1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nhận thức và đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính tại một số nhà thuốc ở hà nội

78 140 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, vai trò của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính hiện nay chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cũng như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.. Dược sĩ c

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGÔ THỊ THỦY TIÊN

PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA

NGƯỜI BÁN LẺ THUỐC TRONG QUẢN LÝ BỆNH MẠN TÍNH TẠI MỘT SỐ NHÀ THUỐC Ở HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGÔ THỊ THỦY TIÊN

Mã sinh viên: 1301410

PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA

NGƯỜI BÁN LẺ THUỐC TRONG QUẢN LÝ BỆNH MẠN TÍNH TẠI MỘT SỐ NHÀ THUỐC Ở HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và tri ân sâu sắc nhất tới TS

Đỗ Xuân Thắng và ThS Lê Thu Thủy, Giảng viên Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược,

Trường Đại học Dược Hà Nội, là những người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu, tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ và động viên trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS Dương Viết Tuấn, Giảng viên bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, đã truyền đạt kiến thức, quan

tâm tư vấn và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý và Kinh tế

Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt

quá trình thực hiện nghiên cứu tại bộ môn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu và toàn thể các thầy cô

giáo trong trường đã truyền đạt kiến thức và dìu dắt tôi trong suốt 5 năm học tại

trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn Ninh Thế Vũ, sinh viên lớp O1K69,

đã giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người

luôn cổ vũ, động viên, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Ngô Thị Thủy Tiên

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về bệnh mạn tính 3

1.1.1 Khái niệm bệnh mạn tính 3

1.1.2 Thực trạng bệnh mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam 4

1.2 Quản lý bệnh mạn tính 5

1.2.1 Khái niệm quản lý bệnh mạn tính 5

1.2.2 Nhu cầu của cộng đồng về sự tham gia của dược sĩ tại nhà thuốc trong quản lý bệnh mạn tính 6

1.2.3 Nhận thức của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính 7

1.2.4 Đóng góp của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính 9

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 13

2.3.2 Thiết kế bộ câu hỏi 13

2.3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 14

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 15

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 16

2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17

3.1 Thông tin chung về người bán lẻ thuốc tham gia nghiên cứu 17

3.2 Nhận thức của người bán lẻ về quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc 17

Trang 5

3.2.1 Nhận thức yếu tố thúc đẩy người bán lẻ thuốc tham gia vào quản lý bệnh

mạn tính 19

3.3.2 Nhận thức yếu tố rào cản với người bán lẻ thuốc tham gia vào quản lý bệnh mạn tính 23

3.3 Đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính 30

BÀN LUẬN 37

1 Nhận thức của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính 37

2 Đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính 40

3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 43

3.1 Ưu điểm của nghiên cứu 43

3.2 Hạn chế của nghiên cứu 43

4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

1 Kết luận 44

2 Kiến nghị 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Liên đoàn Dược phẩm quốc tế

GPP Good Pharmacy Practice Thực hành tốt nhà thuốc

HIV/AIDS Human Immunodeficiency Virus

Infection/Acquired Immunodeficiency Syndrome

Hội chứng suy giảm miễn dịch

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới

WONCA World Organization of Family

Doctors

Tổ chức Bác sĩ gia đình thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Thông tin chung về người bán lẻ thuốc 17Bảng 3.2: Nhận thức của người bán lẻ về quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc 18Bảng 3.3: Các hoạt động QLBMT đã và có thể thực hiện tại nhà thuốc 30

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Vai trò của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính 12

Trang 9

Trên thế giới, khái niệm quản lý bệnh mạn tính bao gồm sự phối hợp trong sàng lọc, kiểm tra, theo dõi, điều trị và giáo dục bệnh nhân Quản lý bệnh mạn tính có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm chi phí chăm sóc bằng cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các tác động của bệnh [52] Tham gia vào hoạt động quản lý bệnh mạn tính không chỉ có bác sĩ, điều dưỡng mà còn có dược sĩ cộng đồng và các cán bộ,

tổ chức khác có liên quan Việc phối hợp đa ngành trong quản lý bệnh mạn tính đã giúp phát huy được điểm mạnh của từng nhóm chuyên gia y tế và mang lại được nhiều lợi ích cho bệnh nhân, giúp phát huy được mục tiêu chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm [12], [20]

Dược sĩ cộng đồng ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của mình trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính Những ưu điểm trong khả năng tiếp cận bệnh nhân của nhà thuốc (thường là điểm đến đầu tiên của bệnh nhân trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, có mặt ở khắp mọi nơi, thời gian tiếp đón bệnh nhân dài, tư vấn mà không cần hẹn trước) cùng với kiến thức và kỹ năng chuyên môn của mình, dược sĩ cộng đồng có thể tham gia và cung cấp nhiều dịch vụ chăm sóc giúp quản lý bệnh mạn tính [12], [17], [19] Tại các quốc gia phát triển, bên cạnh hoạt động cung ứng thuốc cho cộng đồng, Người bán lẻ thuốc còn cung cấp rất nhiều dịch vụ khác như lên kế hoạch theo dõi và chăm sóc bệnh nhân, đánh giá vấn đề tuân thủ điều trị, hỗ trợ bệnh nhân giám sát các triệu chứng bệnh, cung ứng thuốc đến tận nhà… [48], [30]

Tại Việt Nam, vai trò của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính hiện nay chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cũng như chưa có nghiên cứu nào

về vấn đề này Do đó, tìm hiểu về nhận thức của người bán lẻ thuốc về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và sự đóng góp của họ hiện nay với hoạt động này tại Việt

Nam là rất cần thiết Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tìm hiểu nhận

Trang 10

thức và đóng góp của người bán lẻ thuốc trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại một số nhà thuốc ở Hà Nội” với các mục tiêu nghiên cứu như sau:

1 Tìm hiểu nhận thức của người bán lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

2 Tìm hiểu đóng góp của người bán lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm có thể phát huy tốt hơn vai trò của người bán

lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh mạn tính

1.1.1 Khái niệm bệnh mạn tính

Xu hướng bệnh tật trên thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi Nếu trước đây những bệnh cấp tính lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn hay gặp thì hiện nay các bệnh không lây nhiễm hay còn gọi là bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, xương khớp, ung thư ngày càng nhiều và gây tốn kém cho cá nhân và cộng đồng

Có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về bệnh mạn tính Theo tổ chức Y tế

thế giới (World Health Organization - WHO), “bệnh mạn tính còn được gọi là bệnh

không lây nhiễm (Noncommunicable diseases - NCDs) là bệnh không truyền từ người này sang người khác Bệnh tiến triển trong thời gian dài và chậm Bốn bệnh không lây nhiễm chính là tim mạch (đau tim và đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen) và bệnh tiểu đường” [27] Còn theo tổ chức Bác sĩ gia

đình thế giới (World Organization of Family Doctors - WONCA) thì lại định nghĩa

“bệnh mạn tính là bệnh kéo dài - thường có các đợt kéo dài và thời gian lâm sàng kéo

dài; với nhiều nguyên nhân; không có phương pháp chữa bệnh rõ ràng; tiến triển dần dần theo thời gian” [9] Như vậy, theo định nghĩa này của WONCA thì bệnh mạn tính

bao gồm cả những bệnh không lây nhiễm (như tiểu đường, tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn, ung thư và trầm cảm) và bệnh lây nhiễm (HIV/AIDS)

Trung tâm quốc gia về thống kê y tế của Mỹ (National Center for Health

Statisics) thì định nghĩa “bệnh mạn tính là bệnh kéo dài, ít nhất 3 tháng trở nên Bệnh

mạn tính thường không thể ngăn ngừa bằng vaccin hoặc chữa khỏi bằng thuốc, và cũng không biến mất” [51] Một nghiên cứu về bệnh mạn tính tại 8 quốc gia ở Châu

Âu thì cho thấy khái niệm bệnh mạn tính bao gồm các vấn đề sức khỏe có tính lâu dài như bệnh tiểu đường, bệnh tim hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn thần kinh và thần kinh tiến triển Bệnh mạn tính cũng bao gồm các khuyết tật và khiếm khuyết không được định nghĩa là bệnh như rối loạn cơ xương và một số bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS Một số bệnh ung thư theo cách tiếp cận về quản lý cũng được xem là bệnh mạn tính [29]

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ ban đầu, theo công bố của tác giả Julie và cộng sự trên tạp chí thực hành gia đình (Family Practice) năm 2004 thì bệnh mạn tính

Trang 12

bao gồm các đặc điểm sau (sử dụng phân loại quốc tế của chăm sóc ban đầu - Internationl Classification of Primary Care) [31]:

- Có thời gian kéo dài hoặc dự kiến kéo dài ít nhất 6 tháng

- Bệnh có tính tái phát hoặc suy thoái

- Có tiên lượng xấu

- Gây hậu quả/di chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Chúng tôi cũng sử dụng định nghĩa mô tả các đặc điểm này khi tiến hành thu thập số liệu tại các nhà thuốc thông qua hình thức phỏng vấn sâu hoặc khảo sát

1.1.2 Thực trạng bệnh mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam

1.1.2.1 Trên thế giới

Bệnh mạn tính tạo ra gánh nặng bệnh tật nặng nề do tỷ lệ tàn phế và chết yểu cao Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2008, thế giới đã có 36 triệu người chết vì bệnh mạn tính (chiếm 63% tổng ca tử vong) và 9 triệu người đã chết trước khi

60 tuổi Gần 80% số ca tử vong do bệnh mạn tính xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh mạn tính là bệnh tim mạch (17 triệu người, chiếm 48% số ca tử vong do bệnh mạn tính), sau đó đến ung thư (7,6 triệu người, tương ứng với 21%), và bệnh phổi mạn tính bao gồm hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) (4,2 triệu người), đái tháo đường gây ra 1,3 triệu ca tử vong [33] Theo dự đoán vào năm 2020, bệnh mạn tính sẽ chiếm gần ba phần tư tổng số ca tử vong trên toàn thế giới và đặc biệt ở các nước đang phát triển [36] Xu hướng của bệnh mạn tính cũng là vấn đề đáng lo ngại vì chúng không chỉ ảnh hưởng đến một tỷ lệ lớn dân số mà còn bắt đầu có xu hướng trẻ hoá (xuất hiện

ở độ tuổi trẻ hơn) Theo WHO, năm 2011, đa số trường hợp tử vong sớm do bệnh mạn tính trong độ tuổi từ 30 - 70 xảy ra ở các nước đang phát triển (chiếm 85%) [31] Dự đoán đến năm 2020, 60% gánh nặng bệnh mạn tính sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển Khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những khu vực có tỷ lệ tử vong do bệnh mạn tính cao so với các khu vực khác trên thế giới Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ngày càng tăng ở Ấn Độ và Trung Quốc [34] Đối với tình trạng thừa cân, tỷ lệ hiện mắc đã đạt đến mức chưa từng có, tốc độ tăng trưởng hàng năm ở hầu hết các nước đang phát triển là cao [38]

Trên phạm vi toàn cầu, WHO khuyến cáo một số chiến lược và phương thức để phòng chống bệnh mạn tính để giảm nguy cơ và hậu quả do bệnh này gây ra

Trang 13

1.1.2.2 Tại Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng “kép” về bệnh tật Trong khi, tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm đang giảm, thì tỷ lệ các bệnh mạn tính - bệnh không lây nhiễm - đang gia tăng Bệnh mạn tính hiện là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam,

cứ 10 trường hợp tử vong thì có 7 người chết do bệnh mạn tính Bốn loại bệnh mạn tính chính được quan tâm hiện nay ở Việt Nam là bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ…), đái tháo đường, bệnh hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản) và ung thư [1] WHO ước tính trong năm 2012 cả nước có 379.600 ca tử vong do bệnh mạn tính (chiếm 73%), trong đó bệnh tim mạch chiếm 33%, ung thư chiếm 18%, COPD chiếm 7% và đái tháo đường chiếm 3% [54] Sự gia tăng của bệnh mạn tính đã kéo theo vấn đề gia tăng nhanh trong chi phí khám, chữa bệnh và quá tải ở các bệnh viện tuyến trung ương Chi phí điều trị cho bệnh nhân mạn tính trung bình cao gấp 40 - 50 lần so với điều trị các bệnh lây nhiễm, do đòi hỏi kỹ thuật cao, thuốc đặc trị đắt tiền, thời gian điều trị kéo dài, dễ bị biến chứng Cũng theo WHO, tổn thất lũy tích về kinh tế đối với các nước có thu nhập thấp và trung bình do các bệnh mạn tính là hơn 7000 tỷ USD trong giai đoạn từ 2011 - 2025 (bình quân mỗi năm gần 500

tỷ USD) [35] Cuộc sống lâu dài đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc các bệnh mạn tính và sự kết hợp của các bệnh mạn tính là phổ biến 65% người trên 65 tuổi có hai hoặc nhiều bệnh mạn tính, như tiểu đường, hen, tim và suy thận Sự hiện diện của nhiều bệnh mạn tính làm tăng gánh nặng bệnh tật và ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng sức khoẻ [49]

1.2 Quản lý bệnh mạn tính

1.2.1 Khái niệm quản lý bệnh mạn tính

Theo HealthCare, quản lý bệnh mạn tính là một cách tiếp cận chăm sóc tích hợp

để quản lý bệnh bao gồm phối hợp sàng lọc, kiểm tra, theo dõi, điều trị và giáo dục bệnh nhân Quản lý bệnh mạn tính có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống trong khi giảm chi phí chăm sóc sức khỏe bằng cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các tác động của bệnh [52] Như vậy, để quản lý được bệnh mạn tính cần phải có sự phối hợp và tham gia của nhiều cán bộ y tế khác nhau như bác sĩ, dược sĩ cộng đồng, điều dưỡng Nhiều bệnh mạn tính như bệnh tiểu đường yêu cầu chăm sóc y tế liên tục và hỗ trợ để ngăn ngừa các biến chứng cấp tính (tăng hoặc hạ đường huyết) và giảm nguy cơ biến chứng về lâu dài như tăng huyết áp, các bệnh tim mạch hoặc suy thận [4], [40] Tầm

Trang 14

quan trọng của việc kiểm soát các bệnh mạn tính ở mọi lứa tuổi là rất quan trọng để làm chậm sự tiến triển, ngăn ngừa bệnh tật và giảm nguy cơ các phương pháp điều trị

bị trùng lặp, không tương thích hoặc xung đột gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ [49]

1.2.2 Nhu cầu của cộng đồng về sự tham gia của dược sĩ tại nhà thuốc trong quản

lý bệnh mạn tính

Khi tình trạng thiếu bác sĩ và tỷ lệ hiện mắc bệnh mạn tính đang tăng lên, dược

sĩ cộng đồng có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong việc chăm sóc bệnh nhân Dược

sĩ cộng đồng đã khẳng định được ảnh hưởng tích cực đến chăm sóc bệnh nhân mạn tính của mình, thêm dược sĩ cộng đồng cho đội ngũ y tế có thể có lợi cho không chỉ bệnh nhân mà cả hệ thống chăm sóc sức khoẻ Dược sĩ cộng đồng thực hiện một số hoạt động chăm sóc sức khoẻ có thể giúp giảm bớt gánh nặng cho bác sĩ Dược sĩ cộng đồng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân, hợp tác với bác sĩ và các cán bộ y tế khác để đảm bảo tiếp cận đầy đủ và chăm sóc cho bệnh nhân Nhóm cán bộ y tế này có thể làm việc với nhau để giúp giảm chi phí y tế, giảm tỷ lệ nhập viện, và cải thiện sức khoẻ của bệnh nhân [37] Một nghiên cứu tại Đài Loan cho thấy, khoảng một nửa số người dân được hỏi cho biết họ cần hướng dẫn sử dụng thuốc (49,7%), giúp đỡ trong việc phát triển hồ sơ thuốc cá nhân (46,8%) và giúp kê đơn thuốc cho bệnh mạn tính (51,0%) 35,0% số người được hỏi cho biết họ cần dược sĩ cộng đồng để cung cấp dịch vụ kiểm tra thuốc gia đình Người cao tuổi và những người có trình độ học vấn thấp thường có nhu cầu các dịch vụ thuốc này [10]

Theo FIP, dược sĩ cộng đồng là một phần thiết yếu của đội ngũ chăm sóc sức khỏe và bất kỳ chương trình y tế nào đều phải nhận ra rằng [13]:

• Dược sĩ cộng đồng là chuyên gia chăm sóc sức khỏe dễ tiếp cận nhất trong cộng đồng

• Dược sĩ cộng đồng là tài nguyên tri thức cho cộng đồng có thể giúp mọi người hiểu được sự nguy hiểm của bệnh mạn tính và tầm quan trọng của việc phòng ngừa

• Dược sĩ cộng đồng làm việc với thành viên khác của nhóm chăm sóc sức khỏe

và có thể tư vấn bệnh nhân đến gặp họ (nếu cần)

• Nhiều dược sĩ cộng đồng được đào tạo về đánh giá thể chất

Trang 15

1.2.3 Nhận thức của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính

Thái độ và nhận thức của dược sĩ cộng đồng với hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại một số nước phát triển như Úc và Sudan khá tốt Dược sĩ cộng đồng tại Úc bày

tỏ sự sẵn sàng và năng lực để thực hiện các hoạt động QLBMT [44] còn dược sĩ cộng đồng ở Sudan thì cho rằng dược sĩ nên đóng vai trò quan trọng trong QLBMT [28] Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại các quốc gia khác lại cho thấy dược sĩ cộng đồng chưa nhận thức đúng được những vai trò của họ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính Đa số dược sĩ cộng đồng ở Indonexia cho rằng họ chỉ đóng vai trò quan trọng trong tư vấn và theo dõi việc sử dụng thuốc ở bệnh nhân tim mạch, cũng như tư vấn thay đổi về lối sống, còn giám sát bệnh nhân chỉ là vai trò của bác sĩ và dược sĩ cộng đồng không có quyền để làm việc đó [39] Hay nghiên cứu tại Sudan cho thấy dược sĩ cộng đồng chưa nhận thức được vai trò mới của họ có điểm số trung bình là 4,3 (SD=0,8) [28] Dược sĩ cộng đồng tại Indonexia cũng đề cập đến việc bệnh nhân có bảo hiểm y tế đã đến bác sĩ để khám, nhận thuốc thường xuyên và bác sĩ đã cung cấp

hỗ trợ bệnh nhân dưới dạng phần mềm cung cấp các tài liệu về việc sử dụng thuốc, do

đó dược sĩ cộng đồng không có cơ hội nhiều để thực hiện hoạt động quản lý bệnh mạn tính [39]

Thực hành trong lĩnh vực Dược cộng đồng không chỉ liên quan đến những vấn

đề chuyên môn mà cả kinh doanh Tại Dubai có 64,7% dược sĩ cộng đồng cho rằng thực hành dược đã trở thành một hoạt động kinh doanh Chính vì là hoạt động kinh doanh nên dược sĩ cộng đồng phải tính đến vấn đề chi phí bỏ ra khi thực hiện một hoạt động và những vấn đề ưu tiên cần thực hiện tại nhà thuốc Theo dược sĩ cộng đồng tại Sudan, QLBMT không phải là mối quan tâm của họ (điểm trung bình cao 4,0 (SD=1,2)) Chủ nhà thuốc có thái độ không tích cực với hoạt động này và cho rằng hoạt động này sẽ làm tăng chi phí của nhà thuốc [28] Khả năng về tài chính và thiếu kinh phí để thực hiện những hoạt động quản lý bệnh mạn tính cũng chính là vấn đề được chỉ ra khi dược sĩ cộng đồng tham gia vào hoạt động này tại nhiều nước trên thế giới thậm chí cả những nước có điều kiện kinh tế phát triển như Dubai [16], [18], [28], [42] Ngoài ra, công việc tại nhà thuốc được đánh giá là nhiều Một số nghiên cứu tại thế giới cho thấy khối lượng công việc cao, thiếu thời gian và nhân lực làm cho họ cảm thấy khó khăn để thực hiện các hoạt động liên quan đến QLBMT [16], [18], [28],

Trang 16

[42], [39] Thiếu không gian nhà thuốc cũng là yếu tố rào cản khiến dược sĩ cộng đồng Sudan không tham gia vào hoạt động QLBMT [28]

Kết quả nghiên cứu tại Sudan cho thấy quy định về pháp luật không phải là rào cản lớn khiến họ không tham gia vào hoạt động QLBMT (điểm TB 3,2) Nhưng cấu trúc của hệ thống y tế ở Sudan lại là rào cản khá lớn (điểm TB 3,9) [28] Để dược sĩ cộng đồng có thể tham gia vào quản lý bệnh mãn tính thì rất cần có sự phối hợp giữa dược sĩ cộng đồng và các cán bộ y tế khác như bác sĩ Tuy nhiên, tại một số quốc gia như Sudan và Úc, dược sĩ cộng đồng chưa có sự hợp tác với cán bộ y tế để quản lý bệnh mạn tính hay dược sĩ cộng đồng thiếu sự chấp nhận của bác sĩ khi tham gia vào hoạt động này [3]

Về kiến thức và kỹ năng của dược sĩ cộng đồng, nghiên cứu ở Úc cho thấy phần lớn bác sĩ cho rằng dược sĩ cộng đồng không có kiến thức y tế phù hợp để hợp tác với bác sĩ [44] Bản thân theo đánh giá của dược sĩ cộng đồng cũng cho rằng họ thiếu đào tạo về lâm sàng, cho nên kỹ năng và kiến thức về thuốc, về bệnh mạn tính của họ không đủ để đưa ra những thông tin chính xác về bệnh và sẽ dẫn đến rủi ro, ảnh hưởng đến quá trình điều trị của bệnh nhân [5], [28], [18], [28], [44], [48], [51] Tuy nhiên, ở một số nước phát triển như Dubai, New Zealand thì kiến thức, kỹ năng của dược sĩ cộng đồng tốt, nên họ có thể tự tin để thực hiện được hoạt động QLBMT [42], [48]

Yếu tố từ phía bệnh nhân cũng là yếu tố có thể thúc đẩy hoặc là rào cản đối với

sự tham gia của dược sĩ vào hoạt động này Tại Sudan, dược sĩ cộng đồng nhận thấy rằng nhiều bệnh nhân có nhu cầu và đến nhà thuốc yêu cầu dược sĩ cộng đồng thực hiện QLBMT [28] Tuy nhiên họ lại cho rằng bệnh nhân sẽ không chấp nhận vai trò của dược sĩ cộng đồng trong QLBMT (điểm trung bình 4,5) [28] Hay tại Dubai, dược

sĩ lại cho rằng bệnh nhân không coi trọng vai trò của họ (tỷ lệ 45,5%) [42]

Đặc điểm của bệnh nhân mạn tính phải dùng thuốc dài ngày nên để có thể hỗ trợ cho bệnh nhân tốt nhất thì rất cần những thông tin liên quan đến người bệnh đặc biệt là thông tin lâm sàng và để có thể quản lý tốt những thông tin này thì cần phải có

sự hỗ trợ của hệ thống phần mềm Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy nhiều nhà thuốc cộng đồng thiếu phần mềm để quản lý thông tin lâm sàng của bệnh nhân hay hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân để theo dõi tính trạng sử dụng thuốc hay tiến triển bệnh tật của bệnh nhân như ở Sudan, Úc Do đó, dược sĩ cộng đồng thiếu thông tin liên lạc của

Trang 17

bệnh nhân, còn những trường hợp có thông tin liên lạc của bệnh nhân thì lại được đánh giá là chậm và không hiệu quả [21], [28]

Bảng tổng hợp nhận thức của dược sĩ cộng đồng trên thế giới khi thực hiện quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc được trình bày ở bảng phụ lục 05

1.2.4 Đóng góp của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính

Theo Liên đoàn Dược phẩm quốc tế (FIP), dược sĩ cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình QLBMT do bệnh mạn tính thường đòi hỏi sử dụng thuốc lâu dài FIP khuyến cáo rằng dược sĩ cộng đồng cần có vai trò trong các hoạt động như [13]:

• Nhận biết bệnh mạn tính phổ biến trong cộng đồng

• Cung cấp sàng lọc sức khỏe cho bệnh mạn tính như tăng cholesterol máu, loãng xương, tiểu đường và tăng huyết áp

• Tư vấn sử dụng thuốc hợp lý

• Khuyến khích thay đổi về lối sống

• Cung cấp dịch vụ chăm sóc dược dựa trên nhu cầu của bệnh nhân bằng cách xác định và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc

• Làm việc nhóm với các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác để tối ưu hóa sử dụng thuốc cho bệnh nhân

• Chủ động động viên bệnh nhân

Hay theo hiệp hội dược của Nova (Pharmacy Association of Nova) NBLT có thể tham gia vào nhiều hoạt động giúp quản lý bệnh mạn tính như [53]:

• Là nguồn cung cấp thông tin có giá trị về bệnh và thuốc

• Hướng dẫn sử dụng thuốc thường xuyên và thích hợp

• Cung cấp hướng dẫn khi bệnh tiến triển

• Theo dõi những thay đổi, cung cấp lời khuyên và điều chỉnh phương pháp điều trị dựa trên những thay đổi đó

• Tư vấn các biện pháp không dùng thuốc để điều trị bệnh (thay đổi lối sống )

• Giáo dục bệnh nhân sử dụng các dụng cụ y tế

• Đánh giá vấn đề sử dụng thuốc và lập kế hoạch để đạt mục tiêu về sức khỏe

• Cộng tác với các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác

Thực tế, dược sĩ cộng đồng đã tham gia và có nhiều đóng góp hỗ trợ cho hoạt động quản lý bệnh mạn tính Tại nhiều quốc gia, nhà thuốc là nơi mà bệnh nhân có thể

Trang 18

Tại Anh, Dịch vụ Y tế quốc gia (National Health Service) ký hợp đồng với các nhà thuốc tư nhân để cung cấp dịch vụ dược cho cộng đồng Các nhà thuốc ở Anh có vai trò rất quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Dược sĩ cộng đồng đến thăm nhà để đánh giá vấn đề sử dụng thuốc, liên lạc với bác sĩ gia đình, lập kế hoạch chăm sóc và tiếp tục theo dõi bệnh nhân [30] Một số nghiên cứu can thiệp được thực hiện tại đây với sự tham gia của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính cho thấy dược sĩ cộng đồng đã góp phần làm giảm yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, giúp cai thuốc lá và quản lý bệnh mỡ máu [24], [32] Còn tại New Zealand, dược sĩ cộng đồng mang lại nhiều lợi ích cho người cao tuổi mắc bệnh mạn tính, giúp quản lý bệnh tốt

hơn Một số dịch vụ cơ bản được cung cấp bởi đa số các nhà thuốc là bán thuốc kê

đơn, cung ứng thuốc đến nhà, tư vấn về các loại thuốc và tâm lý Khoảng 30% nhà thuốc cung cấp các dịch vụ khác như biện pháp hỗ trợ di chuyển, xét nghiệm sàng lọc đối với một số bệnh (mỡ máu, tăng huyết áp), đánh giá vấn đề tuân thủ điều trị và cung ứng các thiết bị nhắc nhở sử dụng thuốc [14] Tại Úc, dược sĩ cộng đồng đã có liên kết chặt chẽ với bác sĩ và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc sức khỏe để giải quyết nhu cầu về thuốc của cộng đồng Vai trò của dược sĩ cộng đồng được mở rộng ra ngoài việc bán thuốc [20] Ở Canada, dược sĩ cộng đồng ngoài hoạt động chăm sóc thường xuyên còn cung cấp các dịch vụ chuyên môn như chăm sóc sau phẫu thuật và chăm sóc tại nhà Họ cũng cung cấp đồ chơi thể thao, các thiết bị và dụng cụ tự chẩn đoán [14] Một nghiên cứu khác tại Canada cho thấy sự tham gia của dược sĩ cộng đồng trong chăm sóc bệnh nhân có thể giúp giảm sử dụng thuốc không phù hợp, đặc biệt ở người cao tuổi Tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc không thích hợp giảm đáng kể sau khi xem xét và tối ưu hóa sử dụng thuốc bởi một nhóm chuyên gia trong đó có dược sỹ cộng đồng [15] Dược sĩ cộng đồng ở Brazil cung cấp nhiều dịch vụ như cung ứng thuốc, đo huyết áp, xét nghiệm glucose, xét nghiệm cholesterol/triglyceride, xông hơi

và phối hợp với y tá thực hiện dịch vụ tiêm chủng [14]

Dược sĩ cộng đồng có vai trò quan trọng đóng góp vào việc cải thiện chăm sóc bệnh nhân bằng cách cung cấp một số dịch vụ quản lý bệnh mạn tính Một số nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận vai trò của dược sĩ cộng đồng trong việc QLBMT [6]

Quản lý bệnh tiểu đường

Tại Mỹ, dược sĩ cộng đồng đang có vị trí chiến lược để quản lý bệnh tiểu đường Bằng chứng về hiệu quả của dịch vụ quản lý bệnh tiểu đường được cung cấp

Trang 19

bởi nhà thuốc cộng đồng là một bệnh nhân bị tiểu đường có thể gặp NBLT của mình gấp 5 lần so với bác sĩ điều trị chính Dược sĩ cộng đồng được đào tạo về liệu pháp điều trị bệnh tiểu đường và có thể đưa ra các khuyến cáo về thuốc cho bác sĩ Dược sĩ cũng có kỹ năng xác định các vấn đề liên quan đến tuân thủ và giải quyết các vấn đề liên quan đến tác dụng phụ của thuốc Nhiều dược sĩ cộng đồng được đào tạo để giáo dục và động viên bệnh nhân về chế độ ăn, tập thể dục và tự chăm sóc bản thân [47]

và thay đổi những nhận thức không đúng của bệnh nhân về bệnh [7], [12] Ở một số nước trên thế giới như Đức, Columbia, New Zealand, hoạt động hỗ trợ chăm sóc bệnh hen của dược sĩ cộng đồng đã được chứng minh là cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [23], [26], [45] Những lợi ích được báo cáo bao gồm giảm các triệu chứng hen, cải thiện nhận thức về kiểm soát hen, giảm sử dụng agonist β-2 ngắn, giảm bệnh nhân cấp cứu, nhập viện và các chi phí liên quan, và nâng cao kiến thức về bệnh hen, đào tạo bệnh nhân thực hiện đúng kỹ thuật hít [11], [45]

Quản lý bệnh tăng huyết áp, tim mạch

Một nghiên cứu thực hiện trên 14 nhà thuốc ở Edmonton, Alberta, Canada, dược sĩ cộng đồng và y tá đã được đào tạo để cung cấp can thiệp về các chiến lược phòng ngừa nguy cơ để kiểm soát tăng huyết áp Kết quả nghiên cứu cho thấy huyết áp tâm thu giảm ở cả hai nhóm, tuy nhiên sự giảm này có ý nghĩa đáng kể hơn ở nhóm can thiệp Từ đó, cho thấy sự can thiệp của dược sĩ cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe đối với bệnh nhân tăng huyết áp [25]

Quản lý bệnh về thần kinh

Tại Hà Lan, một nghiên cứu can thiệp đã được tiến hành trên bệnh nhân sử dụng thuốc chống trầm cảm ba vòng tại các nhà thuốc cộng đồng Dược sĩ cộng đồng

Trang 20

tư vấn cho bệnh nhân về việc sử dụng thuốc thích hợp bao gồm cung cấp thông tin về lợi ích của việc sử dụng thuốc, các phản ứng phụ của thuốc, thông tin về sự khởi đầu của thuốc chống trầm cảm và vấn đề tuân thủ điều trị thuốc hàng ngày Kết quả cho thấy bệnh nhân can thiệp có sự tuân thủ điều trị tốt hơn những bệnh nhân không can thiệp trong nhóm nghiên cứu [5]

Quản lý bệnh loãng xương

Dược sĩ cộng đồng có thể đóng một vai trò hữu ích trong việc nhận biết, giáo dục và giới thiệu những bệnh nhân có nguy cơ bị loãng xương đến gặp bác sĩ thông qua việc kiểm tra tỷ lệ mật độ xương [50] Nghiên cứu trên toàn thế giới đã nhấn mạnh vai trò của các nhà thuốc cộng đồng trong việc kiểm tra bệnh loãng xương [46]

Hình 2.1: Vai trò của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính

Tổng hợp một số hoạt động quản lý bệnh mạn tính được cung cấp bởi dược sĩ cộng đồng được trình bày ở bảng phụ lục 04

Tại Việt Nam, các văn bản hiện nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể vai trò của người bán lẻ thuốc trong hoạt động QLBMT Vì vậy, vai trò và hoạt động của người bán lẻ thuốc với bệnh nhân mạn tính cũng chỉ như các bệnh nhân khác đến nhà thuốc bao gồm [2]: (1) Tư vấn, cung cấp thông tin về thuốc cho người mua, người sử dụng thuốc; (2) Tư vấn, trao đổi với người kê đơn trong trường hợp phát hiê ̣n viê ̣c kê đơn thuốc không hợp lý; (3) Tham gia theo dõi, giám sát phản ứng có hại của thuốc

Dược sĩ cộng đồng

Quản lý bệnh tăng huyết áp, tim mạch

Quản lý bệnh tiểu đường

Quản lý bệnh hen

Quản lý bệnh thần kinh

Quản lý bệnh loãng xương

Trang 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bán lẻ tại nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội

Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ:

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người bán lẻ đang hành nghề trong quá trình đi phỏng vấn tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người bán lẻ không đồng ý trả lời phỏng vấn hoặc những người bán lẻ nói

rằng chưa tốt nghiệp một trường đào tạo về Dược

- Nhà thuốc bệnh viện

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

❖ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2017 đến tháng 04/2018

❖ Địa điểm nghiên cứu: Một số nhà thuốc trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Long Biên, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy, Đống Đa - Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng phương pháp định tính và định lượng kết hợp (nghiên cứu kết hợp) để tìm hiểu nhận thức và sự đóng góp của người bán lẻ thuốc trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính Nghiên cứu định tính và định lượng sẽ được tiến hành song song nhằm cùng tìm hiểu thực trạng, nhận thức và đóng góp của người bán lẻ đối với hoạt động quản lý bệnh mạn tính Kết quả của nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng sẽ phân tích và phiên giải phối hợp với nhau

2.3.2 Thiết kế bộ câu hỏi

Trang 22

Nghiên cứu định lượng

Dựa trên tổng quan tài liệu, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi để khảo sát tại nhà thuốc Các câu hỏi được thiết kế dựa trên các nghiên cứu đã được công bố trước đó [18], [28], [42], [48] Bộ câu hỏi định lượng bao gồm 63 câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu hỏi theo thang điểm, câu hỏi đóng, câu hỏi

mở Bộ câu hỏi được tiến hành thử với 20 NBLT để đánh giá tính dễ hiểu, cách diễn đạt từ ngữ và được hiệu chỉnh lại trước khi điều tra chính thức Cấu trúc bộ câu hỏi bao gồm: (1) Thông tin chung về bệnh mạn tính tại nhà thuốc; (2) Các hoạt động của NBLT trong QLBMT; (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến NBLT tham gia vào QLBMT; (4) Thông tin về người tham gia phỏng vấn Bộ câu hỏi tự điền có cấu trúc (phụ lục 02)

2.3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định tính

Phương pháp chọn mẫu đa dạng tối đa (chọn các đối tượng khác nhau để thu được thông tin đa dạng) Các đối tượng được chọn để tiến hành phỏng vấn nghiên cứu định tính là: NBLT trình độ đại học (theo số năm kinh nghiệm: dưới 3 năm; từ 3 đến

10 năm; trên 10 năm), NBLT trình độ cao đẳng và NBLT trình độ trung cấp (dưới 3 và trên 3 năm kinh nghiệm)

Nghiên cứu định lượng

Tính cỡ mẫu: Sử dụng chỉ số là tỷ lệ người đã nghe nói tới khái niệm QLBMT tại nhà thuốc = tổng số người đã nghe nói tới khái niệm QLBMT tại nhà thuốc/tổng số người được phỏng vấn trả lời câu hỏi đó

- Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước lượng một tỉ lệ trong quần thể:

Z 2 (1 – α/2) x p x (1 – p)

n =

d 2 Với: n: Cỡ mẫu nghiên cứu (số lượng người bán thuốc cần khảo sát)

- p là tỷ lệ người đã nghe nói tới khái niệm QLBMT Kết quả pilot có p = 0,45

- d là khoảng sai lệch của tỷ lệ thực tế so với tỷ lệ ước đoán, chọn d = 0,09

- α: mức ý nghĩa thống kê Chọn α= 0,05 ứng với độ tin cậy 95%  Z=1,96

Áp dụng công thức trên, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là:

(1,96)2 x 0,45 x (1 – 0,45)

n = = 117 (người)

(0,09)2

Trang 23

Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 117 người tương đương 117 phiếu thu về

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện Ưu điểm của phương pháp này

là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối tượng, ở những nơi mà người điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng Người điều tra có thể lựa chọn phỏng vấn bất cứ đối tượng nào, nếu đối tượng từ chối trả lời, có thể chuyển sang đối tượng khác Do nghiên cứu hạn chế về nhân lực và thời gian nên phương pháp lấy mẫu thuận tiện là phương pháp được ưu tiên trong trường hợp này Thực hiện khảo sát trên 170 nhà thuốc, phiếu thu được về là 140 phiếu Trong đó có 47 chủ nhà thuốc/phụ trách chuyên môn và 92 nhân viên nhà thuốc

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu định tính

` Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn sâu bán cấu trúc theo chủ đề câu hỏi

đã chuẩn bị Nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn sâu khi nhận được sự đồng ý phỏng vấn Người phỏng vấn có thể thay đổi thứ tự câu hỏi hoặc đặt câu hỏi bổ sung thêm cho mục đích làm rõ Các cuộc phỏng vấn được ghi âm với sự cho phép của người phỏng vấn, các cuộc phỏng vấn đã được sao chép nguyên văn Phỏng vấn cho đến khi nào bão hòa dữ liệu và không có chủ đề mới xuất hiện Tổng 7 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện (3 cuộc với DSĐH, 2 cuộc với DSCĐ, 2 cuộc với DSTH)

Nghiên cứu viên tham gia thu thập số liệu định tính bao gồm hai người Một dược sĩ có kinh nghiệm 9 năm trong các lĩnh vực kinh doanh và giảng dạy về thiết kế nghiên cứu định tính và đã từng thực hiện phỏng vấn sâu Một người là sinh viên dược năm cuối đã được đào tạo những kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định lượng

Phương pháp thu thập số liệu: Điều tra, khảo sát

Nghiên cứu viên sẽ đến nhà thuốc để phát bộ câu hỏi cho NBLT đồng ý phỏng vấn Bộ câu hỏi được phát cho người tham gia phỏng vấn tự điền trực tiếp vào bộ câu hỏi, với những câu hỏi mà người phỏng vấn không hiểu sẽ được nghiên cứu viên giải thích Sau khi người tham gia phỏng vấn trả lời xong thì nghiên cứu viên sẽ thu lại bộ câu hỏi luôn Đối với người bán lẻ bận chưa thể trả lời được phiếu khảo sát thì nghiên cứu viên sẽ gửi lại phiếu khảo sát cho người bán lẻ và đến thu lại phiếu sau Sau đó bộ câu hỏi được rà soát, nếu có câu hỏi chưa được trả lời đầy đủ hoặc nghi vấn thì nghiên cứu viên sẽ hỏi lại người trả lời ngay để hoàn thiện

Trang 24

2.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Nghiên cứu định tính

Các dữ liệu thu thập sẽ được gỡ băng, mã hoá theo chủ đề và sử dụng phần

mềm Nvivo 7 để phân tích

Nghiên cứu định lượng

Xử lý làm sạch, nhập liệu: Số liệu được làm sạch và nhập vào phần mềm Epi

info 7 Các biến số trong thang 5 mức độ likert được đổi thành biến nhị phân (“Rất

không đồng ý” và “Không đồng ý” được mã hoá thành giá trị “Không”; “Rất đồng ý”,

“Đồng ý” được mã hoá thành “Có”; “Trung lập - không đồng ý hoặc không phản đối”

được mã hoá thành giá trị trống (missing)) Biến mức độ tự tin cũng được đổi thành

biến nhị phân (“Rất không tự tin” và “Không tự tin” được mã hoá thành giá trị “Không

tự tin”; “Rất tự tin”, “Tự tin” và ‘Trung bình” được mã hoá thành “Có tự tin”)

thuốc” và “nhân viên nhà thuốc” để so sánh quan điểm và ý kiến của 2 nhóm đối

tượng về hoạt động QLBMT tại nhà thuốc Chủ nhà thuốc ở đây được hiểu bao gồm cả

những người đứng ra đầu tư kinh phí để mở nhà thuốc và cả những người phụ trách

chuyên môn tại nhà thuốc hoặc chuỗi nhà thuốc

- Biến định tính: tính tần suất, tỷ lệ % Để so sánh giữa các nhóm “chủ nhà thuốc” và

“nhân viên nhà thuốc” sử dụng test khi bình phương khi tần số mong đợi ≥ 5, và sử

dụng Fisher’s exact test khi tần số mong đợi < 5

- Biến định lượng: tính giá trị trung bình, SD, min, max, trung vị, mode Sử dụng

Skewness - Kurtosis test để xác định phân bố chuẩn hay không chuẩn So sánh 2 nhóm

sử dụng Mann - Whitney test với phân bố không chuẩn và T test với phân bố chuẩn

Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu

Tất cả các biến số trong nghiên cứu đều được thu thập thông qua điều tra,

phỏng vấn Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu xem phụ lục 03

2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Danh tính của người tham gia phỏng vấn sâu hoặc khảo sát được bảo mật

Những thông tin và số liệu thu được sẽ chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Cam kết

về tính trung thực trong quá trình thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu

Trang 25

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thông tin chung về người bán lẻ thuốc tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu phát ra 170 phiếu thu về 140 phiếu Tỷ lệ phản hồi là 82,3% Trong

đó, có 1 phiếu không trả lời về vị trí làm việc tại nhà thuốc Đặc điểm chung của người bán thuốc tham gia nghiên cứu được mô tả trong bảng sau:

Bảng 3.1: Thông tin chung về người bán lẻ thuốc

P - value

3.2 Nhận thức của người bán lẻ về quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

Kết quả định lượng về nhận thức của người bán lẻ thuốc về quản lý bệnh mạn tính được trình bày ở bảng sau:

Trang 26

Bảng 3.2: Nhận thức của người bán lẻ về quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

n (%)

Chủ nhà thuốc,

n (%)

Tổng,

n (%)

P value

-Bệnh nhân không yêu cầu cung cấp

dịch vụ giúp QLBMT 20 (31,8) 12 (36,4) 32 (33,3) 0,649 Tôi muốn thực hiện hoạt động

Nhà thuốc không nhận được lợi ích

kinh tế khi thực hiện hoạt động này 18 (24,3) 18 (45,0) 36 (31,6) 0,023 Quản lý bệnh mạn tính không phải là

nhiệm vụ của NBLT 15 (19,2) 14 (35,0) 29 (24,6) 0,060 Nhà thuốc thực hiện hoạt động

QLBMT không mang lại nhiều hiệu

quả cho quá trình điều trị của BN

17 (24,3) 11 (29,7) 28 (26,2) 0,542

Nhà thuốc tham gia vào QLBMT

không giúp phát hiện sớm hơn các

vấn đề của bệnh nhân

19 (26,0) 14 (34,2) 33 (29,0) 0,359

Thực hiện hoạt động này không giúp

tăng mức độ hài lòng của bệnh

nhân/khách hàng với nhà thuốc

36 (48,0) 20 (51,3) 56 (49,1) 0,739

Chủ nhà thuốc không hài lòng khi

thực hiện hoạt động QLBMT 11 (14,9) 7 (18,9) 18 (16,2) 0,585 Chủ nhà thuốc không yêu cầu thực

hiện hoạt động này 18 (26,5) 13 (33,3) 31 (29,0) 0,451 Chưa có quy định yêu cầu/khuyến

khích cung cấp hoạt động này 29 (48,3) 29 (72,5) 58 (58,0) 0,016 Thực hiện một số hoạt động 28 (41,2) 18 (52,9) 46 (45,1) 0,260

Trang 27

QLBMT là vi phạm quy định

Bệnh nhân không có nhu cầu với

hoạt động QLBMT tại nhà thuốc 27 (44,3) 15 (41,7) 42 (43,3) 0,803

Bệnh nhân cảm thấy khó chịu khi

nhà thuốc yêu cầu hỗ trợ/tư vấn thêm 20 (29,0) 10 (26,3) 30 (28,0) 0,769 Tôi sẽ thực hiện hoạt động này khi

thấy cần thiết với bệnh nhân 66 (84,6) 36 (85,7) 102 (85,0) 0,872 Bệnh nhân đã nhận được sự giúp đỡ

từ các cán bộ y tế khác 52 (71,2) 30 (81,1) 82 (74,6) 0,263 Không phải là công việc ưu tiên 40 (58,8) 20 (58,8) 60 (58,8) 1,000 Không đủ thời gian 31 (41,9) 32 (80,0) 63 (55,3) 0,000

Thiếu hệ thống phần mềm + máy

tính cần thiết 31 (43,1) 24 (66,7) 55 (50,9) 0,021 Thiếu vốn để thực hiện 26 (34,7) 22 (64,7) 48 (44,0) 0,003

Tăng chi phí kinh doanh 23 (33,3) 26 (65,0) 49 (45,0) 0,001

Không đủ nhân lực 41 (54,0) 10 (25,6) 51 (44,4) 0,004

Không đủ không gian 26 (37,7) 18 (45,0) 44 (40,4) 0,453

Không có các tài liệu chuyên môn 30 (39,0) 22 (59,5) 52 (45,6) 0,040

Nhà thuốc khác không thực hiện 20 (32,8) 20 (62,5) 40 (43,0) 0,006

Thiếu kiến thức cần thiết 23 (34,3) 17 (38,6) 40 (36,0) 0,644 Thiếu kỹ năng cần thiết 26 (37,1) 15 (37,5) 41 (37,3) 0,970 Mức độ tự tin khi tư vấn 92 (100,0) 44 (93,6) 136 (97,8) 0,014

Cán bộ y tế khác không muốn sự

tham gia của NBLT trong QLBMT 20 (30,3) 18 (51,4) 38 (37,6) 0,037

3.2.1 Nhận thức yếu tố thúc đẩy người bán lẻ thuốc tham gia vào quản lý bệnh mạn tính

Bệnh nhân yêu cầu hoạt động QLBMT tại nhà thuốc cao

Theo đánh giá của NBLT, nhu cầu tư vấn ở bệnh nhân mạn tính thường cao hơn

so với các nhóm bệnh khác tại nhà thuốc do bệnh nhân phải điều trị bệnh lâu dài nên

muốn tìm hiểu về bệnh, thuốc để kiểm soát bệnh tốt hơn

Trang 28

“Bệnh mạn tính thì nhu cầu tư vấn cao hơn so với bệnh thông thường Vì họ xác định sống cả đời với nó nên họ cần những lời khuyên của người bán lẻ thuốc để giúp bệnh không bị tiến triển nhanh quá hoặc duy trì trạng thái tiến triển của bệnh.” -

DSĐH1

Kết quả định lượng cũng cho thấy phần lớn bệnh nhân mạn tính đến nhà thuốc

có nhu cầu và yêu cầu người bán lẻ thuốc tư vấn Chỉ có và 33,3% bệnh nhân không yêu cầu người bán lẻ cung cấp các dịch vụ giúp quản lý bệnh mạn tính Ngoài ra, nghiên cứu định tính cũng cho thấy một số các yếu tố khác thúc đẩy người bệnh mạn tính đến nhà thuốc để yêu cầu các hoạt động QLBMT

Nhà thuốc có những lợi thế để thực hiện hoạt động quản lý bệnh mạn tính

Người bán lẻ thuốc sẵn sàng giúp đỡ (thái độ tích cực)

Thái độ của người bán lẻ thuốc khi tham gia vào các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ cho bệnh nhân mạn tính đều rất tích cực Kết quả nghiên cứu định lượng cũng cho thấy thái độ của người bán lẻ thuốc với hoạt động quản lý bệnh mạn tính là tích cực 95,5% muốn và có dự định thực hiện hoạt động này; 92,6% người bán lẻ tham gia phỏng vấn

sẽ tiếp tục thực hiện các hoạt động này Họ sẵn sàng giúp đỡ bệnh nhân mặc dù không được nhận lợi ích về kinh tế trực tiếp ngay Tuy nhiên, thực tế thông qua hoạt động này nhà thuốc sẽ có thêm những khách hàng quen và trung thành, từ đó có thêm lợi ích kinh doanh Do đó, chỉ có 31,6% người bán lẻ thuốc cho rằng nhà thuốc không nhận được lợi ích kinh tế khi thực hiện các hoạt động này

“Không có ngại gì cả cái chuyện lợi nhuận hay không lợi nhuận gì cả Thật ra

bọn chị cũng rất muốn giúp đỡ, trong cái việc giúp đỡ đấy thì chị giao tiếp được nhiều, rất tốt cho cái việc kinh doanh của bọn chị, chứ không phải là cứ phải ra tiền luôn là bọn chị mới thích đâu.” - DSĐH3

Chính vì thái độ của người bán thuốc nên người bệnh cảm giác thoải mái khi hỏi để nhận được tư vấn từ người bán lẻ hơn bác sĩ cũng là những yếu tố thúc đẩy khách hàng đến nhà thuốc

“Người ta đến nhà thuốc mình nó gần, thân thiện.” - DSTH1

Nhà thuốc tư vấn chi tiết, nhiệt tình hơn bác sĩ

Vì nhà thuốc thường không đông bệnh nhân như ở bệnh viện nên NBLT có thể

tư vấn chi tiết hơn cho bệnh nhân khiến cho bệnh nhân có thể có kiến thức và hiểu biết tốt hơn về vấn đề sử dụng thuốc

Trang 29

“Khách hàng khi đi khám về thì họ vào hỏi cách sử dụng thì mình tư vấn nhiệt

tình Ở bệnh viện đông thì bác sĩ cũng không ghi chi tiết.” - DSTH1

Có nhiều thời gian dành cho bệnh nhân hơn, không mất thời gian chờ đợi

Theo người bán lẻ thuốc đánh giá, một đặc điểm khác cũng là ưu điểm khiến

cho nhiều bệnh nhân tìm đến nhà thuốc là thường nhà thuốc có thể dành nhiều thời gian để tư vấn cho bệnh nhân hơn

“Bây giờ đến bác sĩ người ta đâu có thời gian tiếp các cụ nhất là bệnh viện

công, bệnh viện tư thì không nói như Vinmex thì tốt, có thể chia sẻ nhiều hơn Bệnh viện công thì các cụ khám bảo hiểm, không có thời gian Thì đấy là lợi điểm khiến các

cụ thích ra nhà thuốc.” - DSĐH2

“Người ta hỏi cái gì cũng được, chứ đến bác sĩ phải chờ đợi, chầu trực rồi hỏi không dám hỏi.” - DSTH1

Nhà thuốc gần, thuận tiện đi lại

Nhà thuốc có mặt ở khắp mọi nơi và khách hàng thường đến nhà thuốc gần nhà

để có thể nhanh chóng nhận được những lời tư vấn cần thiết từ người bán lẻ thuốc

“Người ta đến nhà thuốc mình vì nó gần.” - DSĐH3

Dịch vụ được cung cấp miễn phí

Hiện nay, người bán lẻ cho rằng các hoạt động hỗ trợ quản lý bệnh mạn tính tại

nhà thuốc đều được cung cấp miễn phí

“Người già người ta thích nhất bởi vì đó là những hoạt động không thu phí, đa

số là miễn phí hết.” - DSTH1

Về phía người bán lẻ thuốc

Nhận thức được về vai trò của mình trong QLBMT

Nhiều người bán lẻ thuốc cũng đã nhận thức được vai trò của mình trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính Chỉ có 24,6% người bán lẻ thuốc cho rằng đây không phải là nhiệm vụ của họ

Nhận thức về lợi ích khi thực hiện hoạt động này

✓ Mang lại lợi ích cho bệnh nhân

Người bán lẻ cho rằng người bán lẻ thuốc tham gia vào quản lý bệnh mạn tính

sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân giúp bệnh nhân có thêm kiến thức về thuốc điều trị, bệnh và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân

Trang 30

“Có thể đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Bệnh nhân được theo dõi thường

xuyên thì họ sẽ biết được sức khoẻ của mình tốt hay xấu và mình đưa ra lời khuyên để tiến trình điều trị tốt hơn.” - DSĐH1

Nghiên cứu định lượng cũng cho thấy chỉ có 26,2% NBLT cho rằng bệnh nhân không nhận được lợi ích khi người bán lẻ thuốc tham gia vào hoạt động này Hầu hết người bán lẻ thuốc cho rằng điều này sẽ giúp phát hiện sớm hơn các vấn đề của người bệnh Chỉ có 29,0% NBLT cho rằng hoạt động QLBMT không giúp phát hiện sớm hơn các vấn đề của người bệnh

✓ Mang lại lợi ích cho dược sĩ: Tăng cường kiến thức chuyên môn

Người bán lẻ cho rằng việc tham gia vào hoạt động này cũng giúp dược sĩ có thêm kiến thức chuyên môn liên quan đến các bệnh mạn tính đặc biệt là về bệnh học thông qua việc học và tư vấn cho bệnh nhân

“Biết về chuyên môn sâu hơn.” - DSĐH3

✓ Mang lại lợi ích cho nhà thuốc

• Khách hàng thêm gắn bó, có thêm khách hàng mới, có lợi ích về kinh tế

Người được phỏng vấn cũng cho rằng bên cạnh những lợi ích cho bệnh nhân, dược sĩ thì nhà thuốc cũng nhận được những lợi ích như khách hàng thêm gắn bó với nhà thuốc và có thêm những khách hàng mới Chỉ có 31,6% nhà thuốc cho rằng mình không nhận được lợi ích kinh tế khi tham gia vào hoạt động này và 49,1% NBLT đồng

ý rằng thực hiện hoạt động QLBMT không giúp tăng mức độ hài lòng cho bệnh nhân

“Nếu nhà thuốc làm được điều đó thì chắc chắn bệnh nhân rất tin tưởng và gắn

bó với nhà thuốc Họ sẽ giới thiệu với những người khác để tăng thêm nguồn khách hàng cho nhà thuốc.” - DSĐH1

• Xây dựng văn hoá cho nhà thuốc

Người bán lẻ thuốc cũng rất quan tâm đến hoạt động này và đánh giá nếu thực hiện được điều này sẽ rất tốt cho kinh doanh lâu dài, giúp xây dựng văn hoá nhà thuốc

“Xây dựng văn hoá từ bạn trước đến bạn sau để hỗ trợ khách hàng đấy cũng là

xây dựng uy tín Cái đấy (quản lý bệnh mạn tính) mình nên, mình kinh doanh lâu dài.”

- DSĐH2

Kết quả nghiên cứu định lượng cũng cho thấy chủ nhà thuốc thường hài lòng khi nhân viên thực hiện các hoạt động này và khuyến khích họ làm Chỉ có 16,2% cho

Trang 31

rằng chủ nhà thuốc không hài lòng khi họ thực hiện các hoạt động này và 29,0% cho rằng chủ nhà thuốc không yêu cầu họ thực hiện các hoạt động này

3.3.2 Nhận thức yếu tố rào cản với người bán lẻ thuốc tham gia vào quản lý bệnh mạn tính

Về phía luật pháp

Chưa có quy định trong văn bản

Theo nhận định của người bán lẻ thuốc, vai trò của dược sĩ cộng đồng trong quản lý bệnh mạn tính trên thế giới đã được khẳng định tuy nhiên hiện nay trong các văn bản pháp lý đều chưa có đề cập đến vai trò của họ trong quản lý bệnh mạn tính

Do đó, họ rất khó để tham gia vào nhiều hoạt động trong quản lý bệnh mạn tính

“Người bán lẻ thuốc trên thế giới có tham gia vào quản lý bệnh mạn tính Tuy

nhiên, trên thế giới cách hoạt động nó khác Người ta làm được nhiều, mình không làm được là do cơ chế chứ không phải không muốn làm.” - DSĐH3

Người bán lẻ thuốc chưa được phép tiếp cận với hồ sơ bệnh nhân

Người bán lẻ thuốc hiện nay chưa tiếp cận được hồ sơ bệnh nhân, thiếu thông tin lâm sàng cần thiết để có thể hỗ trợ cho bệnh nhân

“Quản lý của nhà nước mình chưa thành một kênh chính thống, mình chưa có quyền quản lý hồ sơ bệnh cũng như bệnh nhân Mình cũng không nắm được cái bệnh nhân đấy người ta cần gì ở mình và mình có thể làm gì cho người ta.” - DSĐH3

Nghiên cứu định lượng cũng cho thấy 58,0% NBLT đánh giá yếu tố chưa có quy định pháp luật yêu cầu/khuyến khích nhà thuốc cung cấp các hoạt động QLBMT

là rào cản khiến người bán lẻ thuốc không tham gia và hoạt động QLBMT, ở nhóm chủ nhà thuốc có tỷ lệ đồng ý với tiêu chí này cao hơn ở nhóm nhân viên nhà thuốc và

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Chưa có quy định về phối hợp giữa người bán lẻ thuốc và bác sĩ để QLBMT

Người bán lẻ cũng cho rằng chưa quy định về sự phối hợp giữa người bán lẻ thuốc và bác sĩ như thế nào nên NBLT cũng không biết và không thể làm để tham gia

vào trong hoạt động này

“Bọn chị chưa có liên hệ với các bác sĩ, các bệnh viện, các phòng mạch Nói chung chung là phối hợp giữa người bán lẻ thuốc với bác sĩ thì với quy chế như bây giờ thì không biết phối hợp như nào.” - DSĐH3

Trang 32

Một số hoạt động liên quan đến quản lý bệnh mạn tính đang vi phạm quy định hiện nay

Một số hoạt động như đo huyết áp, thử tiểu đường cho bệnh nhân tại nhà thuốc theo nhận thức của người bán lẻ là không được phép thực hiện tại Việt Nam Kết quả định lượng cho thấy 45,1% người bán lẻ thuốc đồng ý rằng thực hiện một số hoạt động QLBMT nhà thuốc đã vi phạm quy định hiện nay

“Mình hoạt động về dược, không hoạt động về y Mấy cái đó (đo huyết áp, tiểu đường) là thuộc về y Bên dược là họ cấm.” - DSCĐ2

Về phía bệnh nhân

Bệnh nhân không có nhu cầu

Nhiều bệnh nhân không có nhu cầu với những dịch vụ mà người bán lẻ thuốc mang lại, có 43,3% người bán lẻ thuốc đồng ý với quan điểm bệnh nhân không có nhu cầu với các hoạt động quản lý bệnh mạn tính, họ đến nhà thuốc mua thuốc và chỉ muốn mua nhanh chóng để về Thậm chí có 28,0% người bán lẻ thuốc cho rằng bệnh nhân còn cảm thấy khó chịu khi người bán lẻ thuốc thực hiện hỗ trợ/tư vấn thêm Nên người bán lẻ cũng không có cơ hội thực hiện những hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc mà chỉ thực hiện được với bệnh nhân nào có nhu cầu Có 85,0% NBLT cho rằng sẽ chỉ thực hiện hoạt động này khi thấy cần thiết với bệnh nhân

“Có nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, mong muốn của họ cũng khác

nhau, có người đi khám về chỉ muốn mua đúng cái đơn này Tất nhiên mình cũng cung cấp thuốc theo đơn họ chứ không có chuyện là khách hàng nào mình cũng nói ra rả Nhưng nếu khách hàng thực sự mong muốn tìm hiểu cái bệnh của mình và cái thuốc điều trị thế nào, uống thuốc ra sao, uống trước hay sau ăn, uống với thời điểm thế nào thì mình mới tư vấn.” - DSĐH2

Lý giải cho điều này thì người bán lẻ thuốc cho rằng bệnh nhân thường đã sử

dụng thuốc đó nhiều lần nên họ cũng đã quen và biết sử dụng các thuốc đó rồi

“Một số người thì quá quen rồi thì họ không cần Họ đã uống từ rất lâu rồi.” -

DSCĐ1

Cho rằng bệnh nhân đã nhận được sự tư vấn từ cán bộ y tế khác và QLBMT

là vai trò, trách nhiệm của bác sĩ

Khi được hỏi về nhiệm vụ của người bán lẻ thuốc trong hoạt động QLBMT thì nhiều người bán lẻ nghĩ rằng phải là kê đơn thuốc cho bệnh nhân sử dụng, phải nắm

Trang 33

được và quản lý thông tin bệnh nhân thì mới tham gia vào QLBMT Vì vậy, họ cho rằng đó không phải là trách nhiệm của NBLT mà là trách nhiệm của bác sĩ

“Khi bệnh nhân đi khám thì phải gặp bác sĩ, mình chỉ là người tư vấn thuốc và

hướng dẫn sử dụng thuốc, chứ mình không thể nào quản lý người ta được, còn bác sĩ

họ sẽ có trách nhiệm quản lý bệnh nhân Mình chỉ là người nhắc nhở lại một lần nữa thôi.” - DSTH1

Kết quả nghiên cứu định lượng cũng cho thấy yếu tố bệnh nhân đã nhận được

sự giúp đỡ về QLBMT từ các cán bộ y tế khác là rào cản lớn khiến người bán lẻ không thực hiện các hoạt động này tại nhà thuốc với tỷ lệ chọn là 74,6%

Trong QLBMT thì người bán lẻ thuốc chỉ có trách nhiệm, nhiệm vụ là tuân thủ theo đơn của bác sĩ ghi và theo họ điều này cũng được quy định trong luật Khi có vấn

đề gì trong sử dụng thuốc thì NBLT sẽ hỏi lại, làm rõ các thông tin với người kê đơn

“Bệnh mạn tính thì người ta dùng toàn thuốc chuyên khoa rồi Dược sĩ thì thực

hiện đúng luật yêu cầu đấy, mình không tự ý thay đổi được, mình theo đơn của bác sĩ thôi Có gì chưa đúng lắm thì mình hỏi lại bác sĩ.” - DSĐH1

Bệnh nhân thiếu nhận thức về vai trò của người bán lẻ thuốc trong hoạt động QLBMT

Theo đánh giá của người bán lẻ thuốc, nhiều bệnh nhân chưa nhận thức được vai trò của người bán lẻ thuốc trong

QLBMT, họ chưa nhận thấy được lợi ích khi NBLT tham gia vào các hoạt động này

“Người ta chưa coi những hoạt động y tế như vậy đem lại lợi ích cho người ta.” - DSĐH3

Kết quả định tính còn cho thấy một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc tham gia

vào hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

Bệnh nhân không mua thuốc ở một nhà thuốc cố định

Do bệnh nhân không mua thuốc cố định tại một nhà thuốc nên việc người bán

lẻ thuốc theo dõi, giám sát tiến triển bệnh của khách hàng hay giám sát quá trình sử dụng thuốc của bệnh nhân rất là khó

“Bệnh nhân nay mua nhà thuốc này, mai mua nhà thuốc khác nên mình không

thể nào mà theo dõi được Mình không bắt buộc được người ta là cứ có bệnh, cứ có thuốc là đến nhà mình, cái đấy mình không bắt buộc được.” - DSĐH3

Trang 34

Bệnh nhân nghĩ đến tiêu cực trong kinh doanh

Để thực hiện được hoạt động này thì rất cần sự liên kết giữa bác sĩ và bệnh nhân đến khám rồi đến mua thuốc ở một nhà thuốc nhất định Nhưng với thực trạng hiện nay nếu bác sĩ kê đơn và yêu cầu bệnh nhân đến một nhà thuốc nào đó để mua thuốc thì bệnh nhân lại nghĩ đến những vấn đề tiêu cực trong kinh doanh

“Bệnh nhân A chẳng hạn, bác sĩ khám bác sĩ bảo là nên đến nhà thuốc này nhà

thuốc kia mua thì người ta lại nghĩ ngay tới tiêu cực hay cái gì đấy.” - DSĐH3

Bệnh nhân không muốn cung cấp thông tin cá nhân

Một khó khăn nữa để nhà thuốc hiện nay có thể tham gia vào trong hoạt động quản lý là thường bệnh nhân không sẵn sàng cung cấp thông tin cá nhân cho người bán

lẻ thuốc để theo dõi được Việc không có được các thông tin cần thiết từ phía bệnh nhân sẽ rất khó cho người bán lẻ thuốc thực hiện các hoạt động này

“Không phải ai người ta cũng sẵn sàng cung cấp cho thông tin, nào là địa chỉ,

nào là số điện thoại, nào là tình trạng bệnh ra làm sao, tên tuổi Bản thân người ta cũng không muốn cái việc đấy.” - DSĐH3

Về phía người bán lẻ/nhà thuốc

Chưa coi hoạt động QLBMT là công việc cần làm, ưu tiên tại nhà thuốc

Người bán lẻ thuốc có thái độ tích cực, mong muốn được thực hiện những hoạt động quản lý bệnh mạn tính nhưng họ chưa xếp hoạt động này vào hoạt động ưu tiên

phải thực hiện ở nhà thuốc Mức độ quan tâm của họ là “bình thường”

“Mức độ quan tâm cũng bình thường.” - DSĐH1

Có 58,8% người bán lẻ thuốc tham gia nghiên cứu định lượng cũng đồng ý với nhận định này Vì cho rằng bệnh nhân đã có bác sĩ tư vấn, thực hiện hoặc cho rằng một

số hoạt động như đo huyết áp thì bệnh nhân đều đã có máy đo huyết áp tại nhà rồi hoặc sẽ tìm đến các nơi khác như trạm y tế để đo nên nhà thuốc không cần thực hiện

“Bình thường bệnh nhân mạn tính thì thường sẽ vào bệnh viện để khám lại

hàng tháng thì thường bác sĩ sẽ có sổ bệnh nhân, sổ theo dõi hàng tháng ở trong bệnh viện Còn sự theo dõi ở trong nhà thuốc em nghĩ cũng không cần thiết lắm Em thấy bây giời hầu như nhà nào cũng có máy đo huyết áp rồi.” - DSĐH1

“Người ta sẽ ra trạm y tế để đo vì ở trạm y tế có cái đo thủy ngân thì nó sẽ

chính xác hơn.” - DSCĐ1

Trang 35

Nhà thuốc bận, thiếu thời gian

55,3% người bán lẻ thuốc cho rằng nhà thuốc thiếu thời gian Khi so sánh giữa

2 nhóm thì nhóm chủ nhà thuốc đánh giá thiếu thời gian với tỷ lệ cao hơn và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Công việc tại nhà thuốc theo chia sẻ của người được phỏng vấn là nhiều, những công việc phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh đã chiếm

hết thời gian của họ NBLT chia sẻ họ thấy công việc tại nhà thuốc như là “con mọn”

“Người bán lẻ thuốc còn trăm thứ bà rằng Đủ mọi thứ Như là con mọn, kiểu

buôn đồng nát Việc gì cũng phải làm, việc gì cũng phải lo.” - DSĐH3

Vì có quá nhiều việc phải thực hiện nên tham gia vào hoạt động quản lý bệnh mạn tính chưa được xếp vào là công việc ưu tiên tại nhà thuốc, là công việc phải thực hiện Và bản thân NBLT cũng không còn đủ thời gian, đủ sức để làm thêm việc đó

“Khối lượng công việc hiện nay của bọn chị cũng không còn đủ thời gian và

sức để mà làm những cái đó.” - DSĐH3

Thiếu hệ thống phần mềm giúp theo dõi bệnh nhân mạn tính

Các nhà thuốc hiện chưa có hệ thống phần mềm để theo dõi, quản lý bệnh nhân,

tỷ lệ này là 50,9% theo kết quả khảo sát

“Bọn chị không được theo dõi một cách có hệ thống.” - DSĐH3

Thiếu kinh phí

Gần một nửa người bán lẻ thuốc cho rằng nhà thuốc thiếu vốn để thực hiện những hoạt động này (chiếm 44,0%) và 45,0% người bán lẻ thuốc cho rằng tăng các chi phí kinh doanh của nhà thuốc khi thực hiện các hoạt động QLBMT Tỷ lệ các yếu

tố này ở nhóm chủ nhà thuốc đều cao hơn nhóm nhân viên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Theo người bán lẻ, muốn thực hiện các hoạt động đấy cho bệnh nhân thì để đảm bảo không quá tải công việc, họ sẽ cần phải tuyển thêm nhân viên, có nhân lực để thực hiện những hoạt động này Như vậy nhà thuốc sẽ mất thêm chi phí khi thực hiện nhưng những hoạt động này lại thường là miễn phí, không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp, trước mắt Do vậy, họ cần phải cân bằng giữa chi phí và lợi ích đạt được

“Chị cũng phải có nhân lực rồi là nguồn kinh phí” - DSĐH3

“Sao cũng phải cân đối với việc kinh doanh.” - DSĐH2

Trang 36

Thiếu nhân lực, thiếu nhân lực có trình độ hoặc đào tạo

44,4% nhà thuốc cho rằng họ thiếu nhân lực để thực hiện hoạt động này Chủ nhà thuốc thường rất khó để tìm được nhân viên có trình độ đại học vì rất ít người tốt nghiệp đại học dược ra trường đi bán thuốc Nhân lực tại nhà thuốc cũng không ổn

định Nhiều người sau khi có kinh nghiệm thường ra ngoài để kinh doanh riêng

“Dược sĩ đại học là bọn chị không có Mà có muốn nhận vào thì các bạn ấy cũng không muốn làm đâu.” - DSĐH3

“Nhân sự không ổn định, nhà thuốc nào cũng vậy thôi vì công việc nó vất vả,

có được những người tâm huyết với mình thì không có được mấy đâu.” - DSĐH3

Thiếu không gian trong nhà thuốc

Nghiên cứu định lượng cho thấy thiếu không gian cũng có thể là yếu tố rào cản khiến người bán lẻ không tham gia vào hoạt động QLBMT tại nhà thuốc 40,4% NBLT cho rằng họ thiếu không gian tại nhà thuốc để thực hiện hoạt động này

Về tài liệu, kiến thức chuyên môn

45,6% NBLT thiếu nguồn tài liệu chuyên môn về vấn đề liên quan đến bệnh mạn tính Nhóm chủ nhà thuốc cho rằng thiếu nguồn tài liệu nhiều hơn nhóm nhân

viên nhà thuốc, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Thiếu nguồn tài liệu mang tính chính thống bằng tiếng Việt

Người bán lẻ thuốc cũng chia sẻ rằng họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, nguồn thông tin để cập nhật kiến thức Người bán lẻ chưa biết đến nguồn tài liệu nào hữu ích và chính thống cho nhà thuốc, còn những người đã biết được đến nguồn tài liệu chính thống thì họ lại cho rằng các tài liệu đó đều bằng tiếng Anh và ở trang web nước ngoài, nên họ gặp khó khăn về ngôn ngữ để tiếp nhận các nguồn kiến thức

đó hoặc không tiện để tra cứu nhanh

“Mới tìm hiểu qua google thôi Chính thống thì em không biết Hồi xưa khi làm

khóa luận tốt nghiệp thì em cũng biết mấy trang ở trên thế giới chính thống Nó chính xác, nhưng nhiều lúc mình tìm hiểu thông tin nó vội thì mình tìm trực tiếp trang tiếng Việt luôn.” - DSĐH1

Tài liệu thiếu cập nhật

Những tài liệu chính thống như hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế đôi khi còn chưa cập nhật với thực tế sử dụng thuốc và không phải người bán lẻ nào cũng biết về tài liệu hướng dẫn điều trị chuẩn do Bộ Y tế ban hành

Trang 37

“Bộ Y tế cũng chưa cập nhật được thêm đâu Mình cũng phải tham khảo các nguồn thông tin khác.” – DSĐH2

Các nhà thuốc khác cũng không thực hiện hoạt động QLBMT

Do vấn đề kinh doanh và cạnh tranh nhau nên thường các nhà thuốc ở Việt Nam nếu thấy nhà thuốc này thực hiện mà mang lại lợi ích thì các nhà thuốc khác vì cạnh tranh để tồn tại sẽ cũng phải thực hiện theo Tạo hiệu ứng lan truyền và lan toả đến các nhà thuốc khác

“Kiểu nhà thuốc mình làm được thì những nhà thuốc khác cũng làm như thế để

cạnh tranh.” - DSĐH1

Do đó, hiện chỉ có một số nhà thuốc thực hiện hoạt động QLBMT cũng là yếu

tố rào cản khiến nhà thuốc khác không thực hiện hoạt động này Có 43,0% các nhà thuốc cho rằng các nhà thuốc khác cũng không thực hiện và cung cấp dịch vụ này

Thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên môn

Bệnh mạn tính là một bệnh điều trị lâu dài, chuyên khoa nên kiến thức của NBLT cần chuyên sâu để có thể tư vấn cho khách hàng Tuy nhiên, người bán lẻ thuốc nói chung vẫn thiếu những kiến thức chuyên môn sâu, thậm chí cả những NBLT đã có nhiều năm kinh nghiệm vẫn chia sẻ rằng họ thiếu kiến thức chuyên sâu về thuốc, về bệnh mạn tính và họ mong muốn được đào tạo thêm những kiến thức còn thiếu đó Tuy nhiên, kết quả định lượng cho thấy yếu tố này không phải là rào cản quá lớn khiến người bán lẻ thuốc không tham gia vào hoạt động này, chỉ có 36,0% NBLT thừa nhận

họ thiếu kiến thức và 37,3% NBLT thiếu kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động QLBMT Tỷ lệ người bán lẻ thuốc tự tin khi tư vấn cho bệnh nhân là 97,8%

“Thiếu kiến thức về mặt chuyên môn, chuyên môn sâu, về mặt bệnh học, thậm

chí cả về thuốc nữa Vì thuốc bây giờ dùng những thế hệ rất là mới, kết hợp hai ba thành phần với nhau, nhiều khi có những từ chuyên môn mình đọc cũng không được hiểu rõ lắm và mình nghĩ là cái bệnh nó rất là nguy hiểm và dùng thuốc lâu dài, sử dụng trên những bệnh nhân cao tuổi, nhiều bệnh phối hợp nữa Mình đứng lâu rồi Mình học, mình đọc mà mình thấy còn thiếu.” - DSĐH3

“Kiến thức thì em chưa chắc đâu Mình chỉ biết khuyên chung chung thôi chứ

chưa cụ thể từng bệnh, huyết áp thì nó khác so với tiểu đường như nào.” - DSĐH1

Trang 38

3.3 Đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính

Bảng dưới đây mô tả các hoạt động mà người bán lẻ đã thực hiện được trong QLBMT tại nhà thuốc, và các hoạt động mà nhà thuốc cho rằng có thể thực hiện được tại nhà thuốc:

Bảng 3.3: Các hoạt động QLBMT đã và có thể thực hiện tại nhà thuốc

Nội dung

Nhân viên,

n (%)

Chủ nhà thuốc, n (%)

22 (24,4)

37 (78,7)

11 (23,4)

103 (74,6)

27 (29,4)

37 (78,7)

10 (21,3)

97 (70,3)

40 (85,1)

8 (17,0)

102 (73,4)

32 (34,8)

32 (68,1)

13 (27,7)

82 (59,0)

46 (51,1)

16 (34,0)

27 (58,7)

42 (30,2)

32 (34,8)

32 (68,1)

16 (34,0)

82 (59,0)

45 (48,9)

11 (23,4)

35 (74,5)

42 (30,2)

40 (43,5)

19 (40,4)

26 (55,3)

49 (35,3)

44 (48,4)

13 (27,7)

31 (66,0)

39 (28,1)

25 (27,2)

35 (74,5)

8 (17,0)

81 (58,3)

27 (29,4)

31 (66,0)

13 (27,7)

82 (59,0)

36 (39,1)

18 (38,3)

24 (51,1)

51 (36,7)

41 (44,6)

18 (38,3)

23 (50,0)

54 (38,9)

64

Trang 39

Hỗ trợ bệnh nhân

phân chia liều thuốc

71 (77,2)

15 (16,3)

40 (85,1)

5 (10,6)

111 (79,9)

32 (35,2)

30 (63,8)

15 (31,9)

73 (52,5)

47

Phân chia, phân loại thuốc cho bệnh nhân

Nhiều bệnh nhân mạn tính là người cao tuổi Họ thường mắc nhiều bệnh và chăm đi khám nhưng lại không biết rõ về các thuốc được cấp phát Chính vì vậy, họ thường đến nhà thuốc và nhờ người bán lẻ thuốc phân chia từng loại thuốc ra giúp họ

và hướng dẫn cách sử dụng NBLT hỗ trợ giúp phân chia ra từng nhóm thuốc thậm chí

có NBLT còn giúp phân chia từng liều sử dụng trong ngày và ghi rõ liều nào uống buổi chiều, liều nào uống buổi sáng vào túi hoặc dụng cụ phân chia liều của các cụ Tỷ

lệ NBLT đã thực hiện được hoạt động này chiếm tỷ lệ cao nhất là 79,9%

“Các cụ rất hay đi khám, tích nhiều thuốc khác nhau trong một cái bọc, không

biết thuốc nào với thuốc nào Dù người ta không mua thuốc nhà mình, đem lên hỏi thì chị cũng rất cẩn thận, ghi từng mẩu giấy dán gộp chung từng loại thuốc lại Ví dụ thuốc này là long đờm, ghi lại rõ cách sử dụng.” - DSĐH2

“Mình phải ghi chi tiết cho khách hàng liều dùng, sáng - chiều như nào Có

khách phải gói riêng từng bữa cho người ta Người ta không biết loại nào với loại nào Người ta vẫn thích gói riêng, bữa nào uống bữa ấy cho nó tiện hơn.” - DSTH1

Những hoạt động này không phải lúc nào nhà thuốc cũng thực hiện Nhà thuốc chỉ thực hiện khi thấy bệnh nhân không thể thực hiện được hoặc không có người chăm sóc Do họ sợ vi phạm về những quy định pháp lý Mặc dù, những hoạt động họ làm trong nhiều trường hợp là hoàn toàn để giúp đỡ bệnh nhân mà không tính phí Một lý

do khác mà nhà thuốc lo sợ khi thực hiện hoạt động này là nếu với thuốc đã cắt lẻ ra như vậy thì sẽ không thể nhận lại được khi bệnh nhân vì lý do nào đó mà muốn trả lại

“Nhà chị không phân chia thuốc trừ những cụ nào mà yếu quá hoặc không có

người chăm sóc mới phải ấy thôi Chứ các cụ ra được đến đây rồi thì các cụ cũng rất

là tinh thông rồi Mà chính cái phân chia thuốc ấy nói chung là có người hiểu đúng,

có người hiểu không đúng Việc phân chia thuốc sẽ cắt mất cái phần tên thuốc rồi hạn dùng.” - DSĐH3

Ngày đăng: 29/06/2018, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w