SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT được viết một cách khoa học, hợp lý, cụ thể, số liệu đáng tin cậy. đáng để mọi người tham khảo.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU:
I Lý do chọn đề tài:
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương phápgiảng dạy thì vấn đề đổi mới kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng trongquá trình giảng dạy và học tập Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra,đánh giá là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau Đổi mới kiểm tra, đánhgiá là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục tiêu giáodục- đào tạo
Chính vì thế mà vừa qua, Bộ Giáo dục & Đào tạo liên tục có những văn bảnchỉ đạo việc thực hiện vấn đề này Cụ thể:
Công văn 5466/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành ngày07/08/2013 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học
2013-2014, nêu: " Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học sinh; Đối với các môn học khoa học xã hội và nhân văn cần tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình
về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội"; Công văn số 1933/BGDĐT-GDTrH của Bộ
Giáo dục & Đào tạo ban hành ngày 15/04/2014 về việc Hướng dẫn ôn thi tốt ngiệp
Trung học phổ thông năm 2014 đối với môn Ngữ văn, nêu: " Việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014 thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản"; Cùng nhiều công văn chỉ đạo từ
đầu năm học 2014-2015 đến nay
Điều đó cho ta thấy rằng, trong xu hướng chung là việc đổi mới kiểm trađánh giá đều cần thiết ở tất cả các môn thì môn Ngữ văn lại có nhiệm vụ càng nặng
nề hơn
Vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta phải đổi mới cách kiểm tra, đánh giá như thếnào? Nó cần có những yếu tố nào và phương pháp ra sao? Học sinh sẽ thích ứngnhư thế nào khi phương pháp này được áp dụng rộng rãi? Đó là những câu hỏi mànhững người giáo viên nói chung và đối với người giáo viên Ngữ văn nói riêng cầnphải quan tâm
Với tất cả những suy nghĩ trên, nó đã trở thành động lực giúp tôi mạnh dạn
viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: "Tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT".
Trang 2II Mục đích nghiên cứu:
Xã hội ngày càng hiện đại thì việc dạy học có yêu cầu ngày càng cao hơn.Trong đó có việc đổi mới việc kiểm tra, đánh giá Không dừng lại ở lý do đó, họcsinh thời nay do có nhiều yếu tố chi phối nên việc học tập, say mê với một số mônhọc đã giảm sút rất nhiều, trong đó có môn Ngữ văn
Với kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều nhưng vì nhận thức được điều đó, tôicũng đã trăn trở, tìm ra nhiều giải pháp để nâng cao kết quả học tập học sinh vàgiúp các em tìm lại sự thích thú trong từng tiết học của bộ môn Chính vì thế, trong
thời gian qua tôi cũng đã áp dụng đề tài: "Tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT" và đạt được một số kết quả nhất định Qua đó, tôi cũng đã tự nâng
cao được năng lực chuyên môn của bản thân và giúp rất nhiều em học sinh có kếtquả học tập tốt môn Ngữ văn Đặc biệt, tôi được nghe các em học sinh tâm sự rằng
đa số các em cũng thích học môn học này
Tuy nhiên, do kinh nghiệm còn hạn chế nên việc thực hiện đề tài còn một sốtồn tại cần được khắc phục trong thời gian tới Chính vì điều đó, tôi muốn thôngqua việc nghiên cứu, viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài này để có thể trao đổivới đồng nghiệp Từ đó tôi có cơ hội được học hỏi nhiều hơn từ những kinh nghiệmquý báu với các giáo viên trong và ngoài đơn vị
III Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng cụ thể mà đề tài hướng đến đó là đối tượng học sinh trong trườngTHCS & THPT Mỹ Quý Cụ thể là các học sinh thuộc khối lớp 10, 11, 12
IV Phương pháp nghiên cứu:
Để viết được sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã thu nhập thông tin, đúc kếtkinh nghiệm sau một thời gian giảng dạy Đặc biệt là từ cuối năm học 2013-2014
và đầu năm học 2014-2015 đến nay
Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng: Phương pháp thu thập thông tin,thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,…
Trang 3PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG:
I Cơ sở lý luận:
Khi nói về nguyên nhân vì sao học sinh không thích học môn Ngữ văn thì córất nhiều lý do Trong đó có thể kể một số lý do sau: môn Ngữ văn có kiến thức quánặng, hàn lâm; học văn khó có thể áp dụng vào thực tế; hay học sinh lười đọc tácphẩm- nhất là các tác phẩm quá dài; cách dạy của giáo viên không kích thích được
sự đam mê của học sinh; cách kiểm tra, đánh giá học sinh đơn điệu, rập khuôn đôikhi không chính xác;
Trước tình hình đó, cả ngành giáo dục đang ráo riết vào cuộc Việc đầu tiên
mà ta có thể nhận thấy rất rõ đó là hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chuẩn bịthực hiện đổi mới đồng bộ chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy
ở bộ môn Ngữ văn nói riêng và các bộ môn khác nói chung ở tất cả các cấp học Vàthiết nghĩ không thể không nhắc đến yếu tố đó là đổi mới việc kiểm tra, đánh giáhọc sinh Vì tất cả các khâu trên sẽ trở thành vô nghĩa nếu khâu đổi mới này khôngđược tiến hành một cách mạnh mẽ và sâu rộng Nói cụ thể hơn có nghĩa là việc đổimới việc kiểm tra, đánh giá đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trìnhnâng cao năng lực học tập của học sinh và nó sẽ tác động trực tiếp đến các hoạtđộng giáo dục khác, trong đó có khâu dạy học của giáo viên
Vì vậy mỗi giáo viên trước hết hãy tự đổi mới mình bằng cách đổi mới cóhiệu quả chẳng những ở cách dạy học mà còn ở cách kiểm tra, đánh giá học sinh
Vì vậy, đề tài: "Tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT" cần được nghiên cứu và áp dụng.
II Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay, nhìn một cách tổng quát và qua phản ảnh từ những người trực tiếpgiảng dạy, còn nhiều học sinh vẫn phải học theo bài văn mẫu, dùng văn mẫu viếtvăn để nộp cho thầy cô; nhiều ý kiến nói rằng vẫn dạy theo cách cũ, đánh giá theokiểu cũ là một trong những nguyên nhân lớn nhất để dẫn đến tình trạng ấy
Với nguyên nhân đó, các đề thi, đề kiểm tra chưa đánh giá được toàn diệnnăng lực ở môn Ngữ văn của học sinh, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của các
em trong quá trình làm bài Ngoài ra, với tâm lý dạy và học khá thực dụng, hầu hếtcác câu hỏi trong bài kiểm tra thường xuyên và định kì đều ra theo “mẫu”, “dạng”
có sẵn, quá quen thuộc Vì thế việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá, đánh giá học
sinh hiện nay là cấp thiết Cũng vì lí do đó mà việc áp dụng đề tài "Tăng cường khả
Trang 4năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT" rất có tính khả thi.
III Thực trạng:
Có thể nói rằng, thời gian qua tất cả các giáo viên nói chung và giáo viênNgữ văn nói riêng đã có sự cố gắng rất lớn trong việc đổi mới việc kiểm tra đánhgiá học sinh Tuy nhiên, theo cảm nhận chủ quan của bản thân tôi nhận thấy rằng
nó vẫn còn một số hạn chế nhất định do nhiều nguyên nhân Tôi xin nêu ra đây một
số hạn chế được xem là thực trạng chung hiện nay, đó là: Đề kiểm tra có khả năngphân hoá được học sinh chưa cao, Các dạng đề kiểm tra còn đơn điệu, vẫn còn tâm
lí coi trọng điểm số,
Riêng đối với đơn vị Trường THCS & THPT Mỹ Quý, cụ thể là việc kiểmtra, đánh giá ở bộ môn Ngữ văn vẫn còn ít nhiều vướng vào các khuyết điểm nóitrên Mặc dù, tập thể giáo viên ở tổ đã có nhiều cố gắng, nhưng nhiều nguyên nhânkhách quan lẫn chủ quan mà những hạn chế đó chưa được khắc phục hoàn toàn Đócũng là một điều trăn trở của Tổ Ngữ văn nói riêng cũng như Hội đồng sư phạmnói chung Và tin chắc rằng với sự nỗ lực, lòng quyết tâm mạnh mẽ cùng với sựhọc hỏi không ngừng, tập thể giáo viên nhà trường sẽ cố gắng khắc phục những tồntại trên trong thời gian sớm nhất và hiệu quả nhất
IV Tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT
1 Vai trò của việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT
để tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh:
1.1 Một số khái niệm có liên quan:
1.1.1 Khái niệm "kiểm tra", "đánh giá"
Cần hiểu cho đúng về cụm từ này Theo tôi, kiểm tra, đánh giá là hai khâu cóquan hệ mật thiết trong một hoạt động dạy học Khâu kiểm tra được tiến hànhtrước Nó bao gồm các hoạt động: ra đề, học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi,giám sát Khâu đánh giá được tiến hành ngay sau đó Yêu cầu của hoạt động này làphải đi liền với kiểm tra
Kiểm tra: là xem xét việc nắm bắt (hiểu biết) kiến thức của học sinh để đánhgiá năng lực, kết quả học tập của các em
Đánh giá: được hiểu là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thốngnhững thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng, hiệu quả
Trang 5giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp,hành động giáo dục tiếp theo.
1.1.2 Khái niệm "chuẩn đánh giá"
Chuẩn đánh giá là biểu hiện cụ thể mức độ tối thiểu của mục tiêu giáo dục
mà người học phải đạt được Xác định được chuẩn đánh giá sẽ tạo cơ sở để định ra
cụ thể nội dung, hình thức kiểm tra và cũng là căn cứ để đo mức độ nhận thức vàvận dụng kiến thức, kĩ năng của học sinh
Hiện nay, chúng ta sử dụng bốn bậc đánh giá (bốn cấp độ) quen thuộc đó là: Nhận biết , Thông hiểu, Vận dụng ở mức thấp, Vận dụng ở mức cao Nó được biểu hiện cụ thể ở bảng sau:
Nhận biết Học sinh nhớ các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc nhận ra
chúng khi được yêu cầu
Thông hiểu Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng khi
chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách giáo viên đãgiảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học
Vận dụng
(ở cấp độ
thấp)
Học sinh có thể hiểu được khái niệm ở một cấp độ cao hơn
“thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản
và có thể vận dụng chúng để tổ chức lại các thông tin đã được trìnhbày giống với bài giảng của giáo viên hoặc trong sách giáo khoa
1.1.3 Khái niệm "vận dụng", "tư duy sáng tạo"
Hiện nay, học sinh của Việt Nam được các nhà khoa học nghiên cứu và xácđịnh các em có các năng lực cốt lõi cụ thể: Phát triển nhân cách, tự điều khiển bảnthân, hợp tác, viết, giao tiếp, xử lý thông tin, tư duy sáng tạo, vận dụng
Trong các năng lực nói trên thì năng lực tư duy sáng tạo và năng lực vậndụng đóng vai trò vô cùng quan trọng Nó là một thang năng lực mà người học nàocũng muốn đạt đến Ở phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu phát triển chủyếu ở hai năng lực của học sinh, đó là:
Trang 6Năng lực vận dụng: đó là năng lực mang kiến thức, kĩ năng đã học để áp
vận dụng vào thực tiễn, hoàn cảnh cuộc sống, cho dù là hoàn cảnh mới
Năng lực tư duy sáng tạo: đó là năng lực nhằm tìm ra các phương án, biện
pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và để tăng cường khả năng tư duycủa một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việc chung về một vấn đề hay lĩnhvực nào đó
1.2 Vai trò của việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT
Kiểm tra, đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt vì nó là khâu cuối cùng, đồngthời cũng là khâu mở đầu cho một chu trình tiếp theo của quá trình dạy học Ở khâucuối cùng, kiểm tra giúp giáo viên đánh giá được chất lượng học tập của học sinhđồng thời cũng giúp giáo viên tự đánh giá việc giảng dạy của mình Ở khâu tiếptheo (tức là trước khi vào bài mới), kiểm tra giúp học sinh liên kết mạch kiến thức,dựa trên kiến thức cũ để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức mới Sau đây là một số vai trò
cụ thể:
1.2.1 Đối với giáo viên
Kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên hiểu rõ việc học tập của học sinh, có cơ sởthực tiễn để đánh giá kết quả học tập của học sinh, phát hiện ra những thiếu sóttrong kĩ năng cũng như kiến thức của học sinh để có biện pháp khắc phục kịp thời
Kiểm tra, đánh giá còn giúp cho giáo viên nhận ra những ưu điểm cũng nhưnhững hạn chế của mình trong công tác giáo dục để từ đó có những biện pháp thíchhợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.2 Đối với học sinh
Kiểm tra, đánh giá giúp học sinh biết được kết quả học tập của mình để từ đó
có những biện pháp cũng như thái độ trong học tập Chẳng hạn như học sinh pháthiện ra chỗ hạn chế của mình để tích cực hơn trong học tập, rèn luyện hoặc họcsinh thấy được điểm mạnh của mình để có thái độ tự tin hơn trong học tập
Kiểm tra, đánh giá còn giúp giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh Nógiúp học sinh hình thành lòng tin, ý chí quyết tâm, sự trung thực, tinh thần tập thể,
ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong học tập
Trang 71.2.3 Đối với cấp quản lý
Kiểm tra đánh giá giúp các nhà quản lý biết được mức độ đạt được của họcsinh so với mục tiêu môn học để họ điều chỉnh hoạt động chuyên môn cũng nhưcác hỗ trợ khác nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định
Kiểm tra, đánh giá giúp các cơ quan quản lí giáo dục phát hiện ra những ưuđiểm cũng như các hạn chế của chương trình, sách giáo khoa để có những điềuchỉnh cho thích hợp
Kiểm tra đánh giá giúp cho nhà trường có cơ sở để tư vấn hướng nghiệp chohọc sinh, cha mẹ học sinh
2 Cách đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá ở môn Ngữ văn THPT để tăng cường khả năng vận dụng và tư duy sáng tạo cho học sinh
Theo tôi, đổi mới kiểm tra đánh giá không chỉ là đưa vào nhiều hình thứckiểm tra mới lạ hoặc thay đổi các kiểu kiểm tra để tránh sự đơn điệu nhàm chán.Cái đích đến của kiểm tra là đánh giá được người học một cách toàn diện trên cácmặt: kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm, thái độ Do đó, yêu cầu đặt ra đối vớiđổi mới kiểm tra, đánh giá là phải vận dụng các hình thức, biện pháp kiểm tra saocho đạt được cái đích đến đó Sau đây, tôi xin bàn đến một số đổi mới cơ bản:
2.1 Đổi mới về định hướng
2.1.1 Đổi mới về nội dung
Kiểm tra một cách toàn diện các kiến thức và kĩ năng của bài học
Khuyến khích tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
Đánh giá trình độ của học sinh chủ yếu ở khả năng vận dụng và sáng tạo hơn
là trình bày lại khái niệm lý thuyết
2.1.2 Đổi mới về hình thức
Hạn chế chủ quan, tăng cường khách quan
Thay đổi chuẩn đánh giá
Đa dạng hóa các hình thức và công cụ đánh giá
Hạn chế tối đa việc sao chép các tài liệu bằng cách đổi mới cách ra đề kiểmtra, đề thi
Trang 82.2 Đổi mới về giải pháp
2.2.1 Kiểm tra miệng
Như chúng ta đã biết, hình thức kiểm tra miệng là hình thức mà người giáo viên phải sử dụng thường xuyên để kiểm tra năng lực, mức độ hiểu bài của học sinh Thời gian qua, việc sử dụng hình thức này vẫn còn một số mặt tồn tại cần phải khắc phục Chúng ta sẽ nhận ra điều ấy thông qua bảng so sánh sau đây:
KIỂM TRA MIỆNG
-Thường chỉ tiến hành ở đầu tiết học,
trước khi bắt đầu bài mới
- Có thể thực hiện trong nhiều thờiđiểm khác nhau của tiết học: để kiểmtra bài học cũ, chuẩn bị bài mới và cóthể kiểm tra một kiến thức cũ có liênquan đến bài mới(hay kiểm tra trongquá trình học bài mới)
- Nội dung kiểm tra: kiểm tra nội dung
của bài cũ vừa học ở tiết học trước đó
của phân môn
- Phạm vi kiểm tra rộng hơn, thậmchí ở lớp dưới, cấp học dưới, có tính
hệ thống, liên quan đến nội dung bàiđang học
- Sử dụng hình thức gọi học sinh mang
vở lên bảng, giáo viên đặt câu hỏi, học
sinh trả lời theo yêu cầu, GV nhận xét
cho điểm và củng cố bài cũ, giới thiệu
bài mới
- Đa dạng hình thức kiểm tra, có thểkhai thác ưu thế trực quan của cácphương tiện, thiết bị dạy học hiện đạinhư: máy chiếu, bảng tương tác, để
áp dụng các hình thức kiểm tra nhưtrắc nghiệm khách quan, xem băngđĩa và nhận xét
Để minh họa cho vấn đề đổi mới trong hình thức kiểm tra miệng, sau đây tôi
sẽ đi sâu vào một số hình thức cụ thể:
2.2.1.1 Kiểm tra miệng trong các tiết học bình thường.
Sau đây, tôi xin đi sâu vào hai dạng câu hỏi kiểm tra trước giờ học và sau khibài học kết thúc:
* Dạng câu hỏi kiểm tra trước giờ học
Thứ nhất, ta cần tránh những câu hỏi chung chung, yêu cầu chỉ dừng lại ởmức tái hiện vấn đề một cách rập khuôn
Ví dụ:
Trang 9- Em hãy trình bày lại nội dung và nghệ thuật của tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao?
- Em hãy trình bày hoàn cảnh xuất thân và con đường tha hóa của "Chí Phèo" trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao?
- Trình bày đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết?
-
Dạng câu hỏi này không có tác dụng phát huy sự sáng tạo, tính tích cực củahọc sinh vì chỉ cần chăm chỉ học thuộc bài chứ không cần tư duy nhiều là học sinhtrả lời được Hơn nữa, câu hỏi này sẽ gây cho học sinh thói quen có hại đó là thóiquen học thuộc một cách máy móc
Có thể thay dạng câu hỏi này bằng một câu hỏi có sức gợi hơn
- Trong tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao, em thích nhất là chi tiết nào? Thử
lý giải vai trò của chi tiết ấy trong việc phát triển cốt truyện?
- Qua hoàn cảnh xuất thân của "Chí Phèo", em có nhận xét gì về cuộc sống của người nông dân nghèo thời trước Cách mạng Tháng Tám? Theo em, hoàn cảnh xuất thân ấy có phải là một trong những yếu tố đẩy người nông dân (cụ thể là Chí Phèo) vào con đường tha hóa hay không?
- Phân biệt đặc điểm khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết? Theo
em trong tác phẩm văn học nghệ thuật (một dạng của ngôn ngữ viết) có thể dùng ngôn ngữ nói không? Vì sao?
Với những câu hỏi này, đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết, cảm thụ sâu sắc
về bài học đồng thời phải có cách trả lời sao cho đáp ứng được yêu cầu của câu hỏi.Loại câu hỏi này vừa giúp giáo viên đánh giá được kiến thức, sự cảm thụ vừa rènluyện kĩ năng diễn đạt trong môn Ngữ văn đồng thời cũng phát huy được tư duysáng tạo, tính tích cực, chủ động của học sinh cũng như sự ứng dụng những kiếnthức đã học vào thực tế tình huống cụ thể Sở dĩ như vậy là vì học sinh phải dựavào quá trình phân tích tác phẩm để nhận biết những chi tiết nội dung hoặc nghệthuật mà tác giả sử dụng (đây là yêu cầu nhận biết) Sau khi nhận biết, học sinhphải lí giải được tác dụng của những chi tiết nghệ thuật ấy tức là phải lí giải được
câu hỏi "chi tiết đó có vai trò gì?" (đây là yêu cầu tư duy, cảm thụ) Cuối cùng học
sinh phải chủ động tổng hợp khái quát những vấn đề do chính học sinh đã phân tích
ở trên
Trang 10Như vậy, trong kiểm tra miệng, cần chú ý đến việc hiểu sâu sắc vấn đề, kĩnăng trình bày của học sinh (đối với văn bản, phải kết hợp yêu cầu cảm thụ) Nên
có thêm câu hỏi phụ để tăng khả năng lí giải cho học sinh
* Dạng câu hỏi kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh sau khi bài học kết thúc
Đây là thời điểm học sinh vừa tiếp nhận một tri thức mới Khi mà các emvẫn đang cảm thấy hăm hở về bài mà mình vừa mới học Vì thế, chúng ta cũng cầnchú ý khai thác khả năng của các em thông qua một vài câu hỏi ngắn, tạo tìnhhuống có vấn đề để khắc họa sâu sắc hơn nội dung bài vừa tìm hiểu
Ví dụ:
- Sau khi học xong tác phẩm "Tấm Cám”, em cảm thấy hành động trả thù
của Tấm đối với mẹ con Cám có "độc ác" không? Thử lý giải về điều mà em nhận xét?
- Sau khi học xong bài "Viết quảng cáo", em thử nhận xét xem tình hình quảng cáo sản phẩm hiện nay của một số công ty, cơ sở kinh doanh có điều gì bất hợp lý không? Thử phân tích một vài ví dụ minh họa.
- Qua bài thơ sóng, có người cho rằng: "Lý thuyết về tình yêu của Xuân Quỳnh quá cao siêu và xa vời để hiện thực hóa nó trong đời sống", bản thân em suy nghĩ như thế nào về điều đó?
-
Với dạng kiểm tra này, chúng ta sẽ tận dụng được khả năng áp dụng kiếnthức và tư duy sáng tạo của học sinh một cách tức thời Lúc ấy, các em cũng sẽ cónhiều cơ hội thể hiện mình hơn vì kiến thức vừa mới được tiếp thu Và qua đó, nócũng giúp các em khắc sâu hơn các kiến thức vừa mớ ghi nhận
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh rất thích thầy cô kiểm tra ngaysau khi kết thúc giờ học Kết quả kiểm tra vào thời điểm này cũng luôn có hiệu quảcao hơn so với kiểm tra trước khi vào bài mới Vì vậy, theo tôi, cần tăng cườngkiểm tra vào khoảng thời gian này
* Ngoài ra, chúng ta cần áp dụng một số hình thức kiểm tra khác để lấy điểm kiểm
tra miệng cho các em Chẳng hạn như: cho các em thảo luận nhóm, thuyết trình vấn
đề, hùng biện, kiểm tra vở bài soạn, phát biểu tại chỗ,
Trang 11Ví dụ: Tổ chức cho các em thuyết trình vấn đề thông qua các tiết/ phần luyện tập.
Chẳng hạn khi dạy đến bài "Phát biểu theo chủ đề" chúng ta có thể tổ chức cho các em thuyết trình với đề tài: " Quan niệm cá nhân của bạn về Hạnh phúc" như sau:
Chia lớp ra thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 học sinh cùng nhau thảo luận và
cử đại diện lên trình bày Mỗi nhóm sẽ có 2 phút để trình bày Các nhóm còn lạilắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi, phản biện vấn đề Sau đó giáo viên sẽ theo dõi, ghinhận, chốt vấn đề và cho điểm các nhóm xuất sắc nhất như: nhóm trình bày haynhất, nhóm đặt câu hỏi hay nhất, nhóm phản biện hay nhất để cho điểm hoặc cộngđiểm vào phần điểm kiểm tra miệng
Ở bài học này, tôi đã áp dụng nhiều năm học và đã đạt được một số kết quảrất đáng khích lệ và bất ngờ Có những nhóm trình bày rất hay về nội dung lẫn kĩnăng thuyết trình Chẳng hạn như lớp 12A1 (Năm học:2014-2015), các nhóm đã
đặt câu hỏi rất hay, có vấn đề (chẳng hạn: Người không có người thân trong gia đình liệu có hạnh phúc? Tiền không thể mang lại hạnh phúc vậy bạn nghĩ sao khi
có người nói "Có tiền mua tiên cũng được"? Bạn cho rằng được sinh ra là một điều hạnh phúc vậy những người vừa sinh ra đã bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có nhận thức thì họ có hạnh phúc không? Theo bạn, mẹ là hạnh phúc hay tình mẹ mới
là hạnh phúc?, ) Rõ ràng thông qua tiết học như thế này, các em học sinh được
thỏa sức trải nghiệm những suy nghĩ, sáng tạo, tưởng tượng của mình Thông qua
đó, giáo viên cũng rèn cho học sinh những kĩ năng như thuyết trình, phản biện,tranh luận, thuyết phục, mà vốn dĩ còn có phần xa lạ với các em học sinh THPThiện nay Thiết nghĩ, trong các tiết học có thể chúng ta nên chú ý quan tâm và ápdụng các phương pháp này để mang lại hiệu quả tốt hơn
2.2.1.2 Kiểm tra miệng trong các tiết ôn tập.
Đối với các tiết ôn tập ngoài hình thức quen thuộc là kiểm tra vấn đáp, có thểtiến hành kiểm tra miệng bằng làm bài tập nhỏ, phát phiếu học tập yêu cầu cả lớplàm, tổ chức trò chơi bốc thăm,
Ví dụ: Tổ chức ôn tập cho các em học sinh thông qua trò chơ "Bốc thăm trả lời
có thưởng" Cách thức có thể tiến hành như sau: giáo viên chuẩn bị 3 hộp Trong đó
có hộp 1 và 2 đựng thăm câu hỏi thuộc phạm vi ôn tập và hộp 3 là những món quànhỏ Hộp 1 có thể là các câu hỏi ở dạng tái hiện kiến thức Hộp 2 có thể là ở dạngyêu cầu các em phải biết tư duy sáng tạo và vận dụng Hộp 3 là hộp thăm có viếtsẵn tên các món quà (chỉ nên là quà đơn giản như: viết, thướt kẻ, do giáo viênchuẩn bị) Nếu em nào trả lời đạt 80% câu hỏi ở hộp 1 mới được bốc thăm trả lờicâu hỏi ở ô thứ 2 Nếu ở ô thứ 2 học sinh trả lời cũng đạt 80% thì giáo viên chođiểm Cuối cùng là học sinh ấy đến hộp thứ 3 để bốc thăm chọn món quà may mắncho mình
Trang 12Với cách kiểm tra, đánh già này có ưu điểm là các em học sinh rất thích thú,lớp sôi động, và nó còn giúp giáo viên nắm bắt được những thông tin phản hồi từphía người học một cách nhanh chóng để điều chỉnh giờ ôn tập đạt được hiệu quảcao hơn.
2.2.1.3 Một số lưu ý khi áp dụng hình thức kiểm tra miệng
Việc làm này được thực hiện vào 5-10 phút đầu tiết học, có thể gọi
từ 2, 3 đến 4 em và mạnh dạn cho đến điểm 10 nếu học sinh trả lời tốt
Cần kiểm tra miệng ở mọi thời điểm trong tiết học, cho mọi đốitượng học sinh với nhiều yêu cầu và mục đích khác nhau
Trong quá trình kiểm tra, giáo viên có thể hỏi về kiến thức cũ hoặcnhững kiến thức khác nhau có liên quan đến bài học đang học
Trước khi kiểm tra miệng, giáo viên phải xác định rõ: nội dung, yêucầu, mục đích hỏi, xác định từng đối tượng nhằm đến mỗi câu hỏi, có loạiyêu cầu thấp (tái hiện hoặc thông hiểu, vận dụng thấp) cho học sinh yếu,trung bình; có loại đòi hỏi yêu cầu cao (vận dụng cao) cho học sinh khá,giỏi
Trong quá trình kiểm tra, không chỉ chú trọng đến kiến thức, mà đòihỏi phải rèn luyện năng lực nói và kĩ năng trình bày lưu loát, diễn cảmcho học sinh Đặc biệt phải chú trọng sửa lỗi cho học sinh về: phát âm,chính tả, diễn đạt,
Tạo nhiều cơ hội để học sinh gỡ điểm hoặc cho các em nhiều cộtđiểm kiểm tra miệng nếu các em có điểm chưa tốt
2.2.2 Kiểm tra viết
Kiểm tra viết là hình thức kiểm tra rất quan trọng trong việc đánh giá họcsinh Bởi nó chiếm một số lượng lớn số cột điểm của học sinh Đối với môn ngữvăn THPT thì hình thức kiểm tra viết (kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì,kiểm tra học kì) chiếm khoảng 9/10 cột điểm của học sinh Vì thế khâu ra đề, đánhgiá ở các bài kiểm tra này cần phải có sự chú trọng và đầu tư thích đáng
Không phải đến bây giờ, bản thân tôi mới có sự đổi mới trong kiểm tra đánhgiá nhưng phải nói rằng, trong giai đoạn này thì sự đổi mới ấy càng phải mạnh mẽhơn nữa Nhưng không phải là sự đổi mới hấp tấp, vội vàng gây ra sự xáo trộn, bỡngỡ cho cách học đối với học sinh Việc đổi mới đòi hỏi người giáo viên phải tiếnhành một cách khoa học, tùy đối tượng và kích thích dần khả năng vận dụng, tư
Trang 13duy sáng tạo của học sinh Và điều ấy sẽ được thể hiện cụ thể thông qua những ví
dụ ở những dạng bài kiểm tra sau:
2.2.2.1 Kiểm tra thường xuyên (kiểm tra 15 phút)
Đây là dạng kiểm tra chiếm tỉ lệ khá lớn (khoảng 40% số lượng cột kiểmtra) Khi tiến hành kiểm tra, ta cũng cần có cách đặt vấn đề để kích thích được khảnăng vận dụng và sáng tạo của học sinh, tránh đặt câu hỏi chỉ tái hiện kiến thức.Tuy nhiên, ta cũng nên tránh việc đặt vấn đề quá khó, vì thời lượng làm bài có hạn
sẽ khiến cho học sinh bị áp lực lớn Sau đây là một số ví dụ minh họa
trưng của
VHDG
Giải thích
về một nétđặc trưngcủa VHDG
Chứng minhqua một vàitác phẩm
Suy luận
ra thái
độ củanhân dânđối vớicác nhânvật chính
Số câu: 1
Số điểm: 6 điểm
Tỉ lệ: 60%
Tổng:
Trang 14Theo anh/chị, thái độ của nhân dân đối với các nhân vật An Dương Vương,
Mỵ Châu, Trọng Thủy như thế nào?
- Chứng minh qua 1 vài tác phẩm ( Học sinh có thể chọn
bất kì tác phẩm nào để chứng minh, sau đây là ví dụ):
2
+ Các truyện Thạch Sanh, Tấm Cám phản ảnh cuộc đấu tranh
của cái thiện chống lại cái ác theo quan niệm "ở hiền gặp
lành" của quần chúng
+ Các bài ca dao tình yêu phản ánh sinh hoạt văn hóa, tình
cảm, nguyện vọng của nhân dân về hạnh phúc lứa đôi,
- Thái độ của nhân dân đối với các nhân vật:
2
+ An Dương Vương: Vừa ca ngợi, vừa phê phán Ca ngợi vì
công lao của nhà vua trong việc dựng nước Phê phán vì mất
cảnh giác để mất nước
2
+ Mị Châu: Vừa thương vừa trách Thương là vì nàng là
người trong sáng, trọng tình cảm Nhưng trách vì nàng quá
ngây thơ, mất cảnh giác để vũ khí rơi vào tay giặc
2
+ Trọng Thủy: Vừa oán giận vừa cảm thông Oán giận vì
Trọng Thủy là kẻ gián điệp, lợi dụng tình yêu để lấy cắp nỏ
thần Thương xót vì Trọng Thủy con mang phận làm con, lại
là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa
2
* Ví dụ 2 ( Lớp 12- cơ bản):
Trang 15Cấp độ cao
CĐ1:Bài Tây
Tiến
Chỉ ra cácbiện phápnghệ thuậtđặc sắc
Nêu tácdụng củamột số biệnpháp nghệthuật trongđoạn thơ
Nhận diệnloại văn bảnthuộc phongcách ngônngữ khoahọc nào
Viếtđoạn văncùngmột loạivăn bảntheo chủ
đề tựchọn
Trang 16Câu 1: ( 5.0 điểm)
Chỉ ra một số chỗ sử dụng biện pháp nghệ thuật trong văn bản sau và cho biết tác dụng của chúng?
"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"
( Tây Tiến- Quang Dũng)
- Nhịp điệu (0.5đ):
- Thanh điệu(0.5đ):
- Phép điệp từ(0.5đ):
- Từ láy(0.5đ):
- Nhân hóa(0.5đ):
- Đối lập(0.5đ):
- Tác dụng (2đ):
Câu 2: ( 5.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi bên dưới:
" Bong gân là bệnh lý thường gặp do những chấn thương quá mạnh vào những vùng ổ khớp trong khi chạy nhảy, bước lệch, trượt chân Sau khi đã cố định khớp, có thể sử dụng bài thuốc nam đơn giản sau: Lá tre 20g, muối ăn 8g, dấm thanh tượng vừa đủ Giã nát lá tre với muối, hòa với dấm thanh, xào chín, sau đó lấy lá chuối xé rách đặt vào chỗ đau, đắp thuốc lên trên, lại dùng lá chuối bọc ngoài, để qua đêm"
a/ Em xếp đoạn trích trên vào loại văn bản khoa học nào? (0.5đ)
b/ Kể tên những văn bản khoa học cùng loại này? (1.0đ)
c/ Văn bản khoa học ở đoạn trích trên có đặc điểm gì? (1.5đ)
d/ Viết một đoạn văn ngắn (ít nhất 4 câu) có đặc điểm tương tự đoạn trích
trên về chủ đề mà em am hiểu nhất (2.0đ)
ĐÁP ÁN