DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chuột OBX Chuột phẫu thuật loại bỏ thùy khứu giác ICD-10 International Classification of Desease 10th Phân loạn bệnh quốc tế lần thứ 10 OBX Olfacto
Trang 1BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CƠ CHẾ
HÓA SINH CHỐNG TRẦM CẢM CỦA
CAO CHIẾT HƯƠNG NHU TÍA
(OCIMUM TENUIFLORUM L.)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CƠ CHẾ
HÓA SINH CHỐNG TRẦM CẢM CỦA
CAO CHIẾT HƯƠNG NHU TÍA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm nhiệt tình đến từ các cá nhân, tập thể Đó là những hỗ trợ
và động lực to lớn giúp em có thể hoàn thành khóa luận một cách trọn vẹn
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Xoan – Khoa Dược lý Sinh hóa – Viện Dược liệu, là người thầy, người chị luôn luôn tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em ngay từ những bước chập chững đầu tiên trong nghiên cứu khoa học
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Thị Lập đã tạo điều kiện cho em tham gia làm khóa luận tại Viện Dược liệu và luôn hết lòng giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của các anh chị khoa Dược lý Sinh hóa – Viện dược liệu Được làm việc và gắn bó với các anh chị trong suốt quá trình làm khóa luận là một điều may mắn và cũng là khoảng thời gian vô cùng đáng nhớ đối với em
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện cho em học tập và tham gia nghiên cứu khoa học, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt 5 năm học
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đã luôn động viên
và giúp đỡ em, làm động lực và chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp em vượt qua khó khăn trong học tập và cuộc sống
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Dương Thúy Linh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tổng quan về rối loạn trầm cảm 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Dịch tễ học 2
1.1.3 Phân loại 3
1.1.4 Cơ chế hóa sinh của rối loạn trầm cảm 3
1.1.4.1 Giả thuyết monoamin 3
1.1.4.2 Giả thuyết dinh dưỡng thần kinh 5
1.1.4.3 Một số giả thuyết khác 6
1.2 Các mô hình trầm cảm trên động vật thực nghiệm 6
1.2.1 Các khía cạnh chung của một mô hình trầm cảm 6
1.2.1.1 Các tiêu chí của một mô hình trầm cảm lý tưởng 6
1.2.1.2 Các hành vi liên quan đến trầm cảm có thể mô hình hóa trên động vật 7
1.2.2 Các test đánh giá hành vi trầm cảm trên động vật thực nghiệm 8
1.2.2.1 Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 9
1.2.2.2 Thử nghiệm treo đuôi 10
1.2.3 Mô hình cắt bỏ thùy khứu giác (Olfactory bulbectomy, OBX) 11
1.3 Nhuộm hóa mô miễn dịch đánh dấu protein doublecortin (DCX) vùng hồi răng của hồi hải mã 12
1.4 Tổng quan về hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) 13
1.4.1 Vị trí phân loại 13
1.4.2 Đặc điểm thực vật 13
1.4.3 Phân bố, sinh thái 14
1.4.4 Thành phần hóa học 14
1.4.5 Tác dụng dược lý 14
1.4.5.1 Tác dụng chống viêm giảm đau hạ sốt 14
1.4.5.2 Tác dụng kháng khuẩn 15
Trang 51.4.5.4 Tác dụng hạ đường huyết 16
1.4.5.5 Tác dụng trên tâm - thần kinh 16
1.4.6 Tính vị, công năng 18
1.4.7 Công dụng 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.1.1 Nguyên liệu 19
2.1.2 Động vật thí nghiệm 19
2.1.3 Hóa chất, trang thiết bị 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Chuẩn bị cao chiết nghiên cứu 20
2.3.2 Đánh giá tác dụng dược lý 21
2.3.2.1 Thiết kế thí nghiệm 21
2.3.2.2 Phẫu thuật cắt bỏ thùy khứu giác (Olfactory bulbectomy- OBX) 22
2.3.2.3 Thử nghiệm treo đuôi 23
2.3.2.4 Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 24
2.3.3 Nhuộm hóa mô miễn dịch – bước đầu tìm hiểu cơ chế hóa sinh chống trầm cảm của hương nhu tía 25
2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm của cao chiết hương nhu tía 27
3.1.1 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm bằng thử nghiệm treo đuôi chuột 27
3.1.2 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm bằng thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 28
3.1.2.1 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm trên thông số thời gian bất động 29
3.1.2.2 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm trên thông số thời gian trèo 30
3.2 Bước đầu tìm hiểu cơ chế hóa sinh chống trầm cảm của hương nhu tía 32
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 34
4.1 Về tác dụng chống trầm cảm của cao chiết hương nhu tía trên mô hình chuột bị cắt bỏ thùy khứu giác (OBX) 34
Trang 6chuột 35 4.1.2 Về tác dụng chống trầm cảm của hương nhu tía qua thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 36
4.2 Về kết quả cải thiện mức độ tăng sinh tế bào thần kinh vùng hồi răng của não chuột của cao chiết cồn hương nhu tía 37 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chuột OBX Chuột phẫu thuật loại bỏ thùy khứu giác
ICD-10 International Classification of Desease 10th
(Phân loạn bệnh quốc tế lần thứ 10) OBX Olfactory Bulbectomy of mice
(Thùy khứu giác trên chuột) HN400 Lô chuột OBX xử lý với cao chiết cồn hương nhu tía liều 400 mg/kg i.p Đường tiêm phúc mạc
BDNF Brain-derived neurotrophic factor
(Yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não) TCA Tricyclic antidepressant
(Thuốc chống trầm cảm ba vòng) SSRI Selective serotonin reuptake inhibitor
(Thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin) IMAO Monoamin oxidase inhibitor
(Thuốc ức chế monoamin oxidase) FST Forced swimming test
(Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức) TST Tail suspension test
(Thử nghiệm treo đuôi chuột) DCX Doublecortin
Trang 8liều 400 mg/kg HN-EtOAc Lô chuột OBX xử lý với cao chiết phân đoạn etyl acetat hương nhu tía
liều 400 mg/kg HN-nBuOH Lô chuột OBX xử lý với cao chiết phân đoạn n-butanol hương nhu tía
liều 400 mg/kg CRH Corticotropin-releasing hormone
(Hormon giải phóng corticotropin) ICR Institute of Cancer Research
REM Rapid eye movement
DOPAC 3,4-Dihydroxyphenylacetic acid
NT-3 Neurotrophin 3
NT-4/5 Neurotrophin 4/5
NGF Nerve growth factor
(Yếu tố tăng trưởng thần kinh) TrkB Tropomyosin receptor kinase B
SEM Standard error of the mean
(Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình) Sham Lô chứng sinh lý
CIDI Composite International Diagnostic Interview
DAB 3,3’- Diaminobenzidine
NGS Normal goat serum
(Huyết thanh dê) HRP Horseradish peroxidase
IC50 Nồng độ ức chế 50%
MWM Morris water maze
(Mê cung nước Morris)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại hành vi liên quan đến trầm cảm có thể mô hình hóa trên động vật 7
Bảng 1.2 Các test sử dụng để đánh giá một số hành vi trầm cảm ở động vật [31] 8
Bảng 2.1 Hóa chất sử dụng trong đề tài 19
Bảng 2.2 Các lô chuột tiến hành thử tác dụng dược lý 21
Bảng 3.1 Thời gian bất động của chuột trong thí nghiệm treo đuôi 27
Bảng 3.2 Thời gian bất động của chuột trong thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 29
Bảng 3.3 Thời gian trèo của chuột trong thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 30
Bảng 3.4 Số lượng tế bào dương tính DCX trên vùng hồi răng của hồi hải mã 32
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Tăng sinh tế bào thần kinh trong vùng hồi răng của hồi hải mã 13
Hình 1.2 Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) 13
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm đánh giá tác dụng chống trầm cảm của hương nhu tía 22
Hình 2.2 Quy trình loại bỏ thùy khứu giác (OBX) trên chuột 23
Hình 2.3 Thử nghiệm treo đuôi chuột 24
Hình 2.4 Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 25
Hình 3.1 Thời gian bất động ở các lô chuột trong thử nghiệm treo đuôi 28
Hình 3.2 Thời gian bất động ở các lô chuột trong thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 30 Hình 3.3 Thời gian trèo ở các lô chuột trong thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức 31
Hình 3.4 Tế bào dương tính DCX (bắt màu nâu) trên vùng hồi răng của hồi hải mã 32 Hình 3.5 Số lượng tế bào dương tính DCX trên vùng hồi răng của hồi hải mã não chuột 33
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm đã và đang trở thành mối lo ngại trên toàn cầu do số lượng người mắc căn bệnh này ngày càng tăng cao Theo dự báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cho đến năm 2030, trầm cảm nặng sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến gánh nặng bệnh tật và khuyết tật nghiêm trọng cho cộng đồng [66] Việc điều trị trầm cảm đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian, kết hợp sử dụng các liệu pháp khác nhau như: liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa dược, liệu pháp sốc điện [11] Trong đó liệu pháp hóa dược vẫn được coi là liệu pháp điều trị chính Trên thực tế lâm sàng, các thuốc chống trầm cảm với nhiều cơ chế cho đáp ứng tốt trong điều trị nhưng thường đi kèm với nhiều tác dụng phụ cùng chi phí điều trị rất cao Do đó, việc phát triển các liệu pháp mới, an toàn, hiệu quả và ít tốn kém cho chứng bệnh này là rất cần thiết
Hương nhu tía còn gọi là é tía, có tên khoa học Ocimum tenuiflorum L
(Ocimum sanctum L.) là một loại dược liệu được trồng và sử dụng từ hàng nghìn năm
nay trong y học cổ truyền Ấn Độ với tác dụng làm cân bằng các quá trình trong cơ thể
và giúp cơ thể thích nghi với stress Ở Việt Nam, hương nhu tía cũng đã được nhân dân ta sử dụng rộng rãi để làm thuốc giảm lo âu, trị ho, hen suyễn, tiêu chảy, sốt, kiết
lị, khớp, các bệnh về mắt, đau tai… Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng chống stress, oxy hóa của hương nhu tía [42], [74], cũng như một số công bố về tác dụng trên tâm thần kinh bao gồm cải thiện trí nhớ, nhận thức và chống trầm cảm, lo âu của hương nhu tía [24], [38] Đó là những cơ sở khoa học cho thấy tiềm năng của loài dược liệu này trong điều trị các rối loạn tâm thần kinh nói chung và chứng trầm cảm nói riêng ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước về tác dụng chống trầm cảm của hương nhu tía còn rất hạn chế, cơ chế tác dụng và thành phần hoạt chất vẫn chưa được làm sáng tỏ, liều dùng còn cao nên giảm khả năng ứng dụng trong thực tiễn
Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài ―Nghiên cứu tác dụng
và bước đầu tìm hiểu cơ chế hóa sinh chống trầm cảm của cao chiết hương nhu
tía (Ocimum tenuiflorum L )” với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá được tác dụng chống trầm cảm của các cao chiết phân đoạn hương nhu tía trên chuột thực nghiệm
2 Bước đầu tìm hiểu được cơ chế hóa sinh chống trầm cảm của hương nhu tía
Trang 12Theo Hiệp hội tâm thần Hoa Kì (DSM-5), rối loạn trầm cảm được định nghĩa là
sự có mặt của giảm khí sắc và/hoặc giảm quan tâm/hứng thú với hầu hết các hoạt động thường ngày kèm theo ít nhất 4 triệu chứng khác Các triệu chứng kèm theo bao gồm: rối loạn giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ li bì), rối loạn cảm giác ngon miệng hoặc thay đổi cân nặng (tăng hoặc giảm), mệt mỏi, kích thích hoặc suy giảm tâm thần vận động, cảm giác bất lực hoặc tội lỗi quá mức không rõ nguyên nhân, giảm khả năng tập trung hoặc thiếu quyết đoán, nghĩ nhiều về cái chết hoặc có ý định tự tử hoặc cố gắng thực hiện hành vi tự tử nhiều lần [10]
1.1.2 Dịch tễ học
Trầm cảm là chứng rối loạn tâm thần phổ biến, với tần suất nguy cơ mắc trong suốt cuộc đời mỗi người lên đến 12-17% Các ước tính gần đây cho thấy tỷ lệ mắc trên toàn thế giới đang ở mức cao Trong một phân tích tổng hợp từ các nước châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương cho thấy tỷ lệ này là 6,7% [82] Một nghiên cứu khảo sát tại Mỹ phát hiện 16,2% dân số có tiền sử mắc rối loạn trầm cảm tại bất kì thời điểm nào và 6,6% đã trải qua một đợt cấp trong vòng 12 tháng trước đó Nguy cơ khởi phát bệnh phụ thuộc vào độ tuổi, trong đó các đối tượng trước tuổi vị thành niên có nguy cơ rất thấp và nguy cơ này tăng dần theo tuổi [52] Tỉ lệ mắc bệnh
ở nữ giới cao gấp đôi so với nam giới [69]
Ở Việt Nam, tỷ lệ trầm cảm đang có xu hướng gia tăng Trong giai đoạn
2001-2003, ngành Tâm thần Việt Nam đã tiến hành điều tra 8 vùng khác nhau, sử dụng bộ câu hỏi CIDI kết hợp khám lâm sàng và test Beck Kết quả cho thấy trầm cảm xuất hiện trên 2,8% dân số [4] Một nghiên cứu cộng đồng khác ở lứa tuổi 14-25 cho thấy
tỷ lệ tự tử cao nhất ở nam thanh niên, đặc biệt là khoảng 18-21 tuổi, trong đó tỷ lệ 6,4% đối với những người sống ở các vùng đô thị và 4,1% đối với những người sống ở khu vực nông thôn [3] Trong một nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở Việt Nam, 33%
Trang 13phụ nữ tham gia khám sức khỏe tổng quát tại thành phố Hồ Chí Minh có trầm cảm và 19% trong số đó đã thừa nhận là từng có ý định tự sát [37]
1.1.3 Phân loại
Theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế (ICD-10), rối loạn trầm cảm đặc trưng bởi
3 triệu chứng điển hình bao gồm: (1) giảm khí sắc; (2) mất quan tâm, thích thú; (3) giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động Ngoài ra, bệnh nhân trầm cảm cũng có thể gặp các triệu chứng phổ biến khác nhau như giảm khả năng tập trung và chú ý, giảm tự trọng và sự tự tin, cảm giác tội lỗi, không xứng đáng, có cái nhìn ảm đạm, bi quan về tương lai, có ý định hoặc hành vi tự hủy hoại cơ thể hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ và mất cảm giác ngon miệng
Theo đó, ICD-10 phân loại giai đoạn trầm cảm theo 2 dạng chính: giai đoạn trầm cảm đơn độc và giai đoạn trầm cảm tái diễn, tương ứng với các mức độ nghiêm trọng của bệnh gồm nhẹ (ít nhất 2 triệu chứng điển hình và 2 triệu chứng khác), trung bình (
ít nhất 2 trong 3 triệu chứng điển hình và 3 hoặc 4 triệu chứng khác) và nặng ( cả 3 triệu chứng điển hình và ít nhất 4 triệu chứng khác) [70]
1.1.4 Cơ chế hóa sinh của rối loạn trầm cảm
Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một cơ chế thống nhất để giải thích cho quá trình sinh bệnh học của rối loạn trầm cảm Hai giả thuyết phổ biến nhất hiện nay bao gồm giả thuyết thiếu hụt monoamin và giả thuyết dinh dưỡng thần kinh
1.1.4.1 Giả thuyết monoamin
Giả thuyết monoamin được đề xuất lần đầu tiên vào những năm 1960 sau phát hiện tình cờ về tác dụng chống trầm cảm của imipramin và iproniazid [19], [77] Giả thuyết này cho rằng các triệu chứng chính của trầm cảm gây ra do sự sụt giảm số lượng và chức năng của các chất dẫn truyền thần kinh hệ monoaminergic gồm noradrenalin (NA), serotonin (5-HT) và có thể có cả dopamin (DA) ở vỏ não và hệ viền (limbic) [16]
Cơ chế dẫn truyền tín hiệu giữa các tế bào thần kinh tại synap đã được mô tả thông qua các chất trung gian hóa học Theo đó, quá trình này bắt đầu bằng sự tổng hợp 5-HT và NA trong các tế bào thần kinh chuyên biệt từ các acid amin tương ứng là tryptophan và tyrosin dưới xúc tác của tryptophan hydroxylase và tyrosin hydroxylase Sau khi được tổng hợp, các chất này được vận chuyển vào các bọc dự trữ ở tận cùng sợi trục tế bào thần kinh theo cơ chế vận chuyển tích cực và cuối cùng được giải phóng
Trang 14vào khe synap bởi một tiến trình phụ thuộc Ca2+ Tại khe synap, các chất truyền tin này gắn vào các thụ thể tương ứng trên màng tế bào thần kinh hậu synap và tạo ra đáp ứng Quá trình giải phóng các chất trung gian hóa học nói trên được điều hòa bởi các
tự thụ thể tiền synap là 5-HT1A serotonergic và α2 adrenergic Hoạt hóa các tự thụ thể này dẫn đến ức chế quá trình tổng hợp và giải phóng 5-HT và NA từ bọc dự trữ, làm giảm nồng độ các chất này ở khe synap và do đó tránh kích thích quá mức thụ thể hậu synap [18] Dẫn truyền tín hiệu thông qua 5-HT và NA kết thúc khi các monoamin này được tái thu hồi theo cơ chế vận chuyển tích cực trở lại các tế bào thần kinh tiền synap và/hoặc bị giáng hóa bởi monoamin oxidase (MAO)
Những bằng chứng đầu tiên ủng hộ cho giả thuyết monoamin bắt nguồn từ thực
tế lâm sàng cho thấy một thuốc chống tăng huyết áp là reserpin làm giảm dự trữ NA, 5-HT và DA tiền synap, dẫn đến các biểu hiện trầm cảm trên một nhóm bệnh nhân dùng thuốc [54] Trái lại, thuốc điều trị lao iproniazid đã thể hiện tác dụng làm tăng hưng phấn trên các bệnh nhân lao và trầm cảm nhờ hoạt tính ức chế monoamin oxidase (MAO) [35] Gây thiếu hụt tryptophan thực nghiệm trên người mặc dù không gây trầm cảm trên người khỏe mạnh nhưng dẫn đến tái phát trầm cảm trên các bệnh nhân trầm cảm đã được điều trị thành công bằng một thuốc ức chế tái thu hồi serotonin Tương tự, sử dụng một chất ức chế tyrosin hydroxylase là α-methyl paratyrosin gây tái phát trên các bệnh nhân trầm cảm đã được điều trị bằng thuốc ức chế tái thu hồi noradrenalin nhưng không ảnh hưởng đến người bình thường [73] Đặc biệt, hầu hết các thuốc điều trị trầm cảm hiện nay đều đã được chứng minh tác động lên hệ monoamin và làm tăng nồng độ các chất dẫn truyền 5-HT, NA hay DA tại khe synap [65]
Như vậy giả thuyết monoamin xuất phát chủ yếu từ cơ chế của các thuốc chống trầm cảm hiện có thay vì bản thân rối loạn trầm cảm, do đó giả thuyết này còn tồn tại một số hạn chế khi chưa giải thích được đầy đủ một số thực tế sau: (1) một số nghiên cứu cho thấy không có sự thay đổi về chức năng cũng như nồng độ các monoamin trên bệnh nhân trầm cảm; (2) một số tác nhân đối kháng glutamat, chủ vận melatonin hoặc tác động lên thụ thể glucocorticoid trung ương thể hiện tác dụng chống trầm cảm mặc
dù không tác động trực tiếp lên hệ monoamin; (3) có hiện tượng đề kháng toàn bộ hay một phần đối với các thuốc điều trị trầm cảm hiện nay cũng như thời gian khởi phát tác dụng thường mạn tính (hiệu quả điều trị không xuất hiện ngay mặc dù nồng độ các
Trang 15monoamin tăng ngay sau khi dùng thuốc) [45], [63] Sự thay đổi trong chức năng của
hệ monoamin có thể chỉ là một bước trung gian trong cơ chế bệnh sinh phức tạp của trầm cảm Dù vậy, giả thuyết monoamin vẫn mang lại nhiều giá trị và có tính phù hợp cao với thực tế lâm sàng
1.1.4.2 Giả thuyết dinh dưỡng thần kinh
Giả thuyết dinh dưỡng thần kinh cho rằng trầm cảm là kết quả của sự suy giảm dinh dưỡng thần kinh, dẫn tới teo các tế bào thần kinh, giảm sinh tế bào thần kinh hồi hải mã và mất các tế bào đệm [33] Các yếu tố dinh dưỡng thần kinh, bao gồm yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF), yếu tố tăng trưởng thần kinh (NGF), yếu tố dinh dưỡng thần kinh NT-3 và yếu tố dinh dưỡng thần kinh NT-4/5 là những chất điều hòa quan trọng của hoạt động thần kinh, bao gồm quá trình biệt hóa, tồn tại và tính khả biến synap Trong đó, BDNF (bản chất là một glycoprotein) là một yếu tố dinh dưỡng thần kinh hoạt động mạnh trong hệ thần kinh trung ương và được xem là có vai trò trung tâm trong giả thuyết này [23] BDNF được cho là ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển tế bào thần kinh bằng cách hoạt hóa các thụ thể TrkB ở cả
tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm Sự suy giảm nồng độ BDNF và mức độ biểu hiện thụ thể TrkB cũng đã được ghi nhận trong máu và não ở những bệnh nhân trầm cảm Truyền trực tiếp BDNF vào vùng não giữa, vùng đồi hải mã và não thất bên làm tăng nồng độ BDNF và tăng sinh tế bào thần kinh, tạo đáp ứng chống trầm cảm trên các mô hình động vật [22], [34] Vai trò của BDNF trong sự tăng sinh tế bào thần kinh hồi hải mã cũng đã được khẳng định bởi kết quả từ nhiều nghiên cứu Trước hết, các yếu tố dinh dưỡng nói chung và BDNF nói riêng được cho là có khả năng làm tăng mạnh khả năng sống sót của các tế bào thông qua ức chế sự chết tế bào theo chương trình [64] Truyền trực tiếp BDNF vào vùng hải mã làm tăng đáng kể số lượng các tế bào thần kinh mới sinh, ngay cả ở phía bên kia vị trí tiêm, gợi ý rằng tác dụng này không phải là kết quả của một mình cơ chế tác động trực tiếp lên các tế bào gốc hay tế bào thần kinh chưa trưởng thành [76]
Giả thuyết này có thể giải thích thuyết phục hiện tượng suy giảm thể tích hồi hải
mã trên bệnh nhân trầm cảm Tuy nhiên, các kết quả hiện có chủ yếu chỉ dừng lại ở mô hình động vật và chưa có nhiều bằng chứng lâm sàng, do đó cần thêm thời gian để làm sáng tỏ hơn các cơ chế dẫn đến sự thay đổi các yếu tố liên quan khác có vai trò trong sinh lý bệnh trầm cảm đã được khẳng định trước đây
Trang 161.1.4.3 Một số giả thuyết khác
Ngoài hai giả thuyết trên, trầm cảm cũng được cho là có liên quan đến một số bất thường nội tiết, trong số đó có bất thường ở trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA) trên bệnh nhân trầm cảm nặng Bệnh nhân trầm cảm thường có nồng độ cortisol tăng, không làm ức chế giải phóng hormon thượng thận (ACTH) trong test ức chế dexamethason, và làm tăng cao mạn tính nồng độ hormon giải phóng corticotropin (CRH) CRH phân bố rộng rãi trong não và có ảnh hưởng đến hành vi Khi được tiêm vào trong não của động vật thí nghiệm, CRH mô phỏng một số khía cạnh của bệnh trầm cảm trên người, ví dụ như giảm hoạt động, mất cảm giác ngon miệng và có dấu hiệu tăng lo lắng Bệnh nhân suy giáp lâm sàng thường có biểu hiện trầm cảm, được điều trị bằng cách bổ sung hormon tuyến giáp Hormon tuyến giáp cũng thường được
sử dụng kết hợp với các thuốc chống trầm cảm để tăng hiệu quả điều trị Steroid sinh dục cũng được cho là có vai trò trong cơ chế bệnh sinh trầm cảm: sự thiếu hụt estrogen
ở phụ nữ sau sinh và mãn kinh hay sự thiếu hụt testosteron ở nam giới được cho là liên quan đến các triệu chứng trầm cảm, từ đó liệu pháp thay thế hormon ở nam giới và nữ giới có suy giảm chức năng sinh dục được áp dụng để cải thiện tâm trạng và triệu chứng trầm cảm [50]
Một số cơ chế bệnh sinh khác của trầm cảm cũng đã được đề cập như thay đổi dẫn truyền thần kinh thông qua hệ glutamatergic, giảm hoạt tính hệ GABAergic, giảm tổng hợp các steroid thần kinh, giảm chức năng opioid nội sinh, mất cân bằng monoamin-acetylcholin…[13] Tuy nhiên do sự giao thoa phức tạp của các hệ thống khác nhau tại não, những giả thuyết này vẫn có thể chỉ dừng lại ở những thay đổi thứ phát của trầm cảm mà chưa chỉ ra được nguyên nhân thực sự của rối loạn này
1.2 Các mô hình trầm cảm trên động vật thực nghiệm
1.2.1 Các khía cạnh chung của một mô hình trầm cảm
1.2.1.1 Các tiêu chí của một mô hình trầm cảm lý tưởng
Hiện nay, có nhiều mô hình thực nghiệm đã được xây dựng dựa trên những nguyên lý khác nhau mô phỏng sinh lý bệnh và các triệu chứng của trầm cảm Để xây dựng một mô hình, hầu hết các tác giả đều sử dụng bộ 3 tiêu chí [29]:
- Khả năng tái hiện các triệu chứng lâm sàng trên người (face validity)
- Tương đồng về nguyên nhân hoặc cơ chế sinh lý bệnh với trầm cảm lâm sàng (construct/etiology validity)
Trang 17- Đáp ứng với các thuốc chống trầm cảm hiện có (predictive validity)
Trong thực tế chưa có mô hình nào có thể đáp ứng đầy đủ được cả 3 tiêu chí trên do:
- Có nhiều triệu chứng trầm cảm trên người không thể mô phỏng trên động vật như buồn chán, cảm giác tội lỗi hay ý định tự tử [7]
- Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của trầm cảm vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn [29]
- Các thuốc chống trầm cảm hiện này đều có tác dụng lên hệ monoamin, việc thẩm định dựa trên đáp ứng với các thuốc này có thể sẽ loại trừ các mô hình nhạy với các thuốc chống trầm cảm theo cơ chế khác [14]
Tuy nhiên một mô hình trầm cảm không nhất thiết phải tái hiện tất cả các bất thường về hành vi liên quan đến trầm cảm, cũng giống như một bệnh nhân trầm cảm thường chỉ biểu hiện một số triệu chứng nhất định của bệnh
1.2.1.2 Các hành vi liên quan đến trầm cảm có thể mô hình hóa trên động vật
Trầm cảm được cấu thành bởi các nhóm hành vi, những hành vi này có thể được
mô phỏng một cách độc lập và đánh giá được trên động vật thí nghiệm Bên cạnh rối loạn hành vi, trầm cảm cũng bao gồm những bất thường về sinh lý, nội tiết và thay đổi giải phẫu bệnh học (Bảng 1.1) [31]
Bảng 1.1 Các loại hành vi liên quan đến trầm cảm có thể mô hình hóa trên động
Hành vi tuyệt
vọng, bất lực
Hành vi tuyệt vọng cũng là một triệu chứng quan trọng của rối loạn trầm cảm Có thể đánh giá hành vi này trên động vật bằng test bơi cưỡng bức, test treo đuôi và test gây bất lực thụ nhiễm Hành vi lo âu Lo âu là những triệu chứng mắc kèm thường gặp của trầm cảm
Do vậy, động vật thường được gây trầm cảm thực nghiệm cũng thường biểu hiện hành vi lo âu trên test chữ thập nâng cao
Trang 18(EPM), test môi trường mở (OFT)
Rối loạn thần
kinh nội tiết
Bệnh nhân trầm cảm thường có rối loạn trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA) Chức năng của trục HPA có thể được đánh giá bằng test ức chế dexamethason hoặc test kết hợp dexamethason và CRF
Giải phẫu
thần kinh
Các đối tượng trầm cảm cho thấy có sự giảm thể tích vùng hồi hải mã qua hình ảnh cộng hưởng từ Động vật gặm nhấm tiếp xúc với stress mạn tính hoặc dư thừa glucocorticoid sẽ có các dấu hiệu tương tự như giảm thể tích vùng hồi hải mã và teo tế bào thần kinh đệm
1.2.2 Các test đánh giá hành vi trầm cảm trên động vật thực nghiệm
Các test đánh giá tác dụng chống trầm cảm hay còn được gọi là mô hình gây stress cấp tính thường được sử dụng để sàng lọc tác dụng của các thuốc chống trầm cảm mới Các test này không tạo ra được những thay đổi hành vi ổn định trong động vật nhưng có ưu điểm là dễ thực hiện, chi phí thấp và có giá trị dự đoán cao, thích hợp
để thăm dò bước đầu tác dụng chống trầm cảm của một thuốc
Bảng 1.2 Các test sử dụng để đánh giá một số hành vi trầm cảm ở động vật [31] Test Ƣu điểm Nhƣợc điểm
Dựa vào hành vi tuyệt vọng
Bơi cưỡng bức Nhạy với nhiều thuốc
chống trầm cảm
Dễ thực hiện
Độ lặp lại cao
Chỉ đánh giá được các thuốc tác dụng trên hệ mononergic
Nguy cơ hạ thân nhiệt Bơi cưỡng bức cải tiến
Treo đuôi Nhạy cảm với nhiều thuốc
chống trầm cảm
Chỉ đánh giá được các thuốc tác dụng trên hệ
Trang 19Dễ thực hiện
Độ lặp lại cao
mononergic Chỉ áp dụng với một số chủng chuột nhắt nhất định Dựa trên hành vi được thưởng
Tiêu thụ saccarose Đánh giá trạng thái cảm
xúc và động lực Đáp ứng với điều trị trầm cảm mạn tính
Chưa đáp ứng được tính hiệu lực trong mô hình trầm cảm
Tự kích thích nội sọ
Dựa trên hành vi lo âu
Giảm ăn do môi trường
mới
Nhạy với thuốc chống trầm cảm mạn tính Không bị thiếu thức ăn
Chủ yếu phản ánh tác dụng giải lo âu của thuốc chống trầm cảm
Môi trường mở (OFT) Nhạy với thuốc giải lo âu
Đánh giá hành vi liên quan đến lo âu như một kiểu hình đi kèm với trầm cảm
Khó phân biệt giữa giảm né tránh do lo âu với tăng tìm kiếm trong môi trường mới Đáp ứng với thuốc chống trầm cảm không đáng tin cậy
Ức chế bằng
dexamethason
Cho phép đánh giá cơ chế tác dụng của thuốc chống trầm cảm trước, trong và sau khi điều trị
Thể tích máu chuột nhắt có hạn, trong khi test đánh giá cần lấy máu nhiều giai đoạn và có thể phải lấy nhiều mẫu
Phối hợp dexamethason
và CRH
1.2.2.1 Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức
Thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức (forced swim test, FST) là mô hình dược lý được sử dụng rộng rãi để đánh giá hoạt tính chống trầm cảm Trong test này, động vật được đặt vào một bình trụ chứa đầy nước và không thể thoát ra [71] Ban đầu, động vật sẽ cố gắng để trốn thoát, nhưng cuối cùng trạng thái stress sẽ tiến triển thành tư thế
Trang 20bất động, đặc trưng bởi việc chuột không có bất cứ chuyển động nào khác ngoại trừ những hoạt động cần thiết để duy trì cho đầu/mũi ở trên mặt nước Thử nghiệm này thường gồm 2 giai đoạn Ở giai đoạn luyện tập, từng con chuột được thả vào trong bể nước 6-15 phút 24 giờ sau, giai đoạn thử nghiệm được tiến hành với việc thả chuột vào bể nước trong thời gian 6 phút Tùy vào mục đích của người nghiên cứu, các thông số đánh giá sẽ được thu thập chủ yếu trong 5 phút cuối: thời gian bất động (immobile time), thời gian trèo (climbing time, được hiểu là những chuyển động dọc, mạnh mẽ của chuột sử dụng 2 chân trước, hướng vào thành bể nước), thời gian bơi (swimming time, là chuyển động ngang, qua lại trong bể nước)…
FST dễ sử dụng, có độ lặp lại cao và được dùng để đánh giá các loại thuốc chống trầm cảm mới Các nhóm thuốc chống trầm cảm khác nhau làm giảm thời gian bất động trong FST, tăng thời gian bơi hay thời gian trèo/lặn Các thuốc ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh hệ noradrenergic (ví dụ: desipramin) làm tăng hành vi trèo/lặn (chuyển động dọc), trong khi các thuốc ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh hệ serotonergic (ví dụ: fluoxetin, citalopram) làm tăng thời gian bơi (chuyển động ngang) [21] Tác dụng của thuốc chống trầm cảm trên hành vi ở FST tương đối rõ ràng do nó không làm tăng hoạt động tự nhiên của chuột, không kích thích tâm thần như amphetamin và cocain [49]
1.2.2.2 Thử nghiệm treo đuôi
Thử nghiệm treo đuôi (tail suspension test, TST) là một mô hình thực nghiệm phổ biến dùng để phân tích trạng thái tâm thần trên các loài gặm nhấm Thử nghiệm này dựa trên nguyên tắc khi động vật phải chịu các stress ngắn hạn, không thể trốn thoát như bị treo đuôi thì sẽ rơi vào trạng thái bất động [28] Trong TST, chuột bị treo đuôi trong khoảng thời gian 6 phút ở độ cao 30 cm so với mặt sàn và thời gian bất động sẽ được đánh giá chủ yếu trong 5 phút cuối Các thuốc chống trầm cảm có xu hướng làm giảm thời gian bất động trên chuột và làm tăng hành vi theo xu hướng trốn thoát
Ưu điểm lớn của thử nghiệm treo đuôi là thiết kế đơn giản, ít tốn kém và có thể
tự động hóa, không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hạ thân nhiệt gặp trong FST [58], tuy nhiên chỉ áp dụng được trên chuột nhắt và giới hạn trong các chủng không có xu hướng leo lên đuôi Cả TST và FST đều không phản ánh được sự khởi phát chậm tác
Trang 21dụng chống trầm cảm như đã quan sát thấy trên người và các test này không có khả năng mô phỏng triệu chứng cũng như cơ chế bệnh sinh tương tự trên người [28]
1.2.3 Mô hình cắt bỏ thùy khứu giác (Olfactory bulbectomy, OBX)
Mô hình cắt bỏ thùy khứu giác (OBX) trên các loài gặm nhấm là một mô hình thực nghiệm được các phòng thí nghiệm về thần kinh trên thế giới sử dụng rộng rãi để đánh giá tác dụng của thuốc hay liệu pháp điều trị trên các chứng rối loạn về tâm thần trong đó có bệnh trầm cảm Chuột được gây mê và sau đó phá hủy thùy khứu giác bằng dụng cụ chuyên dụng, đối chứng sinh lý (sham operation) được tiến hành tương
tự nhưng bỏ qua bước loại bỏ thùy khứu giác Nhiều bằng chứng cho thấy có sự tương đồng giữa chuột OBX và các biểu hiện của rối loạn trầm cảm:
- Mô hình cắt bỏ thùy khứu giác được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trên chuột cống Chuột bị cắt bỏ thùy khứu giác biểu hiện nhiều thay đổi hành vi bao gồm trạng thái kích thích, hiếu động và nồng độ corticosteroid cao trong máu, đồng thời giảm khả năng tránh thụ động (passive avoidance learning) Tất cả những thay đổi này được đảo ngược bởi các thuốc chống trầm cảm [83]
- Chuột OBX liên quan đến sự suy giảm các biểu hiện ưa thích trong điều kiện tăng cocain [20], lượng dung dịch sucrose và saccharin dùng hàng ngày, hoạt động giao phối, chạy trong mê cung tìm thức ăn và chạy bánh xe khi so sánh với nhóm chứng [51] Những thay đổi hành vi này cho thấy đặc điểm giảm hứng thú do cắt bỏ thùy khứu giác ở chuột OBX
- Việc lấy đi thùy khứu giác trên chuột dẫn đến một loạt thay đổi về cấu trúc và chức năng tại các vùng não Thay đổi lớn bao gồm sự nới rộng não thất bên và não thất ba Hình ảnh cộng hưởng từ cũng cho thấy sự thay đổi cường độ tín hiệu ở vỏ não, đồi hải mã, vùng hạch và vùng đuôi [84] Những thay đổi này phù hợp với các báo cáo trên bệnh nhân trầm cảm bao gồm kích thước não thất tăng, giảm khối lượng thùy trán, vùng hạch và đuôi cũng như những tổn thương
ở thùy trán và hạch nền [32]
- Trong một nghiên cứu của Hellweg và cộng sự, chuột nhắt bị loại bỏ thùy khứu giác biểu hiện những thay đổi hành vi như vận động quá mức và chậm tăng cân, được cho là liên quan tới trạng thái trầm cảm Tại các vùng đồi hải mã, vỏ não trước và vùng dưới đồi, tỉ lệ acid 5 hydroxyindoleacetic/serotonin (5-HT) giảm cho thấy việc giảm chuyển hóa serotonin Tương tự, có sự suy giảm chức năng
Trang 22chuyển hóa rõ rệt của dopamin (DA) chỉ ở vùng dưới đồi, thể hiện bởi việc giảm tỉ lệ acid 3,4 dihydroxyphenylacetic/DA với mức DA tăng Ở các vùng não khác khi nghiên cứu nồng độ DA, chất chuyển hóa của nó là DOPAC và norepinephrine không thay đổi Như vậy phẫu thuật loại bỏ thùy khứu giác có thể coi là một mô hình động vật có giá trị trên chuột nhắt liên quan đến rối loạn chức năng hệ serotonergic tương tự như trên mô hình chuột cống đã được biết đến trước đây [44]
1.3 Nhuộm hóa mô miễn dịch đánh dấu protein doublecortin (DCX) vùng hồi răng của hồi hải mã
Nhuộm hóa mô miễn dịch (Immunohistochemistry, IHC) là một kĩ thuật nhằm phát hiện các kháng nguyên (protein) trong tế bào dựa trên nguyên tắc sử dụng kháng thể gắn đặc hiệu vào kháng nguyên mong muốn của mô sinh học IHC được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu cơ bản để tìm hiểu vị trí và phân bố của các chỉ dấu (marker) sinh học và các protein biểu hiện khác nhau tại các phần của mô [72]
Sự suy giảm số lượng tế bào thần kinh mới sinh trên vùng hồi răng (dentate gyrus) của hồi hải mã (hippocampus) não bộ được cho là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của rối loạn trầm cảm [47] Nghiên cứu cho thấy, ở vùng hồi răng của não bộ động vật gặm nhấm, tế bào thần kinh hạt được tạo ra trong suốt cuộc đời từ các tế bào tiền thân phân chia liên tục cư trú ở vùng cận tế bào hạt (subgranular zone) Các neuron mới sinh sau đó di chuyển vào lớp tế bào hạt, biệt hóa,
mở rộng sợi trục và biểu hiện các chỉ dấu protein (protein marker) thần kinh [36] (Hình 1.1) Việc đánh giá mức độ tăng sinh tế bào thần kinh hiện nay chủ yếu dựa trên
kĩ thuật đánh dấu các tế bào thần kinh mới sinh qua các chỉ dấu protein, trong đó doublecortin (DCX) là một protein liên kết vi ống biểu hiện ở hầu hết tất cả các tế bào tiền thân trong hệ thần kinh trung ương đang phát triển, chủ yếu ở vùng hồi hải mã và tiền não thất bên Trong quá trình tăng sinh tế bào, DCX biểu hiện từ khi nguyên bào thần kinh hình thành, đạt đỉnh ở tuần thứ hai và biến mất đồng thời với sự xuất hiện của chỉ dấu protein tế bào thần kinh trưởng thành (NeuN) Từ đó nghiên cứu đã chứng minh DCX là một chỉ dấu protein đặc hiệu và đáng tin cậy có thể sử dụng để phản ánh mức độ tăng sinh tế bào thần kinh trong não bộ ở điều kiện bình thường hoặc bệnh lý [26]
Trang 23Hình 1.2 Hương nhu tía
(Ocimum tenuiflorum L.)
Hình 1.1 Tăng sinh tế bào thần kinh trong vùng hồi răng của hồi hải mã
Chú thích: TB: tế bào; TBTK: tế bào thần kinh
1.4 Tổng quan về hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.)
1.4.1 Vị trí phân loại
Theo hệ thống phân loại Takhtajan
Hương nhu tía thuộc:
Tên khoa học: Ocimum tenuiflorum L (Ocimum sanctum L )
Tên thường gọi: hương nhu tía, é đỏ, é tía
1.4.2 Đặc điểm thực vật
Cây nhỏ sống hằng năm hay sống dai, cao đến gần 1m Thân, cành màu đỏ tía, có lông mịn Lá mọc đối, có cuống dài, hình mác hoặc thuôn, dài 2 – 5 cm, rộng 1 – 3 cm, mép khía răng cưa, hai mặt màu tím tía, có lông mềm [2], [5]
Trang 24Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chum xim phân nhánh, lá bắc nhỏ, hoa màu trắng hay tím tía, xếp thành từng vòng 5 – 6 hoa trên một cụm hoa, những thùy bên rất ngắn, tràng hoa có cánh hơi lượn sóng ở mép, nhị 4 vượt ra ngoài tràng
Quả bẻ tư, gần hình cầu, hơi dẹt, màu nâu nhạt hoặc đỏ có đốm đen nhỏ nằm trong đài tồn tại Mùa hoa quả: tháng 5 – tháng 7 [5]
1.4.3 Phân bố, sinh thái
Hương nhu tía vốn là cây cổ nhiệt đới Châu Á, được trồng rải rác ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan để làm thuốc và làm rau gia vị
Ở Việt Nam hương nhu tía được trồng trong các vườn gia đình hoặc trong các cơ
sở chữa bệnh theo y học cổ truyền Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 23 – 30oC; lượng mưa 1800 – 2600 mm/năm Ở các vùng núi cao có khí hậu cận nhiệt đới và hơi lạnh, không thấy trồng [5]
Hương nhu tía mọc từ hạt vào khoảng cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh trong mùa hè, đến cuối mùa thu hay đầu đông thì tàn lụi Cây ra hoa quả nhiều Quả chín tự
mở, hạt rơi xuống đất và nảy mầm sau 5 – 6 tháng Cây trồng dễ dàng bằng hạt [2], [5]
1.4.4 Thành phần hóa học
Tinh dầu: đây là thành phần đáng chú ý và có giá trị cao trong cây hương nhu tía Hàm lượng tinh dầu khi cây bắt đầu có hoa đến lúc ra hoa là 1,08 – 1,62% Dược điển Việt Nam IV quy định hàm lượng tinh dầu không dưới 0,5% (tính theo dược liệu khô tuyệt đối) [1] Các thành phần hóa học chính của tinh dầu hương nhu tía Việt Nam là eugenol (trên 70%), methyleugenol (trên 12%) và β-carophylen [5]
1.4.5 Tác dụng dược lý
Hương nhu tía đã được sử dụng từ hàng nghìn năm trong y học cổ truyền Ấn Độ
để giúp cân bằng các quá trình trong cơ thể và giúp cơ thể thích nghi với stress Trên thế giới, nhiều tác dụng dược lý của hương nhu tía đã được chứng minh bằng các
nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật và các thử nghiệm in vitro
1.4.5.1 Tác dụng chống viêm giảm đau hạ sốt
Dịch chiết bằng methanol và nhũ tương được điều chế từ cao chiết hương nhu tía
đã được thử nghiệm về tác dụng chống viêm, giảm đau hạ sốt
Tác dụng chống viêm:
Trang 25Các dạng bào chế đều ức chế phù gan bàn chân chuột cống trắng do carragenin gây nên trên mô hình viêm cấp tính và ức chế sự hình thành dịch rỉ viêm, tổ chức hạt trong mô hình gây viêm mãn tính do tiêm crotom Tác dụng chống viêm của dịch chiết
và nhũ tương hương nhu tía ở mức liều 500 mg/kg tương đương đương với natri salicylate liều 300 mg/kg [53]
Nghiên cứu của Singh năm 1998 đã chỉ ra rằng hiện nay acid linoleic trong tinh dầu hương nhu tía có khả năng ức chế cả cyclooxygenase và lipoxygennase trên con đường chuyển hóa acid arachidonic, từ đó có tác dụng chống viêm [79]
Tác dụng giảm đau:
Dịch chiết cồn từ lá hương nhu tía (50, 100 mg/kg (i.p) và liều 50, 100, 200
mg/kg (p.o) ) giúp làm giảm số lần đau thắt trong thử nghiệm trên chuột sử dụng acid acetic bằng để gây đau thắt [53]
1.4.5.2 Tác dụng kháng khuẩn
Trong nghiên cứu của Singh và cộng sự, hàm lượng acid linoleic trong tinh dầu hương nhu tía có thể góp phần vào hoạt tính kháng khuẩn của nó Các thành phần trong tinh dầu có tác dụng kháng khuẩn đối với các chủng vi khuẩn nhạy cảm sau:
Staphylococcus aureus, Bacillus pumius và Pseudomonas aeruginosa [79]
Kết quả từ một nghiên cứu của Geeta và cộng sự cho thấy dịch chiết nước của hương nhu tía ở liều 60 mg/kg cho đường kính vòng vô khuẩn lớn hơn so với chiết
xuất cồn với chủng Klebsiella, E.coli, Proteus, Vibrio cholerae trong phương pháp
khuếch tán thạch [12]
Tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu hương nhu tía cũng đã được nghiên cứu ở
Việt Nam bằng cách đo đường kính vòng vô khuẩn: với Bacillus mycoides có vòng vô khuẩn 22 mm; B.subtilis (60 mm); E.coli (15 mm); Klebsiella sp (12 mm);
Staphylococus aureus (20 mm) (Bộ Y tế - Công trình nghiên cứu khoa học y dược
1997 - 1998) [5]
1.4.5.3 Tác dụng chống oxy hóa
Khả năng chống oxy hóa của tinh dầu trong một số loài của chi Ocimum đã được
đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu nâng cao (HPLC) dựa vào hàm lượng hypoxanthin xanthin oxidase Trong nghiên cứu này, tác dụng chống oxy
hóa mạnh mẽ nhất thu được ở Ocimum tenuiflorum L (IC50 = 0,46 µl/ml) [74]
Trang 26Dịch chiết nước của hương nhu tía cũng làm tăng đáng kể hoạt động của một số enzym chống oxy hóa như superoxide dismutase, catalase so với nhóm đối chứng trong một nghiên cứu trên thỏ [42]
1.4.5.4 Tác dụng hạ đường huyết
Chiết xuất cồn từ lá hương nhu tía sử dụng đường uống trên chuột tiểu đường tăng streptozotocin giúp làm giảm đáng kể mức đường trong máu Hơn nữa, chiết xuất này còn có tác dụng tăng cường hoạt động của insulin ngoại sinh ở chuột bình thường [25]
Kết quả từ một nghiên cứu khác cũng chỉ ra ảnh hưởng của hương nhu tía trên ba
enzym quan trọng của quá trình chuyển hóa glucid là: glucokinase (GK), hexokinase (HK) và phosphofructokinase (PFK) [81]
1.4.5.5 Tác dụng trên tâm - thần kinh
Tác dụng bảo vệ thần kinh và cải thiện trí nhớ của cao chiết hương nhu tía đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học trong và ngoài nước trong nhiều năm gần đây Có thể kể đến một số nghiên cứu về tác dụng cải thiện trí nhớ, nhận thức của hương nhu tía:
- Yanpallewar và cộng sự đã sử dụng mô hình gây thiếu máu não trên chuột nhắt, chứng minh rằng dịch chiết cồn từ lá hương nhu tía giúp làm giảm peroxy hóa lipid và SOD (superoxide dismutase) và TSH (total sulfhydryl groups) cùng những biến đổi về mô học gây ra do thiếu máu não - một trong những nguyên nhân gây suy giảm trí nhớ [85]
- Dịch chiết nước của cây hương nhu tía có tác dụng tăng cường trí nhớ trên mô hình chuột gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin, diazepam và do lão hóa [48]
- Nghiên cứu của Giridharan và cộng sự cũng cho thấy, dịch chiết nước (300 và
500 mg/kg) của lá cây hương nhu tía có khả năng chống suy giảm trí nhớ, ức chế cholinesterase và làm tăng cường miễn dịch trên chuột cống gây mất trí nhớ bằng sốc điện, atropin và cyclosporin liều cao [38]
- Một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng cho thấy viên nang chứa 300 mg cao chiết cồn lá hương nhu tía có tác động tích cực lên các thông số nhận thức nhất định như trí nhớ ngắn hạn, mức độ tập trung khi so sánh với giả dược [75]
- Ở Việt Nam, năm 2011 tác giả Trần Phi Hoàng Yến và cộng sự đã khảo sát khả năng cải thiện trí nhớ của cao chiết lá hương nhu tía với các thí nghiệm được
Trang 27thực hiện trên mô hình mê cung nước Morris (Morris water maze, MWM) sử dụng trimethyltin làm chất gây suy giảm trí nhớ, đồng thời đánh giá các chỉ số hóa sinh (acetylcholin và acetylcholinesterase) [6] Các kết quả cho thấy, với liều dùng 50 và 100 mg/kg, cao chiết toàn phần lá hương nhu tía có tác dụng cải thiện trí nhớ trên mô hình MWM Tác dụng này có liên quan đến hệ cholinergic, làm tăng hàm lượng acetylcholin và giảm hoạt tính acetylcholinesterase trong vùng hải mã não chuột Đây cũng là một trong số ít các công trình đã công bố ở Việt Nam về tác dụng dược lý cao chiết toàn phần
lá hương nhu tía
Một số nghiên cứu về tác dụng chống trầm cảm, lo âu của cây hương nhu tía cũng đã được công bố:
- Trong nghiên cứu của Chatterjee M và cộng sự, liều 200 mg/kg dịch chiết cồn
từ lá hương nhu tía có tác dụng chống trầm cảm trên chuột nhắt (giảm thời gian bất động trên thử nghiệm treo đuôi chuột và thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức)
Sử dụng mô hình hộp sáng tối, mê lộ chữ thập và hole-board test, nhóm tác giả này cũng chứng minh tác dụng làm giảm lo âu của hương nhu tía chỉ với liều 50 mg/kg [24]
- Tác dụng chống trầm cảm, lo âu của hương nhu tía cũng được chứng minh trên
mô hình chuột gây stress bởi tiếng ồn bằng cách định lượng acetylcholin và hoạt độ acetylcholinesterase ở các vùng khác nhau của não chuột Kết quả cho thấy cao chiết EtOH 70% của hương nhu tía với liều 100 mg/kg có tác dụng bảo
vệ các mô não trước tác động có hại gây stress bởi tiếng ồn [78]
- Cao chiết methanol của hương nhu tía ở liều 400 mg/kg (i.p) làm tăng thời gian bơi của chuột trong thử nghiệm chuột bơi cưỡng bức cho thấy tác dụng kích thích hệ thống thần kinh trung ương và chống căng thẳng [61]
- Tác giả Lê Thị Xoan và cộng sự cũng chứng minh rằng chuột OBX (chuột gây trầm cảm bằng cách loại bỏ thùy khứu giác) uống cao chiết cồn từ lá hương nhu tía với liều 400 mg/kg có hành vi giảm lo âu trên thử nghiệm không gian mở (open field) và giảm trầm cảm trên thử nghiệm treo đuôi chuột, khi so sánh với chuột OBX không được điều trị [55]
- Các thành phần hoạt chất có tác dụng chống trầm cảm của hương nhu tía cũng được tập trung nghiên cứu Ocimumoside A và B (40 mg/kg p.o) phân lập từ
Trang 28hương nhu tía được chứng minh là có tác dụng chống stress thông qua cơ chế điều hòa hệ thống các monoamin và chống oxy hóa trong não bộ [8]
- Acid ursolic – một thành phần có trong hương nhu tía, được chứng minh là có hiệu quả chống trầm cảm trên mô hình treo đuôi chuột (TST) và chuột bơi cưỡng bức (FST) tương tự như fluoxetin, imipramin và bupropion Tác dụng này có thể thông qua mối tương tác với hệ dopaminergic bằng cách hoạt hóa thụ thể D1 và D2 [59] Tuy nhiên trong một công bố khác, acid ursolic lại không thể hiện rõ tác dụng này khi cũng được đánh giá bằng mô hình FST trên chuột ICR [39]
Những nghiên cứu về tác dụng của hương nhu tía trên tâm – thần kinh này là cơ
sở cho việc nghiên cứu tác dụng dược lý của các mẫu thử với những dung môi chiết khác nhau, tìm ra phân đoạn có tác dụng mạnh nhất đồng thời làm sáng tỏ cơ chế chống trầm cảm của hương nhu tía
Ở Ấn Độ, nước hãm của lá hương nhu tía được dùng chữa đau dạ dày ở trẻ em và sốt rét Dịch ép từ lá chữa nôn mửa và giun móc vì trong dược liệu có thymol, phối hợp với mật ong gừng và dịch ép tỏi làm thuốc lợi đờm, chữa viêm phế quản, ho ở trẻ
em Dịch ép từ lá còn chữa rắn độc cắn
Ở Myanma, nước sắc của lá hương nhu tía chữa đầy hơi và tiêu chảy ở trẻ em, hạt chữa bệnh thận, nước hãm từ lá chữa viêm đường hô hấp và rối loạn kinh nguyệt [5]