MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển con người toàn diện và hài hòa là mục đích và lý tưởng của xã hội ta. Con người phát triển toàn diện và hài hòa nghĩa là con người phát triển cả về thể chất và tinh thần, cả lý trí và tình cảm, cả năng lực và kỹ năng hoạt động sống, biết sáng tạo đồng thời biết hưởng thụ các sản phẩm, các giá trị do chính mình sáng tạo ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện nay, sự nhìn nhận về phát triển con người có phần thiên lệch; đặc biệt, do chạy theo lợi ích vật chất thuần túy mà không ít người đã tuyệt đối hóa giá trị vật chất, xem nhẹ hoặc quên đi giá trị tinh thần của con người. Thực tế, đời sống tinh thần là vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và đối với xã hội nói chung. Lịch sử phát triển xã hội cho thấy, nhiều khi đời sống vật chất đầy đủ, thậm chí dư thừa, nhưng con người lại rơi vào bế tắc trong lý tưởng và mục đích sống. Khủng hoảng tinh thần đã làm cho nhiều quan hệ xã hội bị đảo lộn, xảy ra nhiều hành vi tiêu cực. Quan niệm không đầy đủ về đời sống thẩm mỹ làm cho đời sống tinh thần nghèo nàn. Trong cấu trúc phát triển con người, theo giá trị truyền thống quý báu của ông cha ta là con người phải phát triển đầy đủ các phương diện của một nhân cách hoàn thiện: đức, trí, thể, mỹ. Đó là con người phát triển đầy đủ các phẩm chất, nhân cách ở trình độ cao. Đức - Trí- Thể - Mỹ chính là tiêu chí xây dựng và phát triển con người của hầu hết các nền giáo dục tiến bộ trên toàn thế giới, ở mọi thời đại. Tuy nhiên, xã hội ta hiện nay đang xảy ra nhiều chuyển đổi phức tạp, nhất là sự thay đổi các quan hệ giá trị, sự quan tâm đến việc giáo dục, xây dựng và phát triển con người theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ chưa được đầy đủ, và nhiều khi còn thiên lệch các hệ giá trị, các thang giá trị, các chuẩn mực đánh giá xã hội, làm đảo lộn thang giá trị trong việc đánh giá con người và từ đó lệch lạc, phiến diện trong giáo dục và xây dựng con người toàn diện. Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành ý thức thẩm mỹ của con người, là cơ sở cho mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh có vai trò to lớn trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở nước ta mà mục tiêu trọng tâm là tạo cơ sở đúng đắn cho mọi hoạt động sống cũng như mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ của chủ thể. Thị hiếu thẩm mỹ không chỉ biểu hiện quá trình tự phát triển của cá nhân mà còn thể hiện trình độ giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường và ngoài xã hội. Luật giáo dục năm 2005 đã nhấn mạnh: “Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công dân, giáo dục sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên là yêu cầu chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta” [142]. Có thể nói, cùng với giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển nhu cầu và lý tưởng tiên tiến của con người Việt Nam giai đoạn mới. Thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng là lực lượng quan trọng, có vai trò quyết định đến vận mệnh, tương lai của đất nước. Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước. Người khẳng định tuổi trẻ không những là người kế tục các thế hệ đi trước mà còn là tương lai của đất nước, của dân tộc. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ, mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường đang tác động mạnh tới đời sống tinh thần sinh viên. Sự du nhập ngày một nhiều các sản phẩm văn hóa, lối sống từ bên ngoài vào nước ta khiến cho nhu cầu và thị hiếu của sinh viên có nhiều biểu hiện phức tạp. Đặc biệt là hiện nay, bên cạnh đa số sinh viên có ước mơ, hoài bão lớn lao, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có ý thức thẩm mỹ trong sáng, lành mạnh…vẫn còn một bộ phận sinh viên thờ ơ, sống thực dụng, chạy theo những trào lưu, xu hướng, thị hiếu lệch lạc. Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, khi đề cập tới văn hóa nghệ thuật, Đảng ta đã cảnh báo: “môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục,…Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác…Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ” [23, tr.125]. Từ những vấn đề cấp bách nêu trên, việc nghiên cứu khoa học thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ nói chung, thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên, sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay. Đề góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên trong đời sống thẩm mỹ nói chung, trong thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên nói riêng, đặc biệt là thực hiện tinh thần theo quan điểm của Đảng ta, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học của mình.
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 5
1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên 5
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp về thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam 15
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án 26
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 28
2.1 Thị hiếu thẩm mỹ 28
2.2 Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam 44
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 59
3.1 Ưu điểm của thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay 59
3.2 Hạn chế, nguyên nhân và vấn đề đặt ra đối với thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay 72
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 104
4.1 Phương hướng nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam 104
4.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam 109
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIÁ 137
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC 150
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển con người toàn diện và hài hòa là mục đích và lý tưởng của xã hội ta Con người phát triển toàn diện và hài hòa nghĩa là con người phát triển cả về thể chất
và tinh thần, cả lý trí và tình cảm, cả năng lực và kỹ năng hoạt động sống, biết sáng tạo đồng thời biết hưởng thụ các sản phẩm, các giá trị do chính mình sáng tạo ra
Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện nay, sự nhìn nhận về phát triển con người có phần thiên lệch; đặc biệt, do chạy theo lợi ích vật chất thuần túy mà không
ít người đã tuyệt đối hóa giá trị vật chất, xem nhẹ hoặc quên đi giá trị tinh thần của con người Thực tế, đời sống tinh thần là vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và đối với xã hội nói chung Lịch sử phát triển xã hội cho thấy, nhiều khi đời sống vật chất đầy đủ, thậm chí dư thừa, nhưng con người lại rơi vào bế tắc trong
lý tưởng và mục đích sống Khủng hoảng tinh thần đã làm cho nhiều quan hệ xã hội
bị đảo lộn, xảy ra nhiều hành vi tiêu cực Quan niệm không đầy đủ về đời sống thẩm mỹ làm cho đời sống tinh thần nghèo nàn
Trong cấu trúc phát triển con người, theo giá trị truyền thống quý báu của ông cha ta là con người phải phát triển đầy đủ các phương diện của một nhân cách hoàn thiện: đức, trí, thể, mỹ Đó là con người phát triển đầy đủ các phẩm chất, nhân cách
ở trình độ cao Đức - Trí- Thể - Mỹ chính là tiêu chí xây dựng và phát triển con người của hầu hết các nền giáo dục tiến bộ trên toàn thế giới, ở mọi thời đại Tuy nhiên, xã hội ta hiện nay đang xảy ra nhiều chuyển đổi phức tạp, nhất là sự thay đổi các quan hệ giá trị, sự quan tâm đến việc giáo dục, xây dựng và phát triển con người theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ chưa được đầy đủ, và nhiều khi còn thiên lệch các
hệ giá trị, các thang giá trị, các chuẩn mực đánh giá xã hội, làm đảo lộn thang giá trị trong việc đánh giá con người và từ đó lệch lạc, phiến diện trong giáo dục và xây dựng con người toàn diện
Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành ý thức thẩm mỹ của con người, là
cơ sở cho mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ Thị hiếu thẩm
mỹ lành mạnh có vai trò to lớn trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới ở nước ta mà mục tiêu trọng tâm là tạo cơ sở đúng đắn cho mọi hoạt động sống cũng
Trang 4như mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ của chủ thể Thị hiếu thẩm mỹ không chỉ biểu hiện quá trình tự phát triển của cá nhân mà còn thể hiện trình độ giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường và ngoài xã hội Luật giáo dục năm 2005
đã nhấn mạnh: “Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công dân, giáo dục sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên là yêu cầu chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta” [142] Có thể nói, cùng với giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển nhu cầu và lý tưởng tiên tiến của con người Việt Nam giai đoạn mới
Thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng là lực lượng quan trọng, có vai trò quyết định đến vận mệnh, tương lai của đất nước Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước Người khẳng định tuổi trẻ không những là người kế tục các thế hệ đi trước mà còn là tương lai của đất nước, của dân tộc Cùng với sự phát triển mạnh mẽ, mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
và kinh tế thị trường đang tác động mạnh tới đời sống tinh thần sinh viên Sự du nhập ngày một nhiều các sản phẩm văn hóa, lối sống từ bên ngoài vào nước ta khiến cho nhu cầu và thị hiếu của sinh viên có nhiều biểu hiện phức tạp Đặc biệt là hiện nay, bên cạnh đa số sinh viên có ước mơ, hoài bão lớn lao, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có ý thức thẩm mỹ trong sáng, lành mạnh…vẫn còn một bộ phận sinh viên thờ ơ, sống thực dụng, chạy theo những trào lưu, xu hướng, thị hiếu lệch lạc
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, khi đề cập tới văn hóa nghệ thuật, Đảng ta đã cảnh báo: “môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục,…Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác…Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu
dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ” [23, tr.125]
Từ những vấn đề cấp bách nêu trên, việc nghiên cứu khoa học thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ nói chung, thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên, sinh viên trong các trường đại học ở Việt Nam nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay Đề góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên trong đời sống thẩm mỹ nói chung, trong thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên nói riêng, đặc biệt là thực hiện tinh thần theo
Trang 5quan điểm của Đảng ta, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Thị hiếu thẩm mỹ của sinh
viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học của
mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích: Trên cơ sở lý luận về thị hiếu thẩm mỹ (THTM), luận án làm rõ
nội dung, đặc điểm THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam; khảo sát, đánh giá thực trạng THTM của sinh viên đại học hiện nay, từ đó đề ra phương hướng và các giải pháp nâng cao THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam
* Nhiệm vụ: Từ yêu cầu trên, luận án cần giải quyết và làm rõ những nội dung
căn bản sau:
Một là: Nghiên cứu tổng quan các công trình tiêu biểu về văn hóa thẩm mỹ và
thị hiếu thẩm mỹ, từ đó đặt ra những vấn đề nghiên cứu tiếp theo
Hai là: Làm rõ lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên
đại học ở Việt Nam
Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên đại học
Việt Nam
Bốn là: Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao thị
hiếu thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học ở Việt Nam thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận án là : THTM của sinh viên các trường đại
học ở Việt Nam hiện nay, từ 2013-2014 đến nay
* Phạm vi nghiên cứu: Do THTM là vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan
đến nhiều lĩnh vực như xã hội học, văn hóa học, nghệ thuật học, tâm lý học Luận án nghiên cứu THTM của sinh viên các trường đại học được tác giả nghiên cứu từ chuyên ngành triết học, cụ thể là mỹ học Do dung lượng luận án có giới hạn và việc xác định mục tiêu của luận án, cho nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Đối tượng khảo sát: Luận án tập trung nghiên cứu THTM của sinh viên khối các trường đại học không thuộc chuyên ngành văn hóa - nghệ thuật, cụ thể
là khối ngành kinh tế, khoa học xã hôi trên phạm vi cả nước
THTM được khảo sát chủ yếu trong các loại hình: văn học, âm nhạc, điện ảnh, thời trang
Trang 64 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin, cũng như các quan điểm của Đảng Cộng sản về văn hóa văn nghệ, về xây dựng và phát triển con người toàn diện, hài hòa Luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu và những công trình liên quan đến đề tài trong và ngoài nước
* Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh đối chiếu, khái quát hóa, gắn lý luận với thực tiễn v.v
5 Những đóng góp mới của luận án
- Từ góc độ mỹ học, luận án đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về THTM theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trên cơ sở lý luận THTM, luận án đã phân tích và khái quát được nội dung
và đặc điểm THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam
- Bằng số liệu gián tiếp và trực tiếp (do nghiên cứu sinh tự khảo sát), luận án
đã phân tích làm rõ thực trạng (ưu điểm và hạn chế) trong THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất được phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam
6 Ý nghĩa của luận án
* Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm sâu sắc THTM của sinh viên nước ta
trong xây dựng và phát triển con người toàn diện của Đảng, Nhà nước ta
* Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo mỹ học nói chung, THTM nói riêng ở các trường Đại học, Học viện và những ai quan tâm đến lĩnh vực khoa học này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án gồm 4 chương 9 tiết
Trang 7TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN
Tình hình nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ
Thị hiếu thẩm mỹ là một trong những phạm trù trung tâm của mỹ học, nó cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như văn học, văn hóa, tâm lý học, v.v Từ chuyên ngành triết học nói chung, mỹ học nói riêng, ngay từ thế kỷ XVII-XVIII, một số nhà triết học phương Tây đã quan tâm nghiên cứu về THTM
Tuy nhiên, người có công trình nghiên cứu đồ sộ và đi sâu lý giải vấn đề THTM phải nói đến I.Kant - nhà triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII- XIX với tác
phẩm Phê phán năng lực phán đoán (Bùi Văn Nam Sơn dịch) Kant gọi THTM là
phán đoán thẩm mỹ hay phán đoán sở thích Kant coi sự phán đoán thẩm mỹ là sự hài lòng do cách thức cảm nhận của chủ thể trước đối tượng thẩm mỹ, và ông khẳng định, không có một nguyên tắc khách quan nào cho sở thích
Ở Nga, các nhà dân chủ cách mạng Nga cũng bắt đầu đi sâu nghiên cứu THTM Tiêu biểu cho các nhà tư tưởng này là Tsecnưsepxki, Plêkhanốp Plêkhanốp
trong tác phẩm Nghệ thuật và đời sống xã hội (Từ Lâm dịch) có phần viết về “Bàn
về nghệ thuật” đã lý giải mọi THTM đều có nguồn gốc xã hội, nghĩa là THTM phụ thuộc vào điều kiện sống của con người Tsecnưsepxki coi nghệ thuật là cuộc sống, cho nên ông quan niệm THTM ở mỗi người phụ thuộc vào đời sống vật chất và tinh thần của con người
Nhiều vấn đề THTM đã được đề cập trong các giáo trình mỹ học của Liên Xô
Có thể kể đến các giáo trình mỹ học đã được dịch ra tiếng Việt như: Những phạm
trù mỹ học cơ bản của IU.B.Bôrép (Trường Đại học Tổng hợp xuất bản Hà Nội
1974), Nguyên lý mỹ học Mác-Lênin của V.Xcachersiccốp - I.U.A.Lukin; (Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội 1984; Mỹ học Mác-Lênin Tập 1 của
Trang 8M.F.Ốpxiannhicốp, Nxb Văn hóa, Hà Nội 1987, v.v Những giáo trình trên không chuyên bàn về THTM song ở một số tiết, tiểu tiết đã đi sâu làm rõ những vấn đề của THTM Tuy nhiên, với tính chất là giáo trình, vấn đề THTM chỉ được nghiên cứu trong hệ thống nguyên lý chung, chưa được tách ra thành những phần cụ thể, độc lập và chỉ được dành một dung lượng rất khiêm tốn Chỉ riêng V.Razumnưi (1962),
đã viết cuốn sách nhỏ Bàn về thị hiếu nghệ thuật tốt (Nxb Văn hóa nghệ thuật, Bộ
Văn hóa, do Hồ Quý Truyện dịch) Tác giả đã đưa ra quan niệm của cá nhân thế nào là thị hiếu nghệ thuật tốt Quan điểm chung của các công trình (giáo trình) nêu trên ở Liên Xô về THTM là luôn xuất phát từ triết học Duy vật biện chứng và Duy
vật lịch sử để lý giải nguồn gốc và bản chất của THTM.Trong cuốn Tâm lý văn
nghệ (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991) Chu Quang Tiềm tuy không đề cập trực
tiếp đến THTM nhưng ông đã làm rõ một số điều kiện cần thiết cho chủ thể thưởng
thức và đánh giá thẩm mỹ, qua đó thể hiện quan điểm của ông về THTM
Ở Việt Nam, vấn đề THTM đã được nghiên cứu khá nhiều từ nửa sau của thế
kỷ XX (nhất là những thập niên 70-80) Trước Cách mạng tháng Tám, một số nhà nghiên cứu đã ít nhiều bàn tới thị hiếu nghệ thuật thông qua cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trong lĩnh vực văn chương nhằm xây dựng và bảo vệ nền văn học cách mạng Tiêu biểu là các nhà
lý luận Hải Triều, Hoài Thanh, Hoài Chân Sau Cách mạng tháng Tám, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vấn đề THTM dường như bị bỏ ngỏ cho đến sau 1954 - khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu Triết học Mác- Lênin, vấn đề THTM mới được quan tâm nhiều hơn
Năm 1963, tác giả Vũ Khiêu trong cuốn Đẹp đã đề cập đến THTM và mối
quan hệ giữa THTM với “mode” của thanh niên Sau đó Phạm Khiêm Ích trong
Thông báo Triết học số 16-1970 đã có bài bàn về Cơ sở khoa học của vấn đề thị
hiếu thẩm mỹ Tác giả Đỗ Huy viết bài Xây dựng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh trên
Tạp chí Thanh niên, số 6, tháng 7-1973, Như Thiết - Đỗ Huy với bài Mấy vấn đề về
thị hiếu thẩm mỹ trên tạp chí Triết học số 3, 1976, Như Thiết với tác phẩm Quán triệt tính Đảng… Có thể nói, những tác phẩm nêu trên đã trên cơ sở triết học và mỹ
học Mác-Lênin, đã đi sâu phân tích làm rõ bước đầu, song có tính nền tảng theo
Trang 9nhận thức và lý giải những vấn đề căn cốt của THTM ở nước ta trong cuối thập niên
70 đầu những năm 80 thế kỷ trước
Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu này vẫn chưa có chuyên khảo riêng nghiên cứu về vấn đề THTM Trong các giáo trình Mỹ học đã xuất bản, vấn đề THTM chưa được tách ra thành các chương, phần độc lập, mà chỉ được trình bày rải rác ở một số khía
cạnh hoặc được đan xen vào các vấn đề khác Có thể kể đến một số cuốn như: Tìm
hiểu Mỹ học Mác - Lênin, Nxb Văn hóa - 1979 của tác giả Hoài Lam; Mỹ học Lênin, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985 của tác giả Đỗ Văn
Mác-Khang và Đỗ Huy; Hoài Lam - Nguyễn Hồng Mai, Đặng Hồng Chương, Giáo trình
Mỹ học, trường Đại học Văn hóa, 1991; Vũ Minh Tâm, Mỹ học và giáo dục thẩm
mỹ, Nxb Giáo dục, 2000; Đỗ Văn Khang, Mỹ học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia,
2002; Lê Ngọc Trà - Lâm Vinh - Huỳnh Như Phương, Giáo trình Mỹ học đại cương,
Nxb Giáo dục, 2003
Có thể nói, người quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình về THTM là tác
giả Đỗ Huy Chủ đề THTM đã được ông đề cập ở một số công trình: Mỹ học khoa
học về các quan hệ thẩm mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 và Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2006 Cuốn Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật đã tập hợp một số bài viết về THTM Các tác
giả đưa ra khái niệm thị hiếu và THTM, bản chất xã hội và đặc trưng chủ yếu của THTM Đặc trưng cơ bản của THTM đó là: sự phản ứng mau lẹ, sự hào hứng, tính
cá biệt và tính hệ thống hình tượng
Cuốn Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống của tác giả Nguyễn Chương Nhiếp,
năm 2004, Nxb Chính trị Quốc gia Cuốn sách được triển khai từ luận án tiến sĩ bảo
vệ năm 2000 có tên Thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nó trong đời sống thẩm mỹ
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách bài bản và đi vào nhiều khía cạnh của THTM Cuốn sách có 3 chương, trong đó có 2 chương bàn về lý luận
THTM Chương 1 - Một số vấn đề lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và đời sống thẩm mỹ
nghiên cứu về thị hiếu và THTM Ở đây, tác giả trình bày những vấn đề liên quan
đến đời sống thẩm mỹ và cấu trúc của nó Chương 2 nghiên cứu về vai trò của thị
hiếu thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ, trình bày mối quan hệ giữa THTM và đời sống
Trang 10thẩm mỹ Theo tác giả, vai trò của THTM đối với đời sống thẩm mỹ thể hiện trên ba lĩnh vực: thưởng thức thẩm mỹ, đánh giá thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ Tác giả cho rằng THTM là sự phản ánh đời sống thẩm mỹ, ở đâu có đời sống thẩm mỹ ở đó có THTM Tuy nhiên, THTM cũng có tính độc lập tương đối với đời sống thẩm mỹ Tính độc lập tương đối này nói lên tính đa dạng, tính nhiều màu sắc, tính khác biệt trong đời sống thẩm mỹ
Tác giả Nguyễn Chương Nhiếp cũng đã công bố một số bài viết chuyên sâu về
THTM, có thể kể đến như Vai trò của thị hiếu trong đánh giá thẩm mỹ, Tạp chí Triết học 1996, số 4 trang 23-28; Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ trong thưởng thức và
đánh giá nghệ thuật, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật 1999, số 9, trang 7-10; Nghệ thuật
và vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, Tạp chí Mỹ thuật thời nay 1996, số 12, trang
38-40… Trong các bài viết này, tác giả đã lý giải vai trò của THTM trong đánh giá thẩm mỹ và nhận định việc nâng cao năng lực thụ cảm, bồi dưỡng lý tưởng thẩm
mỹ cao đẹp là con đường rèn luyện THTM lành mạnh Sự thử thách của thị hiếu thông qua đánh giá mốt, nghệ thuật và các hoạt động thẩm mỹ Theo ông, năng lực THTM chính là giải pháp nâng cao khả năng thưởng thức, đánh giá và sáng tạo các giá trị thẩm mỹ của mỗi người
Trong các bài khác Tính cá nhân và tính xã hội của thị hiếu thẩm mỹ, Tạp chí Triết học 1999, số 4 trang 55 - 57; Mấy suy nghĩ về bản chất xã hội của thị hiếu thẩm
mỹ, Tạp chí Tâm lý 1999, số 5, trang 11-17 Tác giả Nguyễn Chương Nhiếp đã chỉ ra
sự thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội trong THTM Tác giả cho rằng không thể có THTM tồn tại bên ngoài cá nhân, chính những tố chất sinh học bẩm sinh, điều kiện tâm sinh lý của cá nhân làm nên tính cá nhân Tuy nhiên, THTM không phải là cái thuần túy cá nhân, tách rời khỏi quan hệ thẩm mỹ với hiện thực Mọi quan hệ thẩm mỹ đều gắn với tính quy định lịch sử - xã hội của nó Các nhu cầu, thị hiếu, lý tưởng cũng không nằm ngoài các quan hệ dân tộc, giai cấp, thời đại
Trong bài Tính quy luật trong sự hình thành và phát triển THTM, tạp chí Triết
học, số 4, 2002, tác giả Nguyễn Chương Nhiếp nhận định: như mọi hiện tượng xã hội khác thì THTM cũng mang tính quy luật Có ba loại quy luật thường xuyên chi phối, tác động đến sự hình thành và phát triển của nó, đó là quy luật xã hội, quy luật
Trang 11tâm lý và quy luật thẩm mỹ Quy luật xã hội giải thích sự phát sinh, phát triển và tiêu vong của các loại thị hiếu, các loại “mốt” Quy luật tâm lý thể hiện sự thích ứng giữa nhu cầu tình cảm của con người và đối tượng bên ngoài Nó cũng như quy luật cung cầu trên thị trường Còn quy luật thẩm mỹ là sự tổng hòa những quy luật xã hội và tâm
lý Nó đặc biệt chú ý quy luật của cái hài hòa; quy luật chi phối, tác động lẫn nhau giữa nội dung và hình thức Các quy luật này là cơ sở để giải thích mọi hiện tượng THTM
Tác giả Dương Viết Á, trong cuốn Mỹ học âm nhạc, quan niệm: Thị hiếu là sở
thích riêng của từng con người trong xã hội, ở đây đã bước đầu có sự đánh giá thẩm
mỹ, nhưng dù sao cũng chưa phải là sự đánh giá có tính chất lý tính mà nặng về tính chất bản năng, mặc dù là bản năng của con người xã hội, bản năng này nằm trong cái tổng thể của một con người tư duy, trực quan và chưa thoát khỏi sự chi phối mạnh mẽ của những cảm xúc thẩm mỹ Xét quá trình nhận thức, nó thuộc giai đoạn trực quan sinh động nên nó tác động đặc biệt rõ ràng và sâu sắc vào giai đoạn đầu trong quá trình thưởng thức âm nhạc
Nhà nghiên cứu Đỗ Huy đã công bố nhiều bài về THTM như Mấy vấn đề của
THTM trong xã hội ta hiện nay đăng Tạp chí Triết học 1976, số 3, trang 65- 72; Giáo dục thẩm mỹ và vấn đề hình thành các khả năng sáng tạo, Tạp chí Triết học
1983, số 3 trang 85-95; Hướng đến việc xây dựng các THTM tốt vì sự phát triển
phong phú và lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay, tạp chí Nghiên cứu
nghệ thuật, 1984, số 3, trang 20-23 Các bài viết đã nhấn mạnh, THTM là biểu hiện
ổn định của năng lực xúc cảm thẩm mỹ và là cơ sở cho việc thưởng thức và sáng tạo những cái đẹp Nhờ THTM đúng, mạnh và sâu mà chủ thể có thể phản ứng ngay tức khắc cái mới, cái đúng, cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài Đồng thời, THTM cũng giúp cho con người có khả năng phát hiện nhanh nhạy cái mới, cái hay cần cổ vũ, cái xấu cần xóa bỏ
Trong giáo trình Mỹ học đại cương (Nguyễn Văn Huyên chủ biên), Nxb Chính
trị quốc gia Hà Nội, 2004 Ở chương 5 - Chủ thể thẩm mỹ, các tác giả đã phân tích
và khái quát một cách hệ thống về THTM Tác giả đi từ khái niệm nền tảng là thị hiếu để bóc tách nội hàm khái niệm THTM, đặc trưng của THTM v.v… Từ chuyên ngành triết học, cách tiếp cận và xác định nội dung của THTM trong công trình này
Trang 12thể hiện tính cơ bản và tính logic chặt chẽ Cùng nghiên cứu về nội dung này, tác
giả Vũ Thị Thanh Hoài có bài Biện chứng cá nhân - xã hội trong THTM trên tạp chí
Nghiên cứu Văn hóa - Website trường Đại học Văn hóa Tác giả này cho rằng, yếu
tố cá nhân trong THTM biểu hiện thông qua sự lựa chọn đối tượng để cảm thụ, đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào sở thích riêng của mỗi người THTM luôn là sự bộc lộ cái tôi cá nhân và phơi bày cá tính Mỗi chủ thể khi đánh giá thẩm mỹ lại đưa ra những cảm nhận ở mức độ khác nhau THTM vừa mang dấu ấn cá nhân độc đáo riêng biệt, vừa ẩn chứa những quan niệm mang tính phổ biến trong một cộng đồng,
xã hội, thời đại nhất định Mối quan hệ biện chứng cá nhân - xã hội trong THTM là mối quan hệ vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội trong mỗi con người, là
sự chuyển hoá hài hoà giữa riêng và chung, cá biệt và phổ biến Cái chung đã được hoà tan, thẩm thấu và trở nên ổn định trong nét độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân Cho nên, một THTM đúng đắn, lành mạnh phải có sự hoà hợp của cả hai yếu tố: cá nhân và xã hội
Trước đó, vào năm 1986, Bộ Văn hóa đã tổ chức một hội thảo lớn với chủ đề
Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật Hội thảo đã thu hút sự
tham gia của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài ngành Triết học Những bài
viết trong hội thảo đã được tập hợp trong cuốn sách Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và
nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1987 Trong phần thứ nhất Một
số quan điểm lý luận chung, có những tác giả bàn nhiều đến vấn đề lý luận về
THTM như:
Tác giả Trần Độ với bài viết cùng tên với chủ đề của hội thảo đã nêu lên ý nghĩa của việc nghiên cứu nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật Theo tác giả, nhu cầu văn hóa làm cho con người được phát triển toàn diện, ngày càng được nâng cao
về tâm hồn, tình cảm, nhân cách Nó khiến cho mối quan hệ giữa người và người ngày càng cao đẹp, cho nên thỏa mãn nhu cầu văn hóa chính là thực hiện mục đích cao cả đó Do vậy, nhu cầu văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề thị hiếu Khi nói đến thị hiếu nghệ thuật, không thể không đề cập đến THTM Trong bài viết này, tác giả chưa bàn đến toàn bộ vấn đề của THTM mà chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu thái độ thẩm mỹ của người thưởng thức nghệ thuật đối với các môn nghệ thuật
Trang 13Theo tác giả, THTM và thị hiếu nghệ thuật luôn luôn tồn tại ở hai mặt hay hai cấp:
xã hội và cá nhân Mỗi người có quyền có thị hiếu cá nhân, và vì vậy cũng phải có trách nhiệm tôn trọng thị hiếu cá nhân của người khác Mỗi công dân trong xã hội phải biết bảo vệ những nguyên tắc xã hội của thị hiếu và biết chấp nhận sự phong phú của thị hiếu Không nên áp đặt thị hiếu cá nhân cho công chúng, nhất là người lãnh đạo cũng như không ai nhân danh thị hiếu cá nhân để truyền bá những thị hiếu phản động Tác giả cũng chỉ ra dấu hiệu của thị hiếu cao và thị hiếu thấp, thị hiếu lành mạnh và thị hiếu không lành mạnh Thỏa mãn thị hiếu là một việc làm hết sức phức tạp và tế nhị Thị hiếu nào cũng cần phải được đáp ứng, dù thị hiếu thấp, thậm chí nhiều khi là thị hiếu tầm thường Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định, không phải đáp ứng để thỏa mãn các thị hiếu đó mà đáp ứng là để nâng cao thị hiếu
Các bài viết Bàn thêm về nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật của Hoàng
Như Mai, Một số suy nghĩ về nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật của Phạm Văn
Lý đã phân tích vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần con người đó là nhu cầu văn hóa Theo các tác giả, chính THTM tạo ra nhu cầu để thưởng thức thẩm mỹ Muốn có được thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, thì mỗi cá nhân phải trên cơ sở THTM lành mạnh Các tác giả nhấn mạnh đến việc giáo dục thẩm mỹ và tầm quan trọng trong việc hướng dẫn và rèn luyện thị hiếu nghệ thuật nhằm loại bỏ thị hiếu tầm thường, rẻ tiền của công chúng chỉ để mua vui, thay vào đó là thị hiếu nghệ thuật xã hội chủ nghĩa tràn đầy sức sống mới Tác giả Hoàng Như Mai cho rằng, muốn xây dựng thị hiếu mới phải có những sản phẩm nghệ thuật sắc sảo Cái mới chỉ thắng cái cũ khi nó hơn cái cũ Nếu cái mới dở thì khó lòng tạo ra được thị hiếu lành mạnh
Cơ chế tâm lý của THTM và thị hiếu nghệ thuật là nhan đề bài viết của tác giả
Nguyễn Châu trong hội thảo Tác giả khẳng định, THTM trước hết là một hiện tượng, một quá trình tâm lý bao gồm các khâu nhu cầu - cảm xúc - thị hiếu Các khâu tác động qua lại với nhau, sự kết thúc của cái này là mở đầu cho cái kia Đồng thời, để tìm hiểu THTM và nhất là hướng dẫn nó, không thể không nắm cơ chế tâm
lý của nó Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích ngoài yếu tố xúc cảm ra, còn có yếu tố trí tuệ THTM chỉ có thể trở nên nhạy bén, sâu sắc và phong phú khi nó được bồi bổ
Trang 14bằng trí tuệ Yếu tố trí tuệ theo tác giả, có tác động quyết định đối với định hướng của THTM Các mặt trên trong cơ chế của THTM đó là biểu hiện ở từng cá nhân riêng lẻ thì mối quan hệ giữa hòa đồng và tách biệt lại vượt quá phạm trù tâm lý cá nhân để trực tiếp đi thẳng vào phạm trù tâm lý - xã hội
Tác giả Đỗ Huy với bài viết Tính trực giác của THTM và thị hiếu nghệ thuật đã nói
tới trực giác THTM và biểu hiện tập trung của nó là chủ thể thẩm mỹ Theo tác giả, để giải thích tính trực giác của THTM và thị hiếu nghệ thuật, cũng như hướng tới việc làm xuất hiện các thị hiếu nghệ thuật tốt trong đời sống xã hội, mỹ học Mác - Lênin xuất phát
từ ba con đường lớn là con đường sinh lý, bằng các phản ứng tâm lý và cuối cùng là các điều kiện sinh lý, tâm lý Khi định hướng, giáo dục rèn luyện tính trực giác trong phán đoán thị hiếu nghệ thuật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã gắn liền toàn bộ vấn đề này vào phạm trù thực tiễn Thực tiễn đã làm gắn bó giữa cá nhân và xã hội, giữa vật chất và tinh thần Thông qua đó mà tính phong phú của trực giác thị hiếu thưởng thức, đánh giá, sáng tạo nghệ thuật được hình thành
Cũng trong hội thảo này, tác giả Trường Lưu với bài Mỹ học thực dụng chủ
nghĩa - nguồn gốc của thị hiếu nghệ thuật tầm thường ở Mỹ đã nhắc đến Giêmơ,
Điuây, Haosê và Lêvin là những đại diện xuất sắc của chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ
Họ là những người bảo vệ cho sự thoát ly của nghệ thuật khỏi những nguyên tắc của đời sống xã hội; các tác phẩm nghệ thuật càng ít công chúng quý mến thì giá trị nghệ thuật của nó càng cao Họ ra sức bào chữa những hiện tượng suy đồi của chủ nghĩa hiện đại Sự che giấu kêu gọi hướng tới cái "kinh nghiệm tự do" có dụng ý dắt dẫn nghệ sĩ từ bỏ việc tham gia tích cực vào đời sống xã hội, từ bỏ đấu tranh cho một xã hội mới
Có thể nói, khi nghiên cứu về THTM, các tác giả, từ các cách tiếp cận khác nhau, ở các mức độ chuyên sâu khác nhau đã bàn về khái niệm, bản chất, đặc trưng, vai trò của THTM, tính quy luật trong sự hình thành và phát triển THTM, cũng như mối quan hệ giữa THTM và thị hiếu nghệ thuật
Tình hình nghiên cứu liên quan đến thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài liên quan đến THTM của sinh viên hầu hết được đề cập trong các công trình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ nói chung
Có thể kể đến các công trình có tính căn bản như Văn hóa thẩm mỹ của người
Trang 15Xôviết của M.X Cagan (Trường ĐH tổng hợp Leningrat, 1976); Những vấn đề và
sự hình thành hệ thống giáo dục thẩm mỹ của Liên Xô của N.I.Kiasenko; Nhu cầu thẩm mỹ của I.A.Gidarian, Matxcơva, 1976, bản dịch tiếng Việt: do Hồ Quý Truyện
dịch 3 chương và bản dịch của Văn Bích 5 chương trong đó phần nội dung nói về THTM của thanh niên Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu nhu cầu thẩm
mỹ dưới góc độ tâm lý học, chỉ ra nguồn gốc phát sinh của nhu cầu đó và hoạt động sáng tạo tiêu dùng nghệ thuật Người nghiên cứu sâu sắc về vấn đề thụ cảm thẩm
mỹ và tâm lý thụ cảm theo lứa tuổi là P.M.Iacốpxơn Ông đã nghiên cứu về những
nội dung rất gần với THTM Trong Tâm lý học của thụ cảm nghệ thuật (Thư viện
Viện Triết,1983), ông đã đi sâu vào một số lĩnh vực lớn nghiên cứu quá trình thụ cảm thẩm mỹ theo nhóm và lứa tuổi nhằm làm rõ những dấu hiệu, tiêu chuẩn cơ bản
và các giá trị đối với việc truyền cảm thẩm mỹ theo lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp và các nhóm xã hội, đồng thời mô tả các điều kiện phát triển thụ cảm thẩm
mỹ trên cơ sở nghiên cứu các bậc thang thụ cảm thẩm mỹ
Tuy những công trình của các tác giả nước ngoài không đề cập một cách trực tiếp nhưng qua nội dung đã khẳng định rằng, THTM là sự thể hiện khả năng đánh giá, lựa chọn của chủ thể cảm thụ trước các hiện tượng thẩm mỹ, là yếu tố tác động, THTM chi phối mạnh mẽ, sâu sắc đến năng lực cảm thụ thẩm mỹ của mọi lứa tuổi, nhất là giới trẻ
Ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận về THTM gắn với vai trò của giáo dục THTM
ở tuổi trẻ được quan tâm nhiều hơn, nhất là khi vấn đề xây dựng mẫu con người lí tưởng cho xã hội mới xã hội chủ nghĩa được đặt ra
Những công trình tiêu biểu đó là:
Tác giả Lê Đức Nga với bài Thế nào là thị hiếu nghệ thuật lành mạnh trong sách Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb Văn hóa, Hà
Nội, 1987 đã đề cập đến mặt ý thức quan điểm của thị hiếu, bản chất xã hội của thị hiếu thường dễ quan sát, và qua đó có thể xác định chuẩn lành mạnh Thị hiếu nghệ thuật lành mạnh phản ánh trình độ đúng đắn, trình độ giác ngộ chính trị, xã hội nghiêm túc Chuẩn mực lành mạnh của thị hiếu này có thể quan sát được ở ba mặt
hợp thành của nó: Một là, ý thức thẩm mỹ trong tâm lý văn hóa của người đó Hai
là, ứng xử công khai tán thành hay phản đối, nhiệt tình hay lạnh nhạt với nghệ thuật
Trang 16có nội dung tiến bộ Ba là, năng lực sáng tạo và tham gia sáng tạo những tác phẩm
có nội dung phản ánh chân thực con người mới, có sức thuyết phục hùng hồn của những hình thức tân tiến vừa dân tộc lại vừa hiện đại
Tác giả Đỗ Huy với một số bài viết tiêu biểu về Mấy vấn đề giáo dục thẩm mỹ
ở lứa tuổi thanh niên, Tạp chí Triết học số 2,1981; tr.147-163 Giáo dục thẩm mỹ và
sự nghiệp xây dựng con người mới, Tạp chí Triết học số 4, 1982; Nguyễn Văn
Huyên với bài viết Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên, Tạp chí Nghiên
cứu nghệ thuật, số 4, tr.16-18 Các bài viết đã tập trung vào việc phân tích tính tất yếu của việc giáo dục thẩm mỹ ở lứa tuổi thanh niên, bản chất của việc giáo dục thẩm mỹ đối với lứa tuổi thanh niên Các tác giả khẳng định, bản chất của việc giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên là chủ động xây dựng những thị hiếu tốt, phong phú, lành mạnh cho họ Bởi vì THTM là năng lực tình cảm ổn định của tuổi trẻ, thường xuyên tham gia vào việc lựa chọn những "mốt" mới cho nên giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi thanh niên, chủ yếu nhất là giáo dục thị hiếu Có giáo dục thị hiếu đúng thì
dù trong hoàn cảnh nào thanh niên cũng biết đưa cái đẹp chân chính vào cuộc sống
của mình Và gần đây nhất, tác giả Đỗ Huy có bài viết Giáo dục thị hiếu nghệ thuật
cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay đăng tải trên tạp chí Triết học số 12, 2014 Bài viết
là đánh giá sâu sắc của tác giả về thị hiếu nghệ thuật của thế hệ thanh thiếu niên hiện nay Trên cơ sở phân tích một số quan điểm khác nhau về thị hiếu, THTM và thị hiếu nghệ thuật, tác giả bài viết đã đưa ra định nghĩa về thị hiếu nghệ thuật và chỉ rõ đâu là thị hiếu tốt, thị hiếu xấu, thị hiếu lành mạnh, thị hiếu không lành mạnh, thị hiếu thấp và thị hiếu cao cũng như vai trò của thị hiếu nghệ thuật trong thưởng thức, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật Cuối bài viết, tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục thị hiếu nghệ thuật tốt cho thế hệ trẻ hiện nay ở nước ta
Công trình mới nhất nghiên cứu về thị hiếu của thanh niên là cuốn THTM của
giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa Văn nghệ, năm 2013, tác giả Nguyễn
Thị Hậu chủ biên Trong đó có một số bài viết tiêu biểu như Định hướng THTM cho
giới trẻ hiện nay của Hồ Bá Thâm, tr.174-185; Xây dựng THTM cho thanh niên của
Lê Thị Ngọc Dung, tr 200 - 211; Giáo dục THTM cho thanh niên thành phố Hồ Chí
Minh đáp ứng nhu cầu vươn tới cái đẹp của tác giả Lê Thị Thanh Tâm; tr 211-219
Trang 17Các tác giả đã chỉ rõ việc giáo dục định hướng THTM không phải là chuyện nhỏ mà xét một cách toàn diện sâu xa, nó là nội dung quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Nó là hoạt động mang tính xã hội cao vì thế giáo dục không chỉ bao gồm nhà trường, gia đình mà cần phải huy động sự hưởng ứng của cả xã hội
Qua bài viết THTM và những biến đổi trong thanh niên thành phố Hồ Chí
Minh của tác giả Ngô Hoài Sơn, tác giả đã đưa ra một số vấn đề chung về THTM,
các quan niệm, ba cấp độ của THTM và quá trình hình thành THTM Đặc biệt là các yếu tố tác động đến quá trình hình thành THTM như nguồn thông tin mà chủ thể tiếp cận; yếu tố chủ quan của chủ thể và dư luận của nhóm cộng đồng mà chủ thể tồn tại Theo tác giả, THTM trong thanh niên là khuynh hướng về thẩm mỹ của thanh niên trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, tình hình nghiên cứu liên quan THTM của sinh viên còn khiêm tốn, chủ yếu nằm trong nghiên cứu về THTM của công chúng nói chung Tuy nhiên, từ các công trình nghiên cứu trên đây về THTM, các nhà mỹ học đã xác lập quan niệm
cơ bản về THTM cho các đối tượng, trong đó có thanh niên sinh viên
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp về THTM của đối tượng sinh viên không nhiều Cũng như ở nước ngoài, vấn
đề THTM của sinh viên chỉ được đề cập chủ yếu trong các công trình viết về giáo dục thẩm mỹ hoặc được đề cập trong đối tượng thanh niên nói chung Có thể kể đến
các cuốn như: Tuổi trẻ thẩm mỹ của tác giả Hoàng Thiệu Khang (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh 1987), Giáo dục thẩm mỹ - món nợ đối với thế hệ trẻ của Đỗ Xuân Hà (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997); Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển nhân cách con
người Việt Nam trong thế kỉ mới (Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội 2001); Xã hội học Thanh niên của tác giả Đặng Cảnh Khanh (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà nội 2006),… Đây là những công trình nghiên cứu phân tích những biến đổi trong lối sống của thanh niên ở thời kì mới và một số định hướng lối sống cho thế hệ thanh niên
Trên cơ sở đi sâu nghiên cứu bản chất, đặc trưng, cấu trúc của THTM và đời
Trang 18sống thẩm mỹ, tác giả Nguyễn Chương Nhiếp trong cuốn THTM trong đời sống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 đã dành chương cuối của cuốn sách - Nâng
cao THTM trong đời sống thẩm mỹ ở nước ta hiện nay để trình bày thực trạng và đề
xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao và phát huy vai trò của THTM nói riêng, đời sống tinh thần nói chung ở nước ta hiện nay Trước hết, Nguyễn Chương Nhiếp khẳng định, nâng cao THTM và phát huy vai trò của nó trong đời sống thẩm
mỹ là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới Đồng thời xây dựng và phát triển nền văn hóa nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu, cần tăng cường giáo dục THTM trong đời sống Tác giả đã khái quát về tình hình THTM và đời sống thẩm mỹ của nước ta hiện nay Những mặt tích cực như văn hóa nghệ thuật đã cố gắng đáp ứng nhu cầu và THTM của nhân dân ngày càng theo hướng đa dạng hóa, năng động hóa
Sự phát triển đa dạng của THTM đã làm cho nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của công chúng ngày càng phong phú đồng thời làm cho đời sống thẩm mỹ của chúng ta đang có những diễn biến phức tạp và có phần đáng lo ngại Những năm qua, nhu cầu và THTM của công chúng có nhiều biến động Tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt giữa thị hiếu của công chúng lớn tuổi và công chúng trẻ Nhất là thực trạng một bộ phận thanh thiếu niên ưa thích những cái gì khác lạ của văn hóa nghệ thuật nước ngoài mà dường như quay lưng lại với văn hóa nghệ thuật dân tộc Đồng thời nêu lên xu hướng chuyển từ nhu cầu đọc sang nhu cầu nghe nhìn Điện ảnh là loại hình nghệ thuật thu hút được đông đảo quần chúng nhất Mặt khác, sở thích trong thưởng thức điện ảnh ở các tầng lớp xã hội cũng không giống nhau Học sinh, sinh viên thích thể loại phim tâm lý tình cảm (50,6%) hơn phim nghệ thuật (25,1%) Tác giả Nguyễn Chương Nhiếp đã đưa ra những nhận định về chất lượng phim ảnh ít tạo được sự hấp dẫn đối với người thưởng thức Lĩnh vực văn chương cũng nằm trong tình trạng tương tự, sách dịch chiếm tỉ lệ áp đảo với những nội dung thiếu nhân văn, ngôn từ sách cẩu thả Những điều đáng lo ngại lại thu hút rất nhiều giới trẻ Rõ ràng
là trong đời sống thẩm mỹ ở nước ta hiện nay đang có sự chuyển đổi các sở thích của mình Công chúng trong nước, đặc biệt là giới trẻ đang hưởng thụ các sản phẩm văn hóa nghệ thuật ngoại lai du nhập vào đời sống thẩm mỹ ở nước ta phần lớn nằm ngoài sự kiểm soát Trong chương này, tác giả cũng đưa ra những giải pháp: xây
Trang 19dựng và phát triển nền văn hóa nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao và phát huy vai trò của thị hiếu; nền văn hóa nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là cơ sở và điều kiện để nâng cao và phát huy vai trò của THTM Điều này không chỉ tạo ra môi trường thoáng rộng cho mỗi người được tự do thể hiện THTM, mà còn là môi trường tốt nhất cho mỗi người được phát triển, được nâng cao và phát huy đầy đủ THTM của mình trong đời sống thẩm mỹ Giải pháp quan trọng nữa mà tác giả đề cập đó là tăng
cường giáo dục THTM Trong đó ông đã đưa ra hai nguyên tắc về giáo dục thẩm
mỹ đó là nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục thẩm mỹ, giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức trong việc nâng cao THTM và nguyên tắc bảo đảm tính đa
dạng của các hình thức giáo dục THTM Đồng thời với hai nguyên tắc là ba nội
dung quan trọng trong việc giáo dục THTM đó là trang bị tri thức thẩm mỹ, giáo
dục lý tưởng và định hướng nhu cầu thẩm mỹ cho công chúng Ngoài ra, xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ toàn dân, xã hội hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật, sáng tạo ngày càng nhiều và phổ biến rộng rãi các tác phẩm nghệ thuật có chất lượng cao, loại trừ các phản văn hóa phẩm cũng là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao và phát huy vai trò của THTM trong đời sống thẩm mỹ ở nước ta cũng được tác giả đề cập đến
Ngoài cuốn sách chuyên biệt trên, trong sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tác giả Nguyễn
Chương Nhiếp cũng ít nhiều nhắc đến THTM của học sinh, sinh viên trong bài Tư
tưởng Hồ Chí Minh định hướng nhu cầu thẩm mỹ lành mạnh cho thế hệ trẻ và bài Vì những thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh của thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả
đã có những đánh giá và nhận định mang tính gợi mở cho việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ tốt đẹp cho thế hệ trẻ ngày nay theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Cuốn sách Thỏa mãn nhu cầu văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb
Văn hóa, Hà Nội, 1987, dành phần thứ hai bàn về vấn đề giáo dục THTM, nâng cao trình độ thưởng thức một số loại hình nghệ thuật trong công chúng và vai trò trách nhiệm của người nghệ sĩ có nhiều bài viết đề cập đến đối tượng người trẻ, tiêu biểu
có thể kể đến như:
Tác giả Phan Kế An với bài Thị hiếu nghệ thuật là cái mới đã đi vào khía
Trang 20cạnh cái mới trong thị hiếu nghệ thuật, vì theo ông, cái mới là yêu cầu chính đáng của thị hiếu nghệ thuật Tác giả đã chỉ ra thế nào là cái mới trong nghệ thuật và trong thị hiếu nghệ thuật Đồng thời đề cập đến những vấn đề đặt ra khi tiếp nhận cái mới để tránh những chuyện dễ dãi trong việc tiếp nhận vì ông cho rằng nghệ thuật dễ tính nhất, nhưng cũng khắt khe nhất Để minh chứng cho điều này, ông nhắc đến một thực trạng trong giới mỹ thuật là có những người nhân danh cái mới
để từ chối những yêu cầu của cuộc sống Họ đi vào những chủ đề "một mình mình biết, một mình mình hay" không ăn nhập gì với cuộc sống hiện tại Nhấn mạnh điều này, ở một chừng mực nào đó tác giả cho rằng, nghệ sĩ sáng tạo cũng chịu trách nhiệm về những thị hiếu tầm thường và thấp kém của công chúng Đồng thời nhắc nhở giới trẻ có xu hướng đạt tới cái mới bằng bất cứ giá nào và cần tỉnh táo trong việc thưởng thức nghệ thuật
Trong bài Thưởng thức nghệ thuật (tr.159 - 177) tác giả Dương Viết Á lại nói
đến sự rung cảm đầu tiên của người thưởng thức khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật Theo ông, nói đến thưởng thức nghệ thuật là nói đến tác động của THTM của từng con người cụ thể, THTM thuộc phạm trù cái riêng, do đó phải tôn trong thị hiếu cá nhân Trong bài viết của mình, tác giả cũng chỉ ra tình trạng dừng lại ở giai đoạn "thưởng", nghĩa là chỉ tìm đến với nghệ thuật để giải khuây nói cách khác,
họ tìm đến tác phẩm nghệ thuật để quên trong say và say để quên Trước một bức tranh, một pho tượng đẹp người ta chỉ thấy đẹp và dừng lại ở đó Có người đọc sách, xem phim chỉ cốt để biết kết thúc câu chuyện của số phận nào đó, và chỉ dừng lại nhận thức như vậy mà thôi Lối thưởng thức hời hợt đó đặt ra trước mắt những người làm công tác văn hóa văn nghệ, mỹ học sự trăn trở và trách nhiệm cần giải quyết vấn đề Sự thật không thể buông lỏng khâu giáo dục THTM cho công chúng Ông đã chỉ rõ hai nguyên nhân là từ phía người nghệ sĩ sáng tác và từ phía người thưởng thức nghệ thuật Nếu người nghệ sĩ sáng tác hay biểu diễn cần có một vốn sống (trực tiếp hay gián tiếp), cần có một vốn tri thức (càng rộng bấy nhiêu càng hay bấy nhiêu) để xây dựng một hình tượng nghệ thuật, thì người thưởng thức cũng cần phải nâng cao (càng cao càng tốt) hiểu biết, tri thức mới thấy được, đón được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Tác giả cho rằng, vạch ra được nguyên nhân hình
Trang 21thành THTM cũng có thể tìm cách để mở rộng thị hiếu, nâng cao thị hiếu thậm chí thay đổi thị hiếu Không thể coi thị hiếu như là một sản phẩm, một kết quả của một quá trình để đi đến chỗ chờ đợi sự vận động của khách quan được chủ quan hóa; song cũng không thể nóng vội, áp đặt, mệnh lệnh trong vấn đề xây dựng THTM lành mạnh Giáo dục thẩm mỹ nói chung và xây dựng THTM nói riêng là công việc vừa khoa học vừa nghệ thuật; khoa học trong nghiên cứu và vận dụng quy luật hình thành thị hiếu; nghệ thuật trong biện pháp cụ thể đối với từng đối tượng cụ thể Thị hiếu âm nhạc ngoài những nét cơ bản của THTM, thị hiếu nghệ thuật nói chung còn mang những nét đặc thù riêng biệt xuất phát từ tính cách đặc thù nghệ
thuật âm nhạc Đây là nhận định của tác giả Vũ Tự Lân trong bài Bàn về giáo dục
thị hiếu âm nhạc lành mạnh cho quần chúng, tr.191- 198 Ông nhắc tới thực trạng
về thị hiếu âm nhạc, nhất là quan điểm của công chúng về cơn sốt nhạc nhẹ khi có ý kiến cho rằng nhạc nhẹ là âm nhạc phù hợp nhất với thời đại hiện nay Còn nhạc kinh điển - bác học đã lỗi thời, nhạc "bảo tàng", nhạc dân tộc cổ truyền là "áo the, khăn xếp", chỉ phù hợp với tâm sinh lý người thời xưa Ngược lại, cũng có người quá hoảng hốt trước sự lan tràn của loại nhạc pop, rock, kêu gọi sự ngăn cấm thứ nhạc "sập sình" và tất cả bị ghép vào một khái niệm "nhạc thương mại, nhạc thực dân mới" Theo tác giả, đó là những suy nghĩ cực đoan và có phần quá đơn giản và nay đã dần được uốn nắn
Tác giả Nguyễn Thị Minh Châu có bài Giá trị nghệ thuật và nhân văn qua tác
phẩm âm nhạc số 2/2014, tr.45-48 Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Qua bài viết này, tác
giả luận bàn đến giá trị nghệ thuật qua các tác phẩm âm nhạc Từ đó cho thấy, tác phẩm âm nhạc có giá trị nghệ thuật và tính nhân văn sẽ tạo nên môi trường giáo dục tốt, nhưng vẫn còn đó, những tác phẩm man “tính hủy diệt” gây cực đoan, phản cảm trong đời sống âm nhạc ở Việt Nam đã làm khô cằn và vô vị đối với THTM của công chúng thưởng thức
Qua bài Ảnh hưởng văn hóa Hàn Quốc đến showbiz Việt số 2/2014, tr.45-48
Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tác giả Nguyễn Tiến Mạnh đã chỉ ra sự ảnh hưởng của văn hóa Hàn Quốc đến showbiz Việt Nam Từ đó cho thấy rằng, có một bộ phận ca
sỹ dập khuôn, bắt chước một cách máy móc văn hóa Hàn Quốc trong các sản phẩm
Trang 22của mình Điều này có những tác động và ảnh hưởng tiêu cực tới THTM âm nhạc của giới trẻ hiện nay
Tác giả Hoàng Trần Doãn qua bài viết Sự thay đổi của khán giả điện ảnh hôm
nay số 9/2006, tr.46-49 Tạp chí Văn hóa nghệ thuật cho rằng sự phát triển của xã
hội luôn dẫn đến sự thay đổi nhiều yếu tố trong nó, trong đó có cả những khán giả điện ảnh Trong bài viết này, tác giả đề cập một cách tổng quát sự thay đổi của khán giả điện ảnh Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tìm hứơng đi cho điện ảnh cụ thể
là đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khán giả ngày nay
Tác giả Đinh Kim Long với bài Một số vấn đề thị hiếu và trình độ lĩnh hội giá
trị tác phẩm của khán giả điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng kết quả điều
tra, nghiên cứu xã hội học về khán giả điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh Theo số liệu này, 80,7% số người được hỏi ý kiến trả lời: "Điện ảnh là bộ môn nghệ thuật ưa thích", đặc biệt trong số này có tới 76,6% khẳng định xem phim là hình thức sinh hoạt văn nghệ họ say mê hơn cả Các cuộc điều tra, nghiên cứu ở các địa phương khác đều cho kết quả tương tự như vậy Tuy nhiên, tác giả cũng nêu ra thực trạng là bên cạnh sự phát triển thị hiếu xem phim lành mạnh, trong cuộc điều tra này cũng nhận thấy khán giả điện ảnh hiện nay còn những biểu hiện lệch lạc cần uốn nắn Trong các nhóm khán giả thuộc các thành phần xã hội khác nhau, lứa tuổi khác nhau, trình độ học vấn khác nhau, nhóm nào cũng có bộ phận khán giả có biểu hiện thị hiếu lệch lạc về mặt này mặt khác Theo kết quả điều tra, những người đến với phim ảnh chỉ vì nghe nói phim có "pha hấp dẫn" khán giả thuộc nhóm tuổi 16 - 20 chiếm tỉ lệ cao nhất: 33% Theo tác giả, đây là lứa tuổi mới lớn lên - phần lớn còn đang đi học,
họ còn mang tính hồn nhiên Trong sinh hoạt, lứa tuổi này còn nặng chạy theo ý thích, cảm tính… Vì thế sự hấp dẫn của một số cảnh nào đó trong phim có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ họ đến với phim Nguyên nhân gây nên sự lệch lạc của thị hiếu trong từng độ tuổi phần lớn do trình độ tư tưởng, chính trị, trình độ học vấn
Cuốn THTM của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa Văn nghệ,
năm 2013, Nguyễn Thị Hậu chủ biên tập hợp 18 bài viết của các nhà khoa học tại
hội thảo "Định hướng THTM cho giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh" do Viện Nghiên
cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Trong cuốn sách có một số bài viết điển hình về thực trạng THTM của thanh niên như:
Trang 23Bài viết THTM và những biến đổi trong thanh niên thành phố Hồ Chí Minh của
Ngô Hoài Sơn đề cập một số vấn đề chung về THTM và so sánh giữa THTM trước đây và hiện nay để thấy được sự biến đổi trong thị hiếu của thanh niên về THTM trong lĩnh vực nghệ thuật, THTM trong ứng xử giữa người với người, THTM trong cách thể hiện bản thân và cuối cùng là THTM trong đối xử với môi trường tự nhiên
xung quanh Trong bài viết của mình, tác giả chỉ ra ba nguyên nhân của những biến đổi trong THTM của thanh niên hiện nay đó là: một là, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển sang kinh tế thị trường làm cho không gian văn hóa thay đổi; hai là, trong
quá trình tìm kiếm con đường để khẳng định bản sắc cá nhân trong bối cảnh mới, thanh niên bị tác động mạnh bởi những dòng sản phẩm hoành tráng, có sức hút và
mới lạ từ bên ngoài đổ vào; ba là, sự "đề kháng" của cá nhân trước những trào lưu mới chưa mạnh mẽ ở mức phù hợp Ở phần cuối, tác giả Ngô Hoài Sơn đã đưa ra hai
đề xuất lớn nhằm hình thành thị hiếu thẩm mỹ tích cực, xóa bỏ những thị hiếu tầm
thường trong thanh niên: mộ̣t là, trang bị kiến thức, tư duy mới nhưng phù hợp để thanh niên có thể tĩnh tâm trước trào lưu mới; hai là, xã hội sớm định hình những
chuẩn mực mới trong bối cảnh mới để tạo ra sự “kiểm soát xã hội” một cách phù hợp
Trong một số bài viết khác: Thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên thành phố Hồ
Chí Minh trước những tác động từ "mở cửa", hội nhập, giao lưu văn hóa với cộng đồng thế giới của tác giả Võ Xuân Đàn, tr.43-54; Những tác động của truyền thông đến sự thay đổi của giới trẻ của tác giả Nguyễn Thị Hoài Hương, tr.63 - 74; Tác động của Internet lên thị hiếu thẩm mỹ về văn hóa nghệ thuật của thanh niên hiện nay của tác giả Hà Thanh Vân, tr.74 - 97; Thị hiếu thẩm mỹ đối với trang phục của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của tác giả Mai Thị Quế, tr.157-164; Ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài đến Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ, từ góc nhìn thời trang Cosplay của tác giả Vũ Thị Thu Hương, tr.145-157 Các tác giả trên đã đề cập
đến mặt tích cực đặc biệt nhấn mạnh đến những tác động tiêu cực của quá trình mở cửa hội nhập, giao lưu văn hóa với cộng đồng quốc tế đến THTM nói chung, trong
đó đáng chú ý nhất là thời trang Lối ăn mặc phóng khoáng, phản cảm đang là trào lưu được giới trẻ ưa chuộng Đồng thời để khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng xấu của nền kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa, các tác giả đã đưa ra những biện
Trang 24pháp khái quát và cụ thể như: Kết hợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường, xã hội để giáo dục thanh niên; cần xác định rõ trách nhiệm của các thành phần xã hội đối với nhiệm vụ giáo dục rèn luyện thanh niên không được đùn đẩy, né tránh, đổ lỗi trước những nội dung công tác giáo dục, rèn luyện thanh niên Bên cạnh đó, luôn quan tâm đến công tác duy trì và phát triển các tổ chức thanh niên, đồng thời coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục thông qua phương tiện truyền thông để thanh niên có
đủ nhận biết tiếp thu, sàng lọc, tránh việc ngộ nhận, bắt chước những yếu tố độc hại
ảnh hưởng đến THTM
Nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của thanh niên qua các tác phẩm nghệ thuật của
Nguyễn Thanh Mai, tr.54-63; Tìm hiểu thị hiếu âm nhạc của giới trẻ qua các diễn
đàn Internet của Nguyễn Thị Thanh Vân, tr.97 - 111; Thị hiếu thẩm mỹ trong thưởng thức âm nhạc của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay của Nguyễn
Hải Nguyên, tr.111 -123; Định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho thanh thiếu niên nhìn từ
góc độ âm nhạc của giới trẻ hiện nay của Lương Ngọc Thảo, tr.123-136 Các tác giả
của các bài viết trên đã khẳng định vai trò nâng cao THTM của nghệ thuật như sân khấu, đặc biệt đối với thanh niên thì sức hút từ âm nhạc rất lớn Tuy nhiên, các tác giả cũng thừa nhận hiện trạng lộn xộn, thiếu định hướng trong thị hiếu âm nhạc của thanh niên Tác giả Nguyễn Hải Nguyên trong bài viết của mình đã chỉ rõ thực trạng THTM của thanh niên trong thưởng thức âm nhạc đó là chuộng những dòng nhạc
du nhập từ nước ngoài hơn là nhạc dân tộc; Xu hướng thích nhạc nhìn hơn là nhạc nghe, nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai Nguyên nhân khiến thanh niên có xu hướng thích thưởng thức những loại nhạc như hiện nay là do tâm lý lứa tuổi và việc giáo dục âm nhạc trong nhà trường còn bị xem nhẹ Thông qua việc phân tích các số liệu xã hội học, các bài viết đều đưa ra những giải pháp nhằm định hướng THTM trong thưởng thức âm nhạc của thanh niên như nâng cao vai trò giáo dục Trong đó giải pháp nổi bật là cần xem xét lại vai trò kiểm duyệt, biên tập của các cơ quan chức năng đối với các sản phẩm văn hóa văn nghệ
Nghiên cứu thực địa về thanh niên nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng
trong thời gian gần đây có công trình Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến
định hướng giá trị lứa tuổi đầu thanh niên (2002) của Cấn Hữu Hải Đây là công
trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn rất công phu, cuốn sách đã tổng quan được
Trang 25nhiều công trình liên quan đến thanh niên, văn hóa lối sống của thanh niên, trong đó tác giả đã có những khảo sát và phân tích tình hình thanh niên Việt Nam và lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay, làm rõ những xu hướng biến đổi của lối sống thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đồng thời đưa ra khuyến nghị khoa học và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng lối sống thanh niên Việt Nam phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế Công trình đã cung cấp cho độc giả những nét tổng quan chung về tình hình trên thế giới và ở Việt Nam,
đề cập đến những vấn đề cơ bản cấp thiết của thanh niên Việt Nam hiện nay, phân tích những xu hướng biến đổi lối sống tích cực và tiêu cực của thanh niên hiện nay Đây thực sự là những phân tích có giá trị giúp đề tài có được cái nhìn tổng quát hơn
về các vấn đề hiện nay của thanh niên và gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo dành cho đối tượng ở lứa tuổi thanh niên đó là sinh viên
Ngoài ra, mô tả thực trạng biến đổi hệ thống giá trị, đời sống văn hóa của
thanh niên trong thời kỳ đổi mới còn có công trình Thanh niên và lối sống thanh
niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phạm Hồng Tung
(2011) Trong đó, tác giả đề cập đến đối tượng thanh niên và lối sống thanh niên trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Báo cáo nghiên cứu khoa học Bàn thêm về nội dung và hình thức giáo dục thị
hiếu thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên hiện nay (2010) của tác giả Lê Hữu Ái và
Đinh Đức Hiền, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5 chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong việc giáo dục thẩm mỹ, những nội dung và hình thức của giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên trong hệ thống giáo dục ở nước ta Từ đó báo cáo đề ra các giải pháp nhằm hình thành thị hiếu lành mạnh cho đối tượng này, đó là giáo dục thẩm mỹ bằng văn hóa nghệ thuật, thông qua người tốt việc tốt, qua kết cấu và nội dung chương trình các môn học một cách toàn diện, giáo dục thị hiếu phải gắn với môi trường gia đình và cuối cùng giáo dục THTM phải gắn với sự thống nhất và kết hợp hài hòa giữa gia đình, nhà trường và xã hội
Tác giả Đinh Xuân Dũng với bài Thị hiếu thẩm mỹ - Thực trạng, sự biến đổi
và vấn đề giáo dục thẩm mỹ trên Website tạp chí Cửa Việt - Diễn đàn văn hóa - văn
học nghệ thuật cho rằng, sự biến đổi của THTM diễn ra theo bốn chiều hướng sau:
đa dạng hóa, cá thể hóa, phân nhóm và phân hóa Đồng thời tác giả đã đưa ra số liệu
Trang 26để phân tích, chứng minh một số dấu hiệu nổi bật của các chiều hướng trên Từ đó khẳng định, những biến đổi mạnh mẽ, sự đa dạng ngày càng phát triển, những nhu cầu và thị hiếu mới xuất hiện đang là một quy luật khách quan Trong sự biến đổi ấy, nhu cầu giải trí phát triển rất mạnh, trong khi đó, nhu cầu đến với tác phẩm để tự nâng cao tri thức, nhận thức, tự trau dồi như trước đây, đang có xu hướng giảm dần Từ sự phân tích những biến đổi trên, tác giả cho rằng cần làm rõ hơn đặc điểm bao quát nhất của nó và chỉ ra những yêu cầu của việc giáo dục thẩm mỹ như thế nào trước những biến đổi phức tạp và phong phú đó Tác giả chỉ rõ về nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng ở nước ta hiện nay đang diễn ra một quá trình
“giao thời, chuyển tiếp chưa chấm dứt, chưa định hình” Đó là quá trình chuyển từ nhu cầu thời chiến sang nhu cầu thời bình với sự phát triển trở lại bình thường phải
có của con người Đó là quá trình mà các nhu cầu bình thường vốn có của con người bị kìm nén, dồn nén, đôi khi bị triệt tiêu trong thời chiến và thời bao cấp được tháo gỡ, được hồi sinh được bật dậy trong điều kiện xã hội mới Đó là quá trình từ nhu cầu đặc trưng của cái chung chi phối chuyển sang nhu cầu của cá thể xã hội, của cái tôi cá thể Quá trình biến đổi này chưa hoàn thành, vì vậy, dẫn đến sự va chạm giữa nhu cầu truyền thống và những nhu cầu mới xuất hiện và những cái quá
đà, quá khích, quá trớn của những cá nhân vị kỉ, ích kỉ, không được rèn giũa Tác
giả cho rằng vấn đề đặt ra hiện nay là: một mặt, nhận thức được sự biến đổi và phát triển đó là tất yếu, mặt khác, phải chăm lo xây dựng và nuôi dưỡng nhu cầu và thị
hiếu đó phát triển đúng hướng, vừa rất phong phú, đa dạng vừa phải tốt đẹp, trong sáng, lành mạnh Và việc chú trọng hơn nữa nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ chính là biện pháp nhằm định hướng và điều chỉnh trước những biến đổi, biến động phức tạp của nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng hiện nay và những năm sắp tới Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình chuyên sâu về thị hiếu thưởng thức
nghệ thuật giới trẻ, điển hình như công trình Văn hóa nghe nhìn với giới trẻ thành
phố Hồ Chí Minh do tác giả Đỗ Nam Liên làm chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học xã
hội thành phố Hồ Chí Minh năm 2003, Những nổi cộm trong thị hiếu đại chúng và
ca khúc đang thịnh hành tại thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thị Minh
Châu đăng trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 3/2000 Tác giả đã đưa ra những
Trang 27nhận định về các ca khúc hiện nay bị ảnh hưởng quá nhiều từ kinh tế thị trường Âm nhạc mang tính thương mại đã tác động tới lớp công chúng trẻ làm họ xa rời thực tế
Hay bài viết Thị hiếu thẩm mỹ của công chúng thanh niên - nhìn từ góc độ quản lý
văn hóa, xã hội đô thị của tác giả Lưu Thị Phương Thảo, Tạp chí Khoa học xã hội,
số 2 năm 2005, trên cơ sở những khảo sát hoạt động văn hóa trong thời gian nhàn rỗi của thanh niên từ các phương tiện truyền thông đại chúng từ điện ảnh, đọc báo, xem phim , tác giả đưa ra một vài khuyến nghị nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho đối tượng thanh niên Đây là tài liệu chỉ trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh nhưng
đã giúp đề tài có cái nhìn toàn diện hơn về THTM, thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên, trong đó có một bộ phận không nhỏ là sinh viên, những vấn đề văn hóa - xã hội đang đặt ra đòi hỏi những nghiên cứu dự báo cả về lý luận và thực tiễn
Bên cạnh những công trình kể trên còn có một số luận văn, luận án liên quan đến thanh niên, sinh viên và ít nhiều đề cập đến THTM của đối tượng này, tiêu biểu
như Cảm thụ thẩm mỹ và vấn đề nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho sinh viên
nước ta trong giai đoạn hiện nay; Luận văn thạc sĩ của Lê Đình Lục, 1996; Văn hóa thẩm mỹ và việc xây dựng lối sống cho thanh niên đô thị ở nước ta, Luận văn Thạc
sĩ của Hồ Thị Tuyết Dung, 1998; Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội hiện nay, Luận văn Thạc sĩ của Phạm Minh Ái, 2007; Giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống văn hóa cho thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Luận án Tiến sĩ của Lương Thanh Tân, 2008… Trong các
luận văn, luận án này, các tác giả đã chỉ ra thực tế văn hóa thẩm mỹ nói chung và trình độ thẩm mỹ nói riêng của sinh viên nước ta nhiều mặt còn non yếu Điều đó làm nảy sinh nghịch lý giữa một bên là nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng, phong phú và một bên là những hạn chế trong thưởng thức, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật của sinh viên Đây chính là trở ngại cho sự phát triển đời sống tinh thần nói chung và phát triển nhân cách nói riêng của sinh viên Điều này đòi hỏi công tác giáo dục thẩm mỹ, trong đó có giáo dục thẩm mỹ ngày càng trở nên quan trọng Bên cạnh việc nêu ra thực trạng như sự dễ dãi trong việc tiếp nhận các loại hình nghệ thuật từ bên ngoài, đến việc ảnh hưởng trực tiếp đến THTM của sinh viên thì các tác giả cũng kiến nghị một số giải pháp nhằm giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên như nâng
Trang 28cao trình độ học vấn của sinh viên, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, sinh viên được cung cấp những tri thức thẩm mỹ cần thiết
Các luận văn thạc sĩ Thị hiếu âm nhạc của giới trẻ hiện nay (thông qua khảo
sát ý kiến thính giả của Đài tiếng nói Việt Nam), 2006 của Nguyễn Tiến Mạnh; Thị hiếu ca nhạc của sinh viên Hà Nội hiện nay của Vũ Thu Trang, 2012 đề cập đến vai
trò của thị hiếu âm nhạc trong đời sống văn hóa của sinh viên, thực trạng về nhu cầu thưởng thức, thực trạng về khả năng cảm thụ và đánh giá cũng như đồng sáng tạo các tác phẩm âm nhạc Từ đó đưa ra bốn nhóm giải pháp chính nhằm lành mạnh hóa thị hiếu ca nhạc của sinh viên, đó là nhóm giải pháp nâng cao vai trò của chủ thể quản lý văn hóa; nhóm giải pháp nâng cao năng lực tinh thần trách nhiệm của đội ngũ sáng tác, biểu diễn và lí luận; nhóm giải pháp giáo dục thị hiếu ca nhạc cho đối tượng sinh viên và cuối cùng là nhóm giải pháp tự giáo dục của sinh viên Tuy chỉ giới hạn thị hiếu công chúng âm nhạc trong phạm vi Hà Nội, nhưng các công trình này là gợi ý hữu ích cho luận án trong quá trình xây dựng ý tưởng nghiên cứu và công cụ khảo sát
Thị hiếu công chúng âm nhạc Hà Nội từ thời kỳ đổi mới đến nay của Nguyễn
Duy Hùng, Luận văn Thạc sỹ quản lý văn hóa, 2007 Tác giả nhắc đến thị hiếu của công chúng với 4 dòng nhạc: âm nhạc dân gian, với dòng ca khúc cách mạng trước
1975 ca khúc trẻ Việt Nam và nhạc nhẹ thế giới Đồng thời cũng chỉ ra xu hướng nghe nhạc dễ dãi thiếu chọn lọc trong thị hiếu âm nhạc của công chúng, nhất là công chúng trẻ Nguyên nhân của thực trạng này được tác giả chỉ ra đó là do hạn chế môi trường nghệ thuật ca nhạc; do tác động tiêu cực từ truyền thông đến đời sống âm nhạc và do yếu tố chủ quan từ phía sinh viên
Như vậy, các tác giả đã xem xét vấn đề THTM từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà vấn đề thực trạng THTM của sinh viên các trường đại học chưa được đi sâu khảo sát và phân tích, đánh giá, nhiều khía cạnh vấn đề còn dừng lại ở mức lý luận chung
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng, vấn đề THTM đã được nghiên cứu từ rất lâu và đã đạt nhiều thành tựu rất quan
Trang 29trọng Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của từng vấn đề khác nhau, hầu hết các công trình trên chỉ đi sâu nghiên cứu THTM ở nhiều khía cạnh và nhiều cấp độ khác nhau Có những công trình chỉ dừng lại ở những bước nghiên cứu đầu tiên: khảo sát
và miêu tả Một số công trình đề cập đến THTM ở tầm khái quát và lý luận Một số công trình đã đề cập đến thực trạng THTM của con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng Một số công trình đã nhận diện được xu thế biến đổi của THTM trong bối cảnh xã hội hiện nay, đưa ra những giải pháp để giáo dục nhằm nâng cao THTM phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ thời đại mới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu riêng về THTM số lượng rất hạn chế:
Thứ nhất, có thể thấy các tác giả nói trên đã nghiên cứu THTM trên những
bình diện khác nhau từ lý luận đến thực tiễn, song do nhiều nguyên nhân khác nhau, các công trình này đều nghiên cứu về THTM ở tầm khái quát cao Vấn đề nâng cao THTM cho từng đối tượng cụ thể, trong đó có sinh viên còn nhiều nội dung cần được nghiên cứu cụ thể hơn
Thứ hai, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề
giáo dục thẩm mỹ, nhất là giáo dục thẩm mỹ cho đối tượng thanh thiếu niên Đó là
cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu một cách sâu sắc hơn về vấn đề THTM Tuy nhiên, còn ít công trình đi sâu vào đối tượng cụ thể là vấn đề THTM của sinh viên từ góc độ của triết học
Trong thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong thế giới phong phú, đa dạng, THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam có nhiều biến đổi THTM của sinh viên đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu là:
- Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án sẽ tiếp tục làm rõ thêm lý luận về THTM và nhất là THTM của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam
- Khảo sát, đánh giá thực trạng THTM của sinh viên ở các trường đại học Việt Nam hiện nay, từ đó xác định những vấn đặt mà luận án cần nghiên cứu
- Trên cơ sở thực trạng và yêu cầu mới, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản và khả thi nhằm nâng cao THTM của sinh viên các trường đại học nước ta trong thời gian tới
Trang 30Khái niệm thị hiếu từ lâu đã là đề tài cho nhiều cuộc tranh luận trong lịch sử
mỹ học và trong đời sống xã hội Từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau
về thị hiếu nói chung Trong ngôn ngữ Latinh, người phương Tây gọi thị hiếu là
Gustus, nghĩa là cảm giác, khẩu vị Trong ngôn ngữ cổ Trung Quốc, thị hiếu được
coi là sự thích thú Một cách chung nhất, có thể hiểu thị hiếu là sở thích Thị hiếu tồn tại trong nhiều mặt cuộc sống, từ trang phục, ẩm thực, lối sống , giải trí, lao động cho đến những vấn đề lớn hơn như chính trị, đạo đức, tôn giáo, khoa học và hoạt động thẩm mỹ Sở thích là lĩnh vực rất đa dạng, phong phú và phức tạp Người
ta có thể thích món ăn này, không thích món ăn kia; thích kiểu nhà này, không thích kiểu nhà khác; thích trang phục này mà không thích trang phục kia v.v Như vậy,
sở thích gần giống như thói quen, nếp sống của con người Vì thế: “Thị hiếu là một kiểu ưa thích nào đó Kiểu ưa thích này thường bộc lộ ngay lập tức Nó biểu thị toàn
bộ khả năng đánh giá cảm xúc của chủ thể” [29, tr.21] Hay nói cách khác "Thị hiếu
là khả năng lựa chọn phổ biến của con người, là sở thích trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của cá nhân và tập thể" [52, tr.177] Khi đứng trước những cảnh tượng tự nhiên, những hiện tượng xã hội, cách sống, một kiểu thời trang v.v , chủ thể thể hiện sự thích thú hay khó chịu, tạo ra những rung cảm và cuối cùng đã đi đến sự lựa chọn Sự thích thú đó xuất hiện ở mỗi cá nhân - gọi là thị hiếu cá nhân Thị hiếu như
Trang 31vậy, rõ ràng là một kiểu, một "gout" thẩm định và lựa chọn đối tượng Thị hiếu là sở thích tức thời và ổn định của con người Tôi thích cái này, anh thích cái kia Thông thường, người ta thường coi những sở thích vật chất là khẩu vị, các sở thích tinh thần là thị hiếu Nhưng cũng có nhiều sở thích mà không thể lý giải được Câu nói
cửa miệng của nhiều dân tộc: “Sư nói Sư phải, Vãi nói Vãi hay”, “Về thị hiếu thì
không có bạn bè”, “Không thể bàn cãi về thị hiếu” Điều này sẽ được luận giải ra
sao? Đó chính là điều mỹ học Mác – Lênin quan tâm và giải quyết
Anh thích cái này, tôi thích cái kia Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhắc ý kiến của V.I.Lênin rằng: “Có quyền theo sở thích riêng của mình ưa hay không ưa mà khen, chê; đó là sở thích riêng thì không sao, nhưng nếu đem sở thích riêng của mình mà ép người khác phải theo thì không được Lênin đã dạy chúng ta không nên đem cái ưa hay không ưa của mình về nghệ thuật mà ép thiên hạ được.…Không bắt ép các sở thích cá nhân, nhưng không có nghĩa là các sở thích đúng đắn không có tiêu chuẩn chung của nó” [29, tr.112]
Trong các sở thích, có sở thích tốt và cũng có sở thích xấu, có sở thích xuất phát từ những nhu cầu, tình cảm lành mạnh và cũng có sở thích xuất phát từ những nhu cầu giả tạo, thấp hèn Vì vậy, thị hiếu nó không nói lên sở thích đồng nhất, chung chung với tất cả mọi người Thị hiếu tuy gắn với tình cảm cá nhân nhưng lại biểu thị kiểu yêu thích của nhóm xã hội Trong hoạt động của thị hiếu xuất hiện các kiểu ưa thích khác nhau Vì vậy, kiểu ưa thích là những dạng khác nhau của thị hiếu hình thành và phát triển lâu dài trong đời sống của con người
Có thể thấy khái niệm thị hiếu trong đời sống cũng như trong khoa học đều bao hàm sự ưa thích của một cá nhân hay một nhóm người về một đối tượng nào đó Thị hiếu là biểu hiện sự yêu thích của cá nhân, của nhóm người, của xã hội trong một khoảng thời gian nào đó đối với sự vật hay hiện tượng nào đó Do là sở thích, nên thị hiếu thay đổi theo sự thay đổi của cá nhân và trước những biến đổi của xã hội trong những thời gian khác nhau, thậm chí nó có thể thay đổi trong những trạng thái tâm lý khác nhau của chủ thể cảm thụ
1.1.1 Thị hiếu thẩm mỹ
THTM là một bộ phận quan trọng của năng lực thẩm mỹ, thể hiện sự ưa thích,
Trang 32lựa chọn của con người về mặt thẩm mỹ THTM là sở thích của cá nhân, cộng đồng trong cảm thụ cái đẹp, là cách đánh giá về cái thẩm mỹ, về cái đẹp M.Gorki đã từng nói: “Bẩm sinh con người là một nghệ sỹ Dù ở đâu, dù bất kỳ lúc nào, dù bằng cách này hay cách khác, con người đều muốn đưa cái đẹp vào đời sống của mình” [Theo 70, tr.41]
Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Thói quen là những hành vi đã được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần Sở thích là sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định Thì THTM là sở thích của con người về phương diện thẩm
mỹ Đó là tình cảm, thái độ của con người trước cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật THTM có liên quan mật thiết với thị hiếu phổ biến về mặt tình cảm và tinh thần Vì thế THTM cũng là một vấn đề phức tạp Cũng như khái niệm thị hiếu, khái niệm THTM là một khái niệm bao hàm những nội dung thẩm mỹ rất đa dạng và phong phú Ý nghĩa của THTM lần đầu tiên được nhà tư tưởng Tây Ban Nha Gracian Moralis (1601-1658) trình bày trong luận văn của mình khi ông gọi thị hiếu gắn với cảm giác của tai và mắt, là thị hiếu gắn liền với cái đẹp và nghệ thuật Ông định nghĩa “Thị hiếu thẩm mỹ là cảm giác về cái đẹp và nghệ thuật” Theo ông, thích thú thẩm mỹ là sự hòa quyện của các xúc động thâm nhập thụ động qua hai giác quan tai và mắt với quá trình giải phóng lý trí và
do đó, THTM gắn với tình cảm về cái đẹp Định nghĩa của Gracian Moralis về THTM tiếp tục được A.Baumgarten khẳng định khi mỹ học trở thành khoa học độc lập Theo ông, thích thú thẩm mỹ là sự hòa quyện của các xúc động thâm nhập thụ động vào hai giác quan tai và mắt với quá trình giải phóng lý trí Vì vậy, THTM gắn liền với tình cảm về cái đẹp Còn Rutxô nhà tư tưởng thời Khai sáng Pháp định nghĩa: "Thị hiếu thẩm mỹ là năng lực nhận xét mà đông đảo mọi người thích hay không thích"[108, tr.264] Stôlôvích nhà mỹ học Nga đã nêu khái niệm đầy đủ hơn
“Thị hiếu thẩm mỹ là giá trị thẩm mỹ của cá nhân, là năng lực tập trung của sự đánh giá, là năng lực phân biệt giữa giá trị thẩm mỹ chân chính và giá trị thẩm mỹ giả hiệu, là năng lực phát hiện nhanh, nhạy cảm giá trị thẩm mỹ các sắc thái của nó” [Theo 108, tr.265]
Trang 33Tuy nhiên, người nghiên cứu sâu và luận giải có tính hệ thống về khái niệm THTM là nhà mỹ học duy tâm chủ quan của triết học cổ điển Đức là I Cantơ Trong
tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán viết năm 1790 I Cantơ khẳng định ngay từ
những chương đầu của tác phẩm: Phán đoán thị hiếu là phán đoán thẩm mỹ THTM
là năng lực, là khả năng phán đoán của cá nhân về cái đẹp và cái cao cả Sau Can tơ, Heghen khi coi mỹ học là khoa học nghiên cứu về cái đẹp của nghệ thuật, ông đã khẳng định rằng: thị hiếu nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với các giác quan tai và mắt Các nhà mỹ học duy vật thời kỳ Khai sáng như Beccơ, Rutxô… coi THTM không phải là một lĩnh vực tuyệt đối chủ quan mà là sự thích gắn liền với các đối tượng phản ánh, với thước đo của xã hội Cùng chung quan điểm này, các nhà mỹ học Nga như Tsernưshevski hay Bielinski còn nhấn mạnh THTM mang bản chất xã hội và có tính giai cấp
Đồng tình với quan điểm trên, Phạm Khiêm Ích cho rằng: "Nói đến thị hiếu thẩm mỹ là nói đến sự thích thú của người ta về cái đẹp Đó là phản ứng của chủ thể trước đối tượng thẩm mỹ nhất định Sự phản ứng nội tâm ấy liên quan chặt chẽ với khuynh hướng và sở thích cá nhân, biểu thị thái độ tình cảm của con người trước hiện thực một cách tự nhiên và nhạy bén" [65, tr.82] Cùng với việc đưa ra khái niệm THTM, tác giả còn xem xét THTM từ nguồn gốc và các đặc điểm của nó: "Thị hiếu thẩm mỹ là thích thú về cái đẹp, một thích thú tinh thần trong sáng, cao quý, vô tư", "Phán đoán thị hiếu không phải là sự đánh giá trừu tượng thông qua khái niệm
và suy luận logic, mà thông qua hình tượng cụ thể cảm tính", "Thị hiếu thẩm mỹ không phải là thích thú thuần túy cá nhân Nó mang tính chất phổ biến"[65, tr.83]
Các tác giả trong Giáo trình mỹ học (của Trường Đại học Văn hóa) định nghĩa:
"Thị hiếu thẩm mỹ là năng lực lựa chọn phổ biến của con người trước thế giới các hiện tượng thẩm mỹ" [70, tr.69] Tác giả Nguyễn Chương Nhiếp lại cho rằng: “Thị hiếu thẩm mỹ là một khái niệm chỉ sự thích thú của con người khi tiếp xúc với đối tượng thông qua các giác quan” [103, tr.8]
Theo quan điểm của mỹ học Mác – Lênin, THTM là một hình thái của ý thức thẩm mỹ, trong đó có sự thống nhất giữa tình cảm thẩm mỹ với lý tưởng thẩm mỹ
Đồng thời, phản ánh mối liên hệ của con người với tự nhiên và với xã hội Một mặt,
Trang 34THTM thể hiện ở khả năng nói lên những nhận xét về phẩm chất thẩm mỹ của đối tượng và hiện tượng tự nhiên và xã hội, các sản phẩm của sản xuất vật chất và tinh
thần Mặt khác, THTM thể hiện ở sự biểu hiện cảm xúc, nhờ đó thể hiện nhân tố
chủ quan của cá nhân, sự độc đáo cá thể của họ Nói cách khác, THTM là năng lực của con người có thể thấu hiểu và đánh giá những thuộc tính thẩm mỹ của các sự vật và hiện tượng của thiên nhiên và đời sống xã hội Nó bộc lộ sự đánh giá hiện thực, đánh giá toàn bộ sự phong phú của các giá trị thẩm mỹ xuất phát từ những quan niệm về cái đẹp, cái cao cả, cái xấu, cái bi, cái hài… Các quan niệm này hình thành trong đời sống thực tiễn xã hội của chủ thể thẩm mỹ
quan niệm của mình về THTM Vì vậy, các tác giả đều có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu vấn đề phức tạp này và đều thừa nhận THTM là sở thích,
sự thích thú hay sự lựa chọn Khi ta nói rằng ta thích một đối tượng thẩm mỹ nào đó
có nghĩa là ta cảm nhận, đánh giá ở một mức độ nhất định giá trị thẩm mỹ của đối tượng Vì vậy, THTM là năng lực đánh giá thẩm mỹ của con người dựa trên sở thích
và tri thức thẩm mỹ Thị hiếu là sở thích, lựa chọn đến với tất cả các hiện tượng, sự kiện trong thế giới, trong xã hội và cuộc sống, thì THTM là sở thích đối với các hiện tượng thẩm mỹ, cái đẹp THTM là một bộ phận của thị hiếu, THTM chỉ gắn với các cảm xúc, các sự ưa thích, các lựa chọn của con người về mặt thẩm mỹ; những ưa thích, các sự lựa chọn, cảm xúc ngoài thẩm mỹ là thuộc lĩnh vực của thị hiếu khác
Như vậy, theo chúng tôi, đồng ý với quan điểm có tính khái quát của tác giả Phạm Khiêm Ích khi đề cập đến THTM là đề cập đến sự thích thú của con người về cái đẹp Đó là phản ứng của chủ thể trước đối tượng thẩm mỹ nhất định Hay nói
cách khác THTM là khái niệm chỉ sở thích của con người trong lĩnh vực thẩm mỹ,
bộc lộ năng lực lựa chọn, đánh giá của con người bằng cảm xúc trước các hiện tượng thẩm mỹ
1.1.2 Bản chất và đặc trưng của thị hiếu thẩm mỹ
*Bản chất của THTM:
Do THTM là sở thích của chủ thể thẩm mỹ đối với các hiện tượng thẩm mỹ, cho nên bản chất của THTM mang sở thích của từng cá nhân, tập thể, cộng đồng
Trang 35Có nghĩa là THTM mang tính thời đại, tính giai cấp và tính dân tộc
Tính thời đại của THTM thể hiện qua sự biến đổi của hệ giá trị thẩm mỹ trong
từng thời đại nhất định Mỗi thời đại có những điều kiện, hoàn cảnh chính trị, kinh
tế, xã hội khác nhau Điều này tác động mạnh đến hình thành thị hiếu nói chung và THTM nói riêng, làm cho những sở thích và tiêu chuẩn đánh giá thẩm mỹ của con người trong thời đại đó cũng biến đổi theo Mọi giá trị thẩm mỹ lành mạnh ở tất cả các thời đại đều dựa trên cơ sở của những giá trị thẩm mỹ chân chính Những tác phẩm hay về văn học, nghệ thuật có giá trị trường tồn trước hết phải có giá trị thời đại Tính thời đại của thị hiếu cũng bộc lộ qua cách đánh giá con người trong cuộc sống, qua quan niệm khác nhau về cái đẹp Ví dụ trước đây thanh niên thích nghiền ngẫm những tác phẩm văn học có chiều sâu, nay thị hiếu ở họ đã thay đổi, họ thích những tác phẩm nghiêng về hành động và lời nói Trước đây thích phim tình cảm, lãng mạn, gắn với lý tưởng sống, lý tưởng cách mạng, nay họ thích phim hành động, phim hài hước
Trong xã hội có giai cấp, THTM cũng mang tính giai cấp THTM không phải
có tính chất nhất thành bất biến mà nó có thay đổi theo từng giai cấp Không thể có một THTM cho mọi giai cấp Mỗi giai cấp khác nhau có hệ thống chuẩn mực khác nhau Giai cấp nào thì thị hiếu ấy Màu sắc chính trị ảnh hưởng đến màu sắc thị hiếu Trong xã hội có phân chia giai cấp khác nhau, THTM của một chủ thể người xã hội luôn chịu sự tác động, chi phối bởi đặc điểm các yếu tố giai cấp mà nó là thành viên như: điều kiện sống, quan điểm sống, lý tưởng đạo đức, lý tưởng chính trị… Những lợi ích của các giai cấp khác nhau trong xã hội không chỉ củng cố từ các thiết chế chính trị pháp luật và các tư tưởng thống trị tương ứng mà còn nhờ vào sự khẳng định những chỉ tiêu, những tiêu chuẩn thẩm mỹ nữa Thị hiếu luôn gắn bó với quan niệm riêng của từng giai cấp Sự khác biệt về thị hiếu giữa các giai cấp thậm chí có thể trở thành đối kháng trong trường hợp đối tượng đánh giá thẩm mỹ là những hiện tượng có đụng chạm đến những lợi ích xã hội cơ bản, ảnh hưởng đến sự tồn vong của mỗi giai cấp
THTM còn có tính dân tộc đậm nét Mỗi dân tộc trên thế giới đều hình thành một THTM riêng Yếu tố dân tộc cũng tác động lớn đến sự hình thành thị hiếu thẩm
Trang 36mỹ của mỗi cá nhân Mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về hoàn cảnh sống, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán, tâm lý, truyền thống văn hoá khác nhau nên thị hiếu thẩm mỹ cũng có sự khác biệt so với các dân tộc khác Điều này có thể tìm thấy biểu hiện ở nhiều lĩnh vực như: trang phục dân tộc, hình thức giao tiếp, cách biểu lộ tình cảm Những nét riêng này được kết tinh trong suốt quá trình phát triển lâu dài của dân tộc, làm thành bản sắc dân tộc của thị hiếu Tính dân tộc mà chúng ta quan niệm hiện nay không phải là tính dân tộc khép kín Một mặt, nó gắn liền với truyền thống, mặt khác nó lại là dân tộc hiện đại Vì thế, tính dân tộc của THTM theo quan niệm mỹ học Mác - Lênin luôn gắn với thời đại, cái mới, cái tiến bộ trên cơ sở Chân - Thiện - Mỹ
Như vậy, THTM không phải cái có sẵn trong mỗi cá nhân, cũng không phải hoàn toàn là cái chủ quan THTM là sự phản ánh của chủ thể thẩm mỹ trước đối tượng thẩm mỹ nhất định Nguồn gốc của THTM là hoạt động thực tiễn xã hội của con người và mỗi THTM tuy có hình thức tồn tại cá nhân nhưng chúng đều được
đo bằng thước đo xã hội Hay nói cách khác, chủ thể thẩm mỹ bao giờ cũng là sản phẩm của thực tiễn xã hội Mỗi chủ thể thẩm mỹ đều không tách rời khỏi hoạt động thực tiễn của cá nhân trong quan hệ với hiện thực xã hội Mỗi lần cuộc sống biến đổi thì hệ thống ý thức thẩm mỹ, trong đó có THTM cũng biến đổi theo Vì vậy, THTM không phải là cái bẩm sinh, sẵn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của việc giáo dục và rèn luyện lâu dài của con người trong quan hệ xã hội của họ Từ đó, THTM được phân chia thành THTM lành mạnh và THTM không lành mạnh THTM lành mạnh là thị hiếu đảm bảo tính khoa học Trong THTM bao gồm: cái chung và cái riêng, yếu tố cá nhân và yếu tố xã hội, giai cấp và dân tộc Điều đó cho thấy, thị hiếu lành mạnh trước hết không tuyệt đối hóa mặt nào, mà tạo ra sự hài hòa cái chung bao quát được cái riêng, cái hiện thực phù hợp với cái lịch sử, cái cá nhân được cộng đồng chấp nhận Trong cái phong phú và đa dạng phải tìm đến điểm hội
tụ, ở đó có sự kết hợp các mặt Chân - Thiện - Mỹ mà dân tộc, xã hội, thời đại đều thừa nhận THTM lành mạnh ở thời đại chúng ta là thị hiếu biết tiếp thu văn hóa nhân loại, tiếp thu những cái tốt đẹp nhất của truyền thống dân tộc mà thụ cảm và sáng tạo cái đẹp Đó là THTM mang bản chất văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Trang 37* Đặc trưng của THTM
Theo mỹ học Mác-Lênin, với tư cách là hiện tượng tinh thần, là khả năng của tình cảm, THTM mang những nét đặc trưng cơ bản để phân biệt với xúc cảm, lý tưởng thẩm mỹ
Một là, THTM là hình thức đánh giá trực tiếp, là sự phản ứng mau lẹ, sự phản
ứng đó gần như là bản năng, nhưng thực chất là phản ứng xã hội gần các đặc điểm
cá tính của chủ thể thẩm mỹ trước các hiện tượng thẩm mỹ Do tình cảm thẩm mỹ sâu sắc, kinh nghiệm thẩm mỹ được tích lũy của chủ thể tạo thành sự ổn định của tình cảm Tính ổn định này được chi phối từ rất nhiều mối quan hệ hình thành trong cuộc sống của chủ thể Do những mối quan hệ tốt, các kinh nghiệm thẩm mỹ trở thành giá trị thẩm mỹ mà từ đó chi phối sự đánh giá tức thời của chủ thể Sự ổn định của tình cảm thẩm mỹ có thể tạo cho chủ thể phản ứng mau lẹ, phán đoán đúng trước đối tượng Do đó kinh nghiệm thẩm mỹ phong phú được tích lũy đúng đắn bao nhiêu thì thị hiếu càng phản ứng nhanh và càng đúng bấy nhiêu Có chủ thể phát hiện ra và xúc cảm ngay tức khắc những hiện tượng thẩm mỹ mới và lành mạnh xuất hiện trong đời sống THTM ấy được rèn luyện qua năm tháng, do kinh nghiệm và sự tích lũy các giá trị thẩm mỹ phong phú Trái lại, có chủ thể chưa phát hiện ra và không nhận thấy cái mới như thế nào, theo quy luật gì nhưng đã phát hiện nhanh nhạy, phản ứng tức thời, nhưng là sự phản ứng về cái giả, cái xấu
Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự ổn định, sự tích lũy các kinh nghiệm thẩm mỹ của chủ thể này còn rất nghèo nàn và thiếu sâu sắc Sự phản ứng tức thời biểu lộ cá tính và chủ kiến của chủ thể thẩm mỹ Một chủ thể thẩm mỹ chỉ thưc sự vững vàng khi bộc lộ được chính kiến của chính mình trước cái đẹp, cái xấu Thái độ dứt khoát trong khen chê thường là đặc điểm biểu hiện tính tự tin Nhưng
để có được tự tin, cần phải có vốn văn hóa cao THTM mang tính chất ổn định tương đối trong hệ thống tình cảm Do tính chất ổn định tương đối này mà năng lực thẩm mỹ của con người có khả năng phản ứng hết sức nhanh chóng Nó trở thành một hệ quy chiếu để đánh giá các giá trị thẩm mỹ Do tính ổn định tương đối, THTM tốt luôn là bạn đồng hành của con người THTM tốt là thị hiếu gắn liền với
Trang 38tình cảm với lý trí, gắn với cái đẹp với cái đẹp cái đúng và cái tốt Trong thị hiếu tốt, các năng khiếu tiềm tàng được thức tỉnh, khả năng nhận thức, đánh giá, sáng tạo…nói chung là các lực lượng bản chất của con người được bộc lộ Người ta thường nói THTM tốt là tụ điểm của các năng lực thẩm mỹ đúng đắn
Hai là, THTM là sự đánh giá hàm chứa nhiều xúc cảm thẩm mỹ Trong cuộc
sống, cũng như trong tình cảm thẩm mỹ, THTM đánh giá hiện tượng xã hội một cách đầy hào hứng Thụ cảm và đánh giá các hiện tượng để xác định đâu là tốt, xấu, đẹp Đứng trước hiện tượng thẩm mỹ đẹp chủ thể muốn thưởng thức nó Đứng trước một đóa hoa hồng, tâm hồn ta trở nên khoan khoái, thưởng ngoạn một cách đầy hào hức Theo Cantơ phán đoán thị hiếu không nhờ vào lý tính mà thành khoái
cảm phổ biến
Ba là, THTM là sự đánh giá mang tính cá biệt Tuy thị hiếu có tính THTM
chất chung, hình thành từ các chuẩn mực xã hội, nhưng nó vẫn là một hình thức cảm thụ đặc biệt tồn tại trong các cá nhân riêng lẻ Chúng ta tuy coi THTM là sản phẩm của các quan hệ thực tiễn nhưng không phủ nhận năng lực tâm lý, các niềm tin tâm lý của thị hiếu Trong THTM, ở mỗi người đều mang yếu tố thích thú cá nhân Người thích âm nhạc, người thích văn học, người thích điêu khắc, người thích sân khấu Thậm chí trước hiện tượng thẩm mỹ cụ thể, các chủ thể lại rung động khác nhau, vì còn chịu ảnh hưởng của trạng thái tình cảm cá nhân lúc thưởng thức Mỗi cá nhân đứng độc lập làm cho THTM trở nên phong phú
Bốn là, THTM là sự đánh giá có tính kế thừa Trình độ phát triển của THTM
là nguồn gốc tình cảm cho việc đánh giá đúng các hiện tượng thẩm mỹ khách quan, phê bình đúng các tác phẩm nghệ thuật Nếu thị hiếu kém thì sẽ biến những cái phản giá trị thành có giá trị Do THTM gắn liền với yếu tố hình tượng và không tách khỏi cá nhân mà mỹ học Mác - Lênin thừa nhận rằng, có một số người cảm xúc mạnh mẽ, chính xác và sâu sắc trước cái đẹp hơn một số người khác do họ có năng khiếu nhạy cảm Năng khiếu nhạy cảm này có liên quan mật thiết với việc phát hiện cái đẹp, cái xấu của đời sống, cũng như liên quan với việc ủng hộ những "mốt" mới,
"mốt" lành mạnh THTM gắn bó với quan hệ thần kinh, gắn bó với truyền thống gia đình nhưng nó không phải là cái cố định bất biến Có những con người có thị hiếu
Trang 39này mà không có những thị hiếu khác, có những hiện tượng thẩm mỹ được cá nhân này yêu thích và hiện tượng khác được cá nhân khác lựa chọn
Những đặc trưng cơ bản này cho thấy thực chất của THTM là sự thống nhất hài hòa giữa nhận xét và cảm xúc Điều này làm cho THTM trở thành hiện tượng xã hội chung chứ không phải chỉ là sở thích riêng của cá nhân
THTM có phạm vi hoạt động cơ bản trong ba lĩnh vực: thưởng thức thẩm mỹ, đánh giá thẩm mỹ và sáng tạo thẩm mỹ Việc tách bạch hoạt động của chủ thể thẩm
mỹ trên ba mặt như trên chỉ là tương đối Điều này cũng tương tự như đối với nghệ thuật: người ta thường phân biệt giữa sự thưởng thức của công chúng, sự đánh giá của nhà phê bình và sự sáng tạo của người nghệ sỹ Trong thực tế, thưởng thức thẩm mỹ đồng thời gắn liền với sự đánh giá, gắn liền với đánh giá lại ít nhiều có cả yếu tố sáng tạo Ngược lại, sự sáng tạo và đánh giá thẩm mỹ cũng vậy, ba mặt của chủ thể thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ là không có ranh giới tuyệt đối
1.1.3 Thị hiếu thẩm mỹ và mốt
THTM là một hiện tượng đa dạng và phức tạp của chủ thể thẩm mỹ Nó gắn với năng khiếu, với cơ chế tâm sinh lý, với truyền thống gia đình, địa phương, dân tộc và thời đại Trước đây, đặc biệt là hiện nay vấn đề THTMM và thời thượng luôn luôn được đề cập đến trong quan hệ của THTM và mốt
THTM chi phối nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống mà “mốt” là biểu hiện luôn có tính thời sự Có mốt ăn, mốt ở, mốt mặc, mốt sống… Do đó, khi nói đến thị hiếu người ta thường quan tâm đặc biệt đến THTM trong lựa chọn mốt Nếu THTM ở mỗi người là trạng thái tình cảm tương đối ổn định, lặp đi lặp lại trước hiện tượng thẩm mỹ thì mốt là cái chưa ổn định, được đưa ra cho THTM thử thách và lựa chọn Cũng như THTM, mốt luôn luôn biến động Một kiểu tóc, một kiểu quần áo, một xu hướng trang điểm xuất hiện được ủng hộ nhiệt tình, nhưng khi mốt mới xuất hiện thì kiểu tóc, quần áo, trang điểm trước đó lập tức “lỗi mốt” và việc ai đó sử dụng mốt cũ sẽ bị chê là “quê mùa, lạc hậu”, còn những ai cập nhật mốt mới nhất sẽ được cho “sành điệu, thời thượng”
THTM tốt có vai trò rất quan trọng trong việc chọn lọc, đánh giá và sáng tạo mốt Mốt ban đầu là sự đối tượng hóa của THTM của cá nhân hoặc là một nhóm
Trang 40người nhất định Mốt ấy đẹp hay xấu, thân quen hay xa lạ phải được đánh giá theo những tiêu chuẩn cơ bản của THTM đương thời
THTM ở thời đại hiện nay là thị hiếu tiếp cận đa văn hóa, đồng thời tiếp thu những cái tốt đẹp nhất của truyền thống dân tộc để thưởng thức và sáng tạo cái đẹp
Đó là THTM mang bản chất của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Bắt nguồn từ cái đúng, cái tốt, thị hiếu ấy tất yếu đòi hỏi mọi mốt hiện nay phải có tính hợp lý Sự hợp lý của mốt sẽ được tính khoa học xác định Tính khoa học sẽ không chấp nhận những mốt cổ hủ hoặc những mốt phản cảm không phù hợp với tính dân tộc, giai cấp và thời đại Mỹ học Mác - Lênin chỉ cho là đẹp những mốt nào phù hợp với sự phát triển lành mạnh và tôn thêm vẻ đẹp của đời sống xã hội và mỗi cá nhân Tính khoa học đó dựa trên quy luật hài hòa giữa cá nhân và xã hội, trong bản thân từng chủ thể Cái phản cảm, trống rỗng về nội dung, phô trương về hình thức khó tồn tại trước sự thử thách của thị hiếu tiên tiến Nếu một mốt nào đó đi ngược lại sự phát triển lành mạnh của thời đại và của từng cá nhân thì sẽ là phản khoa học Quần
áo, giầy dép, tóc tuy thuộc về mỗi cá nhân nhưng nó có quan hệ đến môi trường xung quanh họ tiếp xúc Ngoài những tiêu chuẩn về sức khỏe, phù hợp với thời tiết, mỗi mốt tuân theo tiêu chuẩn khoa học, nó còn chứng tỏ năng lực thẩm mỹ, sự thông minh trong lựa chọn của chủ thể THTM của nước ta hiện nay vừa được chi phối với tính khoa học vừa bắt nguồn từ tình cảm đạo đức
Sự phong phú và đa dạng trong thị hiếu đồng nghĩa với phong phú, đa dạng của mốt Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta khuyến khích các tài năng cá nhân trong sáng tạo và luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho cá tính lành mạnh phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví xã hội ta là một vườn hoa mà ở đó "các món ăn tinh thần được phong phú Không nên bắt mọi người chỉ ăn một món thôi Vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy mọi loài hoa đẹp"[93, tr.411]
2.1.5 Biểu hiện của thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống xã hội và trong hoạt động thẩm mỹ
THTM phản ánh mối liên hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội Nó là khả năng lựa chọn, là sự sáng tạo và cũng là thước đo quan trọng của phẩm cách văn hóa của chủ thể Vì thế, THTM tất yếu được biểu hiện đậm nét trong đời sống xã