PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội ra đời từ hàng nghìn năm nay. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Việt Nam là một phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Thể hiện ở rất nhiều lĩnh vực, khía cạnh. Trong đó có Tôn giáo. Việt Nam là đất nước có nền văn hóa quốc gia đa tôn giáo. Tôn giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, các hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, số người theo tôn giáo ngày càng tăng góp phần làm phát triển nền văn hóa đa màu sắc của Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó cũng đã xuất hiện các hoạt động tôn giáo không bình thường, có phần lấn lướt chính quyền, vi phạm một số qui định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo, gây hiệu ứng tiêu cực về chính trị, mất an ninh trật tự xã hội. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo để vừa đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc có nền văn hóa đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc Tày, Nùng. Số lượng tôn giáo ở Lạng Sơn có qui mô không lớn, hiện nay chỉ có ba tôn giáo chính: Phật giáo, Công giáo và Tin lành. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trong những năm vừa qua đã có nhiều tiến bộ và đạt được một số kết quả nhất định. Lưu giữ được những nét đẹp văn hóa truyền thống, phát huy và phát triển sắc dân tộc, tôn giáo. Tạo nên những nét đẹp văn hóa rất riêng của Lạng Sơn khiến nhiều du khách thập phương mến mộ, được Đảng và Nhà nước khen ngợi. Nhưng bên cạnh đó cũng còn một số tồn tại cần phải khắc phục: Một bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn kéo dài, gây tâm lý phản cảm cho quần chúng tín đồ và các chức sắc tôn giáo, tạo ra những sơ hở không đáng có cho một số phần tử xấu lợi dụng. Đặc biệt việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhất là ở cơ sở còn quá cứng nhắc; các đoàn thể nhân dân vùng đồng bào có đạo nói chung hoạt động còn kém hiệu quả; công tác xây dựng lực lượng cốt cán, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo còn chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ Tướng Chính phủ “Về một số công tác đối với đạo Tin lành” còn gặp nhiều khó khăn. Từ tình hình đặt ra nói trên, tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay” để nghiên cứu.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội ra đời từ hàngnghìn năm nay Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâusắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phongtục, tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Việt Nam là một phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Thể hiện ởrất nhiều lĩnh vực, khía cạnh Trong đó có Tôn giáo Việt Nam là đất nước cónền văn hóa quốc gia đa tôn giáo Tôn giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinhthần của một bộ phận nhân dân, các hoạt động của tôn giáo được khôi phục vàphát triển mạnh mẽ, số người theo tôn giáo ngày càng tăng góp phần làm pháttriển nền văn hóa đa màu sắc của Việt Nam Nhưng bên cạnh đó cũng đã xuấthiện các hoạt động tôn giáo không bình thường, có phần lấn lướt chính quyền, viphạm một số qui định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo, gây hiệu ứng tiêucực về chính trị, mất an ninh trật tự xã hội Trước tình hình đó, Đảng và Nhànước ta đã xác định phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôngiáo để vừa đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng, vừa kịp thờiđấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để đi ngược lại lợi ích của nhân dân, củadân tộc
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc có nền văn hóa đặc sắc, đậm đàbản sắc dân tộc Tày, Nùng Số lượng tôn giáo ở Lạng Sơn có qui mô không lớn,hiện nay chỉ có ba tôn giáo chính: Phật giáo, Công giáo và Tin lành
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trongnhững năm vừa qua đã có nhiều tiến bộ và đạt được một số kết quả nhất định.Lưu giữ được những nét đẹp văn hóa truyền thống, phát huy và phát triển sắcdân tộc, tôn giáo Tạo nên những nét đẹp văn hóa rất riêng của Lạng Sơn khiếnnhiều du khách thập phương mến mộ, được Đảng và Nhà nước khen ngợi
Trang 2Nhưng bên cạnh đó cũng còn một số tồn tại cần phải khắc phục: Một bộphận cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nướcđối với tôn giáo còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu tậptrung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn kéo dài,gây tâm lý phản cảm cho quần chúng tín đồ và các chức sắc tôn giáo, tạo ranhững sơ hở không đáng có cho một số phần tử xấu lợi dụng Đặc biệt việc thựchiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền ở nhiều lúc,nhiều nơi, nhất là ở cơ sở còn quá cứng nhắc; các đoàn thể nhân dân vùng đồngbào có đạo nói chung hoạt động còn kém hiệu quả; công tác xây dựng lực lượngcốt cán, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo còn chưa được quan
tâm đúng mức; việc thực hiện Chỉ thị số 01 của Thủ Tướng Chính phủ “Về một
số công tác đối với đạo Tin lành” còn gặp nhiều khó khăn.
Từ tình hình đặt ra nói trên, tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay” để nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu
Nghị quyết 24- NQ/TW (năm 1990) của Bộ Chính Trị đã đề ra chủ trươngchính sách đối với tôn giáo ngày càng được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhautrên bình diện cả nước, thể hiện ở nhiều công trình như:
- PGS TS Nguyễn Đức Lữ - Chủ nhiệm đề tài (2002) Đổi mới chính sách tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn giáo hiện nay- những bài học kinh nghiệm và kiến nghị cụ thể, Đề tài nhánh thuộc đề tài cấp Nhà nước;
- TS Ngô Hữu Thảo-Chủ nhiệm đề tài (1998), Mối quan hệ giữa chính trị
và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học
cấp bộ;
- TS Hoàng Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo Tin lành ở Việt Nam- Thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo, quản lý, Thuộc đề tài độc lập cấp Nhà nước;
Trang 3Tuy nhiên ở tỉnh Lạng Sơn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu cụ thể,vấn đề mới chỉ được đề cập trong các báo cáo tổng kết của Ban Dân vận Tỉnh
ủy, Phòng tôn giáo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh… qua các năm Vì vậy, tôiquyết định chọn đề tài này để nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo
Hai là, làm rõ tình hình thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn
Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong tìnhhình mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa, cụ thể là tôngiáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề văn hóa, cụ thể là vấn đề tôn giáotrên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Trang 45 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về lĩnh vựcvăn hóa nói chung và tôn giáo nói riêng
Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu các phương phápnghiên cứu sau: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích - tổng hợp,phương pháp hệ thống, đánh giá, dự báo; phương pháp chuyên gia, phương phápđiều tra xã hội học; phương pháp phỏng vấn; phương pháp logic- lịch sử
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Về lý luận
- Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa, cụ thể
là tôn giáo, bước đầu đề tài làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trongquản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cơ bản có tính khả thi góp phầnnâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơnhiện nay
6.2 Về thực tiễn
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủtrương, biện pháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo ở tỉnh Lạng Sơn
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tạitrường Chính trị tỉnh
7 Kết cấu của đề tài
Trang 5Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của đề tài gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1.1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động tôn giáo
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử,
có tài liệu thống kê đến nay có hàng trăm khái niệm về tôn giáo, tùy cách tiếpcận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những khái niệm khácnhau về tôn giáo
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo:
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác đã chỉ ra rằng:
Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bảnthân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa Con người chính là thếgiới những con người, là Nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ratôn giáo, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo
ra tôn giáo Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân
1.1.1.2 Hoạt động tôn giáo
Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi,quản lý tổ chức của tôn giáo
Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền
những lý lẽ về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ,
nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tintôn giáo của cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ
Trang 6Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện
qui định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảmbảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo
1.1.2 Đặc điểm của tôn giáo ở nước ta
Đặc điểm của tín đồ:
Tín đồ là những người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừanhận Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với số lượng tín đồ đông đảo, chiếmkhoảng 20% dân số cả nước
Trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng không đồng nhất) giữa mặtcông dân và mặt tín đồ Là công dân, tín đồ có mọi quyền và nghĩa vụ như mọicông dân khác Là người có tín ngưỡng tôn giáo họ có niềm tin ở Chúa, tình cảmđời sống tâm linh ở nhiều mức độ khác nhau và họ có quyền lợi do giáo hội quiđịnh, họ phải hành đạo theo giáo luật
Đặc điểm rất tích cực trong đồng bào tín đồ ở nước ta hiện nay là sống
“tốt đời, đẹp đạo”, cùng toàn dân đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bên cạnh đại đa số đồng bào có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâusắc, một số tín đồ do nhiều nguyên nhân khác nhau trong hoạt động tôn giáo cònchưa tuân thủ pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe theo kẻ xấu thamgia vào các vụ gây rối trật tự công cộng
+ Đặc điểm của nhà tu hành, chức sắc:
Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêngtheo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo Chức sắc là tín đồ có chức
vụ, phẩm sắc trong tôn giáo
+ Đặc điểm của tổ chức tôn giáo:
Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo
lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước côngnhận
Trang 7Tổ chức tôn giáo có chức năng điều hành hoạt động của tôn giáo Trongmỗi tôn giáo, tổ chức bộ máy được sắp xếp khác nhau, hệ thống tổ chức của tôngiáo được qui định theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và được Nhànước công nhận
1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước và của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫncác quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí củachủ thể quản lý và qui luật khách quan Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiếnhành Khi Nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất
do Nhà nước đảm nhiệm
1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, chức năng nhiệm vụcủa nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luậtcủa các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo
và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quiđịnh của pháp luật
1.1.2 Yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
nước ta hiện nay
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần thiết phải tăng cườngcông tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, xuất phát từ những lý dosau:
Thứ nhất, quá trình đổi mới ở đất nước ta đang diễn ra sâu rộng trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo Mỗi người Việt Namđều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”
Trang 8Thứ hai, thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta
trong thời gian vừa qua đã cho thấy, chính quyền và đội ngũ cán bộ có tráchnhiệm ở một số nơi chưa nhận thức đúng và quán triệt đầy đủ các chủ trươngchính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề tôn giáo
Thứ ba, hiện nay trước yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước và yêu
cầu xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về quản lý các hoạt độngtôn giáo đang đặt ra rất cấp thiết
Thứ tư, xuất phát từ âm mưu và hoạt động triệt để lợi dụng các sơ hở thiếu
sót của ta trong quản lý nhà nước đối với tôn giáo và thực hiện chính sách tôngiáo của các thế lực thù địch
Từ những yêu cầu, khó khăn và thách thức của thực tế, đòi hỏi chúng taphải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, qua đó nhằm đápứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân dân, mặt khác, phải luôncảnh giác chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu chung về hoạt động tôn giáo tại tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của Lạng Sơn
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới phía bắc có đường biên giới giáp vớiTrung Quốc Giáp ranh với các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Bắc
Trang 9Giang và Quảng Ninh Đây là điểm đầu của con đường huyết mạch (QL 1A) nốiViệt Nam với Trung Quốc và từ đó đến với các nước châu Âu, đồng thời cũng làcon đường quan trọng nối Trung Quốc với các nước ASEAN
Diện tích toàn tỉnh là 8.187, 25 km2 với dân số 727 081 người, mật độ 86người/ km2, gồm 11 huyện, thành phố, 14 thị trấn, 19 phường và 206 xã [24,tr.20]
Địa hình Lạng Sơn tương đối phức tạp do nằm ở trong khu vực có nhiềubiến đổi qua các đợt biến động về địa lý, địa chất khí hậu nhiệt đới có mùa mưa,mùa khô, mùa nóng và một mùa đông lạnh giá
Hệ sinh thái thực vật, động vật phát triển tốt, đa dạng và phong phú
Hiện nay với sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhiều diện tích rừng và đấtrừng trước đây không có chủ quản lý, nay với chủ trương giao đất giao rừng, cáckhu rừng đã có người khoanh nuôi và bảo vệ
Lạng Sơn cũng là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như sắt măng gan,nhôm, đồng, chì, kẽm, các điểm quặng bôxít, alít và các kim loại quí như vàng,
và các kim loại hiếm như thiếc, môlíp đen, thủy ngân, các loại khoáng sản cháynhư than nâu, than bùn, đây là nguyên liệu chính cho nhà máy nhiệt điện NaDương mới được khánh thành và đưa vào sử dụng
Đây chính là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú mà thiên nhiên bantặng để những con người trên mảnh đất xứ Lạng có điều kiện khai thác, xâydựng quê hương ngày một giầu và đẹp
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
* Đặc điểm kinh tế:
Lạng Sơn chỉ cách thủ đô Hà Nội 154km, nằm cạnh khu tam giác kinh tế
Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc pháttriển thương mại, dịch vụ, du lịch, bởi Lạng Sơn vừa là đầu mối tuyến Quốc lộ1A Còn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam-Trung Quốc vươn tới các
Trang 10nước Đông Âu Lạng Sơn có hai cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Tân Thanh, haicửa khẩu quốc gia Chi Ma, Bình Nghi và bảy cặp chợ đường biên, thuận tiệncho việc đi lại, giao lưu buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa và phát triển du lịch,dịch vụ.
Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi, quỹ đất lớn để pháttriển nông-lâm ở Lạng Sơn
Nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng là điềukiện tốt để phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, côngnghiệp khai thác và chế biến khoáng sản Trong đó, đáng chú ý là mỏ than nâu
Na Dương phục vụ cho việc xây dựng phát triển nhà máy nhiệt điện Na Dương
Trong những năm qua Lạng Sơn đã phát huy những thành quả đã đạt đượctrong những năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Lạng Sơn đã đạt được nhiềuthành tích quan trọng, đưa sự nghiệp đổi mới của tỉnh đi lên
Các nguồn lực được huy động cho đầu tư phát triển đạt khá; kết cấu hạtầng kinh tế-xã hội được tăng cường đáng kể, cơ sở hạ tầng có nhiều đổi mới,ngày càng đồng bộ, khang trang hơn
Với vị trí thuận lợi, Lạng Sơn đã xây dựng môi trường thuận lợi cho giaolưu phát triển kinh tế quốc tế, , tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩucủa tỉnh trung bình mỗi năm đạt 2.230 triệu USD, chiếm tỷ trọng lớn trong tổnglượng hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới của các tỉnh phía Bắc, tổng thungân sách từ thuế xuất nhập khẩu mỗi năm đạt gần 2.500 tỷ đồng
Tuy nhiên Lạng Sơn vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế tuy tăng trưởng nhưngchưa cao, thiếu tính bền vững, quy mô sản xuất còn nhỏ bé, năng lực cạnh tranhchưa cao Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông-lâm nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuậtcòn nghèo nàn, lạc hậu Mặt khác, do có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, nênmặt bằng trình độ văn hóa còn tương đối thấp, thiếu đội ngũ tay nghề cao những hạn chế trên đang là “rào cản” đối với Lạng Sơn trong việc đẩy mạnh ứng
Trang 11dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật sản xuất và đời sống cũng như thực hiện cácmục tiêu kinh tế-xã hội lớn.
* Đặc điểm văn hóa:
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi nhưng có nhiều thuận lợi về địa lý, là cửangõ giao lưu kinh tế và văn hóa với nước láng giềng Trung Quốc Chính vì cóđường giao thông thuận tiện và là đầu mối giao lưu, quan trọng hơn cả lại làphên dậu chắn phía Bắc của Tổ quốc nên đã tạo ra một văn hóa, một phong cáchcủa con người xứ Lạng
Nếu trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước, lạng Sơn đã góp một phần khôngnhỏ thì trong sự nghiệp dựng nước Lạng Sơn cũng có những đóng góp rất quantrọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước
Lạng Sơn là mảnh đất sinh tụ của nhiều dân tộc, là nơi gặp gỡ, giao lưucủa nhiều luồng văn hóa để tạo thành một cộng đồng lớn Chính sự phong phú
về thành phần tộc người đã dẫn đến sự đa phức về hệ thống tôn giáo, tín ngưỡngtrong vùng, bên cạnh những tín ngưỡng dân gian như như thờ trời, đất, tổ tiên,bản mệnh có các tôn giáo chính thống như Khổng, Lão, Phật, đã có nhiều ảnhhưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây Cũng chính điềunày đã tạo sự xuất hiện của một loạt các di tích kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo ởLạng Sơn như: đình, đền, chùa Có thể nói so với các tỉnh miền núi biên giớiphía Bắc khác thì loại hình di tích này ở Lạng Sơn khá nhiều Điều này có thể do
vị trí đặc biệt của Lạng Sơn là nơi tiếp nhận và giao lưu của hệ tư tưởng Phật-Lão vào mảnh đất này; do các trí thức Nho học, các bậc quan tướng tài caonhậm chức trấn vùng biên ải góp phần phát triển Các tín ngưỡng, tôn giáo dunhập vào vùng đất này đã được địa phương hóa, hòa đồng với tín ngưỡng bảnđịa nên đã tạo ra một diện mạo khá độc đáo cho đời sống tinh thần và tínngưỡng của cư dân Lạng Sơn Những công trình kiến trúc này ngoài ý nghĩa lànơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân còn là những di sản văn hóa vậtthể, những công trình nghệ thuật có giá trị được sáng tạo bởi bàn tay, khối óccủa cư dân Lạng Sơn Theo sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” ghi chép thì Lạng
Trang 12Nho-Sơn có tất cả 29 di tích đình, đền, chùa, hiện nay đa số những di tích này vẫncòn tồn tại và đang trở thành những danh thắng nổi tiếng, những công trình cógiá trị phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, học tập cho đông đảo các tầnglớp nhân dân Vẻ đẹp của những công trình đó đã góp phần làm cho Lạng Sơnđẹp và giầu giá trị văn hóa hơn trong mắt du khách đến thăm.
Dấu ấn văn hóa Lạng Sơn không chỉ thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học,trong các di tích lịch sử nổi tiếng hay trong mỗi danh lam thắng cảnh, mà vănhóa nơi đây còn được thể hiện qua những nét văn hóa lễ hội đặc sắc như hộiLồng Tồng, lễ hội Đầu Pháo-Kỳ Cùng, lễ hội Trò Ngô,…Nền văn hóa phi vậtthể của Lạng Sơn còn có kho tàng dân ca, dân vũ đồ sộ và vô cùng phong phú
Ngày nay dưới ánh sáng nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, những địnhhướng phát triển văn hóa đi vào thực tế đời sống văn hóa, tỉnh tổ chức triển khai
và quản lý mọi hoạt động văn hóa trên địa bàn Do đó nhiều công trình văn hóađược đầu tư xây dựng như: Bảo tàng, thư viện, cung thiếu nhi, công viên vănhóa,…những nơi này đã và đang trở thành tụ điểm phục vụ nhu cầu vui chơi giảitrí của người dân
Đến cuối năm 2005 toàn tỉnh đã có 656 nhà văn hóa; trong đó có: 51 nhàvăn hóa xã, phường, thị trấn, 605 nhà văn hóa thôn, bản, khối phố; mạng lướithư viện đã được mở tại 11/11 huyện, thành phố; 90 % xã có điểm bưu điện vănhóa xã; toàn tỉnh có gần 200 đội văn nghệ quần chúng hoạt động thường xuyên;công tác thông tin tuyên truyền đã kịp thời tuyên truyền phổ biến các chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân, nhất là nhân dân vùng sâu,vùng xa và vùng đồng bào có đạo Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa đã được triển khai liên tục và rộng khắp với 3 mô hình là gia đìnhvăn hóa, làng bản khu phố văn hóa và cơ quan đơn vị văn hóa Phong trào này
đã tác động tích cực trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,phát huy truyền thống đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh, phong phú Đến năm 2005, toàn tỉnh đã có 85.124 hộgia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 80,58%; 556 thôn bản, khối phố văn hóa, đạt tỷ lệ
Trang 1324,23%; 807 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 64,92% Đây lànhững nhân tố tích cực trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Bên cạnh những thành tựu nói trên, công tác bảo tồn một số loại hình vănhóa đang có nguy cơ thất truyền đang được quan tâm, qua đó góp phần giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời thựchiện thành công việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc
* Đặc điểm xã hội:
Giống như các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn là tỉnh có các dân tộc ítngười chiếm số đông Đây là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em, như:Dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông,…
- Dân tộc Tày:
Là thành viên trong cộng đồng dân tộc nói ngôn ngữ Tày-Thái Ở nước tangười Tày là dân tộc đông thứ hai sau người Việt và là dân tộc đứng vị trí thứnhất trong 53 dân tộc ít người, Tày là tên gọi đã có từ lâu đời, đây là một trongnhững dân tộc sinh sống trên đất nước ta sớm nhất
Dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện có 251.033 người, chiếm 35,6% trong cơcấu dân cư của tỉnh Người Tày cư trú trên địa bàn Lạng Sơn từ lâu đời Ngoài ra
do điều kiện lịch sử một số quan lại người Việt được cử lên Lạng Sơn làm việc,lấy vợ người bản địa, sinh con rồi ở lại đó Một số tù trưởng được triều đình gảcon gái dẫn đến sự hợp huyết Việt-Tày tức là sự Tày hóa, do đó trong văn hóa,tín ngưỡng dân gian xứ Lạng có những nét rất độc đáo so với nhiều vùng có dântộc Tày khác
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, người Tày cùng với các dân tộc khácnằm trong chế độ thực dân nửa phong kiến và bị phân hóa sâu sắc do chính sách
“chia để trị” Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, người Tày cùng các dântộc khác trên quê hương Lạng Sơn cùng nhau đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Trang 14- Dân tộc Nùng:
Dân tộc Nùng cũng là thành viên của nhóm ngôn ngữ Tày-Thái Hiện ởnước ta dân tộc Nùng có gần 800.000 người, cư trú chủ yếu ở địa bàn các tỉnhLạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn
Nùng vốn là tên gọi của một dòng họ trong bốn dòng họ lớn ở Quảng Tây(Trung Quốc) di cư sang và trở thành tên gọi của dân tộc ở Việt Nam vàokhoảng thế kỷ XV Dựa vào nhiều nghiên cứu thì Lạng Sơn là địa bàn ngườiNùng di cư sang sớm nhất, bản thân dân tộc Nùng được chia thành nhiều nhómđịa phương với tên gọi thường gắn liền với địa danh nơi di cư hay đặc điểmtrang phục như: Nùng An gốc từ Châu An Kết, Nùng Cháo ở Long Châu đi,Nùng Phản Slình là Nùng ở Vạn Thành, Nùng Inh ở Long Anh đến, Nùng CúmCọt người phụ nữ mặc áo ngắn, Nùng Hua Lài người phụ nữ đội khăn có chấmtrắng… Lạng Sơn là nơi định cư của ba nhóm Nùng: Nùng Inh, Nùng PhảnSlình (có mặt ở hầu khắp các huyện trong tỉnh) và Nùng Cháo tập trung chủ yếu
ở huyện Văn Lãng, Tràng Định
Người Nùng chiếm tỷ lệ khá lớn 43,86% so với dân số toàn tỉnh, ngườiNùng cư trú tập trung dọc các đường quốc lộ 1A, 1B, đường tỉnh lộ 4A, 4B vàđường sắt Hà Nội-Lạng Sơn, phố Đồng Đăng, Kỳ Lừa,… có thể nói những địadanh đó là những trung tâm kinh tế, văn hóa của dân tộc Nùng
- Dân tộc Kinh:
Dân tộc Kinh có số người đông nhất trong các dân tộc ở Việt Nam Nhưng
ở Lạng Sơn hiện nay dân tộc Kinh chỉ chiếm 20% trong tổng số dân của tỉnh Dothời gian tới định cư khác nhau, người Kinh ở Lạng Sơn cũng chia thành hainhóm: Người Kinh bản xứ và người Kinh khai hoang Người Kinh bản xứ làmột trong những cư dân đầu tiên của tỉnh, nguồn gốc là con cháu các quan trấn
ải qua các triều đại phong kiến được cử lên Lạng Sơn, con cháu họ Mạc vànhững tù nhân lưu đày; còn người Kinh khai hoang di cư đến theo chương trìnhkhai hoang phát triển kinh tế miền núi do nhà nước kêu gọi từ những năm 1960
Trang 15Lạng Sơn là nơi định cư chính của cư dân đến từ các tỉnh Hà Tây, TháiBình Tuy số người chỉ đứng thứ ba (sau người Tày, Nùng) nhưng người Kinh cómặt ở khắp các huyện trong tỉnh Do có trình độ văn hóa, có kinh nghiệm sảnxuất, am hiểu phong tục tập quán của địa phương, các cư dân người kinh sốnghòa đồng với các dân tộc bản địa, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệquê hương, đất nước.
- Dân tộc Dao:
Dân tộc Dao nằm trong nhóm ngôn ngữ Mèo-Dao, là dân tộc thường sống
du canh, du cư, có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ XIII, dân tộc Dao sống ở nước ta córất nhiều nhóm địa phương khác nhau, mỗi nhóm mang những đặc điểm riêngcủa địa phương mình
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn dân tộc Dao chiếm 3,5% trong tổng
số dân toàn tỉnh và gồm hai nhóm chính là Dao Ôgang và Dao Đại Bản có cùngmột phương ngữ Làng bản của dân tộc Dao thường nằm ở lưng chừng núi,trước kia họ canh tác chủ yếu là làm nương, rẫy, ngày nay do chính sách hạ sơncủa nhà nước, đồng bào đã xuống sinh sống ở những vùng thấp hơn và canh táclúa nước Cuộc sống du canh du cư bị xóa bỏ, trường học, trạm xá, nhà văn hóa,
… đã được đầu tư xây dựng ở hầu khắp các thôn bản, qua đó đời sống vật chất
và tinh thần của bà con được nâng lên
- Ngoài ra, trên địa bàn Lạng Sơn còn là nơi sinh sống của các dân tộcthiểu số khác như: Dân tộc Hoa, dân tộc Sán Chay, dân tộc Mông… Trong lịch
sử, các dân tộc trên địa bàn luôn đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ và xây dựng đất nước
Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng,đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng cường đoàn kết trong khốiđại đoàn kết toàn dân, cùng nhau chấp hành tốt đường lối chủ trương của Đảng,chính sách pháp luật của nhà nước xây dựng quê hương Lạng Sơn ngày thêmgiầu và đẹp
Trang 162.1.2 Tình hình, đặc điểm tôn giáo ở Lạng Sơn
2.1.2.1 Khái quát tình hình tôn giáo ở Lạng Sơn
Tình hình tôn giáo ở Lạng sơn từ năm 1990 trở lại đây có nhiều biếnđộng Hiện tại, ngoài 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Công giáo và Tin lành, trênđịa bàn đã xuất hiện một số tôn giáo mới như: Đạo Liên hữu cơ đốc, đạo Longhoa di lặc… Tổng số tín đồ của ba tôn giáo chính trên toàn tỉnh là 11.912 người.Trong đó Phật giáo có số lượng tín đồ lớn nhất là 7.000 người; Công giáo có3.500 tín đồ; Tin lành có 1.459 tín đồ là người dân tộc Dao sống tập trung ởhuyện Bắc Sơn Cả tỉnh có 6 chức sắc tôn giáo: Phật giáo có 01 Đại đức; Cônggiáo có giám mục Ngô Quang Kiệt- Giám quản Giáo phận Lạng Sơn và 03 Linhmục; Tin lành có 01 mục sư nhiệm chức
So với cả nước, các tôn giáo ở Lạng Sơn chiếm tỷ lệ nhỏ, ít phức tạp,cộng đồng các tôn giáo trên địa bàn tỉnh sống hòa thuận, luôn đoàn kết, tươngtrợ giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống và trong sản xuất
Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, xu hướng chung hiện nay là các tôngiáo đang tìm cách mở rộng diện hoạt động, gây uy tín, thanh thế trong cộngđồng tín đồ và nhân dân, đồng thời huy động các nguồn lực trong và ngoài nước
để tăng cường cơ sở vật chất Tại Lạng Sơn nhìn chung mọi tôn giáo đều hoạtđộng bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật Chức sắc, tín đồ các tôn giáo luôntin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của các cấp chính quyền, tíchcực tham gia các phong trào phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động từ thiện nhânđạo, góp phần tích cực vào việc giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xãhội Một số cơ sở thờ tự của các tôn giáo được phép xây dựng, sửa chữa khangtrang đẹp đẽ hơn, đáp ứng nguyện vọng, tâm linh của đồng bào có đạo
Tuy nhiên bên cạnh những mặt hoạt động tích cực đó, trong hoạt động cáctôn giáo còn có xu hướng tăng cường củng cố các tổ chức giáo hội, củng cố đứctin tôn giáo, tích cực truyền đạo phát triển tín đồ; khuyếch trương thanh thế, mở
Trang 17rộng địa bàn; một số cơ sở thờ tự của các tôn giáo tự ý cơi nới, sửa chữa tráiphép khi chưa có sự nhất trí của chính quyền; vẫn còn hiện tượng lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan trục lợi cho cá nhân,…những hiệntượng đó làm ảnh hưởng đến hoạt động tôn giáo lành mạnh, ảnh hưởng đến tìnhhình trật tự trị an của địa phương.
2.1.2.2 Một số đặc điểm tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn
* Lạng Sơn có ba tôn giáo chính:
Ở Lạng Sơn có ba tôn giáo chính đó là Phật giáo, Công giáo và Tin lành.Ngoài những đặc điểm chung, tôn giáo ở Lạng Sơn có những đặc thù riêng
- Về đặc điểm của Phật giáo Lạng Sơn
Đạo Phật được truyền vào Lạng Sơn từ rất sớm, quá trình du nhập vàođây Phật giáo đã thích nghi được với các tín ngưỡng ở địa phương như tínngưỡng thờ Thần, thờ Thành Hoàng, thờ Mẫu… Trải qua các cuộc chiến tranhxâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, sau này là thực dân Pháp,đạo Phật vẫn phát triển và là một loại hình sinh hoạt tôn giáo khá phổ biến Theosách “Đại Nam Nhất Thống Chí’’ thì thời Nguyễn ở Lạng Sơn đã có 26 ngôichùa thờ Phật Hiện nay hầu hết các chùa trên địa bàn các huyện đã hư hỏngnặng, thậm chí chỉ còn là phế tích, chỉ còn các chùa trên địa bàn thành phố LạngSơn tồn tại và hoạt động thường xuyên, điều đó đã chứng tỏ Phật giáo đã có thời
kỳ phát triển hưng thịnh ở Lạng Sơn
Trước năm 1990, phật tử ở Lạng Sơn ít và chỉ đến chùa sinh hoạt tôn giáovào các ngày rằm, lễ Phật Đản… Song những năm gần đây cùng với sự đổi mớiđất nước, sinh hoạt tôn giáo cũng diễn ra thường ngày Các chùa ở Lạng Sơn tậptrung chủ yếu trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, ở đây có chùa Thành cơ sở thờ
tự của Phật giáo Lạng Sơn là danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đã được xếp hạng
di tích lịch sử, văn hóa Quốc gia từ năm 1993 Do vậy du khách trong và ngoàinước đến thăm quan, du lịch tại Lạng Sơn cũng đến thăm và vãn cảnh chùa ngàycàng nhiều hơn
Trang 18Qua khảo sát hiện nay Lạng Sơn có khoảng 7.000 tín đồ, số phật tử (đãqui y) là 1.300 người Về chức sắc, trước kia có Hòa thượng Thích Xuân Lôi trụtrì tại chùa Thành (thành phố Lạng Sơn) đã viên tịch năm 1993 Năm 2003 tạichùa Thành, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, Ban quản lý chùa Thành đã
tổ chức lễ nhập tự cho Đại Đức Thích Quảng Truyền, nguyên trụ trì tại chùaPhong Quang (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) làm trụ trì tại chùa Thành Việc có
sư trụ trì tại chùa Thành là mong ước của đông đảo phật tử ở Lạng Sơn, do vậytín đồ rất vui mừng, phấn khởi và tin tưởng vào đường lối chính sách tôn giáocủa Đảng và Nhà nước
Về cơ sở thờ tự: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4 chùa (chùa Thành, chùaTiên, chùa Tam Thanh, chùa Tam Giáo), 40 đền và 78 miếu, trong đó có 9 điểm
đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa Nhìn chung đền, chùa ởLạng Sơn ngoài thờ Phật còn thờ các vị anh hùng dân tộc Hoạt động của cácchùa chủ yếu là gắn với tín ngưỡng dân gian, có chung một mục đích là cầunguyện xin ban phúc lành, cầu an, cầu tài, cầu lộc, cầu may, làm điều thiện,tránh điều ác…
Về cơ bản, Phật giáo ở Lạng Sơn từ trước đến nay đã phát huy đượctruyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào chủ trương đường lốicủa Đảng và Nhà nước Trong Phật giáo xuất hiện nhiều phong trào: Phật tửgiúp nhau xóa đói giảm nghèo; giúp đỡ người già cô đơn, tàn tật; xây nhà tìnhnghĩa; làm công tác từ thiện, nhân đạo; thực hiện hành đạo theo phương châm“Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Thời gian gần đây, nhiều cơ sở thờ tự được chính quyền cho phép tu sửangày càng khang trang, do vậy khách thập phương đến lễ chùa ngày càng nhiều,tạo cho cơ sở thờ tự ngày càng đông đảo người viếng thăm, sầm uất, ồn ào, thậmtrí còn gây lộn xộn Bên cạnh những phật tử có niềm tin tôn giáo chân chínhcũng còn không ít những người lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi cho bảnthân, biến nơi thờ tự thành nơi “buôn thần, bán thánh” hoạt động mê tín dịđoan…
Trang 19- Về đặc điểm của Công giáo Lạng Sơn:
Đạo Công giáo theo người Pháp được truyền vào Lạng Sơn từnhững năm đầu thế kỷ XX Đầu tiên là Thị xã Lạng Sơn, sau đó truyền sang cáchuyện như Tràng Định, Lộc Bình, Văn Lãng… ngày 31/12/1931, Bộ Truyềngiáo của Giáo triều Vatican đã ra Sắc dụ cho tỉnh Lyon, Cộng hòa Pháp coi sócđạo vùng Lạng Sơn- Cao Bằng Khi Hàng giáo phẩm Việt Nam được thành lậpnăm ngày 24/11/1960, Giáo phận Lạng Sơn- Cao Bằng trở thành giáo phậnChính tòa thuộc Giáo tỉnh Hà Nội Ngoài giáo dân bản địa, Lạng Sơn còn cógiáo dân ở các tỉnh miền xuôi lên xây dựng kinh tế mới vào đầu những năm 60của thế kỷ XX
Cơ sở thờ tự của đạo Công giáo trước đây ở Lạng Sơn không nhiều,
có một số nhà thờ phục vụ riêng cho quân đội viễn chinh Pháp Từ ngày hòabình lập lại đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới trong chủ trương,chính sách đối với tôn giáo Ở Lạng Sơn sự quan tâm, tạo điều kiện của chínhquyền địa phương các cấp đã giúp cho hoạt động của các tôn giáo ổn định.Nhiều cơ sở thờ tự của Công giáo ở Lạng Sơn đã được trùng tu, tôn tạo và xâydựng mới, đáp ứng mong mỏi và nguyện vọng của bà con giáo dân, cụ thể là:
- Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn đã được xây dựng mới toàn bộ, khánhthành và đưa vào hoạt động từ cuối năm 2004
- Nhà thờ Mỹ Sơn (thành phố Lạng Sơn) được cải tạo, nâng cấp và mởrộng từ tháng 4/2005
- Nhà thờ Thất Khê huyện Tràng Định được xây dựng mới từ ngày 5/5/
2005, hiện nay việc xây dựng vẫn đang được triển khai theo trình tự đã được phêduyệt
- Ngày 5/9/2005, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã cho phép xây dựngnhà thờ Đồng Đăng huyện Cao Lộc tại thôn Thâm Mò, xã Phúc Xá, huyện CaoLộc
Trang 20Hiện nay, cơ sở thờ tự của Công giáo ở Lạng Sơn có 06 nhà thờ phục vụcho 3.500 giáo dân đến sinh hoạt tôn giáo.
Về thành phần giáo dân chủ yếu là người Kinh, còn lại có 120 giáo dânngười Tày, 139 giáo dân người Nùng, 27 giáo dân người Hoa…
Trước năm 1954 ở Lạng Sơn có dòng tu Đa Minh (thành lập năm 1913),sau năm 1954 đã di chuyển vào miền Nam, nay đang có ý đồ quay trở lại hoạtđộng Để củng cố đội ngũ chức việc phục vụ cho địa phận, năm 2000 có 31thanh thiếu niên ở Lạng Sơn vào quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh học,hiện có bốn nữ tu đã học song và lén lút về hoạt động trái phép tại một số xứ đạotại Lạng Sơn
Về chức sắc: So với trước đây, hàng ngũ chức sắc Công giáo của tỉnhLạng Sơn được củng cố khá nhiều Giám mục Ngô Quang Kiệt được Tòa thánhVatican bổ nhiệm làm Giám mục phụ trách giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng từtháng 7/1999 Ngày 19/02/2005 Tòa thánh Vatican tiếp tục bổ nhiệm Giám mụcNgô Quang Kiệt làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, đồng thời kiêmGiám quản Giáo phận Lạng Sơn Ngoài ra hiện nay Lạng Sơn có ba linh mụctrông coi chăn dắt giáo dân: linh mục Nguyễn Ngọc Thể làm mục vụ tại nhà thờ
Mỹ Sơn, thành phố Lạng Sơn; linh mục Nguyễn Ngọc Thảo làm mục vụ tại nhàthờ Chính tòa, thành phố Lạng Sơn, linh mục Nguyễn Văn Chung (anh trai linhmục Nguyễn Ngọc Thảo) làm mục vụ tại nhà thờ Thất Khê (huyện Tràng Định)
Về đội ngũ chức việc của địa phận Lạng Sơn duy nhất có nữ tu NguyễnThị Nhạn 110 tuổi (đã mất năm 2003) và 01 thừa tác viên là ông Nguyễn VănTrọng cư trú ở phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn Tại các nhà thờ đềuthành lập Ban hành giáo (số lượng tham gia Ban hành giáo tùy thuộc số giáo dâncủa giáo xứ, từ 3-5 người), nhiệm kỳ 5 năm bầu lại một lần Trách nhiệm củacác Ban hành giáo là trông coi nhà thờ phục vụ cho Giáo hội và quan hệ côngviệc với xã hội
Trang 21Về tổ chức hội đoàn Công giáo: Hội đoàn Công giáo ở Lạng Sơn khôngnhiều, chỉ có ba hội thánh ca ở ba xứ: Cửa Nam, Mỹ Sơn, Thất Khê; có hai độikèn trống gồm 15 người phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo Ngoài ra còn một sốhội đoàn khác hoạt động bất hợp pháp, không được chính quyền địa phươngchấp thuận.
Nhìn chung chức sắc Công giáo ở Lạng Sơn không nhiều, giáo dân khôngđông so với các tỉnh, thành ở đồng bằng Bắc bộ, đại bộ phận quần chúng theođạo là những người lao động, tích cực tham gia các phong trào trong lao độngsản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, chấp hành tốt chủ trương chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước
- Về đặc điểm của đạo Tin lành Lạng Sơn:
Đạo Tin lành được truyền vào Lạng Sơn từ năm 1938 Lúc đầu Tin Lànhđược truyền vào các địa phương như: Bằng Mạc (huyện Chi Lăng), thị trấn NaSầm (huyện Văn Lãng), Chợ Bãi (huyện Văn Quan), hai xã Trấn Yên, Tân Trithuộc huyện Bắc Sơn và thị xã Lạng Sơn Hiện nay Tin lành chủ yếu hoạt độngtrong đồng bào Dao ở huyện Bắc Sơn
Qua quá trình hoạt động, đến năm 1958 chi Hội thánh Tin lành Bắc Sơnđược công nhận tư cách pháp nhân và là chi hội (nay là Hội thánh) thuộc Hộithánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)
Hiện nay tổng số hộ theo Tin lành ở Lạng Sơn là 304 hộ, với 1.459 tín đồ
ở ở 13 thôn thuộc 9 xã vùng đồng bào dân tộc Dao thuộc huyện Bắc Sơn Hộithánh Tin lành Bắc Sơn là một trong những Hội thánh có đông tín đồ nhất củaTổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc)
Từ năm 1938 đến tháng 11/2003, Tin lành ở Lạng Sơn không có chức sắc
Từ tháng 12/2003 đến nay Hội thánh Tin lành Bắc Sơn có một chức sắc, đó làmục sư nhiệm chức Lý Tiến Lưu, đồng thời cũng là Chủ tọa Hội thánh Tin lànhBắc Sơn Hội thánh cũng thành lập ra các ban để hoạt động như: Ban tráng niên,ban thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi, phụ lão, phụ nữ, ban thăm viếng từ thiện
Trang 22Các ban này thường xuyên nhóm lễ trong tuần, như: Ban tráng niên nhóm họptối thứ bảy; ban thanh niên họp tối thứ sáu; ban thiếu niên họp tối thứ năm; banthiếu nhi họp sáng chủ nhật; mỗi hội nhánh nhóm họp chung vào tối thứ tư vàsáng chủ nhật hàng tuần
Cơ sở thờ tự, hiện nay Hội thánh Tin lành Bắc Sơn chưa có nhà thờ, cácnhóm lễ tự cơi nới và mở rộng 13 nhà của các nhóm trưởng để làm nhà nguyện,mỗi nhà có sức chứa từ 300-500 người, được trang bị nội thất tương đối đầy đủ
để làm nhà nguyện và là nơi hành lễ
Nhằm đáp ứng nguyện vọng của các tín đồ và của Hội thánh Tin lành BắcSơn, ngày 21/03/2006 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã có văn bản số 168/UBND- TG đồng ý cho Hội thánh Tin lành Bắc Sơn xây dựng 01 nhà thờ chungcủa Hội thánh tại thôn Phúc Tiến, xã Vũ Sơn, huyện Bắc Sơn
Nhìn chung trong thời gian qua, các tín đồ theo đạo Tin lành cũng như cáctín đồ các tôn giáo khác ở tỉnh Lạng Sơn đều thực hiện tốt đường lối, chủ trươngcủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực lao động sản xuất, gópphần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nét nổi bật của đồng bàotheo Tin lành là thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình, trong thôn bảnkhông ai mắc các tệ nạn xã hội…
Tuy nhiên hiện nay để củng cố, tăng cường ảnh hưởng của đạo Tin lànhđối với các tín đồ, Hội thánh Tin lành Bắc Sơn đã tổ chức sinh hoạt tôn giáo từ
02 buổi tăng lên 04 buổi trong một tuần, ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian laođộng sản xuất và học tập của các tín đồ Trong Ban chấp sự có sự phân công đểtuyên truyền phát triển đạo không chỉ ở phạm vi các xã có đồng bào Dao thuộcphạm vi huyện Bắc Sơn, mà còn tăng cường phát triển đạo ở các địa bàn kháctrong và ngoài tỉnh Ngoài ra Hội thánh đã tăng cường thiết lập, mở rộng quan
hệ với các tổ chức Tin lành trong và ngoài nước nhằm tranh thủ sự ủng hộ, tàitrợ về vật chất và tinh thần cho Hội thánh
Trang 23Từ những năm 1998, ở huyện Bắc Sơn đồng bào dân tộc Mông từ các tỉnhTuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn…di cư đến xã Nhất Hòa và xã Nhất Tiến.Lúc đầu chỉ có 01 hộ với 07 khẩu, hiện nay đã có 49 hộ với 291 khẩu Khi mới
di cư đến đồng bào không sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong hai năm trở lại đâyvới sự tác động của Hội thánh Tin lành Bắc Sơn, các vị đứng đầu trong đồng bàoMông đã vận động bà con sinh hoạt tôn giáo liên gia lén lút vào các ngày thứnăm và chủ nhật hàng tuần, hình thức chủ yếu là nghe đài FEBC và một số cốtcán sùng đạo đọc Kinh thánh dịch ra tiếng Mông cho tín đồ hành lễ
Nhìn chung, cũng như các tôn giáo khác ở Lạng Sơn, Tin lành đang tíchcực truyền đạo, phát triển lực lượng tín đồ So với các tôn giáo khác trong tỉnh,hoạt động truyền giáo của Tin lành có phần mạnh hơn, tuy hoạt động tôn giáo đóchưa có biểu hiện gì rõ rệt liên quan đến hoạt động chống đối, nhưng những vấn
đề trên là đáng quan tâm, các cấp, các ngành hữu quan của tỉnh không nên chủquan, cần có những giải pháp cụ thể để quản lý và ngăn ngừa các hoạt động tôngiáo trái phép có thể xảy ra
* Tính hai mặt của tôn giáo ở Lạng Sơn:
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là thực thể xã hội.Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo đã tác động hai chiều đến xã hội:Mặt tích cực và tiêu cực
- Mặt tích cực:
Phát huy tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc trong hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ, chiến tranh biên giới năm 1979, tín đồ các tôngiáo ở Lạng Sơn đã cùng với nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống áchxâm lược của thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc
Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn,trong đó cũng có tín đồ Tin lành đã đứng lên làm cuộc khởi nghĩa đánh chiếmđồn Mỏ Nhài (châu lỵ Bắc Sơn) vào ngày 27/9/1940, đây là trận đánh mở màncho cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và là cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên do Đảng
Trang 24lãnh đạo, tiến tới thành lập chiến khu Bắc Sơn và đội du kích Bắc Sơn sau nàyđược đổi tên thành Đội Cứu Quốc quân, tiền thân của Quân đội nhân dân ViệtNam sau này Năm 1947, phật tử và nhân dân thôn Nà Thuộc (xã Bính Xá,huyện Đình Lập) trước khi ra trận đánh giặc Pháp đã làm lễ tế Thành Hoàng ởđình làng Khi đánh trận chiến thắng, biết tin Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã gửi thưkhen ngợi chiến công của quân, dân và Thành Hoàng Nà Thuộc và Bác đã tặngbức trướng “Chiến kháng ủng hộ”, hiện đang đặt trang trọng tại đình làng PòHáng Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều tín đồ các tôn giáo ở LạngSơn đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, và có nhiều đóng góp vào thắng lợi vĩđại chung của cả dân tộc Việt Nam.
Sau ngày thống nhất đất nước và sau cuộc chiến tranh biên giới năm
1979, hầu hết các chức sắc và tín đồ các tôn giáo hăng hái tham gia vào côngcuộc xây dựng đất nước, tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta
Ngoài ra, việc theo đạo của đồng bào dân tộc thiểu số có những tác độngtích cực như: Đối với người theo đạo, họ thực hiện tốt chế độ hôn nhân một vợmột chồng; không ai mắc phải các tệ nạn xã hội; các sinh hoạt tôn giáo nhẹnhàng, lược bỏ được lễ nghi, hủ tục lạc hậu đã ràng buộc cuộc sống của bà conhàng nghìn đời nay
- Mặt tiêu cực:
Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực, đã biểu hiện một số tiêu cực như: Một
số chức sắc, tín đồ và giáo hội các tôn giáo vì lợi ích cá nhân đã đi ngược lại lợiích của dân tộc, như: một số chức sắc Công giáo có thái độ cực đoan, xa lánh vàbất hợp tác với chính quyền; đạo Tin lành đã dùng nhiều thủ đoạn lôi kéo, épbuộc quần chúng đi theo đạo như trợ giúp những người theo đạo về gạo, tiền;không theo đạo, không tin Chúa thì không được vào Hội hiếu, trong gia đình cóviệc hiếu, việc hỷ không cho người đến giúp; trai gái là người không theo đạokhi có ý định kết hôn phải đồng ý theo đạo thì mới được cho kết hôn và mới cókhách đến dự; cản trở các tín đồ không được nghe đài Tiếng Nói Việt Nam, mà
Trang 25chỉ nghe đài “Nguồn sống” nói về đạo Tin lành; có thái độ răn đe, kỳ thị vớinhững người không theo Tin lành, gây mất đoàn kết nội bộ, tạo tâm lý thụ độngmong chờ ngày mai, sau khi chết được lên “Thiên đàng”, một số bà con tín đồkhông chịu làm ăn, phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no.
Bên cạnh đó, mặt tiêu cực được biểu hiện: Niềm tin tôn giáo hướng bàcon tới các lực lượng siêu nhiên, do đó nó ảnh hưởng xấu tới việc thực hiện cácđịnh hướng trong cuộc sống hiện tại; các phong tục tập quán, các lễ nghi cổtruyền của đồng bào dân tộc như lễ cấp sắc của người Dao, tín ngưỡng thờ cúngông bà tổ tiên, thờ Thành Hoàng, thờ những người có công với làng với nướccủa người Nùng đều bị xóa bỏ; tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa nhữngngười có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo đãxảy ra ở nhiều nơi
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn
2.2.1 Những ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm
2.2.1.1 Những ưu điểm
* Công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc:
Công tác vận động quần chúng nói chung, vận động quần chúng có tínngưỡng, tôn giáo nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi vì, sự nghiệpcách mạng có thành công hay thất bại thì việc có được quần chúng ủng hộ là vấn
đề quyết định Nói cách khác làm tốt công tác vận động quần chúng nói chung làđiều kiện có tính quyết định để đảm bảo cho sự thành công của cách mạng
Xác định được tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng tín đồ,chức sắc các tôn giáo, Lạng Sơn đã đề ra mục đích của công tác này là: Nângcao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong đó có tín
đồ các tôn giáo; tạo ra mối quan hệ tốt giữa quần chúng với Đảng và Nhà nước;phát huy dân chủ, tiếp thu những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của chứcsắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với tìnhhình thực tế của địa phương, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị xã hội, phát
Trang 26huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân Do vậy công tác vận động quần chúng tín
đồ, chức sắc tôn giáo ở Lạng Sơn đã có những chuyển biến tích cực Nhữngchuyển biến đó được thể hiện ở những mặt sau đây:
- Đời sống vật chất và tinh thần, trình độ dân trí của đồng bào các tôngiáo, đặc biệt của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa từng bướcđược nâng lên Lòng tin của đồng bào các tôn giáo vào công cuộc đổi mới đấtnước do Đảng lãnh đạo ngày càng được củng cố, do đó đồng bào các tôn giáotích cực tham gia thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nướccũng như mọi qui định khác của địa phương
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt tronglĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Lạng Sơn đã góp phần làm cho đờisống vật chất và văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn nóichung và đồng bào các tôn giáo được cải thiện và nâng cao một cách rõ rệt Nhờlàm tốt công tác vận động quần chúng, đến nay đã có 85% thôn bản xây dựngđược hương ước, quy ước trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựngcuốc sống mới ở khu dân cư”
Phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo được nhiều tổ chức,đoàn thể tham gia với nhiều hình thức, cụ thể là: Đoàn thanh niên với haichương trình hành động lớn “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” đãxung kích tình nguyện giúp các hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa Đặc biệt trong
“Tháng thanh niên” năm 2006, tuổi trẻ Lạng Sơn đã giúp làm đường giao thôngvào thôn Suối Luông, xã Vũ Lăng, huyện Bắc Sơn, đây là thôn của đồng bàodân tộc Dao theo Tin lành; tổ chức tu sửa nhà và tặng quà cho đồng bào dân tộcMông theo Tin lành mới đến định cư ở huyện Bắc Sơn, huyện Tràng Định
Sở Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các ngành liên quan vàchính quyền nơi có đông tín đồ tôn giáo đẩy mạnh việc thực hiện Chương trìnhquốc gia về xóa đói giảm nghèo theo Quyết định 133/QĐ-TTg ngày 23/07/1998của Chính phủ, trong vùng đồng bào dân tộc ít người Tăng cường chỉ đạo côngtác xóa đói giảm nghèo, cho vay vốn để phát triển kinh tế, thực hiện tốt công tác
Trang 27chăm sóc gia đình chính sách vùng đồng bào dân tộc ít người, nhất là đối với tín
đồ tôn giáo
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp các xã có đông tín đồ xâydựng kết cấu hạ tầng cơ sở như: đường, điện, nước sạch, trường học, trạm xá…qua đó thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo, nângcao dần mức sống cho tín đồ nhanh hơn so với thời gian vừa qua
Ngành Văn hóa-Thông tin phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấptăng cường cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa, giữ gìn và bảo vệ bảnsắc văn hóa dân tộc, kết hợp với bài trừ mê tín, dị đoan và các hủ tục lạc hậu.Đẩy mạnh phong trào “Xây dựng gia đình, thôn bản văn hóa, làng văn hóa”,
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, đề ra hương ước,qui ước về xây dựng nếp sống văn hóa trong vùng đồng bào tôn giáo
Sở Giáo dục-Đào tạo phối hợp với Sở Kế hoạch-Đầu tư và Uỷ ban nhândân các huyện có đông tín đồ các tôn giáo xây dựng kế hoạch phát triển giáodục, đầu tư xây dựng trường lớp, đồ dùng dạy học nhằm xóa mù chữ, nâng caodân trí cho vùng dân tộc thiểu số Có chính sách khuyến khích đội ngũ giáo viên
ở vùng sâu vùng xa và vùng đồng bào theo đạo, qui hoạch đào tạo giáo viên tạichỗ, xây dựng mô hình trường bán trú cho con em đồng bào dân tộc, nhất làvùng dân tộc Dao theo đạo
Với những hoạt động trên đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế, ổn địnhđời sống, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội Nhưng điều quan trọng hơn làqua đó đã củng cố được tình làng nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết giữađồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo
Đến nay tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh đã giảm từ 19,6% năm 2000 xuốngcòn 7,8% năm 2005, trong 5 năm qua (2000-2005) đã giải quyết việc làm cho4,3 vạn lao động, góp phần nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho nhândân Điều đó đã làm tăng thêm sự phấn khởi, tin tưởng của đồng bào các tôngiáo vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo, động viên khích lệ
Trang 28đồng bào tôn giáo hăng hái tham gia thực hiện các chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước cũng như mọi qui định của địa phương
Số lượng tín đồ, chức sắc các tôn giáo trên địa bàn toàn tỉnh tích cực thamgia, hưởng ứng các phong trào cách mạng ở cơ sở ngày càng gia tăng Nhiều địaphương có đông đồng bào tôn giáo tập trung như huyện Bắc Sơn, Lộc Bình,Tràng Định và thành phố Lạng Sơn đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân tiêntiến, điển hình cho các phong trào xã hội, xây dựng quê hương trong thời kỳ đổimới Điều đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn trong đường lối chính sách tôngiáo của Đảng và Nhà nước, kế hoạch và công tác vận động quần chúng tín đồtôn giáo của tỉnh Lạng Sơn
- Cơ sở chính trị trong các vùng tôn giáo tập trung được xây dựng, củng
cố, phát huy được vai trò của cán bộ, đảng viên, người có uy tín để vận độngđồng bào có đạo, phát triển thêm được nhiều đảng viên, hội viên các đoàn thể là
tín đồ các tôn giáo.
Những năm gần đây tại cơ sở vùng tôn giáo, các lực lượng chính trị đãphát huy được vai trò của lực lượng cốt cán, của cán bộ đảng viên và nhữngngười có uy tín trong tín đồ, chức sắc các tôn giáo để vận động quần chúng cóđạo đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả rất quan trọng
Công tác xây dựng Đảng trong các vùng tôn giáo đã có những bước tiến
bộ Nếu những năm 1990 trên địa bàn tỉnh còn nhiều thôn, bản “trắng” đảngviên, thì đến nay 100% thôn bản đã có chi bộ đảng sinh hoạt, nhiều đảng viêntheo tôn giáo tham gia cấp ủy
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể,
đã phát huy tốt vai trò đại diện nhân dân trong đóng góp ý kiến với Đảng, Nhànước, Chính quyền địa phương để xây dựng chính sách đối với dân tộc, tôn giáophù hợp
Công tác xây dựng lực lượng cốt cán trong tín đồ, chức sắc các tôn giáocũng đạt được những kết quả tích cực Lực lượng này đã và đang phát huy tốt
Trang 29vai trò trong việc vận động quần chúng tín đồ, đặc biệt là trong công tác ngănngừa các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu trong cộng đồng thôn bản và đấu tranhchống âm mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết và thành quả cáchmạng của nhân dân ta
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong nhữngnăm qua đã chú trọng đến công tác phát triển hội viên, đặc biệt là hội viên theotôn giáo Bằng nhiều hình thức sinh hoạt phong phú và thường xuyên tổ chức đithăm hỏi, tặng quà gia đình chính sách, gia đình tín đồ khó khăn và chức sắc cáctôn giáo nhân dịp lễ trọng của giáo hội; dịp lễ cổ truyền của dân tộc Đồng thờithông qua các phong trào hội viên giúp nhau “Xóa đói giảm nghèo”, “Xây dựngđời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới, kế hoạch hóa gia đình…càng làmcho quần chúng tín đồ các tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáocủa Đảng và Nhà nước Động viên, khích lệ đội ngũ chức sắc, tín đồ các tôngiáo tích cực tham gia xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” phấn đấu vì mụctiêu: Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Tỉnh đã tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo được tiến hành bìnhthường, thuận lợi Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo đã cónhiều cố gắng, từng bước đưa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vào nề nếp theoqui định của pháp luật
Nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáongày càng được đáp ứng, đảm bảo Các hoạt động của đời sống sinh hoạt tôngiáo của quần chúng được chính quyền từ tỉnh đến cơ sở tạo điều kiện thuận lợi
Để giúp tín đồ thuận lợi trong việc hành đạo, Các ban, ngành của tỉnh Lạng Sơn
đã đồng ý và hỗ trợ cho các tôn giáo xây dựng, trùng tu và tôn tạo các cơ sở thờ
tự, như trùng tu chùa Thành, chùa Tiên…Tháng 10/2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh
đã đồng ý cho tu sửa và xây dựng mới nhà thờ Thất Khê (huyện Tràng Định),nhà thờ Đồng Đăng (huyện Cao Lộc) và nhà thờ Mỹ Sơn(thành phố Lạng Sơn)
Từ trước đến nay tín đồ Tin lành ở huyện Bắc Sơn chưa có cơ sở thờ tự,
họ tự cơi nới nhà riêng của các nhóm trưởng làm nơi sinh hoạt đạo Ngày
Trang 3021/03/2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có công văn số 168/UBND-TG đồng ý choHội thánh Tin lành Bắc Sơn xây dựng 01 nhà thờ chung tại thôn Phúc Tiến, xã
Vũ Sơn Qua đó tạo nên lòng tin tưởng, phấn khởi cho đồng bào có đạo vàođường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Từng bước xóa bỏ nhữngmặc cảm của đồng bào, hạn chế tiêu cực, ngăn ngừa việc lợi dụng tôn giáo gâyhậu quả xấu cho xã hội, đồng thời củng cố thêm mối quan hệ gắn bó giữa quầnchúng tín đồ các tôn giáo với Đảng và với chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta
* Thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhà tu hành và tổ chức giáo hội các tôn giáo:
Chức sắc, nhà tu hành là những người chuyên lo việc đạo, họ có phẩm trậtkhác nhau và có vai trò rất quan trọng trong sự tồn vong của mỗi tôn giáo Cóthể nói, chức sắc, nhà tu hành là những người chuyên lo hành nghề tôn giáo, họgiữ vai trò chủ yếu trong mối quan hệ giữa giáo hội với chính quyền địa phương,giữa tôn giáo của họ với xã hội, giữa giáo hội của họ với các giáo hội tôn giáokhác Do vậy chính sách cụ thể đối với chức sắc là hết sức quan trọng trong hệthống chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 11.959 tín đồ các tôn giáo, tuy nhiên sốlượng chức sắc, nhà tu hành chuyên nghiệp chỉ có 06 người (01 Đại Đức, 01giám mục, 03 Linh mục và 01 mục sư nhiệm chức) và 62 chức việc giúp Giáohội chăm lo việc đạo
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đường lối, chính sách đối vớitôn giáo của Đảng và Nhà nước, Lạng Sơn đã từng bước tạo điều kiện cho chứcsắc các tôn giáo hoạt động thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật từ khâutuyển chọn đào tạo, thuyên chuyển, bổ nhiệm, đến phân công địa bàn hoạt động
Năm 2005 tỉnh đã tạo điều kiện cho giám mục Ngô Quang Kiệt, linh mụcNguyễn Ngọc Thể đi Hoa Kỳ dự Hội nghị và thăm thân, đồng thời cho phép linhmục Phạm Thế Hòa (linh mục ở tỉnh Kiên Giang) làm mục vụ tại Tòa giám mụcLạng Sơn trong thời gian 06 tháng khi linh mục Nguyễn Ngọc Thể đi vắng
Trang 31Theo đề nghị của Tòa giám mục Lạng Sơn, năm 2005 Uỷ ban nhân dântỉnh Lạng Sơn đã chấp thuận và tạo điều kiện cho hai ứng sinh theo học tại Đạichủng viện Hà Nội khóa XII Hiện nay tại Đại chủng viện Hà Nội có 04 chủngsinh của Lạng Sơn đang theo học
Lãnh đạo các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cũng đã tạo điều kiệnthuận lợi, động viên kịp thời các chức sắc tôn giáo trong những kỳ tĩnh tâm, cấmphòng của Công giáo, kỳ đại hội của Hội thánh Tin lành, lễ Phật Đản…Vớiphương châm: gần, hiểu, cảm hóa và phát huy uy tín của đội ngũ chức sắc, nhà
tu hành trong công tác vận động quần chúng, các cấp chính quyền trên địa bàntoàn tỉnh thường xuyên tiếp xúc, giúp họ tìm hiểu về lịch sử dân tộc và chủnghĩa xã hội, về đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước nói chung
và chính sách về tôn giáo nói riêng
Trong hai năm 2004, 2005 trên địa bàn toàn tỉnh, thông qua hình thức hộinghị đã phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, về Luật Dân sự,Luật Đất đai, Xây dựng,…cho 100% chức sắc tôn giáo trên địa bàn Ngoài rathường xuyên giúp họ hiểu rõ tình hình chung của đất nước, của địa phương,động viên họ tham gia sự nghiệp chung của toàn dân thích hợp với khả năng vàđiều kiện của họ, nhất là những hoạt động từ thiện, nhân đạo, bảo vệ hòa bình,khuyến khích những việc làm đúng đắn Đồng thời khéo léo nhưng thẳng thắnphê bình uốn nắn những việc làm không đúng Nhân dịp kỷ niệm ngày Thươngbinh liệt sĩ 27/7/2005, đoàn phật tử Lạng Sơn do Đại đức Thích Quảng Truyềndẫn đầu cùng 78 phật tử chùa Thành đã đi viếng và cầu hồn các Anh hùng Liệt sĩtại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn theo sự tổ chức của Trung ương Hội Phậtgiáo Việt Nam
Nét nổi bật trong thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhà tu hành và tổchức giáo hội các tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn trong những năm gần đây làcùng với các cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương, Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể đã chủ động tăng cường các hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc với các chứcsắc, nhà tu hành, đại diện các ban hành giáo, ban quản lý đền, chùa, giải thích