyện với những nhiệm vụ cụ thể như sau:
2.2.2.1 Ủy ban nhân dân huyện
Tổ chức các hội nghị quán triệt, phổ biến về các nội dung, kế hoạch về đào tạonghề cho LĐNT tới cán bộ chủ chốt các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện Nghiên
Trang 29cứu, thẩm định các đề án, chương trình về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghềcho LĐNT phù hợp với tình hình thực tế của từng khu vực trên địa bàn huyện.
Đảm bảo các điều kiện về ngân sách và lựa chọn người có trình độ chuyên mônnghiệp vụ phù hợp làm cán bộ chuyên trách quản lý việc thực hiện chính sách đào tạonghề cho LĐNT thuộc phòng LĐ-TB&XH, cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề, cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho các cơ sở dạy nghề trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ theoquy định của pháp luật
Theo dõi, tổng hợp, đôn đốc, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuấtviệc thực hiện các kế hoạch, nội dung trong quá trình triển khai thực hiện chính sáchđào tạo nghề cho LĐNT ở địa bàn huyện, xã, thị trấn
2.2.2.2 Phòng LĐ-TB&XH huyện
Là cơ quan thường trực giúp UBND huyện thực hiện việc triển khai thực hiệnchính sách, triển khai các kế hoạch dạy nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện, phối hợpvới Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng NN&PTNT tổng hợp nhu cầukinh phí trình UBND huyện
Chủ trì và phối hợp với Phòng NN&PTNT các ngành liên quan hướng dẫn tổchức thực hiện các chính sách, giải pháp và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thựcthi chính sách Phối hợp với các Trung tâm dạy nghề để xây dựng kế hoạch chi tiếtdanh mục đào tạo nghề trên cơ sở nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng laođộng qua đào tạo nghề của doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ
Hướng dẫn UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiệnchính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Đồng thời, dự kiến kinh phíphân bổ để thực hiện nhiệm vụ dạy nghề cho LĐNT hằng năm tại các xã, thị trấn Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách dạy nghề cho LĐNT, định kỳ 9 tháng,hàng năm tổng hợp, báo cáo UBND huyện, Sở LĐ-TB&XH tình hình triển khai thựchiện chính sách
2.2.2.3 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chủ trì, phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH trong việc xác định ngành nghề đào tạocho LĐNT, phục vụ trực tiếp cho sản xuất ở địa bàn nông thôn cho chuyển dich cơ cấukinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn Xây dựng các danh mục nghề,chương trình dạy các nghề chăn nuôi, trồng trọt trình độ sơ cấp nghề và dạy nghềthường xuyên; xây dựng các kế hoạch và chỉ tiêu dạy nghề do Bộ NN&PTNT, Sở
Trang 30NN&PTNT hướng dẫn thực hiện theo quyết định 1956/QĐ-Ttg các nguồn lực trongsản xuất nông - lâm nghiệp.
Phối hợp với các cơ quan thông tin, đại chúng cung cấp thị trường hàng hóa, hỗtrợ việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiêp, dịch vụ nông nghiệp đến từng xã, thị trấn.Đồng thời, phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH huyện kiểm tra, giám sát tình hình thựchiện chính sách đào tạo cho LĐNT
2.2.2.4 Phòng Giáo dục và Đào tạo
Triển khai và đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dụchướng nghiệp trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, đặc biệt là tại cácvùng sâu, vùng xa để học sinh có thái độ đúng đắn về vai trò của học nghề và chủđộng lựa chọn các hình thức học nghề sau THCS và THPT
Chỉ đạo các Trung tâm giáo dục thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ sởdạy nghề thực hiện liên kết mở lớp học theo mô hình văn hóa - nghề
2.2.2.7 Phòng Văn hóa - Thông tin và Đài Phát thanh - Truyền hình huyện
Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH, Phòng NN&PTNT và các cơ quan có liênquan thực hiện tuyên truyền sâu rộng đến các địa phương về chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề, các chương trình, các khóa đào tạo nghề choLĐNT
Trang 312.2.2.8 Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn
Tổ chức chỉ đạo thực hiện Đề án đào tạo nghề cho LĐNT do Chủ tịch hoặc PhóChủ tịch xã, thị trấn làm Trưởng ban, các thành viên là đại biểu của các cơ quan quản
lý nhà nước cấp xã, thị trấn (tương tự nhóm thành viên của Ban chỉ đạo cấp huyện)trong đó Phòng LĐ-TB&XH là cơ quan thường trực Đề án để chỉ đạo tổ chức triểnkhai thực hiện chính sách trên địa bàn
Thành lập và chỉ đạo chỉ đạo các ban chuyên môn, các tổ công tác tuyên truyền
tư vấn học nghề Đồng thời, căn cứ vào Đề án đào tạo nghề cho LĐNT của UBNDhuyện, UBND các xã, thị trấn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy nghề hàngnăm trên địa bàn Trong đó xác định một số nội dung cơ bản sau:
Khảo sát, thống kê nhu cầu học nghề của LĐNT, nhu cầu sử dụng lao động quađào tạo nghề của các doạnh nghiêp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và thị trườnglao động trên địa bàn huyện và trên cơ sở đó xác định danh mục nghề đào tạo, sốlượng lao động cần học nghề, số lượng lớp học, thời gian học nghề
Theo dõi, tổng hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất việcthực hiện kế hoạch triển khai thực hiện chính sách trên địa bàn
2.2.2.9 Các đoàn thể từ huyện đến cơ sở
Chủ động phối hợp với các ngành cơ liên quan để phổ biến, tuyên truyền chủtrương, Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT, tưvấn học nghề, việc làm miễn phí và vận động các thành viên của mình tham gia họcnghề Phối hợp với các ngành thực hiện chức năng giám sát hoạt động dạy nghề choLĐNT trên địa bàn
Huyện đoàn chủ động phối hợp với phòng LĐ-TB&XH, các ngành có liên quanxây dựng dự án cụ thể quy định tại Mục 3, Điều 1 Quyết định 103/QĐ-TTg ngày 12tháng 7 năm 2008, để lồng ghép với các nội dung của Đề án đào tạo nghề
Hội Nông dân huyện, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện chủ trì, phối hợp với PhòngLĐ-TB&XH và các ngành có liên quan, lồng ghép các nội dung của Đề án “Hỗ trợphụ nữ học nghề, tạo việc làm” trong từng giai đoạn cụ thể
2.2.2.10 Các cơ sở, trung tâm đào tạo nghề
Trang 32Chiụ trách nhiệm tham mưu, tư vấn cho UBND huyện và phối hợp với PhòngLĐ-TB&XH và Phòng NN&PTNT các ngành có liên quan tổ chức tuyển sinh đào tạonghề cho LĐNT.
Phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH trong việc xây dựng nội dung các chương trình,
kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
Phối hợp với các cơ sở kinh doanh xây dựng chương trình, giáo trình, học liệuđáp ứng yêu cầu kỹ năng nghề của người sử dụng lao động
Chủ động phối hợp với doanh nghiệp đưa học viên đi thực tập thực tế tại các cơ
sở sản xuất kinh doanh
2.2.3 Tổ chức nhân sự thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
Trên cơ sở tình hình thực tế của địa phương và các văn bản chỉ đạo của cấp trên,
để đảm bảo hiệu quả thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, UBND huyện giaocho Phòng Nội vụ tuyển dụng, bổ sung thêm một biên chế cho Phòng LĐ-TB&XHhuyện Trực tiếp quản lý vấn đề về đào tạo nghề cho LĐNT, có trách nhiệm quản lýchung, chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách, đồng thời có trách nhiệm báo cáo tìnhhình triển khai thực hiện và đề xuất các ý kiến nhằm nâng cao hiêu quả thực thi chínhsách
Thành lập ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”huyện Vĩnh Linh do Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, Trưởng phòng các
cơ quan có liên quan, Giám đốc Trung tâm day nghề huyện, Chủ tịch các xã, thị trấnlàm thành viên Ban chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu cho UBND huyện tổ chức triểnkhai thực hiện chính sách, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chínhsách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện
Thành lập tổ công tác triển khai thực hiện chính sách tại 22 xã, thị trấn do PhóChủ tịch các xã, thị trấn làm Tổ trưởng, Chủ tịch hội Nông dân, Hội Phụ nữ, một sốcán bộ xã và các trưởng thôn, trưởng bản làm thành viên Tổ công tác có nhiệm vụ xâydựng các kế hoạch, triển khai các nhiệm vụ, nắm bắt và báo cáo số lượng và nhu cầuhọc nghề của LĐNT và báo cáo tình hình triển khai thực hiện chính sách tại các xã, thịtrấn về cho ban chỉ đạo huyện Bên cạnh đó, tổ công tác cũng đóng vai trò quan trọng
và phối hợp với các Phòng ban có liên quan thực hiện thanh tra, kiểm tra giám sátcông tác đào tạo nghề cho LĐNT
Trang 33Mỗi xã, thị trấn có từ 2-3 tuyên truyền viên, thuộc hợp đồng của huyện do PhòngLĐ-TB&XH trực tiếp quản lý, có nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho LĐNT, định hướng trong việc lựa chọnnghề nghiệp, tổ chức giới thiệu các chính sách ưu đã hỗ trợ, ngành nghề đào tạo choLĐNT tại các buổi sinh hoạt tại cộng đồng, giới thiệu các mô hình sản xuất giỏi, dạynghề có hiệu quả nhằm thay đổi nhận thức của người dân, đặc biệt là LĐNT về vai chocủa học nghề.
Tại các 02 Trung tâm dạy nghề huyện, tiến hành tuyển dụng những người đạt tiêuchuẩn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ làm giáo viên giảng dạy tại các cơ sở dạy nghề.Đối với các ngành nghề truyền thống, ngành nghề chưa có giáo viên giảng dạy, UBNDhuyện chủ trương tuyển các thợ lành nghề, thợ bậc cao trên địa bàn huyện để tiến hànhbồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề nhằm đào tạo nghề cho LĐNT Đối vớicác ngành nghề nông nghiệp đào tạo chủ yếu tại cộng đồng, ban chỉ đạo thực hiệnchính sách sẽ phối hợp với Phòng NN&PTNT cử các kỹ sư nông nghiệp, hoặc mời các
kỹ sư, tiến sỹ khoa học trên địa bàn tỉnh tham gia đào tạo nghề cho lao động nôngthôn
Hiện nay, theo số liệu thống kê trên địa bàn huyện có tất cả 43 giáo viên thamgia đào tạo nghề cho LĐNT Trong đó: 18 giáo viên cơ hữu, 06 nghệ nhân, 11 thợ bậccao, 8 kỹ sư nông nghiệp tham gia dạy nghề trồng trọt, chăn nuôi trong các khoá đàotạo ngắn hạn tại cộng đồng
Tại 02 Trung tâm dạy nghề của huyện đều có cơ cấu tổ chức bộ máy riêng, baogồm 01 Giám đốc, 02 Phó giám đốc và 1 cán bộ kế toán - hành chính Ban giám đốctrung tâm dạy nghề có trách nhiệm quản lý công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại cácTrung tâm, triển khai thực hiện các nội dung, kế hoạch về đào tạo nghề đã đượcUBND huyện thông qua, kịp thời báo cáo các vấn đề nảy sinh, liên quan trong quátrình thực thi chính sách cho ban chỉ đạo thực hiện Đề án và Phòng LĐ-TB&XH đểkịp thời giải quyết Bên cạnh đó, Ban Giám đốc Trung tâm dạy nghề còn có tráchnhiệm phối hợp với Phòng LĐ-TB&XH trong việc xây dựng các chương trình, kếhoạch triển khai thực hiện chính sách, phối hợp với Phòng NN&PTNN trong việcnghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình, ngành nghề đào tạo phù hợp vớithực tình hình của địa phương
2.2.4 Tổ chức các nguồn lực thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
Trang 34Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách nói chung và chính sách vềđào tạo nghề cho LĐNT nói riêng, việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồnlực đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến hiệu quả của sách trên thực tế.Trên cơ sở đó, UBND huyện Vĩnh Linh đã huy động và sử dụng nhiều nguồn lực khácnhau nhằm đảm bảo cho quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề choLĐNT đạt được những mục tiêu đề ra.
2.2.4.1 Nguồn kinh phí triển khai thực hiện chính sách
Hằng năm, ngoài nguồn ngân sách của Trung ương chi cho công tác đào tạo nghềtrên địa bàn huyện, UBND huyện Vĩnh Linh cũng dành một phần kinh phí trong ngânsách của huyện phục vụ cho công tác đào tạo nghề cho LĐNT Bên cạnh đó, việc huyđộng và sử dụng các nguồn tài chính từ việc xã hội hoá công tác dạy nghề cho LĐNTtrên địa bàn huyện cũng được chú trọng
Bảng 2.3 Kinh phí đầu tư cho công tác đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Vĩnh Linh (không bao gồm chi phí XDCB) giai đoạn (2010 - 2013).
ĐVT: triệu đồng
Trên địa bàn huyện hiện có 02 trung tâm thực hiện đào tạo nghề cho LĐNT Baogồm: Trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề Ngô Tuân thực hiện đào tạo các nghềnhư mộc dân dụng, nấu ăn, tin học cho lao động và học sinh Thực hiện Quyết định1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Đào tạo nghề LĐNT đến năm 2020”, ngày 26 tháng 7 năm 2010 huyện Vĩnh Linhthành lập Trung tâm dạy nghề tổng hợp với 100% nguồn vốn từ ngân sách nguồn ngân
Trang 35sách TW nhằm tổ chức đào tạo các ngành nghề như: điện dân dụng, cơ khí gò hàn,may công nghiệp , trồng trọt, chăn nuôi….
Thông qua nguồn vốn được đầu tư từ Dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”
và Dự án thuộc “Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm - dạy nghề” cơ sở vậtchất, trang thiết bị dạy nghề của 02 Trung tâm dạy nghề huyện đã được cải thiện đáng
kể, nhiều hạng mục về công trình lý thuyết, sân, xưởng thực hành được đầu tư xâydựng, trang thiết bị của nhiều nghề được mua sắm tương đối hoàn chỉnh Trong đóTrung tâm dạy nghề tổng hợp của huyện được đầu tư về hệ thống phòng học lý thuyết,xưởng thực hành gần như hoàn thiện Trung tâm đã có khu kí túc xá và nhà ăn phục vụcho LĐNT tại các vùng sâu, vùng xa tham gia các khóa đào tạo nghề được tổ chức tạiTrung tâm
2.2.4.3 Phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề
Số chương trình dạy nghề đã được phê duyệt và đưa vào chương trình đào tạonghề cho LĐNT trong 5 năm triển khai thực hiện chính sách là 36/52 nghề trong tổng
số danh mục nghề được UBND tỉnh phê duyệt Trong đó, nghề nông nghiệp là 28 nghề
và nghề phi nông nông nghiệp là 8 nghề Chương trình, giáo trình dạy nghề cơ bản đãđáp ứng nhu cầu của người học, luôn gắn chặt giữa lý thuyết và thực hành, có sự phân
bố hợp lý giữa các chương trình học và số tiết dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho học viêntrong quá trình tham gia các khóa đào tạo
Riêng trong 02 năm 2012 - 2013, ngân sách tỉnh đã hỗ trợ 30 triệu đồng để phân
bổ cho 2 cơ sở đào tạo nghề tổ chức xây dựng, chỉnh sửa hoàn chỉnh chương trình,giáo trình phục vụ đào tạo nghề cho LĐNT Tuy nhiên, việc xây dựng chương trình,giáo trình còn nhiều hạn chế, một số giáo trình chưa sát thực tế của địa phương, một sốgiáo trình còn sao chép các tài liệu trước đây, thiếu bổ sung hoàn thiện, chưa có giáotrình giảng dạy các ngành nghề mới, chưa thể đáp ứng nhu cầu học nghề của LĐNT
2.2.4.4 Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề
Đến hết năm 2013, có 05/22 xã, thị trấn có chuyên viên theo dõi lĩnh vực dạynghề thuộc Phòng LĐ-TB&XH huyện (thị trấn Khe Sanh, thị trấn Lao Bảo, xã HướngLinh, xã Thuận và xã Hướng Tân) Các xã còn lại hiện giao cho cán bộ Phòng thuộcLĐ-TB&XH huyện kiêm nhiệm công tác quản lý dạy nghề Trung tâm dạy nghề huyệnvẫn chưa bố trí đủ giáo viên cơ hữu để thực hiện hoạt động dạy nghề theo quy định
Trang 36hiện hành, hiện chỉ có 06 cán bộ quản lý, 18 giáo viên cơ hữu/2 trung tâm dạy nghềhuyện.
Nhằm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên và cán bộ quản lý dạynghề hiện có tại Trung tâm dạy nghề của huyện và các cơ sở dạy nghề khác tại cộngđồng Phòng LĐ-TB&XH huyện đã phối hợp với Sở LĐ-TB&XH tỉnh tiến hành bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy nghề cho LĐNT Đảm bảo 100% giáoviên tham gia dạy nghề được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, đạt chuẩn theoquy định hiện hành
Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và kỹ năng dạy học cho 46giáo viên, người dạy học của các cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho LĐNT từnguồn kinh phí Chương trình mục tiêu Quốc gia việc làm Cụ thể:
Bảng 2.4 Thống kê số lượng giáo viên được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
dạy nghề tại huyện Vĩnh Linh, giai đoạn (2009-2013).
ĐVT: người
(Nguồn: Phòng LĐ-TB&XH huyện Vĩnh Linh)
Tổ chức bồi dưỡng cho 46 tuyên truyền viên về nghiệp vụ tư vấn chọn nghề, tìm
và tự tạo việc làm cho LĐNT tại các tổ công tác thực hiện chính sách đào tạo nghề choLĐNT tại các xã, thị trấn Cụ thể:
Bảng 2.5 Thống kê số lượng tuyên truyền viên được bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền, tư vấn dạy nghề tại huyện Vĩnh Linh, giai đoạn (2009-2013).
Trang 37nghề, cho học sinh, sinh viên vay vốn tham gia học nghề dài hạn, trung cấp nghề; ChoLĐNT vay vốn để mở rộng hoặc phát triển sản xuất kinh doanh sau khi đào tạo nghề
và cho LĐNT vay vốn để xuất khẩu lao động Theo đó, cho vay mở rộng phát triển sảnxuất kinh doanh sau khi học nghề tối đa là 100 triệu cho các dự án trang trại, lãi suất0,6% và 30 triệu đồng cho sản xuất hộ gia đình, lãi suất 0,9% Cho vay xuất khẩu laođộng bằng 75% chi phí xuất cảnh, lãi suất 0,65% Cho LĐNT, sinh viên tham gia họcnghề dài hạn 10 triệu đồng/năm
2.2.5 Tổ chức các công việc khác liên quan đến thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện
2.2.5.1 Nhóm chính sách áp dụng trong việc thực thi chính sách
Trên cơ sở các các nhóm chính sách của Đề án 1956 và điều kiện của địaphương, quá trình tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho LĐNT, UBND huyện Vĩnh Linhthực hiện một số các chính sách sau:
Chính sách về đối với đối tượng, ngành nghề đào tạo
Tập trung đào tạo nghề cho LĐNT trong đó chú trọng đến các đối tượng chínhsách, gia đình có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người bị thu hồi đất sảnxuất làm nhà máy thủy điện, thanh niên tại các thôn, bản vùng sâu vùng xa có trình độdân trí thấp
Về ngành nghề đào tạo: UBND huyện chủ trương chú trọng thực hiện đào tạo cácngành nghề ngắn hạn, ngành nghề nông nghiệp, có cơ hội giải quyết việc làm tại chỗ,phù hợp với điiều kiện thực tiễn của địa phương Bên cạnh đó, UBND huyện cũngchủ động mở rộng đào tạo các ngành nghề theo hướng công nghiệp, dịch vụ, phục vụcho xuất khẩu lao động Cụ thể:
- Nhóm nghề nông nghiệp: trồng, chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng (chuối,
cà phê, cao su, hồ tiêu, sắn ), kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm (nuôi lợn bản/ Vân
pa, nuôi gà thả vườn, nuôi bò vỗ béo ); chế biến nông lâm sản; trồng rừng,
- Nhóm ngành phi nông nghiệp: nhóm ngành dân dụng (điện, cơ khí, gò hàn, nề,mộc, ); nhóm ngành dịch vụ (dịch vụ thú y, sửa chữa máy nông nghiệp, lái xe, vậnhành máy xúc, máy đào ); nhóm ngành nghề truyền thống (đan lát, nấu rượu, làmchổi đót, thêu ren )
Chính sách đối với học viên
Trang 38Hằng năm, trên cơ sở sở nguồn ngân sách của Trung ương và ngân sách địaphương cho công tác đào tạo nghề, UBND huyện Vĩnh Linh tiến hành hỗ trợ chi phícho học viên tham gia học nghề theo Quyết định 1956 về tiền ăn 15.000 đồng/ngày,tiền đi lại tối đa không quá 200.000 đồng/học viên (đối với học viên từ 15km trở lên).LĐNT thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợchi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03 tháng) với mứctối đa là 2,5 triệu đồng/người/khoá học LĐNT khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắnhạn với mức tối đa 2 triệu đồng/ người/ khoá học.
Riêng đối với học viên tham gia học nghề dài hạn được hưởng các chế độ, chínhsách tín dụng dành cho sinh viên, học sinh theo quy định hiện hành Lao động thamgia đào tạo nghề để xuất khẩu lao động được hỗ trợ tiền học ngoại ngữ, chi phí ăn ở, đilại và vay 75% chi phí xuất cảnh Sau khi kết thúc đào tạo, lao động sẽ được tạo điềukiện cho vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh
Chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề:
Đối với giáo viên dạy ở các thôn bản, vùng sâu vùng xa, thường xuyên phảixuống thôn, bản, phun, sóc thuộc vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, được hưởngphụ cấp 0,2 so với mức lương tối chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xoá
mù chữ, phổ cập giáo dục cho vùng sâu, vùng xa
Đối với người dạy nghề là cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề caotại các doanh nghiệp, cơ sở SXKD, các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, nông dânsản xuất giỏi) tham gia dạy nghề cho LĐNT, được trả tiền công giảng dạy với mức tốithiểu là 25.000 đồng/giờ Đối với các nghệ nhân tham gia đào tạo nghề cho LĐNT tạicác làng nghề truyền thống được trả tiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000đồng/buổi Đồng thời, các cán bộ quản lý, giáo vên giảng dạy còn được hưởng các chế
độ đãi ngộ theo quy định hiện hành
Chính sách đối với các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh, cá nhân tham gia đào tạo nghề cho LĐNT
Nhằm thu hút các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân tham gia đào tạo nghề choLĐNT, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách, huyện Vĩnh Linh luôn chútrọng khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư giải quyết việc làm, tiến hànhđào tạo nghề cho LĐNT bằng nhiều chính sách ưu đãi Cụ thể:
Trang 39Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 03 năm đầu kể từ khi có thu nhậpchịu thuế; được giảm 50% số thuế phải nộp trong 05 năm tiếp theo; được áp dụng mứcthuế suất là 10% trong thời gian chịu thuế
Được tạo điều kiện thuận lợi trong việc thuê mặt bằng mở rộng sản xuất, pháttriển doanh nghiệp với thời gian thuê tối đa là 70 năm Riêng các dự án đầu tư vàoKhu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo có tham gia đào tạo nghề, thu hút lao độngđược miễn tiền thuê đất trong 11 năm đầu và được hưởng mức giá thuê đất bằng 30%giá thuê đất áp dụng cho các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị kể từ năm thứ 12 trở đi.Khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo nghề theo hướng gắn đào tạo sản xuất với baotiêu sản phẩm, giải quyết việc làm tại chỗ, tiếp nhận lao động sau đào tạo, đa dạng hóacác ngành nghề đào tạo Nhờ vậy, các doanh nghiệp, đơn vị SXKD tham gia đào tạonghề cho LĐNT ngày càng đông đảo, hàng trăm lao động tìm kiếm được việc làm saukhi được đào tạo nghề
2.2.5.2 Tuyên truyền tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn
Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT, hoạtđộng tuyên truyền, tư vấn học nghề đã được quan tâm và duy trì thực hiện khá tốt Nộidung trọng tâm tập trung vào tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng và nhànước về học nghề; các chính sách đối với LĐNT tham gia học nghề theo Quyết định1956/QĐ-TTg; ý nghĩa và tầm quan trọng của học nghề, các điển hình tốt trong việcthực hiện Đề án; các mô hình, điển hình học nghề có hiệu quả Hình thức tuyên truyền,
tư vấn học nghề đuợc thực hiện đa dạng như: xây dựng các chuyên trang, chuyên mục
về đào tạo nghề trên các phương tiện truyền thanh, tại các tổ thực hiện công tác đàotạo nghề tại các xã, thị trấn, lồng ghép nội dung tuyên truyền vào các buổi sinh hoạt,tọa đàm của các tổ chức, hội, đoàn thể
Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề cho LĐNTtrong quá trình triển khai thực hiện chính sách, Phòng LĐ-TB&XH huyện đã kết hợpvới Phòng Văn hóa - Thông tin và đài Phát thanh và truyền hình huyện, Phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và phát hành hàng trăm lượt tin, bài,phóng sự, tuyên truyền về chuyên mục đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho laođộng nông thôn nói riêng Chuyên mục “Việc làm - Dạy nghề” được xây dựng từ năm
2011 và đến hết năm 2013, chương trình đã phát sóng 44 lượt trên đài truyền thanh củahuyện được tuyên truyền rộng rãi đến 20/22 xã, thị trấn trên các loa truyền thanh củahuyện, 13/22 xã, thị trấn đã xây dựng các chuyên mục tuyên truyền, thu thập, tổng hợp