1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tình hình sử dụng đất tại xã chiềng khoong, huyện sông mã, tỉnh sơn la

92 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất từ đó làm cơ sở c

Trang 1

Xin chân thành cảm ơn của UBND xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn

La đã cho phép em được thực tập khóa luận tại Ủy ban nhân dân

Do thời gian thực hiện khóa luận có hạn cũng như kiến thức cá nhân còn hạn chế nên báo cáo khóa luận không thoát khỏi những thiếu sót nhất định, em rất mong nhận được sự quan tâm của các thầy, cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để bản khóa luận này hoàn thiện hơn

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Lò Văn Quý

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Trên thế giới 2

1.2 Việt Nam 3

1.3 Nhận xét chung 5

PHẦN 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 6

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 6

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 6

2.3.1 Đánh giá tình hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong 6

2.3.2 Đánh giá một số mô hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong 6

2.3.3 Giải pháp sử dụng đất của xã Chiềng Khoong hiệu quả và bền vững 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu 7

2.4.1 Kế thừa các số liệu, tài liệu 7

2.4.2 Thu thập số liệu thực tế 7

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 9

PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 11

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 11

3.1.1.1 Vị trí địa lý 11

3.1.1.2 Địa chất, địa mạo 11

3.1.1.3 Khí hậu 11

3.1.1.4 Thủy văn 12

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên khác 12

3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 13

Trang 3

3.2.1 Văn hóa - xã hội 13

3.2.2 Kinh tế 14

3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 17

3.3.1 Thuận lợi 17

3.3.2 Khó khăn 17

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Đánh giá tình hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong 18

4.1.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của xã 18

4.1.2 Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai 20

4.1.2.1.Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp 20

4.1.2.2 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, đô thị, xây dựng khu dân cư nông thôn 21

4.1.2.3 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho phát triển du lịch 22

4.1.2.4 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho việc vận chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và phát triển cơ sở hạ tầng 22

4.1.3 Đánh giá hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp thủy sản của xã 22

4.1.4 Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất của xã 25

4.1.4.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sử dụng đất 25

4.1.4.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán của người dân đến sử dụng đất 26

4.1.4.3 Ảnh hưởng của thị trường đến sử dụng đất 26

4.1.4.4 Ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất huyện Sông Mã 28

4.1.5 Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã 29

4.1.5.1 Lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày 29

4.1.5.2 Lựa chọn Cây nông nghiệp dài ngày 30

4.1.5.3 Lựa chọn cây lâm nghiệp 30

4.1.5.4 Lựa chọn vật nuôi 31

4.2 Đánh giá một số mô hình sử dụng đất của xã 32

4.2.1 Mô tả các mô hình sử dụng đất 32

4.2.1.1 Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày 32

4.2.2 Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và sinh thái môi trường của các mô hình 34

Trang 4

4.2.2.1 Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày 34

4.2.2.1 Mô hình cây nông nghiệp dài ngày 34

4.2.2.1 Mô hình cây lâm nghiệp 37

4.2.3 Phân tích Ưu, nhược điểm của các mô hình sử dụng đất 40

4.3 Đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng đất của xã hiệu quả và bền vững 44

4.3.1 Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức đối với vấn đề sử dụng đất 44

4.3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng đất của xã hiệu quả và bền vững 46

4.3.2.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 46

4.3.2.2 Giải pháp về kỹ thuật 46

4.3.2.3 Giải pháp về nguồn lực và vốn đầu tư 46

4.3.2.4 Giải pháp về khoa học - công nghệ 47

4.3.2.5 Giải pháp về Thị trường 47

4.3.2.6 Giải pháp về cải tạo đất và bảo vệ môi trường 48

4.3.2.7 Giải pháp về tổ chức thực hiện 48

4.3.2.8 Các giải pháp khác 49

PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Tồn tại 51

5.3 Khuyến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 6

DANH MỤC BIỂU

Biểu 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Chiềng Khoong năm 2017 18

Biểu 4.2: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày 29

Biểu 4.3: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp dài ngày 30

Biểu 4.4: Đánh giá lựa chọn cây Lâm nghiệp 30

Biểu 4.5: Kết quả đánh giá, lựa chọn cơ cấu vật nuôi 31

Biểu 4.6: Mô hình cây nông nghiệp dài ngày 32

Biểu 4.7: Mô tả mô hình cây Lâm nghiệp 33

Biểu 4.8: Thu nhập và lợi nhuận các mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày 34

Biểu 4.9: Hiệu quả kinh tế của mô hình cây nông nghiệp dài ngày 35

Biểu 4.10: Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội các mô hình cây nông nghiệp dài ngày 36

Biểu 4.11: Kết quả đánh giá hiệu quả sinh thái môi trường của các mô hình cây nông nghiệp dài ngày 36

Biểu 4.12: Đánh giá hiệu quả tổng hợp các mô hình trồng cây nông nghiệp dài ngày 37 Biểu 4.13: Kết quả đánh giá chỉ tiêu kinh tế của mô hình cây lâm nghiệp 38

Biểu 4.14: Đánh giá hiệu quả xã hội các mô hình sử dụng đất của cây lâm nghiệp 38

Biểu 4.15: Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình cây Lâm nghiệp 39

Biểu 4.16: Đánh giá hiệu quả tổng hợp của mô hình cây Lâm nghiệp 39

Biểu 4.17 Phân tích SWOT của xã Chiềng Khoong 44

Trang 7

Chính vì vậy, sử dụng đất nông lâm nghiệp là chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái Do sức ép của đô thị hoá và sự gia tăng dân số, đăc biệt ý thức sử dụng đất của người dân, đất nông lâm nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa

có biện pháp hợp lý để bảo vệ và khai thác đất đai một cách hiệu qủa và bền vững Thực tế hiện nay việc sử dụng và quản lý đất đai của ngành nông – lâm nghiệp chưa hợp lý dẫn đến hiệu qủa kinh tế chưa cao Vậy làm thế nào để đảm bảo lợi ích hài hòa giữa kinh tế - xã hội - môi trường? Đó chính là vấn đề cấp bách của từng địa phương nói riêng và của nhà nước nói chung

Hiện nay, việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền nông lâm nghiệp sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đạt hiệu qủa kinh tế cao, đảm bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển bền vững đang là vấn đề nóng mang tính toàn cầu Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của Quốc gia và của từng địa phương Việc sử dụng đất xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, nguyện vọng của nhân dân mỗi địa phương, đồng thời nó cũng phải phù hợp với định hướng phát triển của đất nước Có như vậy mới đảm bảo được việc quản lý sử dụng đất hiệu quả và bền vững

Xã chiềng khoong là một trong những xã mà người dân chủ yếu dựa vào canh tác nông- lâm nghiệp và phát triển kinh tế hộ gia đình Nhưng hiện nay tại xã chưa có những nghiên cứu về kiểm tra đánh giá đưa ra giải pháp quản lý sử dụng đất, bố trí cơ cấu

cây trồng nông – lâm nghiệp Trên cơ sở đó tôi tiến hành nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu tình hình sử dụng đất tại xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La” với

mong muốn sẽ tìm ra các giải pháp hiệu qủa trong viêc sử dụng đất giúp người dân biết sử

dụng đất hợp lý, bền vững và đạt hiệu qủa kinh tế cao, ổn định cuộc sống

Trang 8

PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, mô hình sử dụng đất đầu tiên là do du canh đó là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conk Lin, 1957) [4], du canh được xem là phương thức cổ xưa nhất,

nó ra đời vào thời kỳ đồ đá, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu

về tự nhiên Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng những cuộc cánh mạng về kỹ

thuật và trồng trọt “Tuy nhiên cho mãi tới gần đây du canh vẫn còn được vận dụng trên các Vân San ở Bắc Âu” ( Cox và Atlinss , 1979; Ruddle và Manshard, 1981) [2]

“Quan điểm về du canh còn đang được xem xét mà một trong những góc nhìn mới coi

du canh là một chiến lược quản lí tài nguyên rừng trong đó đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của hệ thực vật – đất của hiện trường canh tác” ( Mc Grath, 1978) Tuy nhiên , về chiến lược phất triển kinh tế bền vững du

canh không được nhiều chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi du canh được coi như là sự phí phạm với sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng [2]

Theo (Brinkman và Smyth) (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu

kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí [5]

Ở Myanma, phương thức Taungya được bắt đầu vào năm 1856 Nhà nước đã cho trồng cây gỗ Tếch kết hợp trồng cây lúa cạn, ngô trong 2 năm đầu khi rừng chưa khép tán Mục tiêu chính của hệ thống này là khôi phục lại rừng bị tàn phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ Đây là dạng mô hình chuyển tiếp từ canh tác nương rẫy sang canh tác nông lâm kết hợp [1]

Dự đoán mức độ tăng dân số của thế giới có thể gấp đôi với khoảng 10 tỉ người vào năm 2050 (UNFPA, 1992; trong FAO, 1993) Do đó, hầu hết các nhà khoa học và chuyên gia trên thế giới đồng ý với nhau rằng cần thiết phải áp dụng những công nghệ nông nghiệp tiên tiến cho việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai để cung cấp lương thực đầy đủ, chất sợi, thức ăn gia súc, dầu sinh học và gổ lên gấp đôi [5]

Theo Dent (1988; 1993) QHSDĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho

sử dụng đất đai [5]

Trang 9

Khi phân tích các mô hình sử dụng đất theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả… Agbool A (1990) đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất Việc

sử dụng đất dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa gây xói mòn, tính chất của đất và nhất là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được sử dụng để chống xói mòn vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Trên các vùng đất dốc thường người ta không gieo trồng độc canh một loại cây liên tục mà trồng gối, trồng xen, luân canh [1]

Nông lâm kết hợp có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên, mặt khác nông lâm kết hợp là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng Chính vì vậy mà canh tác nông lâm kết hợp sẽ làm giảm sức ép của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng (Young, 1997)[7]

Những năm gần đây, các chương trình khoa học của Liên hợp quốc đang ứng dụng một chế độ canh tác hợp lý trên đất dốc, nương rẫy theo hệ thống nông lâm kết hợp và đề xuất kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc theo các mô hình:

- Mô hình SALT 1 : Đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực – kĩ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu : 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (cây nông nghiệp) + 50% nhà ở và chuồng trại

- Mô hình SALT 2 : là mô hình kinh tế Nông – Lâm – Súc kết hợp đơn giản với

cơ cấu : 40% đất nông nghiệp + 20% đất cho lâm nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% nhà

ở và chuồng trại

- Mô hình SALT 3 : Mô hình kĩ thuật canh tác nông lâm kết hợp bền vững , cơ cấu sử dụng đất : 40% nông nghiệp + 60% lâm nghiệp Mô hình này đòi hỏi sự đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn và kĩ thuật

- Mô hình SALT 4 : Đây là mô hình nông lâm kết hợp với cây cây ăn quả quy

mô nhỏ, cơ cấu sử dụng đất : 60% lâm nghiệp +15% nông nghiệp + 25 % cây ăn quả

Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực vốn và kĩ thuật canh tác [6]

Trang 10

Đối với tài nguyên đất dốc, tác giả Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà, Phạm Tiến Dũng đã nghiên cứu về sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc ở Văn Yên, tỉnh Yên Bái, công trình nghiên cứu đi vào hướng cải tiến hệ thống canh tác truyền thống: Chọn giống cây trồng, chọn hệ thống canh tác, chọn luân kỳ canh tác, chọn phương thức trồng xen, để tìm ra hệ thống trồng trọt tối ưu có nhiều lợi nhuận, bảo vệ môi trường

Về luân canh tăng vụ, trồng xen, gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả đề cập tới: Trần Đức Viên, Đỗ Văn Hoà, Trần Văn Diễn, Trần Quang Tộ Phạm Văn Chiểu (1964), Bùi Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Trọng Bình (1987), Bùi Quang Toản (1991) Những mô hình cơ cấu cây trồng chính được nghiên cứu như mô hình nương rẫy cải tiến, mô hình cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, NLKH, mô hình tổng hợp SDĐ theo quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững

Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội của Trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ

và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật SDĐ bền vững trong điều kiện Việt Nam Trong

đó các tác giả đã đi sâu phân tích về:

- Quan điểm về tính bền vững

- Khái niệm về tính bền vững và phát triển bền vững

- Hệ thống SDĐ bền vững

- Kỹ thuật SDĐ bền vững

- Chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống, kỹ thuật SDĐ

Chương trình hợp tác về lâm nghiệp giữa Việt Nam và Thuỵ Điển (1991-1995)

đó là chương trình FCP ở 5 tỉnh: Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Hà Giang, Yên Bái và Lào Cai, 5 dự án lâm nghiệp cấp trang trại tỉnh (FLFP) được thành lập trực thuộc sở Nông - Lâm nghiệp tỉnh (AFD) Một số dự án hỗ trợ khác như: Phổ cập, quản lý SDĐ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu Chương trình này được coi là một cách tiếp cận có sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có hiệu quả

Quản lý hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai, sử lý kết quả, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất là nội dung của đề tái “ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS xác ddingj hiện trạng sử dụng đất phục vụ kiểm kê đất đai” (do KS.Đinh Hồng Phong làm chủ nhiệm 2007)

Năm 2008 tiếp tục thực hiện theo kế hoạch chương trình đào tạo trao dồi nghiệp

vụ đưa dự án xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại Việt Nam sử dụng vốn vay ODA của chính phủ pháp vào vận hành theo kế hoạch

Trang 11

1.3 Nhận xét chung

Những dẫn chứng ở trên cho thấy đã có nhiều công trình trong nước cũng như các địa phương nghiên cứu về vấn đề quản lí sử dụng đất dưới nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn chưa đủ, vấn đề tìm ra các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả cho từng vùng, từng khu vực và mỗi địa phương là việc làm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nông thôn giai đoạn hiện nay bởi vì mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khác nhau sẽ có ảnh hưởng đến quản lý

sử dụng đất khác nhau

Xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La có diện tích đất đai chủ yếu là đồi núi có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở, chủ yếu là dân tộc thiểu số và sống chủ yếu nhờ vào canh tác nông - lâm nghiệp nhưng cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn do quá trình sử dụng đất của xã còn nhiều hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất hiệu quả với việc sử dụng đất hợp lý và chọn tạo những loài cây trồng mang lại hiệu quả cao, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập, mức sống của đại bộ phận người dân là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay

Trang 12

PHẦN 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

Góp phần sử dụng đất hiệu quả và bền vững cho người dân xã Chiềng Khoong, huyện Sông mã, tỉnh Sơn La

* Mục tiêu cụ thể:

Đánh giá và phân tích tình hình sử dụng đất nông – lâm nghiệp của xã, trên cơ

sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho xã Chiềng Khoong, huyện Sông mã, tỉnh Sơn La

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tình hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong, huyện Sông mã, tỉnh Sơn La

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: xã Chiềng Khoong, huyện Sông mã, tỉnh Sơn La

- Phạm vi nội dung nghiên cứu:

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu 3 nội dung chính liên quan đến quản lý sử dụng nhóm đất của xã Chiềng Khoong, huyện Sông mã, tỉnh Sơn La, bao gồm: Đánh giá tình hình sử dụng nhóm đất của xã; Đánh giá các mô hình sử dụng đất; Đề xuất các giải pháp

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá tình hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của xã

- Đánh giá tiềm năng đất đai của xã

- Đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh của xã

- Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất của xã

- Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã

2.3.2 Đánh giá một số mô hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong

- Mô tả các mô hình

- Đánh giá hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình

- Phân tích ưu - nhược điểm của các mô hình

2.3.3 Giải pháp sử dụng đất của xã Chiềng Khoong hiệu quả và bền vững

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong vấn đề sử dụng đất của xã

- Đề xuất các giải pháp sử dụng đất của xã hiệu quả và bền vững

Trang 13

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Kế thừa các số liệu, tài liệu

Kế thừa các số liệu, tài liệu có liên quan đến nội dung của chuyên đề nghiên cứu, bao gồm:

- Các chuyên đề, khóa luận nghiên cứu có liên quan

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã

- Văn bản pháp luật quy định liên quan đến quản lý sử dụng đất như: Luật đất đai, luật bảo vệ tài nguyên rừng,

- Tài liệu về quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện đối với xã

- Thu thập các loại bản đồ của xã như bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng

- Tài liệu về phát triển nông – lâm nghiệp, phát triển kinh tế của xã

- Số liệu hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất của xã

- Thiết kế kỹ thuật các mô hình sử dụng đất của xã

- Tài liệu về khuyến nông, khuyến lâm của xã

- Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất của xã năm 2016 và năm 2017

2.4.2 Thu thập số liệu thực tế

a) Phương pháp nghiên cứu về tình hình sử dụng đất của xã

* Phương pháp nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất của xã

+ Kế thừa báo cáo hiện trạng sử dụng đất của xã

+ Khảo sát hiện trạng thực tế các loại đất kết hợp với bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã để xác định hiện trạng sử dụng đất của xã

* Phương pháp nghiên cứu tiềm năng đất đai của xã

+ Khảo sát thực tế các loại đất để đánh giá tiềm năng về số lượng và chất lượng + Từ việc nghiên cứu, phân tích các số liệu thu thập được sẽ đánh giá tiềm năng đất của xã

* Phương pháp đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh của xã

+ Kế thừa báo cáo hoạt động sản xuất của xã năm 2016 và năm 2017

+ Kết hợp với số liệu phỏng vấn người dân của các bản

* Phương pháp đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất của xã

+ Kế thừa tài liệu hoặc phỏng vấn để xác định những định hướng quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện đối với vấn đề sử dụng đất của xã

+ Khảo sát thị trường giá cả ở khu vực nghiên cứu

+ Tìm hiểu về giá cả thị trường bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chủ

hộ kinh doanh, buôn bán; nội dung phỏng vấn về giá cả các mặt hàng nông sản

Trang 14

+ Tìm hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc có ảnh hưởng đến SDĐ về cách thức quản lý, sử dụng, bảo vệ đất, khai thác đất bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ xã, cán bộ bản, người dân

+ Quá trình thực thi và ảnh hưởng các chính sách, pháp luật của nhà nước ảnh hưởng đến SDĐ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp cán bộ xã, cán bộ bản, người dân

* Phương pháp đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã

Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã bằng phương pháp Matrix cho điểm

Người thu thập thông tin gợi ý đưa ra các tiêu chí để lựa chọn đánh giá các cây trồng vật nuôi, gồm một số tiêu chí (Dễ kiếm giống, dễ trồng, phù hợp với điều kiện khu vực, chu kỳ kinh doanh ngắn, thị trường tiêu thụ ổn định, hiệu quả kinh tế cao …) Trong đó ưu tiên các tiêu chí :(1) Phù hợp với điều kiện tự nhiên; (2) Hiệu quả kinh tế; (3) Thị trường tiêu thụ ổn định

Thảo luận cùng người dân để đưa ra các loại cây trồng vật nuôi cần đánh giá, hướng dẫn cách chấm điểm trên cơ sở đó nhóm sẽ thảo luận để đưa ra số điểm đối với từng chỉ tiêu cho từng loài cây

Biểu đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng được thể hiện ở (phụ biểu 01)

b) Phương pháp nghiên cứu các mô hình sử dụng đất của xã

Trên cơ sở xác định các kiểu sử dụng đất của xã, mỗi kiểu sử dụng đất sẽ lựa chọn 1 mô hình để điều tra

+ Khảo sát thực tế mô hình để mô tả mô hình, ngoài ra các mô hình cây dài ngày, cây lâm nghiệp đánh giá về độ che phủ, độ tàn che, vật rơi rụng

+ Phỏng vấn chủ các mô hình; nội dung phỏng vấn về chi phí, thu nhập, kỹ thuật

áp dụng, thuận lợi, khó khăn …của các mô hình: (Phụ biểu 02)

c) Phương pháp nghiên cứu các giải pháp sử dụng đất của xã hiệu quả và bền vững

* Phương pháp đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức sử dụng đất của xã

Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức sử dụng đất của xã bằng phương pháp phân tích SWOT trên cơ sở phỏng vấn người dân, cán bộ bản và cán bộ xã trên

cơ sở tập hợp nhóm từ 10 đến 20 người đểthảo luận về vấn đề nghiên cứu được đưa ra sau đó đưa ra ý kiến cho từng vấn đề cụ thể hoặc phỏng vấn trực tiếp các đối tượng, kết quả

được ghi trong biểu (Phụ biểu 03)

Trang 15

Mẫu biểu 03: Phân tích công cụ SWOT

* Phương pháp đề xuất các giải pháp sử dụng đất của xã hiệu quả và bền vững

Từ việc nghiên cứu, phân tích các tư liệu, số liệu thu thập được, sẽ tìm ra những khiếm khuyết của việc sử dụng đất của địa phương trên cơ sở đó sẽ đề xuất những giải pháp hợp lý để sử dụng đất hiệu quả và bền vững

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất

Đánh giá hiệu quả kinh tế theo 2 phương pháp:

Trong đó: P là lợi nhuận, TN là thu nhập, CP Là chi phí

Kết quả tính toán được ghi trong mẫu biểu sau:

Trong đó: Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng);

Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng);

r : Tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất(%)

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay các phương thức canh tác

NPV < 0 thì mô hình lỗ

NPV = 0 thì mô hình hoà vốn

Trang 16

NPV > 0 thì mô hình có lãi, NPV càng cao thì hiệu quả sản xuất càng cao và ngược lại

♦ Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR (Interal rate of return): Đây là chỉ tiêu đánh giá khả

năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi đó tỷ lệ chiết khấu i được xác định là tỷ lệ thu hồi nội bộ ( NPV = 0 thì i = IRR)

IRR được tính theo tỷ lệ %, chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn của các hoạt động sản xuất IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng nhanh

♦ Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR (Benefit to Cost Ration):

BCR: là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

Trong đó: BPV (Benefit Present Value): Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV (Cost Present Value): Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng);

Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng);

r : Tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất(%)

Nếu mô hình canh tác nào có:

BCR >1: Mô hình có hiệu quả kinh tế, giá trị BCR càng lớn hơn 1 thì giá trị kinh

tế càng cao

BCR <1: Kinh doanh không hiệu quả

- Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp

Hiệu quả tổng hợp được đánh giá trên 3 mặt hiệu quả kinh tế, hiệu quả thị trấn hội, hiệu quả môi trường Để đánh giá hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác chỉ số hiệu quả tổng hợp các phương thức canh tác (Ect) của W.Rola (1994)

Trong đó Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp Nếu Ect = 1 thì phương thức canh tác

có hiệu quả tổng hợp cao nhất Phương thức nào có Ect càng gần 1 thì hiệu quả tổng hợp càng cao

f là các chỉ tiêu tham gia vào tính toán

n là tổng số các tham gia vào tính toán

Trang 17

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Chiềng Khoong là một xã vùng 2, nằm ở phía Đông Nam huyện Sông Mã, cách trung tâm huyện 7 km Tổng diện tích tự nhiên là 11.112 ha, gồm 46 bản và 6 đội thuộc Lâm trường Sông Mã, có vị trí giáp ranh như sau;

- Phía Đông giáp với xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã

- Phía Tây giáp với xã Huổi Một, xã Nà Nghịu, huyện Sông Mã

- Phía Nam giáp với xã Mường Cai, xã Mường Hung, huyện Sông Mã

- Phía Bắc giáp xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn

3.1.1.2 Địa chất, địa mạo

Do hoạt động kiến tạo độc đáo với dòng Sông Mã chảy chính giữa địa bàn nên xã Chiềng Khoong giống như một lòng chảo ở giữa trũng sâu, hai bên độ cao tương đối Địa hình bao gồm bốn dạng chính sau:

- Dạng đia hình đồi núi cao: độ cao từ 1.000 – 1.367m so với mực nước biển, tập trung ở các bản: Huổi Mòn, Nộc Kỷ, Bó Chạy, Xi Lô

- Dạng địa hình đồi núi thấp: độ cao từ 350 – 600m so với mực nước biển, phân

bố dọc theo Sông Mã và đoạn hạ nguồn các suối Huổi Hào, Nặm Sọi, Huổi Xim, tập trung ở các bản như: Nặm Sọi, bản Mòn, bản Hồng Nam, bản Pìn…

- Dạng địa hình bằng phẳng, bãi: xuất hiện ở các một số đoạn thuộc sông Mã do phù sa bồi đắp như ở các bản Mòn, bản Púng Kiềng, bản Pìn…

- Dạng địa hình đồi núi trung bình: 600 – 1.000 m so với mực nước biển bao gồm các bản như bản Lè, bản Púng, bản Hải Sơn, bản Tân Hưng, bản Lướt, bản Hua Na…

3.1.1.3 Khí hậu

Xã Chiềng Khoong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt Mùa đông lạnh và mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau với hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc xen kẽ gió Tây Nam, lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 12% cả năm Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, kéo dài từ tháng 4 đến cuối tháng 9, hướng gió thịnh hành là gió đông nam, lượng mưa chiếm 88% lượng mưa cả năm tập trung vào các tháng 7, 8, 9

Nhiệt độ không khí trung bình cả năm 21,7ºC, tháng cao nhất trung bình 30ºC (tháng 5), thấp nhất nhất trung bình 12ºC, (tháng 12)

Trang 18

Độ ẩm không khí trung bình đạt 78% và thay đổi theo mùa, mùa mưa lượng bốc hơi lớn, độ ẩm cao; mùa khô lượng bốc hơi nhỏ, không khí khô và lạnh

Lượng mưa trung bình đạt 1190 mm/năm

Ngoài ra còn có các khe, suối nhỏ như: Huổi Không; Huổi Nóng; Huổi Xổm… phân bố rải rác ở nhiều nơi

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên khác

- Đất Feralit mùn nâu đỏ trên đá măcma trung tính và bazơ (FH): Diện tích

khoảng 150 ha, chiếm 1,35% tổng hợp diện tích tự nhiên

- Các loại đất khác (đất Feralit biến đổi do trồng lúa; đất dốc tụ không trồng lúa; đất thung lũng chua…): Diện tích 150,31 ha, chiếm 1,36% tổng hợp diện tích tự nhiên

 Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt

của nhân dân Hệ thống sông, suối, khe của Chiềng Khoong dày đặc, nguồn nước ổn định, hầu hết các bản đều phân bố ở nơi gần nguồn nước sinh hoạt và sản xuất là tương đối đảm bảo

- Nước ngầm: Hiện nay chưa có số liệu điều tra về trữ lượng nước ngầm của xã Chiềng Khoong thực thế cho thấy ở nhiều bản như Hải Sơn I, Hải Sơn II, Liên

Trang 19

Phương, Hoàng Mã, Hồng Nam… người dân cũng có thể đào giếng để lấy nước Tuy nhiên cho đến nay, do rừng bị chặt phá nhiều nên nước ngầm đang khan hiếm dần, đặc biệt như bản Hoàng Mã nhiều giếng đã không sử dụng được nữa

Hệ động vật rừng thưa thớt do nạn săn bắt trước đây, đến nay động vật rừng chỉ còn các động vật nhỏ như: Cáo, Chồn, Nhím và các loài chim… số lượng không nhiều Hiện nay công tác trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng đã và đang được các cấp chính quyền quan tâm nhằm nâng cao tỷ lệ che phủ của rừng

Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn xã Chiềng Khoong hiện chưa có số liệu điều tra về tài nguyên khoáng sản

Tuy vậy, thực tế cho thấy xã vẫn duy trì việc khai thác đá, cát ở quy mô vừa và nhỏ tại các bản dọc dòng Sông Mã và các suối lớn

3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội

3.2.1 Văn hóa - xã hội

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể duc – thể thao được quan tâm chăm lo, chỉ đạo phát triển cả về số lượng và chất lượng Tích cực củng cố và phát triển thêm các đội văn nghệ ở các cụm bản Toàn xã hiện có 12 đội văn nghệ quần chúng, 12 đội bóng đá,

4 đội bóng chuyền, các môn thể thao khác như cầu lông, kéo co, ném còn, đẩy gậy, bắn nỏ được duy trì đều đặn Xã cũng thường xuyên tổ chúc giao lưu văn hóa – văn nghệ nhân các ngày lễ tết nhằm giữ gìn các bản sắc văn hóa các dân tộc và đẩy lùi các

tệ nạn xã hội Năm 2010 đã có 75% số hộ gia đình được công nhậnn là gia đình văn hóa, 01 bản được công nhận là bản văn hóa cấp huyện

Dân tộc

Xã Chiềng Khoong có 55 bản và 5 dân tộc anh em cùng sinh sống như, Mông, Thái, Kinh, Sinh Mun, Khơ Mú, tổng số khẩu là: 13750 nhân khẩu/ 2632 hộ

Trong đó:

- Dân tộc Mông; 2602 nhân khẩu/ 405 hộ

- Dân tộc Thái; 6132 nhân khẩu/ 1084 hộ

- Dân tộc Sinh Mun; 618 nhân khâu/ 102 hộ

- Dân tộc Kinh 3294 nhân khẩu / 617 hộ

Trang 20

- Dân tộc Khơ Mú 1104 nhân khẩu / 207 hộ

Dân số

Năm 2017, dân số của xã có 13.750 nhân khẩu với 2.415 hộ gia đình Ngoài ra trên địa bàn xã còn có 6 điểm định cư của các hộ gia đình thuộc Lâm trường Sông Mã

do xã quản lý về mặt con người với khoảng 158 hộ và 517 nhân khẩu Các bản có dân

số đông như: Bản Lè, Bản Hải Sơn I, bản Hải Sơn II, Bản Púng Các bản có dân số thấp như: bản Nặn Sọi, bản Co Hạy, bản Ít Lốc

- Lao động và việc làm

Tổng số lao động trong toàn xã là 8534 người chiếm 62.07% dân số Trong đó, chỉ có một phần nhỏ lao động trong các đơn vị được bổ túc chuyên môn, còn lại nhìn chung trình độ còn thấp, lực lượng lao động nông nhàn lúc kết thúc mùa vụ còn nhiều,

số lao động trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là 7241 người

- Thu nhập và mức sống

Năm 2017, bình quân thu nhập trên đầu người đạt 6,5 triệu đồng/người/năm

Số hộ nghèo của xã năm 2016 theo tiêu chí mới là 619 hộ bằng 25.63%, tỉ lệ số hộ được xem truyền hình 95%, tỉ lệ dùng nước sạch 70%, tỉ lệ số hộ được dùng điên lưới quốc gia 75%

3.2.2 Kinh tế

Trong những năm qua nền kinh tế của xã Chiềng Khoong có những chuyển biến đáng kể Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên, cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện như: hệ thống giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, các công trình văn hóa phúc lợi công cộng được nâng cấp và xây dựng mới, sức khỏe, trình độ, dân chí không ngừng được nâng lên Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 – 2017 đạt khoảng 13 – 14%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 12%, thương mại, dịch vụ chiếm 18,1%

Xã đã huy động được 100% số cháu đến tuổi đi học đến trường Hiện nay, toàn

xã có 3 bậc học gần 4 trường học trong đó bậc mầm nom 1; trường tiểu học 2; trường THCS 1; 102 lớp với tổng số học sinh 2.491 trong đó: mầm non 22 lớp với 464 cháu; Tiểu học 58 lớp với 1.296 học sinh; THCS 22 lớp với 731 học sinh

Trang 21

Công tác phổ cập giao dục THCS đã được hoàn thành Về cơ sở vật chất, hiện nay đã xây dựng được hệ thống trường lớp khang trang với một trường THCS 2 tầng, một trường tiểu học 2 tầng, trương tiểu học ở Hải Sơn, một số trường mầm non ở bản Pìn Ngoài ra còn có hệ thống các trường lớp cắm bản ở các bản hoặc cụm bản

- Cơ sở y tế

Trong những năm qua, công tác chăm lo sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân được thực hiện thường xuyên Hiện tại, xã đã được đầu tư xây dựng một trạm y tế quy

mô 6 giường bệnh với 1 bác sỹ, 2 y sỹ và 100% bản có y tế phụ trách

Trong năm 2017 trạm y tế đã khám và điều trị được cho 6.160 lượt người Chương trình y tế quốc gia, tiêm phòng, tiêm chủng được mở rộng được thực hiện theo đúng quy định, riêng năm 2017 đã thực hiện tiêm phòng cho 257 cháu

Công tác phòng bệnh được duy trì trong năm 2017 không có dịch bệnh xảy ra trong địa bàn

- Giao thông

+ Giao thông trong những năm gần đây, hệ thống giao thông của xã Chiềng Khoong thường xuyên được quan tâm đầu tư nâng cấp, mở mới tính đến năm 2016, toàn xã có 35/55 bản có đường ô tô đến trung tâm bản Tổng chiều dài các tuyến đường trên địa bàn toàn xã khoảng 80 km, bao gồm:

+ Quốc lộ 4G, đoạn chạy qua xã dài 9 km, mặt đường giải nhựa rộng 10 m

+ Đường tái định cư Huổi Một – Mường Hung chạy qua xã khoảng 11km mặt đường rộng khoảng 6m

+ Đường liên xã Chiềng Khoong – Mường Cai dài 5km, mặt đường đất rộng 4m Nhìn chung hệ thống giao thông trên địa bàn xã là tương đối đảm bảo Tuy vậy vẫn còn một số tuyến đường chất lượng còn kém, các tuyến lên các bản vùng cao còn hẹp, phải qua nhiều khe, suối, nhiều dốc, cua hiểm trở

- Thủy lợi

Với điều kiện có hệ thống sông ngòi, khe, suối dày đặc, nguồn nước ổn định, thêm vào các khu vực gần sông, khe, suối, địa hình tương đối thuận lợi cho khai hoang nên diện tích lúa nước của xã Chiềng Khoong khá nhiều (233,09 ha năm 2017) Chính

vì vậy trong những năm gần đây, xã đã được tỉnh và huyện đầu tư nhiều cho xây dựng

hệ thống kênh mương

Tính đến năm 2017 toàn xã có khoảng 22 km mương đã được bê tông hóa và hàng chục km mương đất cùng hệ thống cầu, cống, thủy lợi phục vụ cho sản xuất lúa nước Đặc biệt theo chương trình đầu tư cho các bản tái định cư, huyện đang chuyển khai xây dựng tuyến mương lớn thuộc công trình thủy lợi Nậm Sọi trong đó chiều dài khoảng gần 20 km chạy qua địa phận xã Chiềng Khoong Tuyến mương này cộng với

Trang 22

tuyến đường tái định cư Huổi Một – Mường Hung đã tạo ra bước ngoặt lớn trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội cho xã

Năm 2017 tỉ lệ dân dùng nước sạch từ công trình do nhà nước đầu tư đạt 70% Ngoài ra ở hầu hết các bản doc theo Sông Mã, nhân dân còn đào giếng để lấy nước sinh hoạt

Tình hình sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp

Nông nghiệp: Sản xuất nông nghệp trong thời gian qua có sự tăng trưởng khá Giá trị sản xuất nông nghiêp liên tuc tăng Cơ cấu kinh tế nghành nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực, giảm dần tỷ trọng nghành trồng trọt, tăng tỷ trọng chăm nuôi Lâm nghiệp: Tổng đất lâm nghiệp trên địa bàn xã có 4.426,24 ha, chiếm 39.83% tổng diện tích đất tự nhiên

Công tác quản lý bảo vệ rừng được thực hiện khá tốt Tổng diện tích chăm sóc bảo vệ rừng: 3.039,70 ha (trong đó: Diện tích chăm sóc rừng trồng: 15 ha, bảo vệ rừng

dự án 661: 1.920ha, khoanh nuôi tái sinh: 1.104,70 ha)

- Đất phi nông nghiệp

Diện tích đất phi nông nghiệp của xã hiện có 391.28 ha chiếm 3.52% tổng diện tích tự nhiên Trên diện tích này chưa đủ đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội trên địa bàn xã, các công trình xây dựng còn mang tính tạm thời, chắp

vá, chưa có kế hoạch bền vững và lâu dài, do vậy mà hiệu quả sử dụng chưa cao, gây lãng phí đất đai

- Đất chưa được sử dụng

Đất chưa sử dụng được khai thác chủ yếu vào sản xuất nông lâm nghiệp, trong đó phần lớn là mục đích khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới rừng Diện tích khai thác nhiều

Trang 23

hay ít theo năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nguồn vốn đóng vai trò quan trọng nhất Diên tích đất chưa được sử dụng được khai thác trong kỳ kế hoạch là 2743.41ha chiếm 24.69% diện tích đất chưa được sử dụng

3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

3.3.1 Thuận lợi

- Xã Chiềng Khoong nằm ở vị trí địa lý cách trung tâm huyện 7 km về phía đông nam, có quốc độ 4G chạy qua dài 9km đó là điều kiện thuận lợi làm tăng khả năng giao lưu, thông thương văn hóa

- Sự đa dạng về yếu tố địa hình, khí hậu, đất đai cũng có nguồn tài nguyên sinh học phong phú cho phép sản xuất phát triển nền nông – lâm nghiệp đa dạng, thâm canh theo hướng hàng hóa, tập trung thành những vùng sản xuất lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây ăn quả …

- Là trong những địa bàn có tốc độ phát triển kinh tế nhanh của huyện Đây là cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức, nắm bắt cơ hội này sẽ tạo ra những đột biến về tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp

- Là xã có thành phần dân tộc đa dạng (5 dân tộc anh em cùng sinh sống là Thái, Mông, Kinh, Khơ Mú và Sinh Mun), nguồn lao động dồi dào, đội ngũ lao động trong các lính vực quan trọng như giáo dục, y tế, hành chính sự nghiệp đều đã được đào tạo

cơ bản hoặc được nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn Đây sẽ là một nguồn lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội

- Đời sống nhân dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, tuy là địa bàn có nguồn lao động dồi dào song chất lượng lao chưa cao Dân số đông, xã lại nằm gần với thị trấn và cách biên giới không xa nên vẫn thường xảy ra việc sử dụng, buôn bán trái phép ma túy qua biên giới cũng như tình trạng học và truyền đạo trái phép gây mất ổn định về an ninh, xã hội

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: giao thông, thủy lợi và hạ tầng xã hội như: y tế, văn hóa, giáo dục tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội địa phương

Trang 24

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đánh giá tình hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong

4.1.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của xã

Biểu 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Chiềng Khoong năm 2017

Tỷ lệ (%)

so với tổng

DT tự nhiên

1 Tổng diện tích đất nông nghiệp NNP 7.977,31 71.79

2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự

nghiệp

Trang 25

2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh CQA

2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông

(Nguồn: Báo cáo thống kê, kiểm kê diện tích đất đai xã Chiềng Khoong năm 2017 )

Theo số liệu tổng kiểm kê 2017, tổng diện tích tự nhiên toàn xã có: 11.112,00 ha, Bao gồm những nhóm đất sau:

Năm 2017 diện tích là 1789.34 ha; chiếm 16.10% tổng diện tích tự nhiên toàn xã

- Đất lâm nghiệp: có diện tích là 4455.73ha chiếm 40.09% tổng diện tích tự nhiên

Trang 26

b Đất phi nông nghiệp

Đất nông nghiệp trong toàn xã năm 2017 có diện tích là 391.28 ha; chiếm 3.52

% diện tích đất tự nhiên Viêc sử dụng đất nông nghiệp nhìn chung có hiệu quả và tiết kiệm

- Đất ở có dện tích là 96.99ha; chiếm 0.87 % tổng diện tích tự nhiên toàn xã

- Đất chuyên dùng có dện tích là 128.68 ha; chiếm 1.16 % tổng diện tích tự nhiên toàn xã trong đó đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp có diện tích 59.56 ha, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp có diện tích 8.87 ha, đất có mục đích công cộng có diện tích 60.25 ha

- Đất nghĩa trang, nghĩa địa:

Diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa của xã hiện có 36.82 ha, chiếm 0.33 % diện tích đất tự nhiên toàn xã

- Đất sông, suốivà mặt nước chuyên dùng:

Diện tích đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng của xã hiện có là 128.79ha; chiếm 128.79 % diện tích đất tự nhiên toàn xã

c Đất chƣa sử dụng

Diện tích đất chưa sử dụng của xã là 2743.41 ha; chiếm 24.69 % diện tích đất tự nhiên.Bao gồm: đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây

4.1.2 Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai

Xã chiềng khoong có tổng đất đai là11.112,00 ha hiện đã đưa vào sử dụng 8.368,6 chiếm 75,31% diện tích đất tự nhiên toàn xã Tiềm năng đất chưa sử dụng là 2243.41 ha diện tích tự nhiên toàn xã Đây là tiềm năng để mở rộng quỹ đất sản xuất nông, lâm nghiệp cũng như đáp ứng một phần các nhu cầu về đất cho mục đích chuyên dùng Tuy nhiên phần diện tích đồi núi chưa sử dụng hiện còn, phần lớn có độ dốc trên 30 độ, thiếu nước tưới nghiêm trọng, rất khó khai thác ở quy mô tập trung để đưa vào sản xuất nông nghiệp

4.1.2.1.Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp

Phần lớn diện tích đang sử dụng cho các mục đích kinh tế - xã hội của xã được sử dụng đúng mục đích, tuy nhiên vẫn có diện tích đất có hiệu quả sử dụng chưa cao Vì vậy trong nông nghiệp cần tập trung khai thác tiềm năng các loại đất đang sử dụng theo hướng nâng cao giá trị sáng tạo trên khoảng 333.4 ha đất

- Xác định nông lâm nghiệp là nền tảng phát triển bền vững, Chiềng khoong đã chủ động thực hiện các biện pháp tích cực và thu được các kết quả đáng ghi nhận Vì vậy, sản lượng lương thực mấy năm qua tăng đáng kể Phát huy kết quả đó, trong thời gian tới, xã đã tập trung chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng

Trang 27

vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển nông thôn, tăng cường ứng dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, phát triển hệ thống thủy lợi nhằm đưa diện tích chưa khai thác vào sử dụng, đẩy mạnh phong trào trông, bảo vệ rừng và tái sinh rừng

- Đất trồng cây hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày: diện tích mở rộng cho loại cây này chủ yếu đất đồi núi, hướng chính chủ yếu là đầu tư thâm canh tăng vụ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị trên 1ha đất canh tác Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giảm diện tích cây trồng hàng năm trên đất dốc Diện tích hiện tại 11217.51 ha dự kiến tăng thêm khoảng 231.55 ha đất trồng cây hàng năm và cây nông nghiệp ngắn ngày

- Đất lâm nghiệp: Ngoài diện tích rừng hiện có là 4455.73 ha dự kiến tiềm năng

để phát triển đất lâm nghiệp chủ yếu được khai thác phát triển trên diện tích đất đồi núi chưa sử dụng lên khoảng 314.5 ha Yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần phủ xanh một phần diện tích đất này, trồng rừng để cải thiện môi trường sinh thái, tạo công ăn việc làm cho người lao động và nhân dân xã

4.1.2.2 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp, đô thị,

xây dựng khu dân cư nông thôn

a Tiềm năng đất phát triển công nghiệp:

Tiềm năng của xã là phát triển tiểu thủ công nghiệp nhỏ, truyền thống như rèn đúc công cụ sản xuất Tuy nhiên, hiện nay hầu hết diện tích đất tương đối bằng phẳng đang được sử dụng để sản xuất nông nghiệp hoặc đang sử dụng vào các mục đích chuyên dùng khác hay đất ở Vì vậy cần phải tính toán chặt chẽ nhu cầu sử dụng đất cho phát triển công nghiệp, xây dựng kế hoạch chi tiết cụ thể để sử dụng tiết kiệm và

có hiệu quả theo đặc thù sản xuất của từng nghành nghề

b Tiềm năng đất đai để xây dựng khu dân cư nông thôn:

Diện tích đất trong khu dân cư nông thôn hiện có 96.99ha, bình quân mỗi bản 56 hộ.Mật độ dân số bình quân là 60 người/km2 Mật độ dân số phân bố không đều chủ

yếu tập trung ở trung tâm xã, các bản vùng cao, vùng sâu

Đa số các cụm dân cư đã có lịch sử hoàn thành lâu đời, dựa trên các yếu tố thuận lợi về địa hình, điều kiện tự nhiên Hầu hết các bản làng đều có quý đất để phát triển không gian khu dân cư, một số khu vực có quý đất rộng, dân cư còn thưa, nếu được quy hoạch, sắp xếp lại và đầu tư cơ sở hạ tần hợp lý sẽ hình thành được các khu dân cư mới Khi cơ sở hạn tầng khu dan cư nông thôn được đầu tư xây dựng sẽ tạo điều kiện thuật lợi để phát triển các khu dân cư theo hướng tập trung, các điểm đầu mỗi giao thông Đồng thời đất đai sẽ được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn,

Đối với khu dân cư nông thôn vấn đề quan trọng là bố trí hợp lý, kết hợp hài hòa phong tục tập quán, thuận tiện cho sản xuất nhưng phải tạo điều đầu tư tập trung và

Trang 28

phát huy hiệu quả, thuận lợi cho phát triển xã hội Cần sớm xác định và ổn định địa bàn các khu dân cư tập trung mang tính chất là tập trung khu dân cư để có điều kiện thuận lợi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạn tầng, thúc đẩy các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ

4.1.2.3 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho phát triển du lịch

Chiềng khoong là xã vùng cao nên khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động

kinh tế du lịch, chỉ có thể phát triển loại hình du lịch cộng đồng, sinh thái

4.1.2.4 Đánh giá tiềm năng đất đai để phục vụ cho việc vận chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và phát triển cơ sở hạ tầng

- Theo kết quả điều tra thực trạng nền kinh tế và hiện trạng sử dụng đất, đối chiếu

so với các tiêu trí xác định khả năng sử dụng đất cho từng ngành, từng mục đích sử dụng cho thấy một phần tiềm năng đất đai của xã được thực hiện thông qua mức độ thích hợp cũng như khả năng chuyển đổi giữa các mục đích sử dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để sử dụng đất hợp lý hơn, hiệu quả hơn nhằm phát triển kinh tế -

xã hội với định hướng phát triển lâu dài và bền vững

- Diện tích đất phi nông nghiệp hiệu quả sử dụng chưa cao, nhất là đất phát triển

hạ tầng, đất ở cần được bố trí, sắp xếp theo hướng tiết kiệm đất, tận hưởng không gian xây dựng, với một số công trình cần phải sử dụng kết hợp theo hướng đa mục địch Do

tỷ lệ đất đai dành cho phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở còn thấp, chưa tạo điều kiện khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của xã

- Ngoài việc điều chỉnh, chuyển đổi một số loại đất khác sang đất phát triển hạ tầng nhằm sử dụng hiệu quả, cần phân bố thêm diện tích đáp ứng yêu cầu cơ sở vật chất hạ tầng nhất là đất giao thông, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế và thể dục thể thao, đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp…

Nhìn chung các loại hình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong đã thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai, môi trường sinh thái và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội

ở địa phương Nhiều cây trồng ngắn ngày đã cho năng suất ngày càng tăng và ổn định Tuy nhiên, Chiềng Khoong còn có nhiều tiềm năng để phát triển các loại cây trồng, con nuôi có giá trị kinh tế cao: đất đai phù hợp với việc phát triển nông lâm nghiệp, cảnh quan thiên nhiên ưu đãi Đó là tiền đề để xã chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao

4.1.3 Đánh giá hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp thủy sản của xã

Theo báo cáo tổng kết năm 2017 về kinh tế - xã hội của xã thì hoạt động sản xuất

Nông – lâm nghiệp, Chăn nuôi, thủy sản của xã như sau:

Trang 29

a Về Trồng trọt

- Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được tập trung chỉ đạo, đảm bảo thời vụ, tổng

diện tích gieo trồng 3.669/3.832 ha đạt 95,7% kế hoạch năm, tăng 2,3% so với cùng kỳ

2016 trong đó:

+ Lúa chiêm xuân 224/224 ha đạt 100% kế hoạch;

+ Lúa Mùa 240/240 ha đạt 100% kế hoạch;

+ Lúa nương 180/180 ha đạt 100% kế hoạch;

+ Ngô 2.311/2.409 ha đạt 96% kế hoạch;

+ Cây lấy củ (Sắn, khoai lang) 335/400 ha đạt 83,8% so với kế hoạch;

+ Cây thực phẩm (rau, màu các loại) 45/45 ha đạt 100% kế hoạch;

+ Diện tích cây ăn quả 662/662 ha đạt 100% so với kế hoạch giao

Thuận lợi: - Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm là kiểu khí hậu rất thuận lợi trong phát

triển ngành trồng trọt cây nông nghiệp cũng như cây ăn quả nhiệt đới

- Lượng mưa quanh năm và lượng nhiệt quanh năm cao nên cung cấp đủ nguồn nước và lượng nhiệt để sản xuất và phục vụ đời sống

- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền

Khó khăn: - Trên địa bàn xã Chiềng Khoong có nhiều thiên tai: bão, lũ, hạn hán

- Đất dễ xói mòn khi có mưa bão

- Sâu bệnh phát triển cao

b Về chăn nuôi - Thú y

- Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc gia cầm của xã được duy trì và phát triển ổn định

+ Đàn trâu: 2.368/2.381 con đạt 99,4% kế hoạch

+ Bò: 1.546/2.420 con đạt 63,8% kế hoạch

+ Lợn (trên 2 tháng tuổi): 4.938/6.222 con đạt 79,3% kế hoạch

+ Dê 3.480/4.560 con đạt 76,3% kế hoạch

+ Gia cầm 143.450/166.033 con đạt 86,3% kế hoạch

+ Đàn ong: 495 đàn, thực hiện 500 đàn đạt 105% so với kế hoạch

– Thuận lợi: + Người dân có kinh nghiệm chăn nuôi, thị trường tiêu thụ rộng lớn

+ Cơ sở thức ăn được đảm bảo tốt hơn: hoa màu lương thực, đồng cỏ, phụ phẩm của ngành thủy sản, thức ăn chế biến công nghiệp dồi dào

+ Các dịch vụ về giống, thú y có nhiều tiến bộ và phát triển rộng khắp

- Khó khăn: + Giống gia súc, gia cầm cho năng suất cao vẫn còn ít, chất lượng

chưa cao

+ Dịch bệnh hại gia súc, gia cầm vẫn đe dọa lan tràn trên diện rộng, hiệu quả chăn nuôi chưa cao và chưa ổn định

Trang 30

- Thú y: Chỉ đạo cán bộ thú y, trưởng bản các bản đã kiểm tra, tiêm phòng cho gia súc

gia cầm trên địa bàn, trong năm 2017 đã tiêm phòng và điều trị cho đàn gia súc,gia cầm: 3.825 liều trong đó: Tiêm lở mồm long móng trâu,bò là 325 liều vacxin;tiêm phòng dại cho chó 1.300 liều;tiêm tụ huyết trùng 2.200 liều; phun khử trùng tiêu độc cho 02 bản (bản Co Phen, Púng Kiểng) với 12 lít dung dịch, diện tích phun 24.000m2

c Về lâm nghiệp:

Tiếp tục chỉ đạo triển khai kế hoạch chăm sóc, bảo vệ rừng,phòng chống cháy rừng mùa khô hanh năm 2016-2017 Tuyên truyền,chỉ đạo các bản họp dân để có kế hoạch trồng rừng năm 2017 với tổng diện tích là 60 ha tại các bản Huổi Hào, Khoong Tợ, Co pô…Chỉ đạo vệc bảo vệ rừng đầu nguồn, khe suối, rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng kinh tế, rừng phát tán; phòng chống cháy rừng, ngăn chặn tốt các

vụ vi phạm lâm luật nên năm 2017 trên địa bàn xã không có vụ cháy rừng, Phát rừng làm nương xảy ra trên địa bàn xã.Kết quả chăm sóc bảo vệ: 3.050,2 ha;dự án bảo vệ phát triển rừng 1.440,5 ha, Trong đó chăm sóc rừng trồng 194,60 ha rừng tự nhiên 1.245,9 ha; sự nghiệp kiểm lâm 1.609,7 ha; khoanh nuôi tái sinh: 200 ha Trồng cây phân tán 5000 cây

Thuận lợi: - Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền

- Điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp với nhiều loài cây Lâm nghiệp đặc biệt là: Bạch Đàn và Thông

- Người dân có nhiều kinh nghiệm về trồng và chăm sóc rừng cũng như các mô hình cây lâm nghiệp

Khó khăn: - Thị trường tiêu thụ chưa ổn định còn nhỏ lẻ

- Tình trạng chặt phá rừng và trộm cắp cây lâm nghiệp còn nhiều chưa được xử lý triệt để

- Người dân trên địa bàn xã nhận thức chưa được cao, còn nhiều tình trạng người dân đốt nương làm rẫy gây ra nhiều vụ cháy rừng và cháy các mô hình cây lâm nghiệp gây thiệt hại lớn về kinh tế

- Nguồn thức ăn cho các loài thủy sản dồi dào, có sẵn…

- Người dân địa phương giàu kinh nghiệm trong nuôi trồng thủy sản

Trang 31

Khó khăn: Nhiều lũ ống, lũ quét thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng đến hoạt động

sản xuất đặc biệt vào mùa mưa

- Nhiều dịch bệnh, hiệu quả kinh tế chưa cao

- Thị trường tiêu thụ các sản phẩm thủy sản còn nhỏ lẻ chưa được mở rộng

4.1.4 Đánh giá một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất của xã

Trong quá trình sử dụng đất của xã Chiềng Khoong chịu ảnh hưởng của các số nhân tố như: Điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, giá cả thị trường, quy hoạch sử dụng đất huyện Sông Mã

4.1.4.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sử dụng đất

Chiềng Khoong là xã vùng II đặc biệt khó khăn của huyện Sông Mã cách trung tâm huyện 15 km với tổng diện tích tự nhiên 11.112,00 ha, địa hình của xã chia cắt phức tạp, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mùa vùng núi với hai mùa mưa và mùa khô Là một xã nghèo, nền kinh tế chưa phát triển, mang tính tự cung tự cấp là chính

- Khí hậu khắc nghiệt thường xuyên sảy ra lũ quét, rét đậm rét hại ảnh hưởng đến quá trình cải tạo đất, ảnh hưởng đến cây trồng vật nuôi trong xã

- Là 1 xã vùng cao trình độ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần còn hạn chế Việc khai thác lợi thế đất đai và các nguồn lực khác còn nhiều khó khăn

- Địa hình phức tạp mang nét đặc trưng của vùng núi Sông Mã, địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi và hệ thống các khe,sông, suối Nằm xen kẽ giữa các dãy núi là những phiêng bãi được nhân dân khai thác trồng cây ăn quả nhiệt đới và các loại cây lương thực Địa hình phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến quá trình khai thác sử dụng đất đai, đất nông nghiệp thường bị khô hạn vào mùa đông xuân, khó khăn cho việc nâng cao hệ số sử dụng đất, mở rộng diện tích đất canh tác và chuyển dịch cơ cấu cây trồng

- Đời sống của nhân dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, tuy là địa bàn có lực lượng lao động dồi dào song chất lượng lao động chưa cao, tình trạng thiếu việc làm là nguyên nhân chính dẫn tới các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc,

- Quá trình sử dụng đất đai trên địa bàn xã Chiềng Khoong cho thấy việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất nương rẫy đã có những tác động không nhỏ làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ môi trường Do phương thức canh tác của người dân trên diện tích này chủ yếu là canh tác quảng canh bóc lột đất, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ chống xói mòn đất chưa được quan tâm dẫn đến tình trạng đất nhanh bị xói mòn, rửa trôi, tăng nguy cơ làm thoái hoá đất, việc sử dụng phân bón và thuốc bảo

vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến môi trường đất, nước

Trang 32

4.1.4.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán của người dân đến sử dụng đất

Toàn xã Chiềng Khoong có 55 bản và 5 dân tộc anh em cùng sinh sống như, Mông, Thái, Kinh, Sinh Mun, Khơ Mú, tổng số khẩu là: 13750 nhân khẩu/ 2632 hộ.Dân tộc Mông; 2602 nhân khẩu/ 405 hộ chiếm 18.92%,dân tộc Thái ; 6132 nhân khẩu/ 1084 hộ chiếm 44.60%, dân tộc Sinh Mun; 618 nhân khâu/ 102 hộ chiếm 4.49%,dân tộc Kinh 3294 nhân khẩu / 617 hộ chiếm 23.96%, dân tộc Khơ Mú 1104

nhân khẩu / 207 hộ chiếm 8.03%

Là xã có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, địa bàn rộng dân cư sống rải rác, phong tục tập quán tương đối đa dạng và phong phú.Dân tộc Mông chủ yếu canh tác trên vùng núi cao, tập quán canh tác của họ ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất, phương thức canh tác còn lạc hậu, chưa tập trung do địa hình phức tạp

Xã có nền sản xuất nông nghiệp truyền thống canh tác độc canh, chỉ biết khai thác tiềm năng sản xuất của đất mà không chú trọng việc cải tạo đất, trả lại độ phì của đất Trước đây các hoạt động sản xuất hầu như ít có đầu tư phân bón, kỹ thuật, chỉ dựa vào các yếu tố tự nhiên, tiềm năng của đất để cho sản phẩm Sau đó do diện tích đất canh tác bị thu hẹp, đất bị xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng, bị thoái hoá, bạc màu làm cho năng suất cây trồng giảm

Với phong tục chăn thả gia súc tự nhiên người dân cứ thả rông gia súc ở ngoài tự nhiên, thôn bản không có quy hoạch các khu chăn thả Như vậy đã để gia súc phá hoại rừng đầu nguồn, phá hoại các mô hình canh tác sử dụng đất

Trong những năm gần đây việc giao đất giao rừng cho các hộ gia đình quản lý đã thật sự mang lại hiệu quả cao Các hộ gia đình có trách nhiệm bảo vệ nguồn tài nguyên hơn, ngoài ra họ còn được tận dụng nguồn củi đun và lâm sản ngoài gỗ

Phong tục tập quán canh tác nương rẫy những năm trước đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn tài nguyên đất rừng, làm đất nhanh chóng bạc màu, xói mòn, tạo

ra những dòng chảy xiết cuốn theo lượng đất mùn ở bề mặt hằng năm lớn Với phong tục này họ đã mở rộng diện tích đất canh tác để phát triển sản xuất, chăn nuôi mang lại thu nhập Tuy nhiên với cách thức này họ phải phá rừng để lấy đất canh tác làm giảm tài nguyên rừng, đồng thời canh tác độc canh làm cho đất nhanh bị thoái hoá, bạc màu mất khả năng sản xuất

4.1.4.3 Ảnh hưởng của thị trường đến sử dụng đất

Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng nâng cao, việc sản xuất không dừng lại ở việc tự cung, tự cấp như trước nữa mà con người còn có nhu

Trang 33

cầu trao đổi buôn bán, đem lại thu nhập Thị trường tiêu thụ sản phẩm đang ưa thích gì? giá

cả ra sao? Do vậy thị trường là một yếu tố rất quan trọng tác động đến cơ cấu vật nuôi cây trồng Vào những thời điểm khác nhau thì nhu cầu vủa thị trường là khác nhau

Xã có nền sản xuất nông lâm nghiệp truyền thống, trong đó chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Xã chưa có mạng lưới chợ nông thôn, chưa có cơ sở chế biến thu mua nông sản nên nên giá cả thị trường lên xuống, thay đổi về nhu cầu, kéo theo đó là sự thay đổi trong sản xuất của người dân để đảm bảo đem lại lợi ích kinh tế Qua việc khảo sát cho thấy thị trường các mặt hàng nông sản, cây ăn quả, và cây lâm nghiệp của xã tương đối phong phú và đa dạng:

* Thị trường các mặt hàng nông sản, cây ăn quả

Các mặt hàng nông sản chủ yếu là Lúa, ngô, sắn, và các loại rau màu

- Mặt hàng Lúa, Ngô, Sắn

Lúa, Ngô, Sắn là 3 mặt hàng nông sản chủ yếu của xã, người dân thường bán cho các lái buôn, đại lý hoặc bán lại cho người dân Các cơ sở, hoặc các tư thương thu mua nông sản đến tận nơi người sản xuất để thu mua sản phẩm Thậm chí họ đặt mua sản phẩm khi người dân bắt đầu mùa vụ

- Mặt hàng, cây ăn quả, vật nuôi và các mặt hàng nông sản khác

+ Các loại rau màu: Su hào, Bắp cải, Bầu, Bí vv phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong bữa ăn hàng ngày của người dân trong xã và các xã lân cận cũng được tiêu thụ nhiều, tuy nhiên giá cả không ổn định, đầu mùa giá khá cao nhưng khi vào thu hoạch giá giảm nhanh + Các loại cây ăn quả (Nhãn, Xoài, Táo…): Đối với các mặt hàng này thì người dân bán tại nhà cho các tư thương hay là bán tại chợ trung tâm huyện Sông Mã là chủ yếu Hiện nay Nhãn có giá bán từ 10.000 đồng đến 21.000 đồng/kg, Xoài thường bán với giá 8.000 đến 15.000 đồng/kg, Táo thường bán 10.000 đến 15.000 đồng/kg

+ Tại xã có các loại con vật nuôi chủ yếu như: Trâu, Bò, Lợn, Gà, Vịt… Qua khảo sát thị trường cho thấy các mặt hàng này chủ yếu được bán cho các tư thương, rồi

tư thương bày bán ở chợ hay đem đi bán cho các doanh nghiệp chế biến thu mua Vì vậy mà giá bán tại nhà cho các tư thương thường thấp Hiện nay thịt Trâu, Bò thường bán với giá 200.000 đồng/kg, thịt Lợn hơi có giá bán 45.000đồng/kg Gà có giá bán 110.000 đồng/kg và vịt có giá bán 90.000 đồng/kg

Như vậy thị trường nông sản, vật nuôi, đặc biệt có thể nói rằng giá cả và khả năng tiêu thụ sản phẩm tại xã Chiềng Khoong có ảnh hưởng rất lớn đến quản lý, sử dụng đất tại địa phương

Trang 34

* Thị trường các mặt hàng lâm sản:

Hiện nay Thị trường tiêu thụ gỗ tại xã Chiềng Khoong chủ yếu là các cơ sở mộc, chế biến gỗ, đóng đồ gia dụng Nhu cầu của các cơ sở này chủ yếu là các loại gỗ có chất lượng tốt như Nát, Dổi khai thác từ rừng tự nhiên nên bị khai thác quá mức nên hiện nay không còn nhiều Còn nhu cầu các loại gỗ từ cây Thông, Bạch Đàn, Keo chưa được chú trọng, mà chủ yếu được sử dụng làm ván, đóng trần nhà và công trình phụ

Hiện nay tại xã Chiềng Khoong cây Bạch Đàn do có chất lượng gỗ tốt và giá cả phải chăng nên được thị trường rất ưa chuộng,các mô hình cây Bạch Đàn được người dân trên địa bàn xã chú trọng và ưu tiên lựa chọn để phát triển kinh tế Cây Thông đến tuổi khai thác có giá bán 1.500.000đ/m3, cây Bạch đàn có giá 800.000đ/m3, cây Keo

có giá 1.000.000đ/m3

4.1.4.4 Ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất huyện Sông Mã

Hàng năm xã có trách nhiệm xây dựng kế hoạch sử dụng đất trình UBND Huyện Sông Mã phê duyệt Thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý tài nguyên và môi trường; kiểm tra việc thực hiện sau khi Ủy ban nhân dân huyện ban hành.Theo định kỳ hằng năm xã lập quy hoạch sử dụng đất, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình lên cấp huyện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt; thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã Báo cáo định

kỳ và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực sử dụng đất cho Ủy ban nhân dân huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường Tuy nhiên trong địa bàn xã còn gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, quy hoạch đất đai nên việc triển khai các chính sách của xã, huyện còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy việc triển khai các chính sách, các

dự án, các công trình phải phổ biến đến từng bộ phận người dân, làm cho người dân thấy được lợi ích của việc sử dụng đất bền vững để đảm bảo việc sử dụng đất theo hệ thống và đem lại hiệu quả cao nhất

Theo quy hoạch sử dụng đất của huyện Sông Mã phê duyệt thì đất đai trên địa bàn xã Chiềng Khoong thích hợp trồng những loài cây sau:

+ Cây nông nghiệp ngắn ngày: Lúa,ngô,sắn, Rau bắp cải

+ Cây nông nghiệp dài ngày: Nhãn, Xoài, Táo

+ Cây lâm nghiệp: Bạch Đàn, Thông, Keo

Riêng cây lâm nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất của huyện Sông Mã phê duyệt thì trên địa bàn xã Chiềng Khoong chọn Bạch Đàn làm hướng đi chính để phát triển kinh tế và phục hồi phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn

Trang 35

4.1.5 Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã

Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một yếu tố rất quan trọng sản xuất nông lâm nghiệp, nó sẽ giúp người dân mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao, đồng thời sử dụng đất hiệu quả, bền vững

Áp dụng phương pháp Matrix để phỏng vấn một nhóm người dân và kết quả được thể hiện ở trong các biểu sau:

4.1.5.1 Lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày

Kết quả đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày được thể hiện ở biểu sau:

Biểu 4.2: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày

Loài cây trồng Lúa Ngô Sắn Rau bắp

Từ 9 tiêu chí trong biểu cố liệu trên cho ta thấy, để đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày thì cây Lúa có tổng số điểm cao nhất (81,1 điểm), tiếp đến là các cây Ngô (79,7 điểm), cây Sắn (78,1 điểm), và Rau bắp cải (74,7 điểm)

Trong các loài cây trồng nông nghiệp thì cây Lúa là cây được người dân lựa chọn nhiều nhất, khi đánh giá về một số chỉ tiêu trên ta thấy cây Lúa đã đạt số điểm cao nhất (đạt 81,1/90 điểm) vì cây lúa là cây lương thực chính của người dân và có giá bán trên thị trường ổn định

Cây trồng nông nghiệp được người dân lựa chọn thứ hai là cây Ngô (đạt 79,7 điểm) Đây là loài cây rất phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở đây Mặt khác, lại rất dễ gây trồng và dễ bán trên thị trường

Cây được người dân lựa chọn thứ ba là cây Sắn Nguyên nhân điểm người dân lựa chọn ít hơn cây Sắn là do giá cả thị trường, lượng tiêu thụ sắn tăng nên người dân

đã tập trung vào trồng sắn

Trang 36

Tiếp đến là Rau bắp cải do giá bán thị trường không ổn định, diện tích đất bằng hạn chế nên người dân ít lựa chọn trồng các cây này

4.1.5.2 Lựa chọn Cây nông nghiệp dài ngày

Kết quả đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp lâu năm được thể hiện ở biểu sau:

Biểu 4.3: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp dài ngày

4.1.5.3 Lựa chọn cây lâm nghiệp

Kết quả đánh giá lựa chọn cây lâm nghiệp được thể hiện ở biểu sau:

Biểu 4.4: Đánh giá lựa chọn cây Lâm nghiệp

Trang 37

Từ biểu số liệu trên cho thấy, với 11 tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá, lựa chọn cây lâm nghiệp thì loài cây có số điểm cao nhất là cây Bạch Đàn (95,8 điểm), thứ 2

là cây Thông (91,9 điểm); và thấp nhất là cây Keo (89,8 điểm), Cây Bạch Đàn là cây được người dân lựa chọn nhiều nhất vì họ cho rằng đây là cây phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của xã và được trồng để phục hồi và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn

4.1.5.4 Lựa chọn vật nuôi

Trong xã Chiềng Khoong, vật nuôi là nguồn thu nhập đáng kế của mỗi hộ gia đình Vì thế cần phải có sự đánh giá, lựa chọn vật nuôi cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế của xã cũng như của hộ gia đình

Người dân trong xã nuôi rất nhiều các giống vật nuôi khác nhau như như Trâu,

Bò, Lợn, Gà, Vịt Lựa chọn cơ cấu vật nuôi được thể hiện ở biểu sau

Biểu 4.5: Kết quả đánh giá, lựa chọn cơ cấu vật nuôi

Biểu số liệu trên cho thấy với 9 tiêu chí đưa ra để đánh giá, lựa chọn cơ cấu vật nuôi thì loài Trâu có tổng điểm đánh giá cao nhất với 79,8 điểm, thứ hai là Bò có tổng điểm là 77,8 điểm tiếp đến là các loài vật nuôi khác như Lợn ( 63,2 điểm), Gà (60,5 điểm) và thấp nhất là vịt đạt (58,8 điểm)

Chăn nuôi Trâu, Bò cần nhiều vốn nhưng mang lại có hiệu quả kinh cao.Tận dụng được nhiều phân bón, sức kéo để phục vụ sản xuất Là xã chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên Trâu đựơc ưu tiên số 1, tiếp theo là Bò ưu tiên số 2, Lợn ưu tiên nuôi thứ 3, tiếp theo Gà và vịt Do bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như thời tiết diễn biến phức tạp rét

Trang 38

đậm, rét hại và dịch bệnh tại các bản trên địa bàn, một số bị giết mổ, bán đi đã làm giảm số lượng đàn gia súc, gia cầm của xã

4.2 Đánh giá một số mô hình sử dụng đất của xã

Trên địa bàn xã có một số mô hình sử dụng đất với một số loại cây trồng khác nhau Vậy việc đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hôi và môi trường của một số mô hình trồng cây nông - lâm nghiệp là rất quan trọng, tìm ra mô hình nào có giá trị kinh tế cao nhất để nhân rộng mô hình trên địa bàn xã

Việc sử dụng đất của xã được phân chia theo 3 nhóm loài cây trồng là nhóm cây lâm nghiệp; nhóm cây nông nghiệp ngắn ngày; nhóm cây nông nghiệp lâu năm

Qua quá trình điều tra về tình hình hình quản lý sử dụng đất trong xã chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cho thấy có các loại hình sử dụng đất chủ yếu

và mang tính đại diện cho xã, bao gồm:

1 Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày: Lúa nước, Ngô, Sắn, Rau bắp cải

2 Mô hình cây nông nghiệp lâu năm: Nhãn, Xoài, Táo

3 Mô hình cây lâm nghiệp: Bạch Đàn, Thông, Keo

4.2.1 Mô tả các mô hình sử dụng đất

4.2.1.1 Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày

Mô hình sử dụng đất của cây nông nghiệp ngắn ngày của xã chủ yếu có một số

mô hình sau: Mô hình trồng Lúa; mô hình trồng Ngô; mô hình trồng Sắn và mô hình trồng Rau Bắp Cải

4.2.1.2 Mô hình cây nông nghiệp dài ngày

Trên diện tích xã Chiềng Khoong có một số mô hình trồng thuần loài là mô hình trồng Cây Nhãn, Xoài, Táo Các mô hình này được mô tả như sau:

Biểu 4.6: Mô hình cây nông nghiệp dài ngày

Đất màu vàng đỏ,đỏ nâu chưa nhiều Fe, Al

Đất màu vàng đỏ,đỏ nâu chưa nhiều Fe, Al

6 Phương thức

Trang 39

(cây/ha)

8 Xử lý thực bì

Phát thực bì toàn diện, rẫy cỏ quanh

hố

Phát thực bì toàn diện, rẫy cỏ quanh

hố

Phát thực bì toàn diện, rẫy cỏ quanh hố

9 Kích thước hố 30x30x30cm 30x30x40ccm 30x30x30 cm

10 Phân NPK bón

11 Số năm chăm

4.2.1.2 Mô hình cây Lâm nghiệp

Toàn xã có các mô hình trồng rừng là: Mô hình trồng Thông, Mô hình trồng Bạch Đàn và mô hình trồng Keo Mô hình sử dụng đất cây lâm nghiệp thể hiện ở bảng sau:

Biểu 4.7: Mô tả mô hình cây Lâm nghiệp

Đất màu vàng đỏ,đỏ nâu chứa nhiều Fe, Al

Đất màu vàng đỏ,đỏ nâu chứa nhiều Fe, Al

Trang 40

- Cây Bạch Đàn sinh trưởng phát triển tốt trên địa bàn xã, tỉ lệ sống đạt khoảng 99%, trữ lượng của rừng bạch đàn theo tính toán khoảng 65.34 m3, với giá bán cây đứng ở thời điểm hiện tại là 800.000/m3

- Cây Thông sinh trưởng phát triển tốt trên địa bàn xã, tỉ lệ sống đạt khoảng 98.77%, trữ lượng của rừng thông theo tính toán khoảng 78.232m3, với giá bán cây đứng ở thời điểm hiện tại là 1.500.000/m3

- Cây Keo sinh trưởng phát triển tốt trên địa bàn xã, tỉ lệ sống đạt khoảng 95 %, trữ lượng của rừng thông theo tính toán khoảng 8.640m3, với giá bán cây đứng ở thời điểm hiện tại là 1.000.000/m3

4.2.2 Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và sinh thái môi trường của các mô hình

4.2.2.1 Mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày

Đây là các loại cây trồng ngắn ngày được trồng theo mùa vụ nên hiệu quả về mặt sinh thái và môi trường là rất ít Vì vậy đề tài chỉ đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế, và kết quả được thể hiện ở biểu sau:

Biểu 4.8: Thu nhập và lợi nhuận các mô hình cây nông nghiệp ngắn ngày

STT Mô hình Năng suất

(kg/ha)

Đơn giá (ng.đ/kg)

Thu nhập (ng.đ/ha)

Chi phí (ng.đ/ha)

Lợi nhuận (ng.đ/ha)

4 Rau Bắp cải 8.115 4,5 36.517 11.550 24.967

(Biểu tính chi phí, thu nhập và lợi nhuận của các mô hình

được thể hiện ở phụ biểu 1 đến phụ biểu 4)

Từ biểu số liệu trên cho ta thấy mô hình trồng Rau bắp cải cho thu nhập cao nhất là 36.517.000 đồng/ha/năm thu lại lợi nhuận 24.967.000 đồng/ha/năm ; thứ hai là mô hình trồng Sắn là 23.370.000 đồng/ha/năm thu được lợi nhuận 17.720.000 đồng/ha/năm; thứ

ba là mô hình trồng Lúa nước với thu nhập 18.560.000 đồng/ha/năm mang lại lợi nhuận 9.825.000 đồng/ha/năm; và xếp cuối cùng là mô hình trồng Ngô cho thu nhập 12.150.000 đồng/ha/năm, lợi nhuận 5.290.000 đồng/ha/năm

Cây Rau bắp cải là cây được được lợi nhuận cao, nhưng do giá bán thị trường chưa ổn định nên diện tích trồng rau màu vẫn ít hơn so với diện tích trồng Lúa, Ngô…

4.2.2.1 Mô hình cây nông nghiệp dài ngày

* Hiệu quả kinh tế:

Bảng tính chi phí của các mô hình cây nông nghiệp dài ngày được thể hiện tại phụ biểu 5 đến phụ biểu 7 Bảng tính thu nhập của các mô hình nông nghiệp dài ngày được thể hiện trong các phụ biểu từ 8 đến 10

Ngày đăng: 29/06/2018, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w