1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điểm tương đồng và khác biệt trong đời sống vật chất và tinh thần của người thái ở thái lan và người thái ở tây bắc việt nam

69 425 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách tương đối hệ thống những vấn đề cơ bản thể hiện những nét tương đồng và khác biệt do quá trình phát triển lịch sử nhằm góp phần tăng cường sự hiểu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI THÁI Ở THÁI LAN

VÀ NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội

Sơn La, 5/2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI THÁI Ở THÁI LAN

VÀ NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM

Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học xã hội

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Khánh Linh Nữ, Dân tộc: Kinh Lớp: K56 ĐHSP Lịch sử B Khoa: Sử - Địa

Ngành học: Sư phạm Lịch sử

Năm Thứ: 03 / Số năm đào tạo: 4

Sinh viên chịu trách nhiệm: Nguyễn Khánh Linh

Người hướng dẫn: TS Lường Hoài Thanh

Sơn La, 5/2018

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐƠN VỊ: Khoa Sử -Địa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Mẫu 13 Thông tin kết quả nghiên cứu của đề tài

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa: Sử - Địa

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Điểm tương đồng và khác biệt trong đời sống vật chất và tinh thần

của người thái ở Thái Lan và người Thái ở tây bắc Việt Nam”

- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Khánh Linh

- Lớp: K56 ĐHSP Lịch sử B Khoa: Sử - Địa Năm thứ: 3 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: TS Lường Hoài Thanh

2 Mục tiêu đề tài:

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

3 Tính mới và sáng tạo: ………

.……….

………

………

… ………

…… ………

……… ………

………… ………

Trang 4

4 Kết quả nghiên cứu:

………

………

………

………

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài: ………

………

………

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có): ………

………

………

Ngày tháng năm 2018 Sinh viên chịu trách nhiệm chính (Ký và ghi rõ họ, tên) Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày tháng năm 2018

Xác nhận của Khoa Người hướng dẫn

(Ký và ghi rõ họ, tên)

Trang 5

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Khoa: Sử - Địa

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Khánh Linh

Sinh ngày: 20 tháng 08 năm 1997

Nơi sinh: Đoan Hùng – Phú Thọ

Lớp:.K56 ĐHSP Lịch sử B Khóa: 2015- 2019

Khoa: Sử - Địa

Địa chỉ liên hệ: Tổ 2 – P Quyết Tâm - TP Sơn La

Điện thoại: 01629.367.904 Email: linhnguyen20897@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập và nghiên cứu, được sự giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Lường Hoài Thanh, đến nay đề tài nghiên cứu của em đã hoàn thành Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến cô giáo, Tiến sĩ Lường Hoài Thanh đã bỏ nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức cũng như kinh nghiệm và tư liệu trong suốt quá trình chúng em thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, em xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thư viện Tỉnh Sơn La, Trung tâm Thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện tốt nhất để em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2018

Người thực hiện Nguyễn Khánh Linh

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI THÁI VÀO ĐÔNG NAM Á 6

1.1 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Thái 6

1.1.1 Nguồn gốc của người Thái 6

1.1.2 Quá trình di cư của người Thái 8

1.2 Quá trình di cư vào Thái Lan của cư dân nhóm Thái 10

CHƯƠNG 2 NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT GIỮA NGƯỜI THÁI Ở THÁI LAN VÀ NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM 13

2.1 Chế độ hôn nhân và gia đình 13

2.2 Bản mường và truyền thống xã hội 18

2.3 Ẩm thực và trang phục truyền thống 23

2.3.1 Ẩm thực 23

2.3.2 Trang phục truyền thống 25

2.4 Nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt trong đời sống vật chất của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam 28

CHƯƠNG 3 : NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI THÁI Ở THÁI LAN VÀ NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC VIỆT NAM 31

3.1 Lễ hội truyền thống 31

3.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 36

3.3 Ngôn ngữ, chữ viết, văn học 41

Trang 8

3.4 Nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt trong đời sống tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam 48

PHẦN KẾT LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng nguồn gốc với các cộng đồng ngữ hệ Thái thế giới Địa bàn cư trú các cộng đồng ngữ hệ Thái tạo nên mảng lãnh thổ liền nhau từ đảo Hải Nam (Trung Quốc), qua miền Nam và Tây Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Lào, Thái Lan, Đông Bắc và Bắc Myanma, qua bang Assam của Ấn Độ, cho đến Tây Bắc Campuchia và Bắc Malayxia Các cộng đồng thuộc ngữ hệ Thái thế giới gồm khoảng hơn trăm triệu dân Trong đó, vương quốc Thái Lan chiếm khoảng trên sáu mươi triệu người Ở Lào, các tộc người Lào Lum đều thuộc ngữ hệ Thái, có khoảng 3 triệu dân Ngoài ra, người thuộc ngữ hệ Thái còn là dân tộc thiểu số có dân số khá đông và tạo nên dải lãnh thổ liền khu ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á của thế giới

Người ta chia cộng đồng ngữ hệ Thái này thành hai ngành lớn: Ngành phía Đông và ngành phía Tây Sự phân chia đại quát đó phản ảnh một thực tế các cộng đồng ngôn ngữ này đã chịu tác động lớn của hai nền văn hoá khổng lồ: Trung Hoa (Phía Đông) và Ấn Độ (Phía Tây) Mặc dù phân chia như vậy, nhưng trong sinh hoạt, tập quán canh tác, ngôn ngữ giao tiếp, văn học dân gian vẫn còn gần như là một Họ vẫn có thể hiểu nhau và dễ đồng cảm với nhau mỗi khi

có điều kiện tiếp xúc sau ít thời gian đầu bỡ ngỡ

Điều đó nói lên rằng, các cộng đồng này dù đã phân chia sâu sắc như ngày nay, nhưng đã có cùng một nguồn gốc Hơn thế, các cộng đồng cùng nguồn gốc này đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài tồn tại và phát triển chung với nhau và giao lưu giữa họ vẫn còn tiếp tục kéo dài cho đến ngày nay

Người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Việt Nam vốn là những người anh em gần gũi từ lâu đời Tuy vậy, do những điều kiện phát triển lịch sử khác nhau, môi trường sống khác nhau nên họ đã có những bước phát triển khác biệt

Dù sao, những đặc điểm cơ bản của hai tộc người này vẫn còn là những nét chung của họ Lâu nay, do những điều kiện lịch sử, sự hiểu biết lẫn nhau giữa những người anh em này – người Thái Lan và người Thái Việt Nam còn rất hạn chế Với mục đích tìm lại những sự gần gũi vốn có giữa hai tộc người anh em,

Trang 10

chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách tương đối hệ thống những vấn đề cơ bản thể hiện những nét tương đồng và khác biệt do quá trình phát triển lịch sử nhằm góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai tộc người Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam nói riêng cũng như giữa hai dân tộc Thái Lan và Việt Nam nói riêng

Trước sự phát triển của xã hội, phong tục của người thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam đều có những sự chuyển biến rõ rệt Vì thế, việc nghiên cứu đánh giá về sự khác biệt cũng như tương đồng của dân tộc thái

ở Thái Lan và dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam là việc làm hết sức khách quan,

có ý nghĩa khoa học và thực tiễn; góp phần lưu giữ và phát triển vẻ đẹp trong đời sống vật chất và tinh thần của hai dân tộc anh em; tạo ra cái nhìn toàn cảnh

về văn hóa Thái trong khu vực cũng như thấy được yếu tố “thống nhất trong đa dạng”

Vì vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Điểm tương đồng và khác biệt trong

đời sống vật chất và tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

+ Công trình “Tìm hiểu văn hoá Thái Lan” của các tác giả Ngô Văn

Doanh, Quế Lai, Vũ Quang Thiện của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1991 Đây là một tập hợp nghiên cứu về nhiều khía cạnh của văn hoá Thái Lan như cuộc sống và phong tục, ngôn ngữ và chữ viết, nghệ thuật, sân khấu, trong đó các tác giả đã dành một phần không nhỏ giới thiệu tổng quan về tôn giáo, tín ngưỡng của người Thái Lan và trình bày khái quát về sự phát triển qua các thời kì, trong đó có vương triều Ayutthaya

+ Tác phẩm “Tìm hiểu lịch sử - văn hoá Thái Lan”, Tập 1, Viện Nghiên

cứu Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Tác phẩm là một công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về nhiều lĩnh vực của lịch sử Thái Lan như khảo cổ học, dân tộc học, văn học, lịch sử, tôn giáo, chính sách của chính phủ Thái Lan đối với kinh tế, nền dân chủ và sự hội nhập của người Thái Đáng chú ý nhất là các bài viết “Đôi điều đồng nhất và khác biệt giữa người

Trang 11

Thái Lan và người Thái Việt Nam” của tác giả Hữu Ưng; “Phật giáo Thái Lan

và những nét tương đồng với Phật giáo Việt Nam”, “Các ngôn ngữ nhóm Thái”,

“Văn hóa Thái Lan qua các triều đại từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX” của tác giả Quế Lai; “Tượng Phật Thái Lan” của nhà nghiên cứu Trần Thị Lý Dù không nhiều và không trực tiếp nói đến giai đoạn Ayutthaya

+ Công trình “Lịch sử Thái Lan” do hai tác giả Phạm Nguyên Long,

Nguyễn Tương Lai thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á làm đồng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1998 Đây là một công trình nghiên cứu về đất nước và con người cũng như sự phát triển lịch sử của Thái Lan từ thời kì tiền

sử và sơ sử cho đến những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX Tác phẩm gồm có bốn phần với bốn chương, trong đó lịch sử và văn hóa - xã hội Ayutthaya được trình bày tại Phần II, chương II của tác phẩm

+ Tác phẩm “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” của tác giả Cầm Trọng,

của Viện Dân Tộc Học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978 Tác phẩm này của tác giả Cầm Trọng là một công trình nghiên cứu khái quát về các mặt văn hóa – kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam Những vấn đề mấu chốt mà tác giả nêu lên trong tác phẩm này là những nét lớn về cơ cấu kinh

tế - xã hội cổ truyền, yếu tố chủ yếu đã kiến tạo nên cộng đồng Thái

+ Tác phẩm “Văn hóa dân gian Thái Lan” của tác giả Phya Anuman

Rajadhon, Viện Đông Nam Á, Nxb Văn Hóa, Hà Nội, 1988 Tác phẩm này của ông đã phác họa lên một bức tranh văn hóa dân gian Thái Lan trên nhiều mặt: văn hóa, ngôn ngữ và văn học, chuyện dân gian, phật giáo, nghi lễ nghi thức…

Nhìn chung, dù ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, một cách chi tiết cụ thể hay khái quát, ở mảng này hay mảng kia hoặc xem xét một cách toàn diện… thì đời sống vật và tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cũng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trên cơ sở tham khảo những công trình nói trên, trong đề tài này tác giả đã cố gắng trình bày một cách khái quát và có hệ thống về đời sống vật chất và tinh thần cảu người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam trong tương quan so sánh nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt cũng như nguyên nhân của sự giống

Trang 12

và khác đó

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích và đóng góp của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống vật chất và tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

3.4 Đóng góp của đề tài

- Trình bày những nét đặc trưng cơ bản trong đời sống vật chất và tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

- Chỉ ra những nét tương đồng cũng như khác biệt trong đời sống tinh thần

và vật chất của người Thái

- Lý giải được nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt trong đời sống vật chất và tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

- Góp phần cung cấp nguồn tư liệu cho việc tìm hiểu lịch sử địa phương, đặc biệt là đi tìm hiểu văn hóa

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, đối chiếu, tổng hợp, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu…

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm 3 chương :

Chương 1: Nguồn gốc và quá trình di cư của người Thái vào Đông Nam Á

1.1 Khái quát về khu vực Đông Nam Á

Trang 13

1.2 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Thái

Chương 2: Điểm tương đồng và khác biệt trong đời sống vật chất của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

2.1 Chế độ hôn nhân và gia đình

2.2 Bản mường và truyền thống xã hội

2.3 Ẩm thực và trang phục truyền thống

2.4 Nguyên nhân sự tương đồng trong đời sống vật chất của người Thái

ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Chương 3: Điểm tương đồng và khác biệt trong đời sống tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

3.1 Lễ hội truyền thống

3.2 Tín ngưỡng, tôn giáo

3.3 Ngôn ngữ, chữ viết, văn học

3.4 Nguyên nhân sự khác biệt trong đời sống tinh thần của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI THÁI

VÀO ĐÔNG NAM Á 1.1 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Thái

1.1.1 Nguồn gốc của người Thái

Dân tộc Thái thuộc ngành phía Tây của nhóm các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày - Thái (tên tộc người chính xác là Tai, Tay, Táy và những biến âm như: Thay, Tháy, Dáy, Đài, Kađai…) Khu vực sinh sống của họ được phân bố ở các vùng thung lũng dọc theo các con sông lớn từ Nam sông Dương Tử đến Mêkong, Mênam, Iraoady, sông Hồng, trong khu vực Bắc Đông Dương tạo thành một “vành đai” khổng lồ kéo dài từ phía Đông đến phía Tây Assam của

Ấn Độ Theo nhiều nhà nghiên cứu, lịch sử của các nhóm tộc người nói tiếng Thái đã diễn biến theo quy luật không ngừng “định cư” nhưng cũng không ngừng “di cư” Trải qua nhiều thế kỉ, các điểm di cư ban đầu đã phát triển và lớn mạnh, trở thành những trung tâm lớn và những điểm tụ cư ban đầu đó được coi

là “vùng đất tổ” Người Thái đã tạo ra không phải một mà nhiều “vùng đất tổ” trong lịch sử hàng ngàn năm của mình Tuy nhiên, sớm hơn cả và được coi là địa bàn cư trú đầu tiên của tổ tiên tộc người Thái là một vùng miền rộng lớn từ miền Vân Nam Trung Quốc cho đến Mường Theng (Mường Thanh) Việt Nam

Kí ức về “vùng đất tổ” này đã được lưu truyền trong dân gian và trong sử sách của người Thái nhiều nơi, được nhiều nhà nghiên cứu xem xét, khẳng định Năm

1967, trong công trình Lịch sử Lào của tác giả M.L.Mannich Jumsai đã dành hẳn một chương cho việc tìm hiểu về lịch sử khởi nguồn của người Thái

“Người ta nghĩ rằng, quê hương đầu tiên của người Thái là ở vùng núi Altai Lúc đó họ chưa được gọi bằng cái tên này Họ dần dần di chuyển về phía Nam lưu vực sông Hoàng Hà và sau đó là sông Trường Giang, vào khoảng 5000 năm TCN Lịch sử của người Thái trước khi họ đến Vân Nam ở phía Nam Trung Quốc thì rất mơ hồ và họ được cho là đã hình thành hai vương quốc ở phía Bắc của tỉnh Tứ Xuyên gọi là vương quốc của Lung (bác) và vương quốc của Pa (chú) Người Hán tràn xuống và tấn công họ lần nữa và chỗ họ đến tiếp theo là Ngiou Ngiou được thành lập vào năm 212 TCN Điểm định cư tiếp theo là

Trang 15

Pegnain (bây giờ là Puerhfu – Phổ Nhĩ – gần hồ Nhĩ Hải, trung tâm Nam Chiếu sau này) Người Thái lúc này được gọi chung là: Ngai lao (Ailao) [7; tr11]

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu của các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng… cũng đều khẳng định quê hương tổ tiên của người Thái ở vùng Vân Nam và Mường Theng Quê hương đầu tiên của người Thái, Lào và người Lự trước khi di cư vào Đông Dương là ở miền “chín con sông gặp nhau” tức là miền các con sông Hồng (Nặm Tao), sông Đà (Nặm Tè), sông Mã (Nặm Ma), sông Mekong (Nặm Khoong), sông Nặm Na, Nặm U và ba con sông chưa rõ tên ở Trung Quốc “Tổ tiên xưa của người Thái đã từng sinh sống ở các mường (tức các khu vực, các “nước”) như Mường Ôm,Mường Ai, Mường Lò, Mường Hỏ, Mường Bo - te, Mường Ốc, Mường Ác, Mường Tum Hoàng Hiện nay các tên đất này đã được xác định đều ở miền Vân Nam hiện nay Đáng chú ý

là còn có cả Mường Then hay Mường Theng tức miền Điện Biên Phủ hiện nay Xưa Mường Then có lẽ rộng hơn bao gồm Mường Tè, sông Mã ở Tây Bắc Việt Nam và một phần tỉnh Phong - sa - lỳ thuộc nước Lào nữa” [16; tr31] Cho đến đầu Công nguyên, người Thái đã cư trú quần tụ trên địa bàn khá rộng ở vùng Đông Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương Đợt thiên di đầu tiên của người Thái xuống bán đảo Đông Dương diễn ra vào năm 69 TCN Tuy nhiên, sự di cư của người Thái giai đoạn này mới diễn ra hết sức lẻ tẻ, yếu ớt Người Thái mới chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong khu vực Đông Nam Á lục địa Trong quá trình di

cư, với khao khát tự do, tìm miền đất sinh sống mới, những cư dân có nguồn gốc

từ Tây và Tây Bắc Trung Quốc mới tự gọi mình là người Thái (Thái, Tay hay Táy nghĩa là “tự do”) Theo Phya Anuman Rajadhon, tên “Thái” bắt đầu xuất hiện và được biết đến vào khoảng đầu công nguyên [8; tr10] Đến thế kỉ V sau công nguyên, người Thái đã lập được một loạt nhà nước suốt từ miền thượng lưu sông Iraoady, sông Salouen, sông Mêkong và tới tận miền giáp giới tỉnh Vân Nam, Thượng Lào và miền Tây Bắc Việt Nam Những nhà nước này nối liền với khu vực người đồng tộc của họ ở miền Lưỡng Quảng, Quý Châu, Hồ Nam và miền Việt Bắc Việt Nam Với xuất phát điểm là vùng Tứ Xuyên, Lưỡng Quảng của Trung Quốc và một phần Tây Bắc Việt Nam, do sự xâm lấn và mở rộng lãnh

Trang 16

thổ của người Hán nên người Thái đã phải di cư dần xuống phía Nam Chúng tôi cho rằng, những bằng chứng khảo cổ cũng như những ghi chép của chính tộc người Thái tại các địa bàn sinh tụ với các tác phẩm như “Quắm tố mương” (Chuyện kể bản mường), hay “Táy pú xấc” (Những bước đường chinh chiến của cha ông) đã góp phần khẳng định những nhận định này là hoàn toàn chính xác Người Thái ở bất cứ đâu trong khu vực đều muốn tìm tới Mường Lò (Văn Chấn

- Yên Bái) trước khi quay về Mường Phạ (Mường trời) Người Thái ở bất cứ đâu

cũng hẹn ngày gặp lại với dấu hiệu nhận biết chính là những chiếc “khau cút” ở đầu hồi mỗi mái nhà sàn hay ao sen “noong bua” ở đầu mỗi bản

1.1.2 Quá trình di cư của người Thái

Khi các tiểu quốc của người Thái được thành lập, họ đã phải không ngừng

di chuyển để tìm kiếm những vùng đất mới Họ di cư do nhiều nguyên nhân: Có thể họ bị người Hán tấn công, tàn phá nên phải bỏ vùng quê tổ; cũng có thể, họ

di cư tới những vùng đất còn ít người cư trú để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn vì từ Thái có nghĩa là “tự do” Tự do nghĩa là không bị phụ thuộc, họ mong muốn xây dựng cho mình những vương quốc độc lập, tự lực phát triển Vì thế, người Thái đã bắt đầu di cư về phía bán đảo Trung Ấn Trước khi tìm được những vùng cư trú thuận lợi ở các vùng đồng bằng, sông, hồ, người Thái di cư

đã phải trải qua một con đường dài gian truân vượt qua núi, đồi, sông ngòi, hang động, những khu rừng rậm rạp phải bảo vệ người, của cải và chống lại những cuộc tấn công của các bộ tộc địa phương Người Thái di cư từng đoàn lớn có thủ lĩnh dẫn đầu Đoàn kị binh đi đầu tìm đường và báo tin khi có nguy hiểm Sau đến các chiến binh cởi trần, đội mũ sắt và mặc quần da Tay trái cầm áo giáp bằng da, tay phải mang kiếm, đinh ba hay giáo mác Sau đội quân chủ đạo đó đến thủ lính, quý tộc và những chiến binh danh tiếng, rồi đến đoàn voi chiến và đội cận vệ của thủ lĩnh Cuối cùng là một đoàn xe dài trâu, ngựa hai bánh chở gạo và đồ ăn thức dùng Trong các xe có vợ con quý tộc, người già và trẻ em Còn những người khác đi bộ Trong quá trình di cư ấy, một bộ phận cư dân đã bị đồng hóa theo người Hán, còn đa số họ vẫn duy trì và gìn giữ được những phong tục tập quán của dân tộc mình, nhất là tín ngưỡng tôn thờ thần linh ma quỷ Thế

Trang 17

kỉ VII được coi là mốc đánh dấu sự phát triển kinh tế xã hội của người Thái bên cạnh nhóm người Di (Yi - Thoán), LôLô của vương quốc Nam Chiếu Người Thái có nhu cầu mở rộng địa bàn cư trú, tìm những vùng đất mới thuận lợi hơn

để làm ăn sinh sống về phương Nam dưới tác động lịch sử của vương quốc này Đến thế kỉ XII - XIII, lợi dụng sự suy yếu của Nam Chiếu, đặc biệt là sự tấn công của nhà Nguyên, người Thái tiếp tục tràn xuống phía Nam, ngoài ra còn Bắc tiến Rõ ràng, các nhóm dân tộc Thái ở giáp bốn nước Việt Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Lào mạnh dần cùng với sự suy yếu của quốc gia Nam Chiếu - Đại Lý Từ đây, lịch sử người Thái chia thành nhiều nhóm lan tỏa khác nhau xuống Đông Nam Á và không còn chỉ ở trong phạm vi một nước duy nhất Có

lẽ, nhiều nhóm Thái nhỏ đã di cư xuống Đông Nam Á từ những thế kỉ trước, nhưng những đợt thiên di lớn, mạnh mẽ nhất bắt đầu diễn ra từ thế kỉ IX đến thế

kỉ X Kết quả là, đến thế kỉ X - XI đã hình thành ở Bắc Miến một vùng quần cư của người Thái (gọi là Shan, Maa hay Pong) Đến năm 1215, một vương quốc

cổ của người Thái tên là Mogaung ra đời ở phía Bắc Bhamo ở Thượng Miến Năm 1223, một vương quốc cổ của người Shan được thành lập Năm 1229, một vương quốc khác là Assam của người Ahom ở phía Đông Ấn Độ cũng xuất hiện

và tồn tại cho đến năm 1842 thì được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ thuộc Anh Theo nhiều con đường, người Thái tiếp tục đi về phía nam, đến cư trú chủ yếu ở vùng thượng lưu Chaophraya, trung và thượng lưu Mêkong (Thái Lan, Lào hiện nay) Đợt thiên di vào khu vực này của họ có thể bắt đầu từ thế kỉ VII, VIII nhưng được gia tăng mạnh mẽ vào thế kỉ XI, XII Bởi những năm cuối thế kỉ XI

- XII, tình hình khu vực có nhiều chuyển biến đáng chú ý: Vương quốc Môn Haripunjaya bắt đầu suy yếu; đế chế Angkor sau khi Jayavarman VII qua đời (năm 1201) cũng giảm sút và thu hẹp dần ở Nậm U, Nậm Ngừm (Bắc Lào ngày nay), cao nguyên Khòrạt và cả ở đồng bằng Mênam Trong khi đó ở Trung Quốc, nhà Tống đã suy, chỉ còn triều đình Nam Tống, lại luôn bị nước Kim o

ép Nhà Tống phải tăng cường kiểm soát và bóc lột cư dân miền Nam, trên lưu vực Tây Giang để cố duy trì vương triều Tống, bảo đảm việc cống nạp cho nước Kim và các chi phí khác

Trang 18

1.2 Quá trình di cƣ vào Thái Lan của cƣ dân nhóm Thái

Người Thái bắt đầu di cư vào Thái Lan ngày nay từ thế kỉ VIII và được đẩy mạnh trong các thế kỉ XII, XIII Vào nửa đầu thế kỉ XIII đã diễn ra một sự kiện lớn ở vùng cận biên phía Nam xứ Vân Nam Tiểu quốc của người Thái ở vùng Megaung phía bắc Bhamo có lẽ đã được thành lập vào năm 1215, tiểu quốc Moné hay Mương Nai trên một chi hữu ngạn sông Salween vào năm 1223

và vùng Assam đã bị thôn tính vào năm 1229 Chính vào khoảng thời điểm này, các thủ lĩnh người Thái vùng Chiang Rung và Ngoenyang (di chỉ Chiang Saen) trên thượng lưu sông Mêkong đã liên kết lại với nhau qua những cuộc hôn nhân giữa con cái của họ D.E.G Hall nhận định: “Người Thái chưa bao giờ ngừng di chuyển Họ cứ từ từ, rất từ từ thâm nhập theo các con sông và các lưu vực của miền Trung Đông Dương Các nhóm nhỏ người Thái định cư giữa những người Khmer, người Môn và người Myanma Những lính đánh thuê người Thái cũng

đã xuất hiện trên các bức khắc nổi của đền Angkor Vát Trước đó từ rất lâu, họ

từ các lưu vực sông Salween và Mêkong đi vào lưu vực sông Mênam ở phía Bắc Raheng, nơi giao nhau của hai con sông Me’ping và Mewang một quốc gia độc lập của người Thái tên là Payao đã ra đời vào đầu năm 1096” [Hall] Ở khu vực miền Trung Thái Lan, trong thung lũng Mênam đã có một số nơi cư trú của người Thái Ban đầu, họ là những nhóm thiểu số rồi dần phát triển thành những công quốc bán độc lập dưới quyền cai trị của đế chế Khmer vào khoảng thế kỉ XII sau Công nguyên Người Thái ở miền Trung Thái Lan được gọi là Thái Nọi tức là Thái nhỏ để phân biệt với người Shan ở Miến Điện là Thái Yai hay Thái lớn Đến thế kỉ XII, người Thái đã định cư ở vùng đồng bằng hạ lưu Chaophraya (với sự thỏa thuận của các vị vua Khmer) Khi đã tìm được những nơi cư trú thích hợp, trước tiên, người Thái dựng nên những khu định cư kiên cố có giao thông hào và hàng rào bằng gỗ, có nhà ở cho thủ lĩnh, quý tộc và đội cận vệ, sau

đó dựng các chùa chiền, đền miếu, cung điện (có lẽ do ảnh hưởng việc tiếp thu văn hóa của các tộc người tại đây như người Môn, người Khmer) Song không

dễ dàng gì mà người Thái có thể làm chủ ngay được trên vùng đất này, bởi trước khi người Thái di cư đến thì đây đã là địa bàn cư trú khá lâu đời của người Môn

Trang 19

Tuy nhiên, với khả năng thích ứng cao, người Thái đã dần thâm nhập vào địa bàn cư trú của người Môn, sống xen kẽ một cách hòa bình với cư dân bản địa; hoặc chiếm lĩnh những miền đất mà người Môn chưa khai phá tới để lập nên những tiểu quốc của riêng mình Thế kỉ XI, các nhà nước của người Môn và người Thái trên lưu vực sông ChaoPhraya bị người Khmer thống trị Thủ lĩnh các Mường Thái không đủ sức tồn tại độc lập hoặc mở rộng lãnh địa của mình, thường phải tuyên thệ trung thành với các vua Pagan hay Angkor Song khát vọng tự chủ, mong muốn tự do đã một lần nữa tạo ra sức mạnh giúp cho chính người Thái chứ không phải là người Môn đến trước nổi dậy đấu tranh chống lại ách thống trị của người Khmer: “Người nông dân Thái đã phải trả thuế bằng máu, chiến đấu dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ quân sự của mình Chiến đấu chống quân xâm lược là một nghĩa vụ và quyền lợi của họ và không có một quyền lợi công dân nào khác có thể so sánh được” Năm 1253, việc Hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt đánh chiếm Nam Chiếu đã gây ra một “sự sôi sục” mạnh hơn nữa với người Thái Chính quyền nhà Nguyên đã thi hành chính sách

“chia để trị” truyền thống và ủng hộ việc thiết lập một loạt các quốc gia của người Thái để chống lại chính quyền cũ Điều này đã giúp các thủ lĩnh người Thái tại khu vực sông Chaophraya nổi lên giành chính quyền, thôn tính các tiểu quốc của người Môn và đã xây dựng nên vương quốc Thái thống nhất đầu tiên tại khu vực Chaophraya, mở đường cho sự toàn thịnh của người Thái tại khu vực này vào giai đoạn sau Tóm lại, người Thái từ vùng Vân Nam Trung Quốc

đã thiên di xuống khu vực Đông Nam Á theo nhiều đợt khác nhau, rõ nét nhất là

từ thế kỉ VII, VIII từ quốc gia Nam Chiếu và sau đó là đợt di cư mạnh mẽ vào thế kỉ XI, XII từ nhà nước Đại Lý, dưới sức ép của triều đình nhà Tống, đặc biệt

là dưới sức mạnh quân sự của nhà Nguyên Quá trình di cư của người Thái gắn liền với quá trình cộng cư, phát triển một cách thịnh vượng và vững chắc trong

sự đan xen với các tộc người khác, hình thành các vương quốc cổ của tộc người trong suốt một dải ở khu vực Đông Nam Á lục địa, nên nhiều nhà nghiên cứu còn gọi giai đoạn lịch sử này là “thế kỉ của người Thái” Quá trình di cư của người Thái cũng là quá trình mà người Thái từ một gốc ngôn ngữ và văn hóa

Trang 20

chung - văn hóa cội nguồn, dần dần vỡ ra để hình thành nên các nhóm địa phương cũng như những cộng đồng tộc người khác ở khu vực Đông Nam Á Hai

bộ phận người Thái định cư tại Lào và Thái Lan đã phát triển thành hai quốc gia dân tộc Ngược lại, các bộ phận còn lại của tộc người Thái sau khi hoàn thành quá trình tụ cư, định cư và di cư lan tỏa đã dừng lại trong trạng thái tổ chức Bản Mường rồi gia nhập thành dân tộc thiểu số của các quốc gia khác Thái như trường hợp ở Việt Nam, Trung Quốc, Miến Điện, Ahom… trong khoảng từ thế

kỉ XIV trở về sau Thông qua quá trình nghiên cứu và dựa trên những cứ liệu lịch sử mà các học giả đưa ra, chúng tôi nhận thấy: Người Thái là một nhóm tộc người lớn, có nguồn gốc phát tích từ vùng núi Altai đến Tứ Xuyên, Lưỡng Quảng của Trung Quốc từ những thế kỉ trước công nguyên Khi người Hán bắt đầu bành trướng và mở rộng lãnh thổ, người Thái đã buộc phải di dân về phía Nam Họ di cư vì nhiều nguyên nhân nhưng chắc chắn sự bành trướng của người Hán khiến những người yêu tự do như người Thái với số lượng và tiềm lực kém hơn buộc phải di chuyển Người Thái từ một “vùng quê tổ” ban đầu đã lan tỏa đi nhiều hướng khác nhau và “vùng quê tổ” ấy được xác định không chỉ có trên lãnh thổ Trung Quốc mà còn có một phần của vùng lòng chảo Điện Biên kéo dài tới Sơn La sang Nghĩa Lộ

Tóm lại, ngay từ khi xuất hiện, người Thái đã là một phần dân tộc của khu vực Đông Nam Á Vì vậy mà, sự di cư giai đoạn sau này dễ dàng hơn và sớm xuất hiện các mường lớn vì họ đã có một nền tảng, tiền đề từ trước đó Người Thái vào Đông Nam Á lục địa đã mang theo một “luồng sinh lực mới” vào khu vực, đã từng bước làm thay đổi diện mạo khu vực Đông Nam Á trước đó Từ những nhóm người lẻ tẻ, họ đã trở thành thành phần cư dân chính và là chủ nhân của một trong những vương quốc phát triển hùng mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á lục địa là Sukhothai, Ayutthaya cho đến vương quốc Thái Lan ngày nay Ayutthaya chính là giai đoạn tồn tại nhà nước góp phần đưa Siam trở thành nhà nước phong kiến tập quyền phát triển đỉnh cao trong khu vực Không những thế, vương quốc này còn góp phần tạo ra những cơ sở, tiền đề to lớn cho

sự phát triển của vương quốc Thái Lan sau này

Trang 21

CHƯƠNG 2 NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT GIỮA NGƯỜI THÁI Ở THÁI LAN VÀ NGƯỜI THÁI Ở TÂY BẮC

VIỆT NAM

Người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam từ thời xa xưa đến nay vốn là những người anh em gần gũi từ lâu đời Tuy vậy, do những điều kiện phát triển lịch sử khác nhau, môi trường sống khác nhau nên người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam đã có những bước phát triển khác biệt Nhưng dù vậy hai dân tộc này vẫn có những đặc điểm cơ bản, về nguồn gốc họ vẫn có rất nhiều điểm tương đồng Với mục đích tìm lại sự gần gũi vốn

có của hai tộc người anh em này, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách tương đối hệ thống những vấn đề cơ bản thể hiện những nét tương đồng nhất và khác biệt do quá trình phát triển lịch sử nhằm góp phần làm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai tộc người

2.1 Chế độ hôn nhân và gia đình

Chế độ hôn nhân và gia đình là một trong những yếu tố quan trọng phản ánh trình độ phát triển xã hội của một tộc người Ở người Thái Lan cũng như người Thái ở Tây Bắc Việt Nam vẫn tồn tại cơ bản chế độ hôn nhân tự do giữa trai và gái dựa trên những luật tục truyền thống đã ăn sâu vào tâm tư tình cảm của mỗi người dân Thái Thí dụ như trai gái được tự do yêu đương nhưng không được vi phạm những luật tục về hôn nhân của dòng họ

Người Thái ở Thái Lan gọi chàng rể là “chạo báo” hoặc đơn giản là báo

Từ “báo” có nguồn gốc thuần Thái, nguyên nghĩa là một người đàn ông trẻ, đặc biệt là người nam độc thân Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cũng gọi những chàng trai chưa vợ là “báo” hoặc “phủ báo” Với những chàng trai đã nhiều tuổi

mà chưa vợ thì được thêm từ “thẩu’, tức “báo thẩu”, có nghĩa là chàng trai đã già Các cô gái chưa chồng thì được gọi là “sao’ hay “phủ sao”

Cơ hội để trai gái tiếp xúc, tìm hiểu nhau là các dịp lễ hội hầu như diễn ra suốt năm trong đó phần lễ hội, tức những sinh hoạt vui chơi giải trí là dịp để trai gái làm quen với nhau Đặc biệt tâm lí dễ dãi, thông cảm, thoải mái của các bậc cha mẹ, người thân để trai gái gặp gỡ nhau trao đổi tâm tình đã tạo điều kiện cho

Trang 22

trai gái dễ dàng tìm đến nhau Bên cạnh đó, những sinh hoạt văn nghệ dân gian như “Hạn Khuống” của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam hoặc các hình thái giao duyên khác cũng góp phần cho trai gái Thái dễ dàng thổ lộ tình cảm với nhau Tóm lại quan niệm trai gái tự do tìm hiểu, yêu đương là quan điểm, tâm lí chủ đạo trong đạo lí của người Thái Nó khác hẳn với quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” của lễ giáo phong kiến Từ quan điểm cơ bản đó dưa đến quan niệm về giá trị của người phụ nữ trong xã hội Thái cũng khác hẳn, mang đầy tính nhân đạo

Điều đặc biệt quan trọng trong quan hệ hôn nhân – gia đình là chế độ hôn nhân Theo Phya Anuman Rajadhon “Cơ cấu gia đình Thái theo song hệ với một

hệ thống ngoại hôn trong đó người đàn ông phải đi lấy vợ ở một gia đình làng khác” [8, tr25] Chế độ hôn nhân này của người Thái Lan về cơ bản đồng nhất với chế độ hôn nhân của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam nhưng về chi tiết lại

có những nét khác biệt hẳn Điều khác biệt lớn nhất là tục cư trú bên nhà vợ và tục thừa kế của người con gái út Điều này cho thấy tàn dư của quan hệ mẫu hệ còn rất nặng nề ở người Thái Lan mặc dù quan hệ phụ hệ và vai trò chủ yếu của người đàn ông trong gia đình đã được xác lập Chính điều đó nói lên chế độ hôn nhân – gia đình song hệ ở Thái Lan Khác với người Thái Lan, quan hệ song hệ của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam lại nặng về phụ hệ hơn Tàn dư của quan hệ mẫu hệ chỉ biểu hiện ở tục ở rể mà theo luật tục được quy định từ 3-12 năm (ở thời phong kiến, hiện nay thì thời gian này ngắn hơn tùy điều kiện) và tâm lí thích ở bên nhà vợ cũng như sự gắn bó với bên ngoại (vợ) của các chàng rể Thái Ngoài ra, quan hệ phụ hệ đã được xác lập một cách vững chắc với mối quan hệ tông tộc, dòng họ theo cha một cách rõ rệt Ngược lại, quan hệ dòng họ của người Thái Lan chỉ được xác lập trên văn bản cách đây chưa đầy một thế kỷ (1916) Có thể những nhóm người Thái cổ, tổ tiên của người Thái Lan hiện nay

vì di cư từ lâu và ít chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hán nên đã chuyển sang quan hệ phụ hệ một cách vững chắc, còn quan hệ mẫu hệ chỉ còn lại những tàn

dư tuy vậy vẫn còn đậm nét Nhiều tài liệu cho thấy có thể người Thái ở Tây Bắc Việt Nam đã có quan hệ từ trước khi thiên di vào Việt Nam như khái niệm

Trang 23

về tông tộc của mình cho dù chỉ là năm bảy đời (đẳm và vả)

Tóm lại, về quan hệ hôn nhân, tuy cả hai nhóm Thái ở Thái Lan và Thái Thái ở Tây Bắc Việt Nam đều tồn tại quan hệ hôn nhân song hệ nhưng ở người Thái Lan lại nặng về quan hệ mẫu hệ Ngược lại, quan hệ phụ hệ lại được xác lập tương đối vững chắc ở người Thái ở Tây Bắc Việt Nam Tuy vậy, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam lại tồn tại chế độ hôn nhân thuận chiều khép kín, một tàn dư của quan hệ thị tộc, hơn thế nữa nó còn tàn dư của quan hệ thị tộc mẫu

hệ Mối quan hệ hôn nhân này được biểu hiện ở mối quan hệ Ải Noọng - Lúng ta – Nhính xao của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Ải noọng là những thành viên trai, nhất là anh em trai ruột được gọi là Ải noọng Họ là gốc của một dòng họ, đúng hơn là một tông tộc Ngoài Ải noọng

tức anh em ruột là Ải noọng huôm pú còn có Ải noọng huôm pẩu (pẩu: cụ) hoặc

Chủm Ải mú noọng huôm pẩu tức anh em con chú con bác Ải noọng không

được quyền quan hệ hôn nhân với nhau mà mỗi thành viên của Ải noọng chỉ

được quan hệ hôn nhân với một tông tộc, một họ khác

Lúng ta: bao gồm những thành viên hai bên họ vợ, họ mẹ Đại diện cho

lúng ta là ông cậu Vai trò của ông cậu nói riêng của lúng ta nói chung rất được

coi trọng trong đời sống thường ngày của người dân Thái ở Tây Bắc Việt Nam như giải quyết xích mích trong gia đình, đặt tên cho con, dựng cợ gả chồng, chia tài sản thừa kế, v.v… Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có câu : “Thà bỏ anh em,

chớ bỏ ông cậu” (chua váng lúng, váng ta, chí váng pì noọng) Điều đó nói lên

vai trò quan trọng của ông cậu, của lúng ta trong gia đình Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Nhính xao: Bao gồm những thành viên nhà chồng của chị em cùng họ, tức

anh em đồng hao theo quan niệm của người Kinh Quan hệ này đối lập với lúng

ta vì khi đã cùng nhính xao thì cho dù là các họ khác nhau nhưng cũng không được lấy con gái của nhau vì họ đã được coi là anh em cùng mẹ với nhau (chị

em gái) Điều này chứng tỏ tàn dư của quan hệ mẫu hệ còn rất đậm nét Quan hệ này trái ngược với quan hệ con dì con già của người Kinh vì con dì con già của người Kinh còn có quyền lấy nhau

Trang 24

Mối quan hệ hôn nhân thuận chiều khép kín này vừa bảo vệ quyền phụ hệ vừa bảo tồn những quan hệ tàn dư của quan hệ mẫu hệ Nó biểu hiện rõ rệt tính chất song hệ của chế độ hôn nhân của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Đây có thể là điều khác biệt với chế độ hôn nhân của người Thái Lan vì cho đến nay chúng tôi chưa có tài liệu cụ thể về hôn nhân của người Thái Lan để

có thể so sánh đối chiếu một cách cụ thể

Quy mô và tính chất gia đình của người Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam về cơ bản là giống nhau Đó là những gia đình nhỏ, thông thường chỉ từ 2-3 thế hệ Ở người Thái Lan khi con gái đến tuổi trưởng thành, có thể dựng vợ gả chồng thì khi người con gái lớn lấy chồng, chàng rể phải về ở nhà

vợ Lúc này đôi vợ chồng trẻ thường ở nhà với bố mẹ Đôi khi có những cặp vợ chồng trẻ có ngay một ngôi nhà riêng nhưng vẫn phải dựng trong khu vực khuân viên của bố mẹ vợ Như vậy, cho dù ở riêng hay ở chung với bố mẹ vợ thì đó vẫn là những gia đình nhỏ Đặc biệt, khi người con gái kế tiếp của gia đình lấy chồng thì buộc cặp vợ chồng của người con gái lớn phải ra ở riêng trong một căn nhà được làm trong khuân viên của bố mẹ vợ và cặp vợ chồng mới cưới lại ở chung với bố mẹ Trình tự này cứ tiếp tục cho đến khi người con gái út lấy chồng thì sẽ được thừa hưởng luôn căn nhà của bố mẹ Đây là quyền thừa kế của người con gái út còn tồn tại khá phổ biến, đặc biệt ở vùng của người Thái ở Bắc

và Đông Bắc Thái Lan Như vậy, đây là nhứng gia đình nhỏ mẫu hệ Tuy vậy người đàn ông vẫn có vai trò chủ đạo trong gia đình Khi ông bố vợ qua đời, người con rể sẽ thay quyền ông ta trong mọi công việc điều hành chung

Đối với người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, quy mô gia đình cũng là gia đình nhỏ, nhưng về tính chất thì đã là những gia đình nhỏ phụ hệ Thông thường chỉ từ 2-3 thế hệ Con trai Thái lấy vợ phải đi ở rể (dú khươi) từ 3-12 năm Nhưng hết hạn ở rể anh ta lại về với gia đình bố mẹ đẻ Lúc này vợ chồng anh ta

đã có vài ba con vì vậy vợ chồng anh ta thường sẽ dựng nhà ở riêng trong bản của bố mẹ đẻ Thường thì vợ chồng con trai út lại ở trong nhà bố mẹ già Tuy quyền thừa kế con út của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam không thật rõ ràng vì tài sản của người Thái nhất là đối với những gia đình bình thường không có gì

Trang 25

đáng kể nhưng người Thái ở Tây Bắc Việt Nam rất quý con út, thường được

cưng chiều với cái tên gọi trìu mến “lụ lả” (con út) Như vậy, gia đình của người

Thái ở Tây Bắc Việt Nam là những gia đình nhỏ phụ hệ

Gia đình của người Thái ở Thái Lan cũng như người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng Nó được biểu tượng bằng những ngôi nhà

của từng gia đình Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam lấy đơn vị “đầu nhà” (hua

hươn) tức ngôi nhà, nóc nhà làm đơn vị cơ sở của bản mường Mỗi “đầu nhà” là

một đơn vị để tính khi phân phối ruộng công của bản mường, tính việc đi làm

“việc mường” (vịa háng mường) cho bản mường… Thời Pháp thuộc, “đầu nhà”

là đơn vị để đánh thuế coi như thuế thân để cắt phiên đi phu, đi lính… Như vậy,

xã hội Thái ở Tây Bắc Việt Nam coi gia đình mà biểu tượng là mỗi “đầu nhà” tức nóc nhà, ngôi nhà là một đơn vị cơ sở của xã hội bản mường Mỗi “đầu nhà” với một cặp vợ chồng và con cái là một thành viên chính thức của bản mường

Đó chính là một gia đình hạt nhân theo quan niệm của các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa Mác - Lênin

Người Thái ở Thái Lan cũng gọi những gia đình, những người có vợ có

chồng bằng hình tượng “có một ngôi nhà” (mí hươn) “Mí hươn” không chỉ có ý

nghĩa “có một ngôi nhà” đơn thuần mà nó còn có ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc

vì “… trong đời sống xã hội Thái ngày xưa, khi một người lấy vợ, lấy chồng rồi thì được ngôi nhà riêng của mình, không còn lệ thuộc và sống dưới mái nhà của cha mẹ nữa” [8; tr.265] Nó đã trở thành một gia đình có kinh tế độc lập, có vị trí

xã hội, trở thành thành viên chính thức của bản mường Đặc biệt, người Thái có tâm lí thích độc lập, tự chủ Do đó đã là một gia đình thì chắc chắn đó là một đơn vị kinh tế - xã hội độc lập và cũng là một gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân

Tóm lại, gia đình của người Thái ở Thái Lan cũng như của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam là những gia đình nhỏ, những gia đình hạt nhân, những thành viên chính thức của bản mường, đơn vị cơ sở của xã hội Thái Tuy vậy, tính chất của gia đình người Thái Lan vẫn còn nặng tàn dư quan hệ mẫu hệ Ngược lại, ở người Thái ở Tây Bắc Việt Nam mối quan hệ phụ hệ đã được xác lập một cách vững chắc Mặc dù vậy, cả hai hình thái gia đình này đều mang đậm nét tính

Trang 26

chất song hệ, song đã có mặt chủ yếu hoặc mẫu hệ (Thái Lan) hoặc phụ hệ (Thái

ở Tây Bắc Việt Nam) Đó là kết quả của quá trình phát triển lịch sử nội tại và mối quan hệ giao lưu văn hóa với các tộc người như Hán, Việt, Môn, Khơme… Nhưng cho dù sự phát triển ấy đến đâu thì về cơ bản người Thái vẫn giữ được bản săc văn hóa dân tộc, đó là tinh thần cộng đồng dựa trên quan hệ huyết thống gần gũi và tinh thần cộng đồng làng xã đã có truyền thống từ lâu đời

2.2 Bản mường và truyền thống xã hội

Người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam đều gọi làng là

Bản Đó là điều giống nhau cơ bản nhưng quy mô, hình thái và tính chất đã khác biệt quá xa, nhất là đối với bản của người Thái Lan ở miền Trung Thái Lan, tức người Xiêm trước đây, bản của ngườiThái ở Thái Lan đều ở các vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn, dọc theo các con sông hoặc đường cái Nhà cửa tuy cũng là nhà sàn nhưng nhìn chung thì sàn thấp, trừ những vùng trũng thì sàn có cao hơn một chút Điều giống nhau cơ bản là số gian của từng ngôi nhà của hai nhóm Thái đều giống nhau, đều là số lẻ; số của các bậc cầu thang cũng như vậy, đều là

số lẻ; vì theo quan niệm của cả hai nhóm Thái Lan và Thái ở Tây Bắc Việt Nam thì bậc thang có số lẻ để tránh dẫn ma (phi) vào trong nhà, còn bậc thang số chẵn sẽ dễ dàng dẫn ma vào nhà (số lẻ dành cho người đang sống, số chẵn dành cho ma (phi), người đã chết) Một điều khác là, nhà ở của người Thái ở Thái Lan đều có khuôn viên rõ ràng và trong khuôn viên đó cũng có thể có vài ba ngôi nhà của các người con làm cùng một kiểu, sắp xếp theo một quy cách cổ truyền

và tạo thành một cụm dân cư, một khuôn viên riêng Mỗi ngôi nhà của người Thái ở Thái Lan đều có một bàn thờ Phật, cao ngang trán, ngoảnh mặt ra cổng, trên bày bức tượng phật nhỏ (những nhà giàu thì thường sắm tượng sơn thếp lộng lẫy), hương hoa trầu cau cùng các đồ lễ dâng cúng khác Đây là nơi linh thiêng, cấm trẻ con, đàn bà đi lại phía dưới, cấm mọi người hướng chân vào dù

là lúc trò chuyện hay khi đi ngủ Bên lối vào nhà có miếu thờ làm bằng thanh tre Ở miền Bắc, thần bảo hộ Thêvađa được thờ cúng để xua đuổi vua ác, hổ, rắn

và làm tan mọi nguyên nhân gây hại khác Cần phải đối xử tử tế với thần này vì nếu làm thần tức giận thì gia đình sẽ gặp nhiều hoạn nạn, ốm đau, mất mùa

Trang 27

nghèo khổ Trên ngai của thần hàng ngày sẽ được cúng nến, gỗ thơm, cơm, rượu Thần sẽ ăn hương hoa Thần không muốn có khách lạ trong nhà quá ba ngày vì thần có tính hay ghen Sau ba ngày, khách thường sẽ được chủ gợi ý rời khỏi nhà Thần này cũng phổ biến ở Lào Vào ngày liên hoan dọn tới nhà mới, chủ nhà dựng một đôi cọc, kiếm được từ nghĩa địa hay từ ngôi nhà kín bằng gỗ, mái ngói, có bao lớn, bên trong chứa các thùng thóc, để mong muốn ngôi nhà của gia chủ sẽ ban phúc cho cuộc sống ấm no hạnh phúc Khác với ngườiThái ở Thái Lan, người hái ở Tây Bắc Việt Nam cư trú ở vùng thung lũng chân núi, nếu

có đồng bằng thì cũng là những bình nguyên, cao nguyên nhỏ Vì vậy, bản làng phân bố chủ yếu ở các sườn núi, sườn đồi Hình thái cư trú chủ yếu là kiểu tập trung Do thường ở sườn núi, sườn đồi nên nhiều khi mái nhà trên chạm vào sàn nhà dưới Quy mô của bản cũng không lớn Thông thường thì mỗi bản chỉ có vài

ba chục nóc nhà Bản lớn trên dưới 100 nóc nhà là rất hiếm Ngược lại nhiều bản chỉ có vài ba nóc nhà Vì vậy, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có câu “Xam hươn pên bản” (ba nhà thành bản) Đồng bào Thái ở Tây Bắc Việt Nam thường

ở nhà sàn; tục ngữ có câu: “Nhà người Thái có gác, bên sàn có cột” (Hươn Táy

hươn mí hạn, quản mí xau) Nhà sàn của họ đại thể có thể chia làm hai loại Nhà

sàn có hai trái đầu hồi, cấu trúc hình tròn khum tựa mai rùa, gọi là “hướn tụp

cống” (nhà mái cong), phân bố chủ yếu ở vùng Thái Đen và Thái Trắng Mộc

Châu Nhà sàn mái hồi bằng hình gần vuông hau hình chữ nhật, gọi là “hướn tụp

lặt” (nhà mái bằng) phân bố ở vùng Thái Trắng niềm Bắc Nhà ở của người

Thái ở Tây Bắc Việt Nam thì không có bàn thờ Phật, nhưng họ cũng vẫn có một

gian thờ riêng để thờ tổ tiên dòng họ gọi là “Klọ hỏong”; thường chỉ dành cho

chủ nhà, con trai trong nhà và trong họ đến thắp hương trong những ngày lễ quan trọng Nhà người Thái ở Tây Bắc Việt Nam bên cạnh gian thờ trong nhà thì họ cũng thường dựng một cái bàn thờ nhỏ ở ngoài trời để thờ các loại ma

(phi) Bàn thờ đó có thể là bàn thờ lộ thiên hoặc có thể lợp mái để che mưa

nắng Trên bàn thờ có bát hương, rượu và hoa quả để thắp trong các dịp lễ của gia đình hoặc dòng họ

Về mặt xã hội, ở một chừng mực nào đó người Thái hãy còn là một dân tộc

Trang 28

quy tụ vào bản làng Trong phạm vi bản làng họ là những người có tinh thần cộng đồng Họ lao động và giúp đỡ nhau khi cần thiết và cùng chung hưởng thụ, Phya Anuman Rajadhon, tác giả cuốn Văn hóa dân gian Thái Lan đã cho ta biết rằng người nông dân Thái Lan tuy vẫn còn truyền thống gắn bó với bản làng nhưng mức độ không còn mật thiết như người Thái ở Tây Bắc Việt Nam

Với người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, bản làng là một cộng đồng xã hội không thể tách rời đối với thân phận người nông dân Sự gắn bó ấy trước nhất là

vì bản của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam còn mang đậm nét tàn dư của quan

hệ huyết thống, thân tộc Bản người Thái ở Tây Bắc Việt Nam không chỉ có truyền thống cộng đồng, cùng chia sẻ khó khăn hoạn nạn, cùng chung vui khi được mùa hoặc lúc có việc vui mừng mà cgho đến nay phần lớn nếu không muốn nói là hầu hết bản của họ chỉ có một dòng họ cư trú hoặc có một họ gốc và vài ba họ khác mà tất cả đều có mối quan hệ thân tộc chủ yếu là họ rể

Ngoài mối quan hệ huyết thống, người nông dân Thái ở Tây Bắc Việt Nam càng gắn bó mật thiết với bản làng vì cho đến trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, quyền sở hữu công cộng của bản về đất rừng, sông suối và đặc biệt là ruộng nước vẫn còn tồn tại và cho đến nay mặc dù về danh nghĩa đó là tài sản của toàn dân và tập thể (sở hữu tập thể) nhưng tập tục ấy vẫn được bảo lưu dưới dạng tập lệ xưa Vì vậy, người nông dân Thái ở Tây Bắc Việt Nam buộc phải gắn bó với bản làng bởi cuộc sống của họ chỉ có thể tồn tại được nếu họ là những thành viên chính thức của bản làng

Tóm lại, tuy cùng gọi là bản nhưng làng của người Thái ở Thái Lan đã khác xa làng (bản) của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam về mọi mặt, nhất là về hình thái, quy mô và tính chất Mặc dù vậy, làng bản của cả hai nhóm Thái này đều tồn tại những truyền thống cộng đồng làng xã rất tốt đẹp Đó là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, cùng chia ngọt sẻ bùi trong mọi hoàn cảnh Người Thái ở Thái Lan có đạo Phật để quy tụ mọi tâm hồn và thể xác vào cửa Phật Điều đó càng làm cho truyền thống cộng đồng tốt đẹp ấy được bảo lưu và phát huy Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, tinh thần cộng đồng ấy lại được cả cái cơ cấu kinh tế - xã hội tạo cơ sở để nó tồn tại và phát triển Hơn thế nữa, họ còn coi

Trang 29

những người trong bản, trong mường đều là anh em họ hàng huyết thống Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có câu nói về những người trong Bản, trong mường

“không phải anh em ruột cũng là họ hàng nhà vợ, không phải họ hàng nhà vợ thì

cũng là anh em đồng hao” (Báu Ải co noọng, báu nhính co xao, báu lúng co ta) Điều đó có nghĩa họ đều là những người của một cộng đồng thân tộc Ải noọng –

lúng ta – nhính xao; cái cộng đồng thân tộc theo chế độ hôn nhân thuận chiều

khép kín

Trên bản làng, tổ chức xã hội truyền thống điển hình của các nhóm Thái

là Mường Người Thái ở Thái Lan từ thời cổ đại đã có nhiều mường cổ của họ

mà ta được biết một số mường điển hình, nổi tiếng như: Mường Chiềng Sẻn, Mường Lanna, Mường Hung,… Nhưng cơ cấu tổ chức của những mường cổ đại Thái Lan như thế nào chúng ta chưa có một tài liệu cụ thể nào có thể hình dung được Ngược lại, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, hình ảnh của các mường ấy đang còn rõ nét vì nó còn tồn tại cách đây không lâu

Sự hình thành mường của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có thể theo hai con đường Một là do tạo, phìa (quý tộc Thái) được phân phong hoặc dẫn dắt các hộ dân đi tìm đất mới Từ đó một mường Thái ra đời Hai là mường Thái ra đời từ một bản rồi phát triển rộng thành mường (Bản Cang Mương tức Bản giữa Mường) phổ biến gọi là Bản Chiềng

Tổ chức mường hoàn chỉnh bao gồm một “chẩu mường” (chủ mường)

đứng đầu Chức năng này chỉ giành cho dòng họ quý tộc trong mường thông thường được cha truyền con nối đối với chủ mường thuộc dòng trưởng nhưng cũng có thể thuộc dòng thứ Điều bắt buộc là các Châu mường thì người đó phải

được tiến cử và được công nhận bởi một “hội đồng bô lão” (Háng thẩu ké) Hội

đồng này bao gồm những người đứng đầu các họ dân Những thành viên của

Hội đồng này đồng thời là các chức dịch đứng đầu một “Xổng”- đơn vị hành

chính dưới mường, bao gồm vài ba bản Vì vậy Hội đồng này còn gọi là “Hội đồng chức dịch Dưới các chức dịch này còn có vài chức dịch nhỏ dưới quyền Cuối cùng là các trưởng bản Bên cạnh bộ máy hành chính là bộ máy chuyên lo việc cúng bái nghi lễ trong mường, đứng đầu là một ông Mo (Mo mường), và

Trang 30

một vài người giúp việc Ở bản có một “chá bản” chuyên lo cúng bái trong bản

và nhân dân

Điều đáng chú ý là các họ dân, trưởng họ cũng thay nhau giữ một chức quan trọng trong mường như Mường Chanh (Mai Sơn, Sơn La), họ Hà bản Đen chuyên làm “Pằn”, tức đứng đầu là “Xổng Pằn”, họ Tòng bản Pon chuyên làm

Ho Luông (đứng đầu Xổng Ho Luông), họ Vi bản Cang Mương chuyên làm Mo Mường,…

Một chức dịch quan trọng trong mường là “quan nà” chuyên lo việc ruộng đất, thủy lợi của mường Đó là chức năng kinh tế của bộ máy bản mường Thái Tóm lại, mường của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam là một tổ chức xã hội truyền thống phát triển đến mức hoàn chỉnh, là tổ chức xã hội cao nhất Cùng với sự phát triển nội tại và ảnh hưởng của xã hội Việt Nam nói chung, tổ chức xã hội của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cũng phát triển nhưng chưa vươn tới được một bộ máy hoàn chỉnh Đó là sự xuất hiện của các châu mường (chu) Tổ chức châu mường của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam bao gồm một

số mường, thông thường là bốn mường Trong đó mường lớn nhất được coi là mường trung tâm, mường chính được gọi là mường cuông chu (mường trong châu) và các mường nhỏ được gọi là mường nọ chu (mường ngoài) Các mường lớn này đã có lúc phát triển thế lực gây ảnh hưởng lớn đến các châu mường khác Đó là trường hợp Mường Muổi (Thuận Châu) dưới thời chúa Tà Ngần, Mường La, v.v… Chúa các mường này đã trở thành các đại diện cho triều đình phong kiến Việt Nam cai quản các mường Thái, được phong tước vị… Mặc dù quan hệ giữa các châu mường, giữa các mường kể cả các mường lớn (mường luông hay mường cuông chu) cũng chỉ là sự rằng buộc thần phục dưới hình thức cống nạp Chủ mường lớn không có quyền can thiệp vào các công việc của các mường khác Các mường vẫn là một đơn vị, tổ chức xã hội độc lập Vì vậy, tổ chức xã hội cao nhất đối với người Thái ở Tây Bắc Việt Nam thực chất là mường

Ngược lại, người Thái ở Thái Lan do những điều kiện lịch sử và tự nhiên thuận lợi đã phát triển thành một dân tộc, một quốc gia, một nhà nước hùng

Trang 31

mạnh từ lâu đời mở đầu bằng vương triều với nhà nước đầu tiên là Sukhothay vào thế kỷ XIII Các mường cổ đại của Thái Lan đã trở thành các tỉnh, các địa phương của quốc gia Thái rộng lớn và ngày nay Thái Lan đang trở thành một quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á

2.3 Ẩm thực và trang phục truyền thống

2.3.1 Ẩm thực

Nét ẩm thực của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cũng có rất nhiều điểm tương đồng nhưng bên cạnh đó thì hai nhóm Thái này có tương đối nhiều điểm khác biệt Họ có chung ngồn gốc di cư nên họ có khá nhiều điểm tương đồng trong ẩm thực Hầu hết cả hai nhóm Thái này trong những bữa cơm thường ngày họ thường ăn cay với những món ăn của họ mang đậm gia vị tự nhiên: ớt, tiêu, rau mùi, gừng, húng… Thức ăn chính trong bữa cơm hàng ngày của người Thái ở Thái Lan và người Thái ở Tây Bắc Việt Nam chính là cơm nếp, xôi; bên cạnh đó còn có các món nướng, thịt gác bếp, các loại rau luộc, nộm, các loại chẩm chéo,… Bên cạnh những điểm tương đồng đó thì nền ẩm thực của hai nhóm Thái này cũng có khá nhiều những điểm khác biệt

Ở Thái Lan, do lấy đạo Phật làm tôn giáo chủ đạo nên trong sinh hoạt hàng ngày cũng có nhiều điểm khác biệt, tùy từng địa phương mà người Thái dùng hai hay ba bữa một ngày Nhà mộ đạo thường đặt bát cơm nóng lên bàn thờ Phật và miếu thờ mời các ngài sơi trước Thức ăn thường ngày của người Thái thường là các loại rau củ quả, cua, tô, đặc biệt là cá Người Thái ở Thái Lan quan niệm bữa ăn là nơi giao tiếp thân mật của mọi người Trong bữa ăn, món

ăn chính là cơm tẻ hoặc xôi lá cẩm, ăn cùng với nhiều món được chế biến theo các cách khác nhau, theo khẩu vị của mỗi vùng Đó là các món súp, cà ri, các món hầm hoặc rán, salad và thêm một hay nhiều thứ nước chấm cơ bản như nước mắm và ớt Người Thái ở Thái Lan ăn tráng miệng bằng hoa quả tươi hay những loại bánh truyền thống Người Thái ở Thái Lan coi thú ẩm thực là cách giải trí ưa thích nhất Mỗi miền đều có một cách ăn và chế biến món ăn riêng

Ẩm thực Thái Lan thực tế là ẩm thực của bốn vùng miền khác biệt, mỗi vùng miền đều có một nét đặc trưng riêng trong cách chế biến truyền thống của họ

Trang 32

Một nét độc đáo trong các món ăn của dân tộc Thái là khi chế biến món ăn, người Thái hoàn toàn ít khi dùng đến dầu mỡ và rất chú trọng tới việc điều phối các vị đắng – cay – mặn – chát Những vị này được phối hợp rất hài hòa khiến cho không có cảm giác ngấy, ăn cảm thấy rất vừa miệng khi ăn các món nướng, luộc, hấp,… Khi thưởng thức những món nướng của người Thái sẽ thấy được hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng Các món hấp, luộc có hương thơm đặc biệt cùng vị ngon ngọt… được làm rất công phu khiến người ăn có cảm giác nhớ mãi không quên Từng món ăn như chứa đựng cả tấm lòng người Thái gửi gắm vào đó Vào những dịp lễ hội của gia đình hay của làng, như mừng nhà mới, cưới xin, ma chay… thì người Thái ăn thịt gà, vịt, thậm chí là thịt lợn Là Phật

tử, thường người Thái tuy nuôi lợn nhưng không trực tiếp mổ mà bán cho các cửa hàng người Hoa rồi mua thịt về ăn Cơm canh dọn trên sàn Ở miền Đông Bắc, mâm cơm là cái bàn tròn đường kính cỡ 60cm có bảy chân cao khoảng 30 -

40 cm trên đó bày cơm và thức ăn Cả nhà ngồi vây quanh một – hay hai mâm nếu như đông người Khi ăn, người Thái dùng các ngón tay nhúm cơm vào miệng, rất khéo; tay kia cầm thìa lấy thức ăn nếu là canh Dân thường thì dùng bát sành, bát sứ Nhà giàu khi đãi khách quý có thể dùng bát bạc [1; tr35]

Đối với người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, nét văn hóa của dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc được biết tới nhiều với chiếc khăn Piêu và điệu múa xòe, nhảy sạp trong lễ hội hoa ban truyền thống Ít ai biết rằng người Thái còn có những món ăn truyền thống mà một khi đã được thưởng thức thì sẽ nhớ mãi… Với những món ăn được chế biến công phu và độc đáo, ẩm thực truyền thống của dân tộc Thái vùng Tây Bắc được xem là cách truyền tải hữu hiệu nhất nét văn hóa của dân tộc Tất cả các món ăn của người Thái đều được chế biến từ nguồn nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên Thịt trâu, thịt bò, cá, gà đều được người Thái tẩm ướp gia vị rất cầu kì và cẩn thận Gia vị để ướp là hạt “mắc khén” (một dạng hạt tiêu rừng, loại gia vị đặc biệt của người dân Thái vùng Tây Bắc), ớt, tỏi, gừng, muối… Cũng giống với người Thái ở Thái Lan, người Thái ở Tây Bắc Việt Nam khi chế biến món ăn hầu như không dùng đến dầu mỡ, chủ yếu là các món nướng và họ rất chú trọng đến việc điều phối các vị đắng – cay – mặn –

Trang 33

chát Những vị này được phối hợp hài hòa khiến thực khách cảm thấy vừa miệng, không có cảm giác ngấy, ngán khi ăn những món nướng, luộc, hấp, hun khói… Khi thưởng thức những món nướng của người Thái sẽ thấy vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng Các món hấp, món luộc có hương thơm đặc biệt ngon ngọt Những món ăn độc đáo của người Thái như: pà pỉng tộp (cá nướng), khảu lam (cơm lam), nhứa mù khủa (thịt lợn hấp), nhứa giảng (thịt trâu hun khói)… được làm rất công phu khiến người ăn nhớ mãi không quên Chỉ riêng món măng của người Thái cũng thật đặc biệt và cầu kỳ Để có được một bát nước cốt măng chua, họ sẽ ngâm măng vài ba năm để lọc lấy vị ngon lành, chua dịu nhất khi ăn cùng những món ăn khác Những ai đã từng lên vùng Tây Bắc, khi vào những ngôi nhà của người Thái, đều dễ dàng nhìn thấy gia đình nào cũng sẽ có vài chum măng muối chua để dành để dùng dần Mùa nào thức ấy, người Thái đãi khách bằng sản vật được miềm đất Tây Bắc hoang sơ và hào phóng ban phát cho như: Nhộng ong, cá suối, măng lay, măng đắng, cải ngồng… Người dân Thái còn có món xôi với nhiều màu sắc khác nhau, họ lấy gạo nếp nương rồi ngâm với một loại cây rừng hàng giờ đồng hồ rồi khi đồ chín sẽ cho ra món xôi với nhiều màu sắc khác nhau như: đỏ, vàng, tím… Những phương pháp chế biến món ăn của người Thái dựa vào kinh nghiệm được lưu giũ từ đời này qua đời khác chứ không có một trường lớp nào truyền dạy Chính điều này đã khiến cho những món ăn của người Thái không thể lẫn với bất kì một dân tộc nào khác

2.3.2 Trang phục truyền thống

Riêng về trang phục thì hai nhóm Thái là Thái ở Thái Lan và Thái ở Tây Bắc Việt Nam ít có điểm chung

Là một đất nước có nền Đạo Phật lớn mạng trong các nước Á Đông, chính

vì thế mà Thái Lan hội tụ những phong tục tập quán, những nét văn hóa đặc biệt

Từ cách sinh hoạt hàng ngày, cách xưng hô, văn hóa ăn mặc cũng như văn hóa trang phục rất độc đáo và thú vị Hai thứ trang phục truyền thống có sức sống bền chặt trong nhân dân là chiếc váy của người phụ nữ và cái khăn rằn của người đàn ông

Trang phục cuả người phụ nữ Thái: Trang phục Thái Lan chia ra làm hai

Trang 34

dạng là trang phục truyền thống (trang phục cung đình và trang phục bình dân)

và dạng thứ hai là trang phục hiện đại Đặc điểm trang phục truyền thống của người Thái là không may vừa sát người Thay vì thế chúng được may từ các mảnh vải lụa hay vải bông hẹp được nối, gấp, cuộn thành nhiều loại quần áo đa dạng Trang phục phụ nữ Thái có 3 loại cơ bản: Thai Chakkri, Thai Borompiman, Thai Siwalai Phong cách Chakkri bao gồm chiếc váy dài quấn quanh người goin là Phasin cùng một chiếc khăn dệt vắt qua vai Thái Chakkri là một bộ trang phục chính thức và tahnh lịch cho phụ nữ Thái trong những dịp quan trọng Trang phục của phụ nữ rực rỡ về màu sắc, tinh tế về đường nét mang tới vẻ đẹp vừa thanh lịch vừa lộng lẫy cho người phụ nữ Thái Phụ nữ Thái thường mặc Borompiman trong những bữa tiệc tối Trang phục này gồm một chiếc áo dài tay với một chiếc nút cài phía trước hoặc phía sau cổ Chân váy chấm mắt cá chân được làm từ vải và trang trí bằng các họa tiết thêu bắt mắt Thái Siwalai khá giống với Thái Borophiman ngoại trừ một khăn choàng trên vai Cả hai loại mang lại vẻ sang trọng cho phụ nữ Thái trong các sự kiện chính thức hay nghi lễ hoàng gia Trang phục truyền thống của phụ nữ Thái Lan vừa mang lại vẻ quyến rũ và duyên dáng kiểu truyền thống, vừa tôn lên những đường cong quyến rũ của phụ Thái Lan Nguyên tắc cơ bản chỉ có một nhưng với cách kết hợp màu sắc tinh tế và đường cắt may khéo léo, trang phục truyền thống Thái Lan vừa sang trọng vủa quyến rũ

Trang phục của người đàn ông: Người đàn ông Thái dùng một chiếc khăn đặc biệt gọi là Phá khảo đúng ra là một mặt mảnh vải, khổ 70cm dài cỡ 1m60, được ghép bpowri những mảnh vải vuông màu săc khác nhau đan xen đẹp mắt Mảnh vải này quấn vào người như đóng khố dùng khi tắm; như một quần đùi khi sinh hoạt tại nhà, đánh cá, làm ruộng Cũng có khi người ta quấn nó trên đầu thành chiếc khăn xếp rằn Trong những trường hợp cấp thiết, nó được dùng như một sợi dây thừng Thật sự, những bộ trang phục của người Thái rất sáng tạo, có tính ứng dụng cao và luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh và hoạt động thường ngày của người dân

Ai đã lên đến Tây Bắc đều không khỏi ngẩn ngơ trước những cô gái Thái

Ngày đăng: 28/06/2018, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w