ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆPĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN CƠ SỞ THIẾT KẾ NHÀ DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP
Trang 1Phụ lục:
Câu 1: Cho nhịp sàn trong công trình có kích thước 10mx10m Trong quá trình thi công sau khi tháo cốt pha người ta đo được độ võng của sàn so với chuẩn ngang là 4cm Hỏi có nghiệm thu được không?
Câu 2: Trong trường hợp sàn có xu hướng bị võng xuống do tải trọng bản thân, chúng ta có biện pháp nào để thi công mà sau khi tháo ván khuôn xong thì sẽ không còn độ võng nữa
Câu 3: Khi tính toán kết cấu cần tính toán và kiểm tra theo mấy trạng thái giới hạn Kể tên theo các trạng thái giới hạn đó Ứng với mỗi trạng thái giới hạn chúng ta phải tính toán, kiểm tra những bước nào?
Câu 4: Hãy nêu yêu cầu cấu tạo lớp bê tông bảo vệ trong dầm, cột, sàn theo tiêu chuẩn
Câu 5: Phân tích xác tình huống khi ép cọc gặp sự cố
Câu 6: Nguyên lý tính toán đài cọc Lúc nào dứng ép cọc, chọc thủng?
Câu 7: Nếu cọc đã đến độ sâu thiết kế rồi mà chưa đạt đến tải trọng thiết kế có dừng ép không? Nếu chưa đạt đến chiều sâu thiết kế mà tải trọng ép đã đạt đến Ptk thì có dừng ép không?
Câu 8: Khoảng cách giữa các cọc trong đài cọc, khoảng cách giữa cọc và mép đài Chiều sâu của cọc trong đài
Câu 9: Khoảng cách cốt thép cấu tạo trong kết cấu BTCT
Câu 10: Chiều dày tối thiểu của sàn trong nhà dân dụng
Câu 11: Các công thức cơ bản để xác định chiều cao, dầm chính, dầm phụ Bề rộng dầm theo chiều cao dầm, chiều dày sàn
Câu 12: Cách xác định tải trọng chân cột sơ bộ, từ đó xác định kích thước sơ bộ nhà cao tầng
Câu 13: Cách chọn chiều sâu chôn đài móng Các lực tác dụng lên đài móng cọc Cách chọn sơ
bộ kích thước đài cọc, cọc sâu
Câu 14: Độ lún tuyệt đối khung BTCT không có tường chèn
Câu 15: Lúc nào dừng tính lún
Câu 16: Nền và móng được tính theo các TTGH nào?
Trang 2Câu 1:
Không nghiệm thu do quy định trong TCVN 5574-2012 độ võng cho phép của sàn có l =10m là
=l/250 = 4cm Nhưng đó là độ võng mà chưa có hoạt tải sử dụng Nếu công nhân nhất quyết không nghe thì ta có thể chất thử tải đều lên trên sàn đó bằng cách bơm nước cho đủ 200kg/1m2 đối với sàn văn phòng hoặc 400kg/m2 đối với sàn phòng hội họp.Nếu sàn võng hơn thì sẽ không nghiệm thu
Câu 2:
+ Ta có thể lắp dựng ván khuôn cho sàn vồng lên một ít ngược chiều với chiều võng để sau khi tháo cốt fa dưới tác dụng của tải trọng bản thân sàn võng xuống bù trừ cho vừa
+ Nếu việc làm ván khuôn không khả thi ta có thể sử dụng sàn ứng suất trước nếu L> 7,5m + Để giảm bớt độ võng cho sàn ta có thể giảm tải trọng bớt cho sàn 1 cách tối ưu nhất/
+ Sử dụng vật liệu biện pháp thi công thích hợp
Gia cố bằng cách them thanh chống,ván khuôn nếu là thép ta hàn lại hoặc neo buộc cẩn thận
Nếu không hiệu quả ta nên giảm tải trọng do sàn trong trường hợp sàn chịu tải quá lớn Nếu do sàn yếu mỏng không đủ mác bê tông,thép thưa ta nên them dầm phụ đỡ
Để giảm khẩu độ chịu lực của sàn
Nếu sàn quá dày nặng giảm chiều dày sàn trong trường hợp nghiêm trọng thì do thiết kế sai phá đi thiết kế lại lắp ghép lại đảm bảo cho an toàn
Câu 3: Mục 4.2.1 TCVN 5574-2012
4.2.1 Kết cấu bê tông cốt thép cần phải thỏa mãn những yêu cầu về tính toán theo độ bền (các trạng thái giới hạn thứ nhất) và đáp ứng điều kiện sử dụng bình thường (các trạng thái giới hạn thứ hai)
a) Tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ nhất nhằm đảm bảo cho kết cấu:
- Không bị phá hoại giòn, dẻo, hoặc theo dạng phá hoại khác (trong trường hợp cần thiết, tính toán theo độ bền có kể đến độ võng của kết cấu tại thời điểm trước khi bị phá hoại);
- Không bị mất ổn định về hình dạng (tính toán ổn định các kết cấu thành mỏng) hoặc về vị trí (tính toán chống lật và trượt cho tường chắn đất, tính toán chống đẩy nổi cho các bể chứa chìm hoặc ngầm dưới đất, trạm bơm, v.v…);
- Không bị phá hoại vì mỏi (tính toán chịu mỏi đối với các cấu kiện hoặc kết cấu chịu tác dụng của tải trọng lặp thuộc loại di động hoặc xung: ví dụ như dầm cầu trục, móng khung, sàn có đặt một số máy móc không cân bằng);
- Không bị phá hoại do tác dụng đồng thời của các yếu tố về lực và những ảnh hưởng bất lợi của môi trường (tác động định kỳ hoặc thường xuyên của môi trường xâm thực hoặc hỏa hoạn)
Trang 3b) Tính toán theo các trạng thái giới hạn thứ hai nhằm đảm bảo sự làm việc bình thường của kết cấu sao cho:
- Không cho hình thành cũng như mở rộng vết nứt quá mức hoặc vết nứt dài hạn nếu điều kiện sử dụng không cho phép hình thành hoặc mở rộng vết nứt dài hạn
- Không có những biến dạng vượt quá giới hạn cho phép (độ võng, góc xoay, góc trượt, dao
động)
Câu 4: Mục 8.3.1 TCVN 5574-2012
8.3 Lớp bê tông bảo vệ
8.3.1 Lớp bê tông bảo vệ cho cốt thép chịu lực cần đảm bảo sự làm việc đồng thời của cốt thép và
bê tông trong mọi giai đoạn làm việc của kết cấu, cũng như bảo vệ cốt thép khỏi tác động của không khí, nhiệt độ và các tác động tương tự
8.3.2 Đối với cốt thép dọc chịu lực (không ứng lực trước, ứng lực trước, ứng lực trước kéo trên bệ), chiều dày lớp bê tông bảo vệ cần được lấy không nhỏ hơn đường kính cốt thép hoặc dây cáp
và không nhỏ hơn:
- Trong bản và tường có chiều dày:
+ Từ 100 mm trở xuống: 10 mm (15 mm)
+ Trên 100 mm: 15 mm (20 mm)
- Trong dầm và dầm sườn có chiều cao:
+ Nhỏ hơn 250 mm: 15 mm (20 mm)
+ Lớn hơn hoặc bằng 250 mm: 20 mm (25 mm)
- Trong cột: 20 mm (25 mm)
- Trong dầm móng: 30 mm
- Trong móng:
+ lắp ghép: 30 mm
+ toàn khối khi có lớp bê tông lót: 35 mm
+ toàn khối khi không có lớp bê tông lót: 70 mm
CHÚ THÍCH 1: Giá trị trong ngoặc (…) áp dụng cho kết cấu ngoài trời hoặc những nơi ẩm ướt CHÚ THÍCH 2: Đối với kết cấu trong vùng chịu ảnh hưởng của môi trường biển, chiều dày lớp bê tông bảo vệ lấy theo quy định của tiêu chuẩn hiện hành TCVN 9346:2012
Trang 4Trong kết cấu một lớp làm từ bê tông nhẹ và bê tông rỗng cấp B7,5 và thấp hơn, chiều dày lớp bê tông bảo vệ cần phải không nhỏ hơn 20 mm, còn đối với các panen tường ngoài (không có lớp trát) không được nhỏ hơn 25 mm
Đối với các kết cấu một lớp làm từ bê tông tổ ong, trong mọi trường hợp lớp bê tông bảo vệ
không nhỏ hơn 25 mm
Trong những vùng chịu ảnh hưởng của hơi nước mặn, lấy chiều dày lớp bê tông bảo vệ theo quy định trong các tiêu chuẩn tương ứng hiện hành
8.3.3 Chiều dày lớp bê tông bảo vệ cho cốt thép đai, cốt thép phân bố và cốt thép cấu tạo cần được lấy không nhỏ hơn đường kính của các cốt thép này và không nhỏ hơn:
- Khi chiều cao tiết diện cấu kiện nhỏ hơn 250 mm: 10 mm (15 mm)
- Khi chiều cao tiết diện cấu kiện bằng 250 mm trở lên: 15 mm (20 mm)
CHÚ THÍCH 1: Giá trị trong ngoặc (…) áp dụng cho kết cấu ngoài trời hoặc những nơi ẩm ướt CHÚ THÍCH 2: Đối với kết cấu trong vùng chịu ảnh hưởng của môi trường biển, chiều dày lớp bê tông bảo vệ lấy theo quy định của tiêu chuẩn hiện hành TCVN 9346:2012
Trong các cấu kiện làm từ bê tông nhẹ, bê tông rỗng có cấp không lớn hơn B7,5 và làm từ bê tông
tổ ong, chiều dày lớp bê tông bảo vệ cho cốt thép ngang lấy không nhỏ hơn 15 mm, không phụ thuộc chiều cao tiết diện
Câu 5:
Sự cố khi hạ cọc
Cọc gặp vật cản
1 Hiện tượng
Đang đóng cọc xuống bình thường, chưa đạt được độ sâu thiết kế bỗng nhiên xuống chậm hẳn lại hoặc không xuống, hoặc búa đóng xuống bị đẩy lên mạnh
Cọc bị rung chuyển mạnh dưới mỗi nhát búa
Đóng vào tầng đá nghiêng, mũi cọc bị chạy nghiêng đi Hiện tượng: số nhát đập cứ giảm
dần:30,25,20,18 nhát đập/1m cọc có thể là do gãy cọc không hoặc là cọc bị nghiêng chệch rồi gãy
2 Nguyên nhân
Có thể cọc gặp vật cản như đá mồ côi, hay một lớp đá mỏng, hoặc các vật cản khác trên đường xuống
3 Biện pháp khắc phục
Ngừng đóng, nếu tiếp tục đóng sẽ gây phá hoại cọc
Nhổ cọc lên và phá vật cản bằng cách đóng xuống một ống thép đầu nhọn có cường độ cao, hay
nổ mìn để phá vật cản hoặc khoan dẫn
Khi vật cản đã phá xong, ta tiếp tục đóng cọc:
Thực tế thì có nhiều cách để kiểm tra cọc đã đạt yêu cầu mà đề nghị dừng đóng, chứ nếu cố thì chỉ
có vỡ cọc, mất tim, tốn cọc bù, tốn thời gian chờ
Hiện tượng chối giả
Trang 51 Hiện tượng
Cọc chưa đạt tới độ sâu thiết kế (thường còn rất cao) mà độ chối của cọc đã đạt hoặc nhỏ hơn độ chối thiết kế
2 Nguyên nhân
Do đóng cọc quá nhanh, đất xung quanh cọc bị lèn ép quá chặt trong quá trình đóng cọc, gây nên
ma sát lớn giữa cọc và đất
3 Biện pháp khắc phục
Tạm ngừng đóng trong ít ngày để độ chặt của đất chung quanh cọc giảm dần rồi mới tiếp tục đóng Trong thực tế có hiện tượng bó đất, đất sau khi bị xáo động quanh thân sẽ giãn nở lại gần trạng thái cũ, càng chờ càng tốt[3] Trường hợp lớp cứng là cát, Nếu độ chối nhỏ (0.5-1cm) vẫn tiếp tục đóng qua lớp này đến chiều sâu và độ chối phù hợp Nếu độ chối nhỏ hơn 0.5mm mà vẫn chưa đạt chiều sâu TK và cọc có thể bị phá huỷ đầu cọc thì nghỉ chừng 30 - 60phút sau đó đóng tiếp
Khi đóng cọc sau thì cọc đóng trước bị nổi lên
1 Hiện tượng
Khi đóng cọc trong nền đất chảy nhão, đất dính thì những cọc ở xung quanh (đã dược đóng trước)
bị đẩy nổi lên
2 Nguyên nhân
+ Do vị trí cọc gần nhau phản lực phụ sinh ra trong đất đủ lớn tác dụng vào các cọc xung quanh
và làm cho các cọc đó bị trồi lên
3 Biện pháp khắc phục
Dùng búa hơi song động có tần số lớn để thi công
Cọc bị nghiêng
1 Nguyên nhân
Do kiểm tra không kỹ trước khi đóng cọc
Trong quá trình đóng gây lệch cọc
2 Biện pháp khắc phục
Với những cọc đóng chưa sâu lắm thì dùng đòn bẩy hay tời để kéo cọc về lại vị trí thẳng đứng Với những cọc đóng xuống quá sâu thì phải nhổ cọc lên và sau đó đóng lại cẩn thận
Đầu cọc xuất hiện vết nứt trong quá trình đóng
1 Nguyên nhân
Do búa quá nhỏ so với sức chịu tải của cọc hay chiều cao rơi búa không hợp lý
2 Biện pháp khắc phục
Chọn lại búa cho phù hợp
Thay đổi chiều cao rơi búa
Thay vật đệm đầu cọc mới
Những sự cố thường gặp khi thi công ép cọc
Cọc nghiêng qúa quy định ( lớn hơn 1% ) , cọc ép dở dang do gặp dị vật ổ cát, vỉa sét cứng bất thường, cọc bị vỡ đều phải xử lý bằng cách nhổ lên ép lại hoặc ép bổ sung cọc mới (do thiết kế chỉ định ) Do cấu tạo địa chất dưới nền đất không đồng nhất nên thi công ép cọc có thể xảy ra các
sự cố sau:
• Khi ép đến độ sâu nào đó chưa đến độ sâu thiết kế nhưng áp lực đã đạt, khi đó phải giảm bớt tốc
độ, tăng lực ép lên từ từ nhưng không lớn hơn Pép max Nếu cọc vẫn không xuống thì ngừng ép
và báo cáo với bên thiết kế để kiểm tr sử lý
Trang 6• Nếu nguyên nhân là do lớp cát hạt trung bị ép quá chặt thì dừng ép cọc lại một thời gian chờ cho
độ chặt lớp đất giảm dần rồi ép tiếp
• Nếu gặp vật cản thì khoan phá, khoan dẫn, ép cọc tạo lỗ
Khi việc ép cọc bê tông cũng có lý do gây một số ít tác hại có thể ảnh hưởng tới những căn hộ liền
kề vì vậy trong trường hợp này chúng ta phải khoan dẫn trước khi ép cọc bê tông với lý do sau :
- Nên móng nhà liền kề yếu, do xây dựng lâu năm
- Tác dụng của công tác khoan dẫn làm giảm sự đùn đất có thể gây lún, nứt, phồng nền nhà bên Nhiều người nghĩ rằng chi phí trong khoan dẫn có thể rất đắt, nhưng ngược lại nó tương đối rẻ, khoảng 30-50.000/m tuỳ thuộc vào số lượng md khi khoan
• Khi ép đến độ sâu thiết kế mà áp lực đầu cọc vẫn chưa đạt đến yêu cầu theo tính toán Trường hợp này xảy ra thường do khi đó đầu cọc vẫn chưa đến lớp cát hạt trung, hoặc gặp các thấu kính, đất yếu, ta ngừng ép cọc và báo với bên thiết kế để kiểm tra, xác định nguyên nhân và tìm biện pháp sử lý.Nếu địa chất có các lớp cát (hạt mịn, hạt thô, hạt trung) khá dày thì phương pháp ép cọc bình thường sẽ không khả thi: Cọc không thể xuyên qua vì khi ép, sẽ xuất hiện độ chối giả ( với cát thì độ chối giả nhỏ hơn so với độ chối thiết kế ), các hạt cát dưới mũi cọc, xung quanh cọc
sẽ nén chặt lại làm tăng lực ma sát xung quanh cọc, tăng sức chống mũi ( tăng sức chịu tải của đất nền ), sức chịu tải đất nên tăng tỷ lệ thuận với lực ép, càng tăng lực ép thì càng khó ép khi lớp cát quá dày ( Do đó, khi ép cọc qua cát thì cần phải có thời gian nghĩ để cho các lớp cát trở lại trạng thái bình thường rồi mới ép trở lại, chỉ khả thi khi ép qua lớp cát không quá dày )( TCXD
205:1998_Tiêu chuẩn thiết kế móng cọc )
Vì vậy, để tranh hiện tượng trên, cần phải làm giảm sự xuất hiện độ chối giả bằng biện pháp ép rung, khoan dẫn trước khi ép, ép có sối nước Phương pháp này sẽ tạm thời phá vỡ kết cấu đất trong quá trình vừa ép vừa đưa dẫn cọc xuống.Trong đó, phương pháp khoan dẫn dẫn hiện nay được thực hiện phổ biến vì tính khả thi của nó ( không tiện so sánh các phương pháp với nhau) Nguyên tắc của phương pháp khoan dẫn ( thễ hiện ở tên của phương pháp): Trước khi ép, tại vị trí tâm cọc thiết kế, ta khoan trước một lỗ có đường kính bằng (1/8 – 1/10) cạnh cọc, chiều sâu lỗ tùy theo lớp địa chất bên dưới, sao cho có thể thi công được, thành lỗ được giữ bằng dung dịch
bentonite Sau đó,ta tiến hành ép cọc Biện pháp sử lý trong TH này là nối thêm cọc khi đxa kiểm tra và xác định rõ lớp đất bên dưới là lớp đất yếu sau đó ép cho đến khi đạt áp lực thiết kế
• Khi lực ép vừa đạt trị số thiết kế mà cọc không xuống được nữa, trong khi đó lực ép tác động lên cọc tiếp tục tăng vượt quá lực ép lớn nhất (Pep)max thì trước khi dừng ép phải dùng van giữ lực duy trì (Pep)max trong thời gian 5 phút.Trường hợp máy ép không có van giữ thì phải ép nháy từ
ba đến năm lần với lực ép (Pep)max
Câu 6:
Chiều dày đài cọc BTCT: h = h1 + h2 = ho + a
Trong đó: h1: Độ sâu ngàm cọc vào đất;
h2: Chiều dày phần đài cọc được xác định theo điều kiện chọc thủng; ho: Chiều cao làm việc của tiết diện;
a: Chiều dày lớp bảo vệ
Trang 7Dài cọc dưới cột được tính toán theo điều kiện chọc thủng, phá hoại theo các vết nứt xiên, tính toán cốt thép
Theo điều kiện chọc thủng Dưới tác dụng của phản lực các đầu cọc, nếu đài không đủ độ bền thì sẽ xảy ra hiện tượng chọc thủng Tháp chọc thủng xuất phát từ chân cột, mặt bên hợp với phương thẳng đứng một góc 45o tới cắt mặt phẳng chứa lưới thép ở phía dưới Điều kiện chọc thủng:
Pct 0.75R h b
2
K TB
P
h
0.75R B
Pct: Lực chọc thủng; Rk: Cường độ chịu kéo tính toán của BT, phụ thuộc mác BT và được tra bảng; Các giá trị còn lại trong công thức lấy như tính toán như trong phần tính toán cấu tạo móng nông theo điều kiện chọc thủng
Cách tính đài tham khảo thêm 8.2,8.3,8,4 trang 49 TCVN 10304
Câu 7:
Do cấu tạo địa chất dưới nền đất không đồng nhất nên thi công ép cọc có thể xảy ra các sự cố sau:
- Khi ép đến độ sâu nào đó chưa đến độ sâu thiết kế nhưng áp lực đã đạt, khi đó phải giảm bớt tốc
độ, tăng lực ép lên từ từ nhưng không lớn hơn Pép max Nếu cọc vẫn không xuống thì ngừng ép
và báo cáo với bên thiết kế để kiểm tr sử lý
- Nếu nguyên nhân là do lớp cát hạt trung bị ép quá chặt thì dừng ép cọc lại một thời gian chờ cho
độ chặt lớp đất giảm dần rồi ép tiếp
- Nếu gặp vật cản thì khoan phá, khoan dẫn, ép cọc tạo lỗ
Khi việc ép cọc bê tông cũng có lý do gây một số ít tác hại có thể ảnh hưởng tới những căn hộ liền
kề vì vậy trong trường hợp này chúng ta phải khoan dẫn trước khi ép cọc bê tông với lý do sau :
1 - Nên móng nhà liền kề yếu, do xây dựng lâu năm
2 - Tác dụng của công tác khoan dẫn làm giảm sự đùn đất có thể gây lún, nứt, phồng nền nhà bên Nhiều người nghĩ rằng chi phí trong khoan dẫn có thể rất đắt, nhưng ngược lại nó tương đối rẻ, khoảng 30-50.000/m tuỳ thuộc vào số lượng md khi khoan
- Khi ép đến độ sâu thiết kế mà áp lực đầu cọc vẫn chưa đạt đến yêu cầu theo tính toán Trường hợp này xảy ra thường do khi đó đầu cọc vẫn chưa đến lớp cát hạt trung, hoặc gặp các thấu kính, đất yếu, ta ngừng ép cọc và báo với bên thiết kế để kiểm tra, xác định nguyên nhân và tìm biện pháp sử lý
- Biện pháp sử lý trong TH này là nối thêm cọc khi đxa kiểm tra và xác định rõ lớp đất bên dưới là lớp đất yếu sau đó ép cho đến khi đạt áp lực thiết kế
Kết thúc công việc ép cọc
Cọc được coi là ép xong khi thoả mãn 2 điều kiện:
Chiều dài cọc đã ép vào đất nền trong khoảng Lmin ≤ Lc ≤ Lmax
Trong đó:
Trang 8• Lmin , Lmax là chiều dài ngắn nhất và dài nhất của cọc được thiết kế dự báo theo tình hình biến động của nền đất trong khu vực
• Lc là chiều dài cọc đã hạ vào trong đất so với cốt thiết kế;
Lực ép trước khi dừng trong khoảng (Pep) min ≤ (Pep)KT ≤ (Pep)max
Trong đó :
• (Pep) min là lực ép nhỏ nhất do thiết kế quy định;
• (Pep)max là lực ép lớn nhất do thiết kế quy định;
• (Pep)KT là lực ép tại thời điểm kết thúc ép cọc, trị số này được duy trì với vận tốc xuyên không quá 1cm/s trên chiều sâu không ít hơn ba lần đường kính ( hoặc cạnh) cọc
Khi lực ép vừa đạt trị số thiết kế mà cọc không xuống được nữa, trong khi đó lực ép tác động lên cọc tiếp tục tăng vượt quá lực ép lớn nhất (Pep)max thì trước khi dừng ép phải dùng van giữ lực duy trì (Pep)max trong thời gian 5 phút
Trường hợp không đạt 2 điều kiện trên người thi công phải báo cho chủ công trình và thiết kế để
sử lý kịp thời khi cần thiết, làm khảo sát đất bổ sung, làm thí nghiệm kiểm tra để có cơ sở lý luận
sử lý
Cọc nghiêng qúa quy định ( lớn hơn 1% ) , cọc ép dở dang do gặp dị vật ổ cát, vỉa sét cứng bất thường, cọc bị vỡ đều phải xử lý bằng cách nhổ lên ép lại hoặc ép bổ sung cọc mới (do thiết kế chỉ định
Câu 8: Mục 8.13, 8.14, 8.15 TCVN 10304-2014
Trang 9Tham khảo thêm:
Câu 9: Mục 8.4 TCVN 5574-2012
8.4.1 Khoảng cách thông thủy giữa các thanh cốt thép (hoặc vỏ ống đặt cốt thép căng) theo chiều cao và chiều rộng tiết diện cần đảm bảo sự làm việc đồng thời giữa cốt thép với bê tông và được lựa chọn có kể đến sự thuận tiện khi đổ và đầm vữa bê tông Đối với kết cấu ứng lực trước cũng
Trang 10cần tính đến mức độ nén cục bộ của bê tông, kích thước của các thiết bị kéo (kích, kẹp) Trong các cấu kiện sử dụng đầm bàn hoặc đầm dùi khi chế tạo cần đảm bảo khoảng cách giữa các thanh cốt thép cho phép đầm đi qua để làm chặt vữa bê tông
8.4.2 Khoảng cách thông thủy giữa các thanh cốt thép dọc không căng hoặc cốt thép căng được kéo trên bệ, cũng như khoảng cách giữa các thanh trong các khung thép hàn kề nhau, được lấy không nhỏ hơn đường kính thanh cốt thép lớn nhất và không nhỏ hơn các trị số quy định sau: a) Nếu khi đổ bê tông, các thanh cốt thép có vị trí nằm ngang hoặc xiên: phải không nhỏ hơn: đối với cốt thép đặt dưới là 25 mm, đối với cốt thép đặt trên là 30 mm Khi cốt thép đặt dưới bố trí nhiều hơn hai lớp theo chiều cao thì khoảng cách giữa các thanh theo phương ngang (ngoài các thanh ở hai lớp dưới cùng) cần phải không nhỏ hơn 50 mm
b) Nếu khi đổ bê tông, các thanh cốt thép có vị trí thẳng đứng: không nhỏ hơn 50 mm Khi kiểm soát một cách có hệ thống kích thước cốt liệu bê tông, khoảng cách này có thể giảm đến 35 mm nhưng không được nhỏ hơn 1,5 lần kích thước lớn nhất của cốt liệu thô
Trong điều kiện chật hẹp, cho phép bố trí các thanh cốt thép theo cặp (không có khe hở giữa chúng)
Trong các cấu kiện có cốt thép căng được căng trên bê tông (trừ các kết cấu được đặt cốt thép liên tục), khoảng cách thông thủy giữa các ống đặt thép phải không nhỏ hơn đường kính ống và trong mọi trường hợp không nhỏ hơn 50 mm
CHÚ THÍCH: Khoảng cách thông thủy giữa các thanh cốt thép có gờ được lấy theo đường kính danh định không kể đến các gờ thép
8.7.1 Ở tất cả các mặt cấu kiện có đặt cốt thép dọc, cần phải bố trí cốt thép đai bao quanh các thanh cốt thép dọc ngoài cùng, đồng thời khoảng cách giữa các thanh cốt thép đai ở mỗi mặt cấu kiện phải không lớn hơn 600 mm và không lớn hơn hai lần chiều rộng cấu kiện
Trong cấu kiện chịu nén lệch tâm có cốt thép dọc căng đặt ở khoảng giữa tiết diện (ví dụ: cọc ứng lực trước), cốt thép đai có thể không cần đặt nếu chỉ riêng bê tông đảm bảo chịu được lực ngang Trong cấu kiện chịu uốn, nếu theo chiều rộng của cạnh sườn mỏng (chiều rộng sườn bằng hoặc nhỏ hơn 150 mm) chỉ có một thanh cốt thép dọc hoặc một khung thép hàn thì cho phép không đặt cốt thép đai theo chiều rộng cạnh sườn đó
Trong các cấu kiện thẳng chịu nén lệch tâm, cũng như ở vùng chịu nén của cấu kiện chịu uốn có đặt cốt thép dọc chịu nén theo tính toán, cốt thép đai phải được bố trí với khoảng cách như sau:
- Trong kết cấu làm từ bê tông nặng, bê tông hạt nhỏ, bê tông nhẹ, bê tông rỗng:
+ khi Rsc ≤ 400 MPa: không lớn hơn 500 mm và không lớn hơn:
15d đối với khung thép buộc;
20d đối với khung thép hàn;