Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ( Luận văn thạc sĩ)Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ( Luận văn thạc sĩ)Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ( Luận văn thạc sĩ)Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ( Luận văn thạc sĩ)Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm ( Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, những kết quả nghiên cứu khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Tân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ CHỨNG QUYỀN BẢO ĐẢM 4
1.1.Giới thiệu chung về chứng quyền 4
1.2.Cơ chế giao dịch chứng quyền trên thị trường chứng khoán 20
1.3.Những yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng và phát triển chứng quyền trên thị trường chứng khoán 28
Chương 2 KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN 37 Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 37
2.1 Khái quát về sự ra đời và phát triển chứng quyền nói chung 37
2.2 Kinh nghiệp xây dựng và phát triển chứng quyền của Đài Loan 38
2.3 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển chứng quyền của Hồng Kông 41
2.4 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển chứng quyền của Sigapore 43
2.5 Kinh nghiệm xây dựng và phát triển chứng quyền của Thái Lan 43
2.6 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 44
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN 49
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 49
3.1 Xu hướng phát triển chứng quyền có bảo đảm trên thế giới 49
3.2 Sự cần thiết, những thuận lới và khó khăn khi phát triển sản phẩm chứng quyền ở Việt Nam 51
3.3 Giải pháp đối với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước 59
3.4 Giải pháp đối với Sàn giao dịch chứng khoán 66
3.5 Một số kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa chứng quyền ở Việt Nam hiện nay. 68
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu giao dịch từ ngày 28/07/2000 tính đến thời điểm này cũng đã trãi qua hơn17 năm hình thành và phát triển, theo số liệu của
Ủy ban chứng khoán nhà nước, hiện có khoảng hơn 1,6 triệu tài khoản của các nhà đầu
tư được mở Xét về tính thực tiễn cũng như nhu cầu cấp thiết cho thị trường chứng khoán của nước ta hiện nay là phải đa dạng hóa các sản phẩm để áp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhà đầu tư và phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế
Thực tế xét về chủng loại hàng hóa, có thể nói các loại hàng hòa trên thị trường chứng khoán Việt Nam là khá ít chỉ bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ và mới đây thị trường có thêm các sản phẩm phái sinh thị trường còn thiếu nhiều loại sản phẩm đầu tư khác Điều này đã dẫn đến một hạn chế khá lớn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Đi cùng xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán, nhu cầu về các sản phẩm mới trở nên cấp thiết, đặc biệt là các sản phẩm với nhiều tính năng và lợi ích đa dạng, đáp ứng cho nhiều phân khúc nhà đầu tư Trong bối cảnh thị trường trường chứng khoán có nhiều biến động và cấu trúc hàng hóa trên thị trường chưa hoàn chỉnh,
sự ra đời sản phẩm chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant) với nhiều ưu điểm vượt trội, cũng như khả năng phòng hộ rủi ro, đang nhận được sự kỳ vọng lớn của nhà đầu tư và các thành viên thị trường
Ngày 26/6/2105, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2015/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ 1/9/2015, trong đó bổ sung định nghĩa về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm và các điều kiện để trở thành tổ chức phát hành chứng quyền, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc phát hành và giao dịch chứng quyền tại Việt Nam Thông tư số 107/2016/TT-BTC hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm đã được
Bộ Tài chính ký ban hành vào ngày 29/6/2016 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2017
Đây được xem là một tín hiệu tốt đối với thị trường chứng khoán Việt Nam khi
mà suốt một thời gian dài thị trường chỉ có ba sản phẩm truyền thống là cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm có tỷ lệ đòn bẩy cao, phí giao dịch thấp, vòng đời ngắn hạn, khá phù hợp đối với nhà đầu tư cá nhân,
Trang 7tiễn này tôi xin lựa chọn Đề tài Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có
bảo đảm, thực tế thì tại Q4/2017 thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức cho đi
vào hoạt động sản phẩm này Hy vọng sản phẩmchứng quyền có bảo đảm đi vào hoạt động sẽ mang lạinhững tín hiệu đáng mừng cho TTCK Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm mới mẻ trên thị trường chứng khoán Việt Nam Việc nghiên cứu về sản phẩm này ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở các bài viết trên các báo, tạp chí, website mang tính chất giới thiệu khái quát về sản phẩm mà chưa đề cập đến các vấn đề chuyên sâu như: phát hành, niêm yết, giao dịch, thanh toán, cơ chế quản lý, v.v Cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về chứng quyền có bảo đảm cũng như việc áp dụng sản phẩm này cho
phù hợp với thực tiễn thị trường chứng khoán ở Việt Nam Chính vì thế với đề tài
“Xây dựng và phát triển về sản phẩm chứng quyền có bảo đảm” chúng tôi muốn xây
dựng tổng quan về sản phẩm này cho cái nhìn tổng thể nhất trong giai đoạn đầu triển khai, để có thể thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư cũng như tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận với sản phẩm mới tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích, đánh giá các quy định hiện hành cũng như điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời tìm hiểu, học tập kinh nghiệm quốc tế để từ đó đề xuất cơ chế thiết lập sản phẩm chứng quyền có bảo đảm giao dịch tại thị trường chứng khoán Việt Nam Do đó, đề tài có nhiệm vụ:
- Giới thiệu về sản phẩm chứng quyền
- Kinh nghiệm của một số quốc gia thành công trong xây dựng và phát triển thị trường chứng quyền bảo hiểm
- Một số quy định về sản phẩm chứng quyền tại việt nam
- Chia sẻ kinh nghiệm đầu tư chứng quyền cho các nhà đầu tư
Trang 83
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: sản phẩm cơ bản và đơn giản nhất như: chứng quyền mua
hoặc bán với tài sản cơ sở và kinh nghiệm các nước về xây dựng và phát triển chứng quyền bảo hiểm
Phạm vi nghiên cứu: Tài sản cơ sở được lựa chọn là cổ phiếu, ETF, chỉ số…
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống
kê, phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh… để luận giải vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, đề tài kế thừa các sản phẩm nghiên cứu chính sách trong quá trình xây dựng
đề án về TTCK phái sinh tại Việt Nam và các dữ liệu điều tra của Dự án hỗ trợ phát triển thị trường vốn do Luxembourg tài trợ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn của đề tài đã chỉ ra thực trạng sự ra đời
và phát triển chứng quyền có bảo hiểm nói chung cũng như đi sâu hơn về sự ra đời và phát triển của chứng quyền tại Việt Nam Đề tài chỉ ra đặc điểm, vai trò của chứng quyền và các yếu tố ảnh hướng tới chứng quyền, cũng như các giải pháp thực tiễn để nhằm phát triển có hiệu quả hơn nữa chứng quyền có bảo đảm tại thị trường Việt Nam, qua đó đề xuất những kiến nghị cần thiết cho sự phát triển này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục hỗ trợ liên quan, nội dung của Đề tài được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: KHUNG LÝ LUẬN VỀ CHỨNG QUYỀN BẢO ĐẢM
Chương 2: KINH NGHIỆM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Chương 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỨNG QUYỀN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 94
Chương 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ CHỨNG QUYỀN BẢO ĐẢM
1.1 Giới thiệu chung về chứng quyền
1.1.1 Khái niệm Chứng quyền bảo đảm (CW)
Chứng quyền là một loại chứng khoán cho phép người nắm giữ có quyền được mua hoặc bán tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ tổ chức phát hành tại một mức giá một khoảng thời gian nhất định [5]
Nhà đầu tư sẽ trả một khoản phí (premium) để sở hữu chứng quyền và được quyền mua hoặc bán chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước thời điểm đã được ấn định, hoặc được nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện Để hiểu rõ được chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cần nắm bắt những thuật ngữ cơ bản liên quan đến sản phẩm [5]
Đối với nhiều nhà đầu tư, CW dường như không khác với quyền chọn, CW thường có kỳ hạn dài hơn quyền chọn, được phát hành dựa trên nhiều loại hình tài sản phong phú hơn so với quyền chọn Các điều kiện của CW cũng phong phú hơn - CW
có mức độ linh hoạt cao hơn và có thể được phát hành với các điều kiện cơ cấu nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường
Với CW thì nhà đầu tư không thể bị lỗ nhiều hơn giá trị đầu tư ban đầu, Khoản lỗ tối đa của nhà đầu tư được biết trước, và không phải nộp ký quỹ, tức là nhà đầu tư không phải nộp tiền để duy trì trạng thái nắm giữ của mình.Điểm này làm cho CW trở nên khác biệt so với các hình thức phái sinh khác
Tại Việt Nam, CW được định nghĩa là “chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty
chứng khoán (CtyCK) phát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán (chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo một mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước một thời điểm
đã được ấn định, hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán
cơ sở tại thời điểm thực hiện” [17]
Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm phổ biến tại nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới với các tên gọi khác nhau như Covered Warrant (Anh, Đức, Úc, Canada), Derivative warrant (Hong Kong, Thái Lan), Structured warrant (Malaysia),
Trang 105
Call/put Warrant (Đài Loan), Equity-linked warrant (Hàn Quốc) Chứng quyền có bảo đảm là một sản phẩm đầu tư tài chính có tính chất như một quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền được bán hoặc mua tài sản cơ sở với một khối lượng xác định từ nhà phát hành tại một mức giá vào hoặc trước thời điểm được xác định Với nhiều đặc điểm giống như quyền chọn, nhưng lại có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn rất nhiều, chứng quyền có bảo đảm cung cấp một công cụ phòng vệ rủi ro và giúp nhà đầu tư có thể thực hiện các chiến lược đầu tư khác nhau với chi phí thấp hơn Hiện nay, chứng quyền có bảo đảm được nhiều chuyên gia đánh giá là sản phẩm đầu tư phổ biến nhất trong các TTCK mới nổi Theo số liệu từ Hiệp hội các Sở GDCK thế giới (WFE), có ít nhất 42 Sở GDCK trong số 56 Sở GDCK thành viên đã triển khai giao dịch các loại sản phẩm Chứng quyền có bảo đảm khác nhau [4]
Về lý thuyết, khái niệm sản phẩm phái sinh khá rộng: bất kỳ sản phẩm nào có giá dựa trên giá của một sản phẩm khác thì đều được gọi là phái sinh Trên thực tế, các nước thường chia các sản phẩm phái sinh thành 2 nhóm chính: một nhóm được các Sở tổ chức giao dịch ở sàn chứng khoán (securities division) bao gồm Right, Company warrant, Covered warrant và nhóm còn lại thường được tổ chức giao dịch
ở sàn phái sinh (derivatives division) bao gồm các Hợp đồng tương lai và Hợp đồng Quyền chọn Hai nhóm sản phẩm nói trên sẽ khác nhau về mức độ rủi ro đối với nhà đầu tư - từ đó sẽ dẫn đến khác biệt về mô hình thanh toán bù trừ; khác biệt trong cách thức vận hành hệ thống giao dịch; cách thức thẩm định và quản lý niêm yết, lưu ký, đăng ký và thị trường phát hành sơ cấp [17]
Chứng quyền có bảo đảm là công cụ phái sinh nhưng không đòi hỏi những kỹ thuật giao dịch và thanh toán quá phức tạp, rủi ro thanh toán thấp nên không cần phải thanh toán bù trừ theo mô hình đối ứng thanh toán trung tâm do sản phẩm chứng quyền có bảo đảm không có khả năng gây ra các khoản lỗ vượt quá vốn đầu tư ban đầu, nó khác với các sản phẩm thuộc nhóm phái sinh Hợp đồng tương lai/Hợp đồng quyền chọn, khoản lỗ tối đa mà nhà đầu tư có thể phải chịu sẽ không chỉ dừng lại ở khoản tiền bỏ ra ban đầu mà còn có thể phải trả thêm tiền cho bên đối ứng sẽ có thể đáp ứng đa dạng các phân khúc nhu cầu và mức độ rủi ro khác nhau của nhà đầu tư trên thị trường [5]
Việc phát triển thị trường chứng quyền có bảo đảm sẽ là bước tập dượt cho nhà
đầu tư cho đến khi thị trường chứng khoán phái sinh chính thức triển khai thêm sản
Trang 116
phẩm Hợp đồng quyền chọn Thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các thị trường đi trước cho thấy rằng mặc dù Hợp đồng Tương lai và Hợp đồng Quyền chọn là 2 sản phẩm phái sinh chuẩn hóa được giao dịch nhiều nhất trên thế giới nhưng Hợp đồng Quyền chọn luôn được cân nhắc triển khai sau Hợp đồng Tương lai vì đặc tính phức tạp của sản phẩm, trình độ hiểu biết của đa số nhà đầu tư và năng lực quản lý giám sát của cơ quan quản lý còn nhiều hạn chế đối với sản phẩm này Chính vì vậy, cùng với Hợp đồng Tương lai trên thị trường chứng khoán phái sinh, việc vận hành sản phẩm chứng quyền có bảo đảm sẽ giúp thị trường quen dần với Hợp đồng Quyền chọn, tạo thuận lợi cho lộ trình phát triển sản phẩm trên thị trường chứng khoán phái sinh trong giai đoạn tiếp theo
Có khá nhiều nhà đầu tư đặt câu hỏi về tên gọi “Covered Warrant” mang ý nghĩa như thế nào? Thuật ngữ “Covered” phản ánh một thực tế là khi công ty chứng khoán phát hành chứng quyền có bảo đảm, họ phải thực hiện một số biện pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu chứng quyền Theo đó, họ sẽ phải thực hiện phòng hộ rủi ro (Cover hoặc Hedge) bằng cách mua/bán chứng khoán cơ sở, hoặc giao dịch các chứng khoán tương đương khác (hợp đồng tương lai, quyền chọn…) và đây cũng
là nghiệp vụ bắt buộc đối với tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm tại bất cứ thị trường nào trên thế giới [17]
Tính chất “có bảo đảm - Covered” còn được thể hiện ở nhiều mức độ mang tính chắc chắn cao hơn, đặc biệt đối với các thị trường đang phát triển, có điểm xếp hạng tín nhiệm thấp và các thành viên thị trường còn thiếu kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro Ngoài yêu cầu phòng hộ rủi ro, tổ chức phát hành tại các thị trường này còn phải nộp thêm một khoản ký quỹ (bằng tiền hoặc chứng khoán cơ sở) tại ngân hàng lưu ký khi phát hành chứng quyền có bảo đảm Tùy theo thị trường, giá trị khoản ký quỹ cũng biến thiên từ mức ký quỹ một phần (partial collateralised) đến mức độ đảm bảo cao nhất, ký quỹ toàn phần (fully collateralised) Theo Thông tư 107/2016/TT-BTC, tổ chức phát hành chứng quyền tại Việt Nam phải ký quỹ bảo đảm thanh toán với giá trị tài sản bảo đảm ban đầu tối thiểu là 50% giá trị chứng quyền dự kiến chào bán
Bên cạnh đó, khi phát hành chứng quyền có bảo đảm, tổ chức phát hành phải có Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án bảo đảm thanh toán và thực hiện các nghĩa vụ của tổ chức phát hành, cũng như Điều lệ phải có điều khoản về
Trang 127
quyền của người sở hữu chứng quyền Vì vậy, chứng quyền có đảm bảo còn được xem
là hợp đồng giao kết giữa nhà đầu tư với tổ chức phát hành Theo đó, người sở hữu chứng quyền là chủ nợ có đảm bảo một phần của tổ chức phát hành và tổ chức phát hành có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu
Chứng Quyền Bảo Hiểm đầu tiên được giao dịch vào khoảng những năm 1990 tại Đức và Hồng Kông và từ đó phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới Các thị trường Chứng Quyền Bảo Hiểm phát triển gồm có Hồng Kông, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan… Với nhiều đặc điểm giống như quyền chọn, nhưng lại có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn nhiều, Chứng Quyền Bảo Hiểm cung cấp một công cụ phòng vệ rủi ro và giúp nhà đầu tư có thể thực hiện các chiến lược đầu tư khác nhau với chi phí thấp hơn Hiện nay, Chứng Quyền Bảo Hiểm được nhiều chuyên gia đánh giá là sản phẩm đầu tư phổ biến nhất trên các thị trường chứng khoán (TTCK) mới nổi Theo số liệu từ Hiệp hội các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) thế giới (WFE), có ít nhất 42 SGDCK trong số 56 SGDCK thành viên của Hiệp hội đã triển khai giao dịch các loại sản phẩm CW khác nhau.Tùy vào quy định của mỗi nước,
CW có thể được phân loại là sản phẩm giao dịch như chứng khoán (securities) hoặc chứng khoán phái sinh (derivatives) Trong đó Hàn Quốc, Đài Loan, Đức… xếp CW vào nhóm chứng khoán; một số nước châu Âu xếp CW vào nhóm sản phẩm phái sinh.[17]
1.1.2 Các nội dung của Chứng Quyền Bảo Đảm (CW) :
1.1.2.1 Đặc điểm của chứng quyền bảo đảm
Niêm yết và giao dịch chứng quyền có bảo đảm
Mặc dù được phát hành dựa trên một chứng khoán cơ sở khác, nhưng theo thông
lệ quốc tế, chứng quyền có bảo đảm được tổ chức giao dịch trên thị trường giao ngay (cash market) cùng với cổ phiếu, ETF, quyền mua, chứng quyền công ty, với phương thức giao dịch hoàn toàn tương tự như cổ phiếu
Chính vì phương thức giao dịch tương tự như cổ phiếu, nên nhiều nhà đầu tư khi giao dịch chứng quyền có bảo đảm có thể bỏ qua, hoặc quên bản chất của sản phẩm là sản phẩm phái sinh có ngày đáo hạn, có giá được xác định dựa trên giá của tài sản cơ sở Do đó, khi tham gia giao dịch chứng quyền có bảo đảm, nhà đầu tư cần phải trang
bị kiến thức và hiểu biết về những lợi ích và rủi ro của sản phẩm này
Đa phần tại thị trường chứng quyền các nước, tổ chức phát hành thường kiêm
Trang 13Luậ n vậ n đậ y đu ở file:Luậ n vậ n Full